Khái niệm hoạt động trải nghiệm Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 7/2017 [1;tr28], hoạt động trải nghiệm là các hoạt động giáo dục bắt buộc, trong đó học sinh dựa trên sự hu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA TOÁN
====
ĐÀO THỊ GIANG NGÂN
THIẾT KẾ TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC
PHƯƠNG TRÌNH LƯỢNG GIÁC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Toán
Hà Nội – 2019
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA TOÁN
====
ĐÀO THỊ GIANG NGÂN
THIẾT KẾ TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC
PHƯƠNG TRÌNH LƯỢNG GIÁC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Toán
Người hướng dẫn khoa học
TS Đào Thị Hoa
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn vô cùng sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa Toán đã tạo điều kiện giúp em học tập và đạt kết quả như ngày hôm nay Đặc biệt, em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Đào Thị Hoa đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn em qua từng buổi nói chuyện, thảo luận về đề tài nghiên cứu giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Do điều kiện và vốn kiến thức còn hạn chế nên khó tránh tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả
Đào Thị Giang Ngân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin sử dụng trong khóa luận có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Trang 5PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm trong dạy học 4
1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm 4
1.1.2 Vai trò vủa hoạt động trải nghiệm trong dạy học 6
1.1.3 Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học 8
1.2 Trò chơi học tập 8
1.2.1 Khái niệm trò chơi học tập 8
1.2.2 Vai trò của trò chơi học tập 11
1.2.3 Đặc điểm của trò chơi học tập 12
1.2.4 Phân loại của trò chơi học tập 13
1.2.5 Cấu trúc của trò chơi học tập 14
1.3.Quy trình thiết kế và tổ chức trò chơi 15
1.3.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi 15
1.3.2 Quy trình thiết kế trò chơi học tập 15
1.3.3 Cách tổ chức trò chơi 16
1.4 Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học Toán 17
1.4.1 Mục tiêu khảo sát 17
1.4.2 Đối tượng khảo sát 17
1.4.3 Thời gian khảo sát 17
1.4.4 Phương pháp khảo sát 17
1.4.5 Kết quả khảo sát 18
Kết luận chương 1 21
Trang 6CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC PHƯƠNG TRÌNH
LƯỢNG GIÁC 22
2.1 Mục tiêu và nội dung của phương trình lượng giác trong chương trình Toán
THPT 22
2.1.1 Mục tiêu của chương trình lượng giác ở THPT 22
2.1.2 Nội dung phương trình lượng giác ở THPT 22
2.2 Mục tiêu thiết kế trò chơi trong dạy học phương trình lượng giác 23
2.3 Thiết kế trò chơi 24
2.4 Một số chú ý khi sử dụng trò chơi 68
Kết luận chương 2 69
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Mục đích thực nghiệm 70
3.2 Thời gian thực nghiệm 70
3.3 Phương pháp thực nghiệm 70
3.4 Nội dung thực nghiệm 70
3.5 Kết quả thực nghiệm 71
Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN CHUNG 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả điểm kiểm tra bài tập phương trình bậc nhất đối với sinx và
cosx ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 71 Bảng 3.2 Mức độ hứng thú học tập của học sinh trong tiết học và trong trò
chơi 72 Bảng 3.3 Mức độ chú ý của học sinh trong tiết học 72
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị số 29-NQ/TW của Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có quan điểm chỉ đạo: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [10]
Việc đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu tất yếu và cấp bách của giáo dục nước ta hiện nay
Nghị quyết 29 khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”
Hoạt động trải nghiệm là một hoạt động dạy học tích cực, thích hợp cho mọi môn học, trong đó có môn Toán Hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển cho học sinh những năng lực đặc thù của môn học và phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập Học qua trải nghiệm lôi cuốn học sinh tham gia vào các hoạt động tư duy, giải quyết các vấn đề và tạo điều kiện cho sự tương tác giữa học sinh với thầy cô, bạn bè và với môi trường theo các định hướng hoạt động có mục đích
Đã có một khảo sát nhỏ ở trường THPT Nguyễn Trung Trực và nhận thấy rằng: “Học sinh THPT đang nằm ở lứa tuổi vui chơi, các em thích khẳng định mình, các game từ Internet thu hút rất nhiều từ học sinh, sau khi hoàn thành một game nào
đó các em nhớ rất rõ trình tự các bước, điều này chứng tỏ các em có trí nhớ rất tốt”
Từ đó có thể thấy rằng nếu đặt tri thức toán học vào trò chơi, học sinh sẽ tiếp thu các tri thức đó một cách chủ động hơn và học sinh cũng nỗ lực hết mình “chơi mà học”
Đã có một số trường phổ thông bắt đầu sử dụng trò chơi trong dạy học nhưng vẫn còn mang tính hình thức, phần lớn chỉ dừng lại ở việc giải trí, học sinh chưa
Trang 9biết cách kết hợp giữa chơi và học Nguyên nhân là do hạn chế về cơ sở vật chất cũng như thói quen giảng dạy theo phương pháp cũ, và đặc biệt là giáo viên chưa thấy được tác dụng tích cực của trò chơi học tập
Giáo viên biết kết hợp giữa học và chơi sẽ làm giảm bớt những căng thẳng mệt mỏi do tiết học gây ra và giúp học sinh nhớ bài học nhanh hơn, mạnh dạn trao đổi và có cơ hội bày tỏ những suy nghĩ của bản thân Ngoài ra, thông qua trò chơi, giáo viên có thể mở rộng thêm kiến thức bài học giúp các em củng cố nội dung bài học
Nội dung phương trình lượng giác nằm trong chương trình Đại số và giải tích 11, đây là một nội dung khó và trừu tượng đối với học sinh THPT và là một dạng thường gặp trong các đề thi đại học Khi học nội dung này đòi hỏi học sinh phải ghi nhớ các công thức lượng giác, phương trình lượng giác cơ bản, phải có kỹ năng biến đổi, kỹ năng giải toán thành thạo và sự sáng tạo nhất định Do đó cần tìm
ra phương pháp dạy học phù hợp đề nâng cao hiệu quả trong chủ đề này
Chính vì lí do trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Thiết kế trò chơi trong dạy học phương trình lượng giác” để nêu ra cách thiết kế trò chơi học tập để dạy và
học phương trình lượng giác hiệu quả
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế các trò chơi trong dạy học phương trình lượng giác và định hướng
sử dụng các trò chơi này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học chủ đề này nói
riêng và nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: trò chơi toán học và phương trình lượng giác
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đại số và giải tích 11 nâng cao
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng được các trò chơi trong dạy học về chủ đề phương trình lượng giác phù hợp với học sinh lớp 11 thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học chủ đề này ở trường phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của trò chơi
5.2 Thiết kế trò chơi dạy học phương trình lượng giác
5.3 Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả của đề tài nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 106.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm
6.3 Phương pháp nghiên cứu quan sát điều tra
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thức tiễn
Chương 2 Thiết kế trò chơi trong dạy học phương trình lượng giác
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm trong dạy học
1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động
Hoạt động là quá trình tác động qua lại tích cực giữa con người với thế giới khách quan mà qua đó mối quan hệ thực tiễn giữa con người với thế giới khách quan được thiết lập Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau là quá trình đối tượng hoá và quá trình chủ thể hoá
- Quá trình đối tượng hóa là quá trình chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lý người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm
- Quá trình chủ thể hóa là quá trình chuyển từ phía khách thể vào bản thân chủ thể những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên tâm lý, ý thức nhân cách của bản thân bằng cách chiếm lĩnh thế giới
Như vậy ta có thể hiểu rằng, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người (chủ thể)
1.1.1.2 Khái niệm trải nghiệm
Trải nghiệm là một hoạt động của con người và là một thuật ngữ mà chúng ta thường xuyên nhắc đến, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về trải nghiệm
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Trải có nghĩa là “đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng”, còn nghiệm có nghĩa là “ngẫm thấy, suy xét ra điều đó là đúng” Từ đó, trải nghiệm có thể định nghĩa là quá trình chủ thể được trực tiếp tham gia hoạt động
và rút ra những kinh nghiệm cho bản thân
Theo các nhà khoa học giáo dục, trải nghiệm chính là những tồn tại khách quan tác động vào các giác quan con người, tạo ra cảm giác, tri giác, biểu tượng, con người cảm thấy có tác dộng đó và cảm nhận nó một cách rõ nét, để lại ấn tượng
Trang 12sâu đậm, rút ra bài học, vận dụng vào thực tiễn đời sống, hình thành nên các thái độ giá trị
Từ các định nghĩa và quan niệm đưa ra ở trên, ta có thể hiểu ngắn gọn, trải nghiệm là sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan, qua đó đem lại cho con người những bài học, kinh nghiệm quý giá
1.1.1.3 Khái niệm hoạt động trải nghiệm
Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (7/2017) [1;tr28], hoạt động trải nghiệm là các hoạt động giáo dục bắt buộc, trong đó học sinh dựa trên sự huy động tổng hợp kiến thức và kỹ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội, tham gia hoạt động hướng nghiệp và hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này như: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp, năng lực thích ứng với những biến động trong cuộc sống và các kỹ năng sống khác
Một trong những lý thuyết trực tiếp của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong
dạy học là Lý thuyết học từ trải nghiệm của David A Kolb (1984) Trong đó, Kolb
đã chỉ ra rằng: “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm học Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc
cá nhân’’ [3] Lý thuyết Học từ trải nghiệm là cách tiếp cận về phương pháp học
đối với các lĩnh vực nhận thức Nếu như mục đích của việc dạy học chủ yếu là hình thành và phát triển hệ thống tri thức khoa học, năng lực và hành động khoa học cho mỗi cá nhân thì mục đích hoạt động giáo dục cho mỗi cá nhân thì mục đích hoạt động giáo dục là hình thành và phát triển những phấm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, các giá trị sống, kĩ năng sống và những năng lực chung khác Để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học nhưng để hình thành và phát triển phẩm chất thì người học phải được trải nghiệm Trải nghiệm sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả nếu trải nghiệm có sự định hướng, tư vấn của người dạy
Một chương trình giáo dục của bất kỳ quốc gia nào cũng bao gồm nội dung dạy học (các môn học) và nội dung giáo dục (các hoạt động giáo dục) Môn học được tạo nên bởi một hoặc một vài lĩnh vực khoa học nên nội dung của nó được cấu trúc chặt chẽ, còn hoạt động giáo dục sử dụng tích hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều
Trang 13lĩnh vực để thực hiện mục tiêu hoạt động của mình Bên cạnh đó, hoạt động giáo dục là hoạt động nhằm phát triển những phẩm chất, nhân cách, kỹ năng sống hay là năng lực tâm lý xã hội giúp con người có thể thích nghi, thích ứng với xã hội, làm chủ bản thân, biết sống tích cực và hạnh phúc Như vậy, hoạt động trải nghiệm không gọi là môn học mà là hoạt động giáo dục
Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo [10], đã đề cập đến việc tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh như là một phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học Mục đích của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất cho người học; các giá trị sống, kĩ năng sống và những năng lực cần có của người học để đáp ứng những yêu cầu con người trong xã hội hiện đại Các hoạt động trải nghiệm sẽ được thiết kế theo chủ đề của từng môn học và theo hướng tích hợp liên môn Hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm cũng phong phú linh hoạt hơn, mở hơn về thời gian, không gian, quy mô, đối tượng tham gia,… tạo điều kiện tối đa cho người học tham gia trải nghiệm và phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo Hơn hết, người học được chú trọng xác định là trung tâm của quá trình trải nghiệm
Qua đó, ta có thể rút ra định nghĩa: Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp và các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua
đó phát triển tình cảm, đạo đức, năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách…, từ đó tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình
1.1.2 Vai trò vủa hoạt động trải nghiệm trong dạy học
Từ các nghiên về tâm lí học và giáo dục học cũng như các mô hình học tập trải nghiệm trên thế giới đã và đang khẳng định được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong hình thành và phát triển năng lực học sinh
Theo các tài liệu [5;8], hoạt động trải nghiệm có các vài trò nổi bật sau:
- Hoạt động trải nghiệm làm tăng tính hấp dẫn trong học tập: Hình thức dạy
học trải nghiệm là hình thức giáo dục học sinh theo hình thức dạy học ngoài thực tế, trong đó các em được tiếp xúc với các sự vật, sự việc, hiện tượng thực tế, điều này làm cho hoạt động giảng dạy của giáo viên và việc học của học sinh mang tính thực
tế, linh hoạt tránh nhàm chán từ đó mà tăng tính hấp dẫn trong học tập
Trang 14- Phát huy tính tích cực, tư duy đọc lập sáng tạo cho học sinh: Vì các hoạt
động gắn với thực tế, nên đòi hỏi người học phải tự nỗ lực để thu lượm kiến thức và giải quyết vấn đề đặt ra Giáo viên chỉ quan sát, gợi ý, trợ giúp, không áp đặt học sinh Khuyến khích tối đa sự sáng tạo của học sinh
- Dạy học trải nghiệm tạo điều kiện kết nối các kiến thức khoa học liên ngành:
Nội dung hoạt động trải nghiệm rất phong phú và đa dạng mang tính tổng hợp kiến thức kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: Giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ và thể chất,… Chính vì vậy mà hoạt động trải nghiệm trở nên gần gũi, thiết thực với cuộc sống, giúp các em vận dụng vào trong cuộc sống một cách dễ dàng và thuận lợi hơn Hoạt động trải nghiệm môn Toán có thể tích hợp với môn Vật lí, Hóa học, Sinh học,…
- Dạy học trải nghiệm giúp gắn kết giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường: Hoạt động trải nghiệm có sự tham gia, phối hợp liên kết lực
lượng giữa trong và ngoài nhà trường như: cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, những tổ chức… Tuy thuộc nội dung, tính chất của từng hoạt động mà sự tham gia của lực lượng có thể là trực tiếp hay gián tiếp Do đó, tạo điều kiện cho học sinh được giao tiếp rộng rãi với nhiều lực lượng giáo dục khác nhau làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động trải nghiệm
- Hoạt động trải nghiệm gắn kết giữa người dạy và người học: Dạy học bằng
trải nghiệm đồi hỏi người dạy phải tuân theo phong cách người hỗ trợ, hướng dẫn
để người học thu được kiến thức từ những kinh nghiệm thực tế, đồng thời phải phù hợp với phong cách của người học nhằm phát huy tốt nhất khả năng và sự sáng tạo của người học
- Hoạt động trải nghiệm là mô hình học tập tiên tiến nhằm giúp học sinh hoàn thiện bản thân mình: Hoạt động trải nghiệm tạo ra sự tự tin cho học sinh trong học
tập, hình thành năng lực học tập cho học sinh, lập kế hoạch, tổ chức làm việc nhóm, thu thập và xử lí thông tin, lập báo cáo, thuyết trình, đánh giá và tự đánh giá Qua
đó, học sinh cảm thấy yêu thích môn học và hiểu kiến thức một cách sâu sắc hơn Ngoài ra, hoạt động trải nghiệm là điều kiện học hỏi lẫn nhau, giúp học sinh phát huy tính tích cực tự học, sáng tạo, tính tự giác, giúp các em phát huy tốt các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác…
Từ đó, học sinh được phát triển các kĩ năng, năng lực, cảm xúc, phẩm chất đạo đức…nhờ việc vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo Như vậy, có thể thấy hoạt động trải nghiệm chính
Trang 15là một nội dung quan trọng trong định hướng đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam
1.1.3 Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [1], nội dung cơ bản của chương trình Hoạt động trải nghiệm xoay quanh các mối quan hệ giữa cá nhân học sinh với bản thân; giữa học sinh với người khác, cộng đồng và xã hội; giữa học sinh với môi trường; giữa học sinh với nghề nghiệp Nội dung này được triển khai qua 4 nhóm hoạt động chính: hoạt động phát triển cá nhân; hoạt động lao động; hoạt động
xã hội và phục vụ cộng đồng; hoạt động hướng nghiệp
Có rất nhiều hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT trong dạy và học môn Toán Tùy vào mục tiêu, ý tưởng và nội dung bài dạy mà người giáo viên có thể lực chọn hình thức tổ chức sử dụng, tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Toán ở trường THPT sao cho phù hợp và hiệu quả
Hoạt động trải nghiệm được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học; theo quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường; với các hình thức tổ chức như hoạt động câu lạc bộ, sinh hoạt tập thể (sinh hoạt dưới cờ; sinh hoạt lớp; Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,…), tổ chức trò chơi, diễn đàn, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động tình nguyện, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức tổ chức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định
1.2 Trò chơi học tập
1.2.1 Khái niệm trò chơi học tập
1.2.1.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển của trò chơi trong trường học Việt Nam
Trò chơi là một hình thức tổ chức của hoạt động trải nghiệm
Trong đời sống con người, ngoài các hoạt động lao động, học tập, chiến đấu,… còn có hoạt động vui chơi, giải trí Mỗi hoạt động vui chơi, giải trí được tổ chức nhằm một mục đích nhất định, có nội dung nhất định và tuân theo những quy định nào đó Mỗi hoạt động đó được gọi là một trò chơi Cũng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ,…trò chơi cũng được phát triển không ngừng Trong quá trình phát triển của mình, có những trò chơi mới xuất hiện, có
Trang 16những trò chơi dần mất đi, có những trò chơi được đổi mới mục đích, đổi mới nội dung, đổi mới quy định, thể lệ,…
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, trò chơi dân gian ngày càng phát triển và hầu như không thể vắng mặt trong các lễ hội Tuy nhiên tùy theo từng vùng miền, tùy theo từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử mà có thể vẫn tồn tại cả những trò chơi có mặt tốt và mặt xấu của nó
Trong trường học, lớp học trò chơi cũng là một hoạt động không thể thiếu Ban đầu, trò chơi thường do học trò tự phát, tự tổ chức như “ đánh khăng”, “đánh đáo”, “bịt mắt bắt dê”, “ nhảy dây”, “chọi gà”, “cướp cờ”,… Mục đích của các kiểu trò chơi này chủ yếu nhằm giải trí sau những giờ học căng thẳng, mệt mỏi Nội dung của những trò chơi này cũng đơn giản và thể lệ cuộc chơi cũng chỉ có một vài quy định đơn giản, dễ nhớ, dễ chơi Trong những trò chơi này, người chơi được huy động cả trí tuệ và sức lực nên người chơi vừa thoải mái đầu óc, rèn luyện trí tuệ, vừa được rèn luyện thể lực
Khi công nghệ ngày càng phát triển, các trò chơi “game” trên máy tính cũng ngày càng phát triển do sự hấp dẫn, tiện lợi của nó Mặt khác các trò chơi trên máy tính chỉ giúp người chơi giải trí và rèn luyện trí tuệ nếu người chơi chơi trong thời gian quy định và không giúp người chơi rèn luyện thể lực, thậm chí nếu người chơi quá ham mê sẽ dẫn tới hậu quả xấu về cả trí tuệ và thể lực
1.2.1.2 Khái niệm trò chơi
Trò là hoạt động diễn ra trước mắt người khác để mua vui
Chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi chỉ nhằm mục đích cho vui mà thôi Trò chơi là một loại hình văn hóa dân gian rất quen thuộc, gần gũi với mọi người và mang tính chất truyền thống Hay là một loại hình sinh hoạt, giao lưu văn hóa của con người, thường được tổ chức vào các dịp lễ, hội, tết,… thông qua đó giáo dục con người những kinh nghiệm sản xuất, phẩm chất đạo đức, tri thức khoa học,… Trò chơi mang lại cho con người sự vui vẻ, đoàn kết, giúp con người bộc lộ những tình cảm, thể hiện ước mơ, sự phấn đấu,…
Có rất nhiều định nghĩa về trò chơi như sau:
Một số nhà tâm lý – giáo dục học theo trường phái sinh học như K-Gross, Hall, V-Stern,… cho rằng, trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa
S-G.Piagie cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ
Trang 17Trên quan điểm Macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng: “Trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục”
Theo tác giả Đặng Thành Hưng [6], thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa
- Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia
- Hai là những thức công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi,…
Theo từ điển tiếng Việt thì trò chơi là “Hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí” [P1;tr.1001]
Qua sự phân tích các quan niệm, ý kiến về trò chơi, qua xem xét nội dung và mục đích của trò chơi hiện nay, có thể hiểu: Trò chơi là một hoạt động tạo cho người tham gia được vui chơi, giải trí, rèn luyện trí tuệ và sức lực, nó mang một chủ
đề, nội dung nhất định, có tổ chức của nhiều người tham gia (từ 2 người trở lên) và
có những quy định, những luật lệ buộc người chơi phải tuân theo Đồng thời, trò chơi còn là hoạt động rèn luyện cho người chơi cả về phẩm chất như lòng kiên trì,
sự tự tin, sự tương trợ giúp đỡ cộng đồng
1.2.1.3 Khái niệm trò chơi học tập
Có nhiều quan điểm khác nhau về trò chơi dạy học:
- Trong lý luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập,… không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được gọi là trò chơi học tập
- Do những lợi thế của trò chơi có luật được quy định rõ ràng, trò chơi học tập còn được hiểu là loại trò chơi có luật, có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học, thường do giáo viên nghĩ ra và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học
- A.l Xorakina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù của trò chơi dạy học: “Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp, nó là hình thức dạy học
và đồng thời nó vẫn là trò chơi Khi các mối quan hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy trò chơi biến thành tiết học, đôi khi biến thành sự luyện tập”
Trang 18- Theo tác giả Đặng Thành Hưng [6], thì những trò chơi giáo dục được lựa chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc
và phương pháp dạy học, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên học sinh tìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện kĩ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của học sinh khi họ tham gia trò chơi gọi là trò chơi học tập
Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các quan hệ trong trò chơi học tập được
tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ dạy học và được định hướng vào mục tiêu, nội dung học tập Trò chơi học tập được sáng tạo ra và được sử dụng bởi các nhà giáo và người lớn dựa trên những khuyến nghị của lý luận dạy học, đặc biệt là của lý luận dạy học các môn học cụ thể Chúng phản ánh lí thuyết, ý tưởng, mục tiêu của nhà giáo, là một trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bài toán cứng nhắc trong các giờ học
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về trò chơi học tập là: Trò chơi học tập là một loại hoạt động mang tính giáo dục, tạo cho người tham gia được vui chơi, giải trí, rèn luyện trí tuệ, sáng tạo, nó mang một chủ đề, nội dung nhất định liên quan đến nội dung dạy học, đồng thời rèn luyện cho người chơi cả về phẩm chất như lòng kiên trì, sự tự tin, sự tương trợ giúp đỡ nhau trong học tập
1.2.2 Vai trò của trò chơi học tập
Trong điều kiện dạy học ở THPT hiện nay, việc sử dụng các trò chơi vào hoạt động học tập là một phương pháp dạy học có hiệu quả, được các thầy, cô giáo xem như một hình thức tổ chức dạy học mới, tích cực, cần được phát huy thường xuyên trong các bài giảng của mình
Khi ta biết kết hợp giữa chơi và học chính là làm thay đổi hình thức, phương pháp dạy và học trong môn Toán truyền thống trước đây, những kiến thức Toán khô khan và cứng nhắc sẽ trở nên sinh động và hấp dẫn hơn, tạo không khí lớp học sôi động, dễ chịu, thoải mái và thu hút sự tập trung của học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, hứng khởi Hơn nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinh thể hiện qua các tiết học có trò chơi làm tăng thêm tình cảm của các em đối với môn học và thầy, cô giáo
Trò chơi học tập giúp học sinh thấy vui hơn, nhanh nhẹn và cởi mở hơn, tinh thần dễ chịu và thể lực khỏe mạnh hơn Từ đó giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác và tích cực hơn
Trang 19Trò chơi học tập bên cạnh chức năng giải trí còn giúp học sinh tự củng cố và
hệ thống hóa kiến thức, đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em tích lũy được thông qua hoạt động, thói quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theo nhiều quy mô (cá nhân, nhóm, lớp)
Trò chơi học tập còn là một trong những phương tiện để khắc phục những trở ngại khác nhau trong hoạt động trí tuệ của từng em thông qua các trò chơi cá nhân và tập thể Bởi vì đã là trò chơi thì phải có trao đổi tư tưởng, tri thức giữa các thành viên trong một nhóm khi tham gia trò chơi Trong trò chơi, các em có điều kiện để thể hiện mình, phát triển đầu óc sáng tạo, lòng kiên trì, dũng cảm vượt khó
Để giành phần thắng trong các trò chơi tập thể, các em phải biết cùng chơi, biết giúp
đỡ lẫn nhau, biết dung hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, tức là các em biết điều tiết hành vi của mình theo chuẩn mực của xã hội Và thông qua các trò chơi học tập, giáo viên có thể tìm hiểu được nguyên nhân yếu kém, chậm tiến của các em để có biện pháp khắc phục, luyện tập nhiều lần cho trẻ và nâng cao dần trình độ cho các
em
Bên cạnh đó, dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, để tổ (nhóm) mình giành phần thắng, các em ở trong tổ thi đua nhau cùng làm bài và giữ gìn trật tự Qua đó, có thể giáo dục đức tính trung thực, thật thà, ý thức tổ chức kỉ luật, ý thức
tự giác, tính độc lập, tự chủ và ý thức tôn trọng tập thể của các em
Khi chơi học sinh luôn sử dụng các giác quan (5 giác quan: xúc giác, thính giác, thị giác, vị giác và khứu giác) để phân tích, so sánh, tổng hợp, qua đó ngôn ngữ và tư duy được phát triển
1.2.3 Đặc điểm của trò chơi học tập
Trò chơi học tập là một dạng hoạt động, vì vậy nó mang trong mình những đặc điểm chung của các loại hoạt động: có phương hướng, có mục đích, có ý thức
và có đặc điểm chung của trò chơi Đặc điểm của trò chơi nói chung là mang lại cảm xúc chân thực, mạnh mẽ, đa dạng
- Trò chơi học tập có luật rõ ràng, do giáo viên hay người tổ chức đặt ra nhằm mục đích giáo dục và dạy học
- Trò chơi học tập có cấu trúc chặt chẽ, bao gồm các yếu tố: Mục đích của trò chơi học tập, hành động chơi, đối tượng, luật chơi và tổ chức chơi
- Trò chơi học tập là hoạt động tự do, tự nguyện vì các em hoàn toàn chủ động trong suy nghĩ, lựa chọn và hành động Trong trò chơi, vị trí của mọi thành viên
Trang 20tham gia trò chơi đều như nhau và được xác định bằng luật chơi Việc thực hiện luật chơi là tiêu chuẩn khách quan để đánh gia khả năng của người chơi
- Nội dung chính của là nhiệm vụ học tập (nhiệm vụ nhận thức chính là nhiệm
vụ chơi) Khi tham gia trò chơi này đòi hỏi các em phải huy động trí óc làm việc thật sự, được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, nhẹ nhàng
- Trò chơi học tập bao giờ cũng hướng về một kết quả nhất định Kết quả đó phải được thực hiện trong việc giải quyết nhiệm vụ của trò chơi học tập, đồng thời phải mang lại niềm vui, sự thoả mãn cho những người tham gia Kết quả của trò chơi học tập thể hiện sự cố gắng trong suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo trong việc nắm kiến thức và trong tính hợp tác của nhóm trẻ
1.2.4 Phân loại của trò chơi học tập
Những chức năng tâm sinh lí chủ yếu của con người xét từ bé đến lớn và qua suốt cuộc đời, được thể hiện trong mọi hoạt động, quan hệ, công việc và những lĩnh vực sinh hoạt khác nhau của cá nhân, là nhận thức, biểu cảm hay thái dộ và vận động Ba chức năng này cũng là những lĩnh vực phát triển hay những mục tiêu giáo dục, rèn luyện của học sinh trong quá trình dạy học Căn cứ vào các chức năng tâm sinh lí, Đặng Thành Hưng [6], phân loại trò chơi học tập theo 3 nhóm sau:
a Nhóm trò chơi phát triển nhận thức
Đó là loại trò chơi đòi hỏi người tham gia phải sử dụng các chức năng nhận thức, thực hiện các hành vi và hành động nhận thức để tiến hành các nhiệm vụ chơi, hoàn thành các luật và quy tắc chơi, tuân thủ những yêu cầu và mục đích chơi, nhờ vậy mà cải thiện và phát triển được khả năng nhận thức, quy trình và kết quả nhận thức của mình Trò chơi phát triển nhận thức lại được phân thành một số nhóm nhỏ:
- Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác: Ví dụ các trò chơi thi xếp hình theo hình dạng, màu sắc; trò chơi nhận dạng con vật; trò chơi phân biệt các sắc thái của màu;…
- Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ: Ví dụ như trò chơi kể và tiếp nối các từ đồng nghĩa, các đồ vật, các con vật, các chữ cái; trò chơi nhắc lại các âm, nốt nhạc;…
- Các trò chơi phát triển tưởng tượng và tư duy: Ví dụ các trò chơi thi giải đố, giải toán; các trò chơi có vai, phân vai, đóng kịch;…
b Nhóm trò chơi phát triển các giá trị
Đó là những trò chơi có nội dung văn hóa, xã hội, các quy luật hay quy tắc chơi được định hướng vào việc kích thích, khai thác các thái độ, tình cảm tích cực,
Trang 21động viên ý chí và nhu cầu xã hội, khuyến khích sự phát triển các phẩm chất cá nhân của người tham gia
Ví dụ: các trò chơi phân vai theo chủ đề, đóng kịch; các trò chơi dân gian; một số trò chơi đòi hỏi khả năng đánh giá sự vật hay hành vi, hành động, tính cách con người,
c Nhóm trò chơi phát triển vận động
Các trò chơi phát triển vận động là loại trò chơi khác với những trò chơi vận động,
nó có phạm vi rộng hơn Trò chơi vận động trực tiếp đòi hỏi vận động viên phải tuân theo luật hay quy tắc và nội dung chơi chủ yếu là vận động Còn trò chơi phát triển vận động vừa gồm các trò chơi vận động vừa gồm các trò chơi khác
- Hầu hết các trò chơi thể thao như chơi bóng, đá cầu, xếp hình bằng đội ngũ, đuổi bắt,…
- Các trò chơi có nội dung quân sự, lao động đòi hỏi phải vận động thể chất và
di chuyển cơ thể
1.2.5 Cấu trúc của trò chơi học tập
Trò chơi học tập có mọi đặc điểm của trò chơi thông thường, nhưng về cấu trúc nó kết hợp các yếu tố chơi và yếu tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động và quan hệ hiện thực Gồm những thành tố sau:
- Mục đích hay chủ định chơi: nó cũng là những nhiệm vụ học tập của học
sinh khi tham gia trò chơi Mục đích này chi phối tất cả các yếu tố của trò chơi Khi kết thúc trò chơi, mục đích đạt được của trò chơi được phản ánh ở kết quả hiện thực
mà học sinh thu được
- Các hành động chơi: là những hoạt động thực sự mà người tham gia trò chơi
tiến hành để thực hiện nhiệm vụ và vai trò của mình trong trò chơi
- Luật chơi: Mỗi trò chơi học tập đều có luật chơi, do nội dung chơi quy định
Luật chơi là tiêu chuẩn để đánh giá hành động chơi của học sinh đúng hay sai Luật chơi có vai trò xác định tính chất, phương pháp, hành động, tổ chức và điều khiển hành vi và mối quan hệ của các học sinh trong khi chơi
- Đối tượng: là những thành tố chính của các hoạt động, tuy nghiên để đáp
ứng tốt nhất nhiệm vụ học tập thì chúng cần được xác định và thiết kế chặt chẽ,
được chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng hơn trong luật chơi
- Các quá trình, tình huống và quan hệ: là những tiến trình, khuynh hướng của
các hoạt động, hành động chơi, bị tác động của luật chơi Dưới sự tác động của luật
Trang 22chơi, chúng diễn ra như là động thái của trò chơi, nhưng hướng vào mục đích của
dạy học [6, tr396-398]
1.3 Quy trình thiết kế và tổ chức trò chơi
1.3.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi
Để các trò chơi góp phần mang lại hiệu quả cao trong học tập, khi xây dựng
và thiết kế trò chơi, giáo viên cần tuân thủ những nguyên tắc:
- Giáo viên phải biết chọn lựa trò chơi sao cho phù hợp với bài dạy cả về nội dung và thời lượng
- Xác định mục tiêu của trò chơi đưa ra là gì?
- Trò chơi đưa ra phải đa dạng, phong phú, có tác dụng khích lệ tinh thần học tập cho tất cả các đối tượng học sinh trong lớp, tránh bỏ rơi học sinh yếu kém ngoài cuộc
- Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học Không nên chọn những trò chơi chỉ được mặt vui nhộn, thiếu tác dụng giáo dục về phẩm chất cũng như kĩ năng học tập
- Trò chơi phải phù hợp với tâm, sinh lí học sinh THPT, phù hợp với khả năng người hướng dẫn và cơ sở vật chất của nhà trường Nên kết hợp với công nghệ thông tin để kích thích sự hứng thú của học sinh
1.3.2 Quy trình thiết kế trò chơi học tập
Mỗi trò chơi nói chung đều nhằm mục đích cụ thể Một trò chơi phải có luật chơi, hành động chơi, trò chơi phải có tính thi đua giữa những người chơi, tức là có thắng thua, khen thưởng
Quy trình thiết kế một trò chơi học tập như sau:
Bước 1: Tên trò chơi
Tên trò chơi phải đảm bảo hai tiêu chí:
- Về nội dung: tên trò chơi phải liên quan đến luật chơi hay gợi mở cách thức chơi (trò chơi lucky number, hái táo, hái dừa,…)
- Về hình thức: tên trò chơi phải ngắn gọn, dễ hiểu, từ ngữ trong sáng, có thể lấy từ tên các câu chuyện, tên bài học,…
Bước 2: Xác định mục tiêu của trò chơi
Trước khi thiết kế trò chơi cụ thể, người thiết kế phải xác định được rõ ràng mục tiêu của cuộc chơi, tức là phải trả lời được câu hỏi: “Chơi để làm gì?” Mục
Trang 23tiêu của các trò chơi học tập gồm: mục tiêu chính là mục tiêu học tập (ôn lại bài cũ,
khởi động dẫn dắt bài mới, hình thành kiến thức mới hay củng cố bài học), hoặc
mục tiêu giải trí, mục tiêu rèn luyện sức khỏe,…
Bước 3: Xác định đối tượng, thời gian và địa điểm chơi
Quy định rõ ràng thời gian chơi, lượt chơi cho người chơi nắm được Xác
định số lượng học sinh tham gia trò chơi, nên tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều
tham gia trò chơi Xác định địa điểm chơi: ở trong lớp, ngoài sân trường, sân vận
động,… với không gian rộng hay hẹp, nếu tổ chức ở trong lớp học để dễ dàng quản
lý học sinh tránh các tai nạn, tiết kiệm thời gian
Bước 4: Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
Phương tiện chơi có thể do giáo viên chuẩn bị trước hoặc học sinh sưu tầm
trước theo sự phân công của giáo viên Các phương tiện chơi phải đảm bảo phục vụ
thiết thực cho cuộc chơi Giáo viên có thể thiết kế các trò chơi trên máy chiếu với
âm thanh, hình ảnh, video sáng tạo, hấp dẫn
Bước 5: Luật chơi
Xác định rõ quy tắc của hành động chơi quy định đối với người chơi, nhiệm
vụ của từng người, quy định thắng – thua của trò chơi
Bước 6: Các hoạt động chơi
Các hoạt động chơi là những hoạt động mà người tổ chức và người chơi thực
hiện trong quá trình chơi Bao gồm các bước sau:
+ Chuẩn bị
+ Tiến hành chơi (Có thể cho học sinh chơi thử)
+ Tổng kết, đánh giá trò chơi
1.3.3 Cách tổ chức trò chơi
Thông thường khi tổ chức một trò chơi, chúng ta cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị Bước này gồm những việc làm sau:
- Giáo viên giới thiệu tên trò chơi, mục tiêu trò chơi
- Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia, quản
trò, trọng tài
- Các công cụ sử dụng trong trò chơi (giấy khổ to, cờ, quân bài,…)
Trang 24- Phổ biến luật chơi, nêu rõ cách chơi: Từng việc làm cụ thể của từng người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được làm,…
- Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi
Bước 2: Tiến hành chơi
- Hô hiệu lệnh dứt khoát, các nhóm đồng loạt tiến hành
- Trọng tài quan sát, điều chỉnh, giúp đỡ các thành viên về cách chơi
Bước 3: Tổng kết, đánh giá trò chơi Bước này gồm những việc làm sau:
- Giáo viên nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng người, từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm
- Đánh giá kết quả trò chơi: Giáo viên công bố kết quả trò chơi khách quan, công bằng, chính xác giúp học sinh nhận thức được ưu điểm và tồn tại để cố gắng ở những trò chơi tiếp theo Trao phần thưởng cho người, đội chơi đoạt giải
- Động viên, khích lệ ý thức, tinh thần cố gắng của các em, tuyên dương, khen ngợi hay khen thưởng bằng vật chất tạo không khí vui vẻ, phấn khởi và để lại những
ấn tượng tốt đẹp trong tập thể học sinh về các trò chơi
- Một số học sinh nêu kiến thức, kĩ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện
1.4 Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học Toán
- 10 giáo viên Toán trường THPT Mỹ Hào
- 82 học sinh ở 2 lớp 11A2, 11A5 trường THPT Mỹ Hào
1.4.3 Thời gian khảo sát
Từ ngày 25/11/2018 đến ngày 30/11/2018, khi đó học sinh đã được học chủ
đề này
1.4.4 Phương pháp khảo sát
Sử dụng phiếu khảo sát gồm hai loại như sau:
Trang 25- Phiếu khảo sát được thiết kế dưới dạng câu hỏi đóng và mở dành cho giáo viên: người được khảo sát chỉ cần đánh dấu (X) vào các ô trống có sẵn và viết câu trả lời tự luận cho câu hỏi mở Phiếu này dùng để khảo sát mức độ xây dựng, sử dụng trò chơi Toán học, thái độ đối với việc đưa trò chơi Toán học này vào giảng dạy, các nguồn tài liệu về trò chơi Toán học mà thầy cô sử dụng (Phụ lục 1.2)
- Phiếu khảo sát được thiết kế dưới dạng câu hỏi đóng và mở dành cho học sinh: người được khảo sát đánh dấu (X) vào các ô trống có sẵn và viết câu trả lời tự luận cho câu hỏi mở Phiếu này dùng để khảo sát mức độ tiếp cận và hứng thú học tập của học sinh đối với các trò chơi Toán học (Phụ lục 1.1)
Xử lí kết quả khảo sát: Thống kê các kết quả thu thập được, biểu diễn dưới dạng phần trăm và đưa ra đánh giá chung về kết quả điều tra của từng câu hỏi khảo sát
- Có 54,88% học sinh trả lời chưa bao giờ gặp các trò chơi trong quá trình học phương trình lượng giác; 24,39% có gặp nhưng rất ít; 20,73% thỉnh thoảng gặp; không có học sinh nào trả lời thường xuyên gặp Điều này cho thấy tần suất xuất
hiện các trò chơi trong dạy và học phương trình lượng giác còn rải rác, hơn 1
2 số học sinh được hỏi chưa gặp bao giờ
- Có 8,54% học sinh trả lời việc sử dụng trò chơi trong chương trình môn Toán không cần thiết; 18,29% có cũng được, không có cũng không sao; 68,29% tương đối cần thiết; 4,88% rất cần thiết Điều này cho thấy phần lớn học sinh tự nhận thức được sự cần thiết của trò chơi trong dạy và học môn Toán
- Có 3,66% học sinh trả lời không hứng thú với việc sử dụng trò chơi trong giờ học Toán; 12,2% ít hứng thú; 51,22% hứng thú; 32,92% rất hứng thú Điều này cho thấy học sinh có hứng thú với các trò chơi đã được sử dụng
Trang 26- Có 18,29% học sinh trả lời rằng các trò chơi đã gặp trong giờ Toán dễ chơi; 58,54% bình thường; 12,2% trả lời là khó; 10,97% cho rằng rất khó Điều này cho thấy các trò chơi học sinh được gặp thường có độ khó trung bình, học sinh nào cũng
có thể chơi được
- Không có học sinh nào cho rằng mức độ giải trí của các trò chơi được sử dụng trong giờ Toán là không có; 14,63% có thấy tính giải trí nhưng rất ít; 82,93% trả lời rằng vừa đủ; 2,44% thấy nhiều Điều này cho thấy tính giải trí trong các trò chơi đã sử dụng là vừa đủ, không quá nhiều hay quá ít
- Không có học sinh nào trả lời lượng kiến thức trong các trò chơi được sử dụng trong giờ Toán là không có; 18,29% thấy ít; 40,24% trả lời rằng vừa đủ; 41,47% trả lời rằng nhiều Điều này cho thấy các trò chơi được sử dụng đã cân bằng giữa tính giải trí và lượng kiến thức
- Không có học sinh nào trả lời không nhận được lượng kiến thức môn Toán sau mỗi trò chơi; 14,63% thấy ít; 85,37% cho rằng tương đối Điều này cho thấy sau mỗi trò chơi, học sinh đều nhận được một lượng kiến thức tương đối
- Có 10,98% học sinh trả lời rằng không nhớ gì sau mỗi trò chơi trong giờ học Toán; 28,05% thấy mau quên; 41,46% trả lời nhớ được một thời gian; 19,51% cho rằng nhớ lâu Điều đó cho thấy sau mỗi trò chơi, học sinh có nhớ kiến thức nhưng rất dễ quên
- Có 92,68% học sinh mong sử dụng trò chơi trong hoạt động khởi dộng; 12,2% học sinh mong sử dụng trong hoạt động hình thành kiến thức; 78,05% học sinh mong sử dụng trong hoạt dộng luyện tập; 51,22% học sinh mong sử dụng trong hoạt động kiểm tra, đánh giá Điều này cho thấy rằng, học sinh mong muốn sử dụng trò chơi chủ yếu ở hoạt động khởi động, luyện tập và củng cố kiến thức
Sau khi khảo sát 10 giáo viên Toán, qua thống kê, phân tích các phiếu điều tra, ta có kết quả sau:
- Có 60% giáo viên trả lời rằng có sử dụng trò chơi trong dạy học nhưng rất ít; 40% giáo viên trả lời rằng sử dụng thường xuyên Điều này cho thấy rằng giáo viên
đã tiếp cận và đã đưa trò chơi vào giảng dạy
- Có 30% giáo viên trả lời không sử dụng trò chơi trong dạy học phương trình lượng giác lớp 11; 50% giáo viên có sử dụng nhưng rất ít; 20% giáo viên sử dụng khá thường xuyên
Trang 27- Khi hỏi về sự cần thiết của việc sử dụng trò chơi trong chương trình môn Toán, 20% giáo viên trả lời có cũng được, không có cũng không sao; 70% giáo viên thấy tương đối cần thiết; 10% giáo viên thấy rất cần thiết Điều này cho thấy đã nhận thấy được sự cần thiết của việc đưa trò chơi vào dạy học môn Toán THPT
- Có 80% giáo viên trả lời rằng học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, tốt hơn, hứng thú học hơn; có 10% giáo viên trả lời rằng học sinh tiếp thu bài bình thường; 10% giáo viên cho rằng học sinh có hứng thú nhưng giải bài chậm Điều này cho thấy các trò chơi mà giáo viên đã đưa vào bài giảng của mình thu hút được sự chú ý, hứng thú học tập của học sinh
- Có 80% giáo viên sử dụng trò chơi ở mức độ dễ; 20% giáo viên sử dụng ở mức độ bình thường Điều này cho thấy giáo viên đã biết lựa chọn trò chơi mà tất cả học sinh đều tham gia được
- Có 100% giáo viên sử dụng trò chơi trong hoạt động khởi động; 60% giáo viên sử dụng trong hoạt động luyện tập; 70% giáo viên sử dụng trong hoạt động củng cố kiến thức; 20% giáo viên sử dụng trong hoạt động hình thành kiến thức Điều này cho thấy giáo viên đã sử dụng trò chơi ở nhiều giai đoạn khác nhau trong
quá trình dạy học Toán
- Có 100% giáo viên trả lời rất mong trò chơi được sử dụng nhiều trong dạy học Điều này cho thấy giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng và mong muốn
sử dụng trò chơi trong dạy học môn Toán
- Khi hỏi về sự hỗ trợ nếu sử dụng trò chơi trong dạy học môn Toán THPT, hầu hết giáo viên trả lời cần được hỗ trợ về mặt cơ sở vật chất như máy chiếu, loa… cho các phòng học Điều này cho thấy cơ sở hạ tầng ở trường THPT còn hạn chế, thiếu thốn
Trang 28Kết luận chương 1
Ở chương 1, chúng tôi đã hệ thống được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
sử dụng trò chơi trong dạy học môn Toán Trong đó, những vấn đề chúng tôi đặc biệt quan tâm là:
- Một số vấn đề cơ bản về đổi mới giáo dục
- Khái niệm, vai trò, quy trình thiết kế của trò chơi
- Thực trạng xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học ở phổ thông Để tìm hiểu thực trạng xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán này, chúng tôi đã thực hiện khảo sát ở cả hai đối tượng là giáo viên Trung học phổ thông và học sinh lớp 11 Qua đó thấy được việc xây dựng và sử dụng trò chơi còn chưa thực sự được quan tâm, do đó cần tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng và sử dụng để đạt được hiệu quả cao trong dạy và học Tất cả những điều trình bày ở trên, chúng tôi vận dụng để thiết kế trò chơi trong dạy học chủ đề phương trình lượng giác mà nội dung nghiên cứu cụ thể sẽ được trình bày ở chương sau
Như vậy chương 1 chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ 5.1 và 5.2 được đề ra ở đầu khóa luận này
Trang 29CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC PHƯƠNG
TRÌNH LƯỢNG GIÁC
2.1 Mục tiêu và nội dung của phương trình lượng giác trong chương trình Toán THPT
2.1.1 Mục tiêu của chương trình lượng giác ở THPT
2.1.1.1 Về kiến thức Giúp học sinh:
- Hiểu trong định nghĩa các hàm số lượng giácysinx,ycosx,y tanx
cot
y x,xlà số thực và là số đo radian (không phải số đo độ) của góc (cung) lượng giác Hiểu tính chẵn, lẻ, tính tuần hoàn của các hàm số lượng giác, tập giá trị, tập xác định của các hàm số đó Biết dựa vào trục sin, trục côsin, trục tang, trục côtang gắn với đường tròn lượng giác để khảo sát sự biến thiên của các hàm số tương ứng
- Hiểu phương pháp xây dựng công thức nghiệm của các phương trình lượng giác cơ bản: sử dụng đường tròn lượng giác, các trục sin, côsin, tang, côtang và tính tuần hoàn của các hàm số lượng giác,… Nắm vững công thức nghiệm của các phương trình lượng giác cơ bản
- Nắm vững cách giải một số loại phương trình lượng giác đơn giản: dạng phương trình bậc nhất và bậc hai dối với một hàm số lượng giác, dạng phương trình bậc nhất đôi với sinx và cosx, dạng phương trình thuần nhất bậc hai đối với sinx và cosx, một vài phương trình có thể quy về các dạng trên
2.1.1.2 Về kỹ năng
Giúp học sinh nhận biết hình dạng và vẽ đồ thị của các hàm số lượng giác cơ bản; biết vận dụng thành thạo công thức nghiệm của các phương trình lượng giác cơ bản; biết cách biểu diễn nghiệm của các phương trình lượng giác cơ bản trên đường tròn lượng giác; giúp học sinh nhận biết và giải thành thạo các dạng phương trình lượng giác đơn giản
2.1.2 Nội dung phương trình lượng giác ở THPT
Phân phối chương 1: “Hàm số lượng giác và phương trình lượng giác” của
ĐS & GT lớp 11 nâng cao gồm 3 bài: Các hàm số lượng giác; Phương trình lượng giác cơ bản; Một số dạng phương trình lượng giác đơn giản Một số phương trình lượng giác cơ bản mà học sinh sẽ được học đó phương trình sin x m, phương trình
Trang 30cos xm, phương trình tan xm, phương trình cot xm Một số phương trình lượng giác đơn giản đó là phương trình bậc nhất và bậc hai đối với một hàm số lượng giác, phương trình bậc nhất đối với sin x và cos x, phương trình thuần nhất bậc hai đối với sin xvà cos x và một số dạng phương trình đưa được về hai dạng phương trình trên
Trong nội dung phương trình lượng giác, sách giáo khoa không yêu cầu học sinh giải các phương trình đòi hỏi biến đổi phức tạp và không xét các phương trình lượng giác có chứa tham số vì đa số các bài này thường dẫn đến phần biện luận khá phức tạp, nên nếu cần, có thể đưa vào các chuyên đề tự chọn vì thời gian trên lớp không đủ để nói về phần này
Nội dung bất phương trình lượng giác chỉ được trình bày trong bài học thêm Trong hệ thống bài tập cũng không có các bài tập về bất phương trình lượng giác Trong chương trình của hầu hết các nước trên thế giới và trong khu vực cũng không hoặc chỉ đề cập hết sức đơn giản đến vấn đề bất phương trình lượng giác
SGK yêu cầu về giải các phương trình lượng giác ở đây được giảm nhẹ rất nhiều so với trước đây Tuy nhiên, giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải các phương trình lượng giác cơ bản, các phương trình lượng giác thật thành thạo Đó là cơ sở để học sinh nâng cao kĩ năng giải các phương trình phức tạp hơn
2.2 Mục tiêu thiết kế trò chơi trong dạy học phương trình lượng giác
Khi đưa trò chơi vào dạy học phương trình lượng giác sẽ:
- Giúp học sinh nhớ được các công thức lượng giác và không bị nhầm lẫn
- Nếu đưa một trò chơi vào đầu mỗi tiết học để nhắc lại các công thức lượng giác, giáo viên vừa có thể kiểm tra bài cũ, học sinh vừa có thể ôn lại các công thức lượng giác Khi đó, đà học sẽ không bị ngắt quãng
- Giáo viên có thể đưa được nhiều dạng bài tập của phương trình lượng giác vào trong một trò chơi nên học sinh sẽ không bị bỏ lỡ bất kỳ một dạng bài tập nào
- Ban đầu, giáo viên đưa các bài tập về phương trình lượng giác cơ bản để học sinh làm thành thạo, sau đó nâng dần độ khó của các dạng bài tập thì học sinh sẽ không cảm thấy bỡ ngỡ, khó khăn khi gặp các bài tập tương tự
- Được làm quen và giải các dạng bài tập phương trình lượng giác, học sinh sẽ
tự tìm cho mình một cách giải nhanh nhất, biết vận dụng đúng công thức lượng giác vào giải bài tập,…
Trang 31- Kết hợp giữa chơi và học sẽ giúp học sinh có hứng thú, không cảm thấy chán nản mỗi khi đến tiết học
- Giáo viên không phải lo lắng, đau đầu để tìm các phương pháp dạy học để học sinh tiếp thu được hết kiến thức của phương trình lượng giác
2.3 Thiết kế trò chơi
2.3.1 Trò chơi “Truyền điện”
Bước 1: Tên trò chơi: “Truyền điện”
Bước 2: Mục tiêu
- Luyện tập và củng cố các công thức lượng giác cho học sinh
- Luyện phản xạ nhanh cho học sinh
- Tạo hứng thú học tập cho học sinh
Bước 3: Xác định đối tượng, thời gian, điạ điểm chơi
- Đối tượng tham gia: tất cả học sinh trong lớp
- Thời gian: 5 phút
- Địa điểm chơi: trong phòng học của các lớp
Bước 4: Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị giáo án tiết dạy, học sinh ôn lại các công
thức lượng giác đã học ở lớp 10
Bước 5: Luật chơi
- Luật chơi như sau: Giáo viên đọc to một công thức lượng giác, chẳng hạn
“sin2a” và chỉ nhanh vào học sinh A bất kỳ để “truyền điện” Lúc này học sinh A phải đọc được công thức đó, ví dụ “sin2a = 2.sina.cosa” Mỗi học sinh có 5 giây để trả lời
+ Nếu học sinh A trả lời đúng thì được quyền đọc to một công thức lượng giác giống như giáo viên rồi chỉ vào một bạn B nào đó để “truyền điện” tiếp
+ Nếu học sinh A trả lời sai hoặc hết thời gian trả lời thì phải nhảy lò cò từ chỗ ngồi của mình lên bảng và trở về chỗ để tiếp tục “truyền điện”
Cứ tiếp tục xoay vòng đến khi giáo viên kêu dừng lại thì trò chơi kết thúc
Bước 6: Các hoạt động chơi
Hoạt động 1: Chuẩn bị
- Trước khi vào bài học ngày hôm nay, chúng ta sẽ nhắc lại các công thức lượng giác thông qua trò chơi: “Truyền điện”
Trang 32- Trò chơi này cả lớp cùng tham gia và hoạt động cá nhân
- Giáo viên nêu luật chơi và cho học sinh chơi thử
Hoạt động 2: Tiến hành chơi
- Giáo viên là người bắt đầu, giáo viên sẽ hô to một công thức lượng giác và chỉ vào một học sinh bất kì trong lớp
- Học sinh được chỉ đứng dậy đọc công thức đó và chỉ vào một học sinh bất kì khác và cứ tiếp tục xoay vòng như vậy như vậy đến khi kết thúc trò chơi
Hoạt động 3: Tổng kết, đánh giá trò chơi
- Kết thúc trò chơi, giáo viên và cả lớp khen và thưởng một tràng vỗ tay cho những bạn trả đúng và nhanh
- Trò chơi này vừa giúp học sinh nhớ lại các công thức lượng giác đã học ở lớp 10 vừa giúp giáo viên kiểm tra bài cũ của học sinh
2.3.2 Trò chơi “ Chung sức”
Bước 1: Tên trò chơi: “Chung sức”
Bước 2: Mục tiêu
- Luyện tập và củng cố bài tập phương trình lượng giác đơn giản cho học sinh
- Rèn luyện tính trách nhiệm, cộng đồng cho học sinh
- Thay vì dùng phương pháp thảo luận nhóm bình thường mà chúng ta thường
sử dụng, thì trò chơi “Chung sức” sẽ giúp học sinh thảo luận nhóm một cách nhẹ nhàng, hiệu quả, không bị gò ép, rập khuôn
- Nhờ sự “Chung sức” của mỗi đội chơi, nhất là sự đóng góp, diễn giải của những học sinh tích cực, học sinh khá-giỏi, các em học sinh trung bình, yếu kém sẽ
có thêm cơ hội để nắm bắt kiến thức đã học, có thêm cơ hội để lấy điểm
Bước 3: Xác định đối tương, thời gian, địa điểm chơi
- Số lượng tham gia: học sinh trong lớp chia thành 4 đội chơi
- Học sinh chuẩn bị bút lông, máy tính
Bước 5: Luật chơi
Trang 33- Luật chơi như sau: Có 4 câu hỏi dành cho 4 đội, các đội sẽ trình bày đáp án
ra giấy A4 Khi có hiệu lệnh bắt đầu, đại điện mỗi đội lên lấy đề bài câu 1 Đội nào làm xong câu 1, nộp đáp án mới được phát đề câu 2, xong câu 2 nộp đáp án mới được phát đề câu 3, xong câu 3 nộp đáp án mới được phát đề câu 4 Cứ thế đến hết thời gian 12 phút, tất cả các đội dừng bút và nộp hết phiếu đáp án của đội mình Giáo viên cho các đội chấm chéo đáp án của nhau, đội nào có điểm cao nhất thì chiến thắng, đội nào thua sẽ bị phạt
Bước 6: Tổ chức chơi
Hoạt động 1: Chuẩn bị
- Để các em giải được thành thạo các phương trình lượng giác đơn giản, chúng ta sẽ chơi một trò chơi, trò đó có tên là “Chung sức”
- Giáo viên chia lớp thành 4 đội (4 đội là 4 tổ) và đánh số từng đội Giáo viên
sẽ làm quản trò, bấm thời gian, quan sát các đội và phát đề cho các đội
- Giáo viên nêu luật chơi cho các đội
Hoạt động 2: Tiến hành chơi
- Giáo viên hô hiệu lệnh bắt đầu, đại diện 4 nhóm lên lấy đề bài câu 1 Sau đó đội nào xong câu 1 nộp đáp án mới được lên lấy đề bài câu 2 Tiếp tục như vậy đến khi hết thời gian 12 phút, giáo viên thu hết đáp án của các đội Các đội chấm chéo đáp án của nhau, đội nào có số điểm cao nhất thì chiến thắng
- Các câu hỏi trong trò chơi như sau:
Câu 1: Giải phương trình: 3sin x 2cos x 0
Câu 2: Giải phương trình: 3cos x 4sin x 5
Câu 3: Giải phương trình: sin 9x 3 cos9x 1
Câu 4: Giải phương trình: sin 2 x sin 4 x sin 6 x
Hoạt động 3: Tổng kết, đánh giá trò chơi
- Kết thúc trò chơi, giáo viên cho các đội chấm chéo bài nhau để tìm ra đội có điểm cao nhất và trao thưởng Phần thưởng cho đội chiến thắng là mỗi thành viên được cộng 10 điểm
Trang 34- Giáo viên nhận xét thái độ tham gia trò chơi của các đội và củng cố lại cách
giải phương trình bậc nhất đối với sinx với cosx
2.3.3 Trò chơi “Ai thấy sai chỉ giúp?”
Bước 1: Tên trò chơi: “Ai thấy sai chỉ giúp?”
Bước 2: Mục tiêu
- Thông qua việc suy nghĩ, lập luận để tìm ra chỗ sai của một số phương trình lượng giác đã được giải sẵn, học sinh sẽ hiểu chắc, hiểu sâu kiến thức đã học và tránh được những sai lầm về sau
- Khởi dậy một cách mạnh mẽ khả năng tư duy tích cực của học sinh
Bước 3: Xác định đối tượng, thời gian, địa điểm chơi
- Số lượng tham gia: chia lớp thành 4 đội chơi
Bước 5: Luật chơi
- Luật chơi như sau: Có tất cả 5 bài toán bị sai một số chỗ và yêu cầu học sinh phải tìm ra được chỗ sai và sửa lại cho đúng Sau khi giáo viên đưa ra bài toán, 4 nhóm suy nghĩ trong 60 giây và giơ cờ để giành quyền trả lời Nếu nhóm tìm được chỗ sai và sửa được thì được cộng 20 điểm Hết 5 câu, đội nào có nhiều điểm nhất thì chiến thắng, đội nào thua sẽ bị phạt
Bước 6: Các hoạt động chơi
Hoạt động 1: Chuẩn bị
- Khi giải phương trình lượng giác, chúng ta thường hay mắc một số sai lầm
Và để tránh được những sai lầm đó, chúng ta sẽ chơi một trò chơi, đó là “Ai thấy sai chỉ giúp?”
- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, giáo viên làm trọng tài
- Giáo viên nêu luật chơi
Hoạt động 2: Tiến hành chơi
Trang 35- Giáo viên chiếu bài toán 1, 4 đội suy nghĩ trong 60 giây và giơ cờ để giành quyền trả lời Đội nào tìm được lỗi sai và sửa thì được cộng 20 điểm Hết 5 câu, đội nào có nhiều điểm nhất sẽ giành chiến thắng
- Bộ câu hỏi như sau:
Bài toán 1: Giải phương trình
315
4
Trang 36 Hoạt động 3: Tổng kết, đánh giá trò chơi
- Kết thúc trò chơi giáo viên nhận xét thái độ và khả năng quan sát của học sinh Thưởng cho đội chiến thắng, phạt đối với đội thua
- Các slide powerpoint như sau:
2.3.4 Trò chơi “Hái dừa”
Bước 1: Tên trò chơi: “Hái dừa”
Bước 2: Mục tiêu
- Củng cố cách giải phương trình lượng giác cho hoc sinh
- Tạo không khí thi đua, hứng thú học tập cho học sinh
- Kích thích khả năng tư duy, sáng tạo cho học sinh
Bước 3: Xác định đối tượng, thời gian, địa điểm chơi
- Đội tương tham gia: 2 đội chơi
- Thời gian: 10 phút
- Địa điểm chơi: Phòng học các lớp
Bước 4: Chuẩn bị
- Giáo viên chuẩn bị cây dừa với nhiều quả dừa, mỗi quả dừa là một câu hỏi
và chuẩn bị powerpoint cho trò chơi
Bước 5: Luật chơi
Trang 37- Luật chơi như sau: Trên cây có tất cả 10 quả dừa Chú khỉ sẽ đưa ra 10 câu hỏi cho cả 2 đội chơi Bắt đầu từ đội A sẽ trả lời câu hỏi đầu tiên, sau đó đến đội B,
và cứ tiếp tục như vậy đến khi hết câu hỏi Mỗi đội có 60 giây suy nghĩ và trả lời câu hỏi Trường hợp 1, đến lượt đội A mà đội A trả lời đúng câu hỏi thì quả dừa sẽ thuộc về đội A Trường hợp 2, đến lượt đội B mà đội B không trả lời được câu hỏi
và đội A trả lời được thì quả dừa thuộc về đội A Trường hợp 3, cả 2 đội không trả lời được câu hỏi thì quả dừa sẽ được giữa nguyên trên cây Kết thúc trò chơi, đội nào có nhiều dừa nhất thì chiến thắng
Bước 6: Các hoạt động chơi
Hoạt động 1: Chuẩn bị
- Để củng cố bài tập dạng phương trình bậc nhất đối với sinx và cosx, chúng ta
sẽ chơi trò chơi “Hái dừa”
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội chơi và chọn đội A hoặc B
- Giáo viên nêu luật chơi
Hoạt động 2: Tiến hành chơi
- 2 đội lần lượt chọn một quả dừa và trả lời câu hỏi trong quả dừa đó Mỗi đội
sẽ có 60 giây để suy nghĩ và trả lời câu hỏi Nếu trả lời đúng thì được 1 quả dừa Nếu trả lời sai thì đội kia sẽ được quyền trả lời Nếu cả 2 đội không đưa ra được đáp
án thì quả dừa đó sẽ không thuộc về đội nào Kết thúc trò chơi, đội nào có nhiều dừa nhất sẽ giành chiến thắng
Bộ câu hỏi trong trò chơi như sau:
Câu hỏi 1: Nghiệm của phương trình cos x sin x 0 là
Trang 383sin 3x 3 cos9x 1 4sin 3x là:
Câu hỏi 5: Tập nghiệm của phương trình 2
sin x 3 sin cosx x cos 2x 0 là:
Câu hỏi 7: Tổng các nghiệm của phương trình cos 2x 3 sin 2x 1trong khoảng (0;π) là:
3
Câu hỏi 8: Số nghiệm của phương trình sin 2x 3 cos 2x 3 trong khoảng (0; ) là:
Trang 39C 3 D 4
Câu hỏi 9: Phương trình (m2)sinx2 cosm x2(m1) có nghiệm khi:
04
m m
Câu hỏi 10: Tìm m để phương trình 2
3cosxsinx 2(m 1)vô nghiệm:
A m ; 1 1; B m 1;1
C m ; D m ;0 0;
Hoạt động 3: Tổng kết, đánh giá trò chơi
- Kết thúc trò chơi, giáo viên nhận xét thái độ tham gia trò chơi của học sinh
và nêu những lưu ý khi giải phương trình bậc nhất đối với sinx và cosx để học sinh
cần phải tránh khi làm bài Thưởng cho đội chiến thắng, đội thua thì bị phạt
- Một số slide trong powerpoint minh họa cho trò chơi:
Trang 40
2.3.5 Trò chơi “Lucky number”
Bước 1: Tên trò chơi: “Lucky number”
Bước 2: Mục tiêu
- Kích thích khả năng tư duy, sự tò mò của học sinh, tạo cho mọi thành phần học sinh trong lớp cùng vui vẻ, tích cực tham gia học tập
- Rèn luyện khả năng tư duy và trình bày ngắn ngọn trong thời gian ngắn
- Luyện tập và củng cố phương trình lượng giác đơn giản cho học sinh
Bước 3: Xác định đối tượng, thời gian, địa điểm chơi
- Số lượng học sinh tham gia: chia lớp thành 3 đội chơi
- Học sinh chuẩn bị giấy bút để làm câu hỏi mà mình chọn được
Bước 5: Luật chơi
- Luật chơi như sau: Trò này gồm 6 con số, đằng sau các con số là các phương trình lượng giác và có 1 con số may mắn, lần lượt đại diện các đội 1, 2, 3 chọn 1 con số Nếu chọn vào con số may mắn thì không cần trả lời câu hỏi và được cộng
10 điểm Nếu chọn vào con số có phương trình lượng giác thì phải giải được phương trình lượng giác đó Đúng thì được cộng 10 điểm, sai thì các đội khác trả lời Mỗi đội có 60 giây suy nghĩ và lên bảng trình bày đáp án Cứ xoay vòng như vậy đến khi các con số chọn hết, đội nào có điểm cao nhất thì chiến thắng
Bước 6: Các hoạt động chơi
Hoạt động 1: Chuẩn bị
- Vừa để thay đổi không khí lớp học, vừa để củng cố lại cách giải của các phương trình lượng giác đơn giản, chúng ta sẽ chơi một trò chơi, đó là “Lucky number”
- Giáo viên chia lớp thành 3 đội chơi và đánh số từng đội, giáo viên làm trọng tài
- Giáo viên nêu luật chơi của trò chơi
Hoạt động 2: Tiến hành chơi