MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC .... Những loại hình nghệ thuật quân sự đã trở thàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
NGUYỄN XUÂN TÁM
NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI
CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Hà Nội – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
NGUYỄN XUÂN TÁM
NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI
CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học
CN Trần Ngọc Lâm
Hà Nội - 2018
Trang 3Em xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè trong lớp và người thân trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành khóa luận cuối khóa
Trong quá trình làm khóa luận do thời gian nghiên cứu có hạn, cho nên khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện và đầy đủ hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Xuân Tám
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu và sự
cố gắng nỗ lực của bản thân em dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Thượng
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
STT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
1 BCHTW Ban chấp hành trung ương
3 GDQP&AN Giáo quốc phòng và an ninh
4 LLVT Lực lượng vũ trang
5 QP & AN Quốc phòng và an ninh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
8 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN 3
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI TRONG CHIẾN TRANH 4
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 4
1.1.1 Khái niệm về Thế trận 4
1.1.2.Khái niệm về Thời 4
1.1.3.Khái niệm về Lực 5
1.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI TRONG CHIẾN TRANH 5
1.2.1 Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp lực, thế, thời của ông cha ta 5
1.2.2 Nghệ thuật tạo sức mạnh từ khi có Đảng lãnh đạo 8
Trang 7TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 11
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC 12
2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP 12
2.1.1 Bối cảnh quốc tế 12
2.1.2 Bối cảnh trong nước 14
2.1.3 Vai trò Đảng Cộng sản Việt Nam 15
2.2 NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP 17
2.2.1 Nghệ thuật tạo sức mạnh bằng lực 17
2.2.2 Nghệ thuật tạo sức mạnh bằng thế 25
2.2.3 Nghệ thuật tạo sức mạnh bằng thời 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 36
CHƯƠNG 3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM NHẰM NÂNG CAO NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY 37
3.1 PHÁT HUY TINH THẦN TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN, ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC, BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 37
Trang 83.2 XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY TINH THẦN ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ
QUỐC 43
3.3 ĐỀ RA ĐƯỢC ĐƯỜNG LỐI ĐÚNG ĐẮN VÀ QUÁN TRIỆT THỰC HIỆN SÂU RỘNG TRONG TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN VÀ TOÀN QUÂN 46
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 9
Trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành và phát triển, góp phần quan trọng vào thắng lợi của dân tộc Những loại hình nghệ thuật quân sự đã trở thành binh pháp tiêu biểu như: Nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật sử dụng lực lượng vũ trang, nghệ thuật tổng hợp sức mạnh lực, thế, thời và mưu kế, nghệ thuật nghi binh…
Lực, thế, thời là ba yếu tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau tạo nên chiến thắng, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Pháp, kẻ thù có sức mạnh quân sự, tiềm lực kinh tế hơn ta nhưng Đảng ta đã vận dụng được lực lượng, thế trận và nắm bắt thời cơ, tạo thời cơ đúng lúc để chiến thắng đối phương điển hình như Chiến dịch biên giới 1950 và đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta, có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đến thắng lợi của dân tộc ta, giúp chúng ta hiểu được nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời là bài học kinh nghiệm
vô cùng quý báu, cũng là cơ sở để Đảng ta vận dụng nghệ thuật đó vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Vì vậy tác giả chọn đề tài:” Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp lực, thế, thời trong kháng chiến chống pháp” làm
đề tài khóa luận cuối khóa của mình
Trang 103 Nhiệm vụ nghiên cứu
làm rõ những vấn đề chung về nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lục, thế, thời trong chiến tranh
Làm rõ những vấn đề chung của nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp lực, thế, thời trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Đồng thời đưa ra một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời của Đảng ta trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
5 Phạm vi nghiên cứu
Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng minh
Trang 113
Thông qua việc nghiên cứu thu thập tài liệu của Đảng, Quân đội, các kênh thông tin quân đội, lịch sử quân sự Việt Nam
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Củng cố sâu sắc thêm nội dung, kiến thức về nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời dưới sự lãnh đạo của đảng trong kháng chiến chống Pháp nói riêng
Kết quả làm tài liệu nghiên cứu học tập các nội dung liên quan
Phát triển và vận dụng nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
8 Bố cục của khóa luận
Gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận, tài liệu tham khảo
Trang 12Theo từ điển bách khoa Quân sự Việt Nam:
Thế trận là tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng và thiết bị chiến trường nhằm tạo thế có lợi và phát huy cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng tham chiến để giành thắng lợi trong tác chiến Thế trận phải phù hợp với ý định tác chiến Thế trận luôn vận động và phát triển theo các hoàn cảnh, điều kiện củ thể của việc đối chọi mưu kế và cách đánh giữa hai bên đối địch Thế trận trong phạm vi chiến thuật là đội hình chiến đấu, trong phạm vi chiến dịch
và bố trí chiến dịch, trong phạm vi cả cuộc chiến tranh là bố trí chiến lược Thế trận càng hiểm, mưu kế càng hay thì sức mạnh của lực lượng càng lớn Trong chiến tranh nhân dân ở Việt Nam thế trận rất phong phú như: thế trận cài răng lược, thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc…
1.1.2.Khái niệm về Thời
Theo từ điển bách khoa Quân sự Việt Nam:
Thời là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định rất có lợi cho việc phát huy sức mạnh giành thắng lợi trong khởi nghĩa, chiến tranh và trong tác chiến Thời cơ có thể do năng động chủ quan tạo nên và cũng có thể do sai lầm của đối phương hoặc điều kiện khách quan đưa đến Thời cơ thường xuất hiện rất nhanh, đột ngột và đi cũng rất nhanh Có thời cơ chiến lược, chiến dịch, chiến thuật Tạo thời cơ, nắm bắt đúng thời cơ, hành động đúng thời cơ
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giành thắng lợi
Trang 135
Thời cơ khởi nghĩa là thời cơ bảo đảm cho khởi nghĩa giành thắng lợi,
đó là: Kẻ thù khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng, đa số quần chúng ủng hộ khởi nghĩa, tổ chức lãnh đạo khởi nghĩa đã sẵn sàng hành động Thời cơ khởi nghĩa chỉ xuất hiện khi các điều kiện khách quan và chủ quan đã chín muồi,
có sự tác động, kết hợp chặt chẽ với nhau, chớp đúng thời cơ khởi nghĩa thành công
1.1.3 Khái niệm về Lực
Theo từ điển bách khoa Quân sự Việt Nam:
Có lực lượng Quân sự, lực lượng chính trị, lực lượng kinh tế, lực lượng
vũ trang, lực lượng tinh thần ”Lực”: Gọi tắt của lực lượng, thường dùng đi đôi với thuật ngữ thế Lực là toàn bộ sinh lực, phương tiện vật chất và các khả năng khác được dùng để tiến hành chiến tranh và các hoạt động quân sự Lực
là sinh lực, phương tiện vật chất được sử dụng chủ yếu, thứ yếu, tiến công
1.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI TRONG CHIẾN TRANH
1.2.1 Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp lực, thế, thời của ông cha ta
Việt Nam có truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước vô cùng oanh liệt trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược và thường ở trong tình thế chiến đấu không cân sức, nhất là vào thời
kì đầu của cuộc khởi nghĩa hoặc chiến tranh So với lực lượng đối kháng, nói chung chúng ta thua kém trên nhiều phương diện, ngoại trừ tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí độc lập tự do của nhân dân Chính trong cuộc chiến không cân sức kéo dài ấy mà dân tộc ta hình thành nên rất nhiều loại hình nghệ thuật quân sự đặc sắc như nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật chiến tranh du kích, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang …và nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực,
Trang 14Ngô Quyền chỉ có một đội quân nhỏ mà trong mấy ngày đã đánh tan đội quân Nam Hán lớn mạnh hơn Đội quân nhỏ của Ngô Quyền đã biết dụng thế
và thời để chiến thắng Cọc dưới lòng sông Bạch Đằng là “thế”, thủy triều là
“thời” Do vận dụng thế, thời một cách tài tình nên Ngô Quyền đã giành thắng lợi, chiến tranh chỉ diễn ra trong vòng mấy ngày Đây là cuộc chiến tranh ngắn nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời được hình thành và vận dụng đạt kết quả cao trong chiến đấu
Cũng nói về nghệ thuật này, năm 1788-1789, Quang Trung đã sử dụng loại hình nghệ thuật này trong kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc Đây là trận tiêu diệt chiến lược gọn gàng nhất và nhanh nhất của quân và dân ta chống quân xâm lược Quang Trung diệt 29 vạn quân Thanh chỉ trong
2 tháng (11-1788 – 30-12-1788), nếu chỉ thời gian tham chiến thì chỉ mất 5 ngày Quang Trung nhận định muốn lấy ít thắng nhiều thì cần tạo ra bất ngờ,
Trang 15Hơn 4000 năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước cũng là hơn
4000 năm nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành và vận dụng trong các trận chiến đấu và giành nhiều thắng lợi to lớn Nghệ thuật quân sự tạo sức mạnh tổng hợp bằng thế, lực, thời đã được hình thành và lưu truyền cho đến tận ngày nay và được Đảng ta vận dụng và sáng tạo trong mỗi trận chiến đấu Đúng như Hồ Chi Minh đã từng nói, nước nhỏ đánh một nước lớn thì phải dùng “thế” và” thời”
Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi viết:
“Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ,
Ít địch nhiều thường dùng mai phục”
Trong Quân Trung Từ Mệnh Tập, Nguyễn Trãi viết: “Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn không thời mất thế thì to hóa ra nhỏ, mạnh hóa yếu, an lại thành nguy”
Trang 168
1.2.2 Nghệ thuật tạo sức mạnh từ khi có Đảng lãnh đạo
Giai đoạn 1930-1945: Đây là giai đoạn được đánh dấu bằng nhiều mốc son lịch sử đánh dấu cho sự chuẩn bị về lực lượng của Đảng ta Năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã đưa ra đường lối và quyết sách đưa cách mạng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Một trong những đường lối đó
là việc xây dựng và chuẩn bị lực lượng, dự đoán thời cơ, xây dựng thế trận để tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp Trong điều kiện cụ thể của nước ta, lực lượng để tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng không chỉ đơn thuần dựa vào lực lượng vũ trang, quân đội, mà trước hết quan trọng nhất là lực lượng chính trị của quần chúng được giác ngộ, được tổ chức chặt chẽ và rộng khắp; phải bắt đầu bằng việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, rồi trên cơ sở đó xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng Lực lượng chính trị quần chúng không chỉ là nền tảng vững chắc và nguồn tiếp sức vô hạn cho việc phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn là lực lượng trực tiếp tiến công địch, tiến hành công tác binh vận, địch vận, làm tan rã hàng ngũ địch Hơn nữa lực lượng của cách mạng, của kháng chiến không ngừng phát huy, phát triển trong quá trình thực hiện đường lối “khởi nghĩa toàn dân” và “chiến tranh nhân dân” Đường lối đó lôi cuốn được mọi người dân Việt Nam tham gia, “người có tiền góp tiền”, “người có sức góp sức”, mỗi người dân là một chiến sĩ, đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, tiến công địch ở khắp mọi lúc, mọi nơi, kể cả tiền tuyến và hậu phương Nhờ đó, đã huy động và tạo được sức mạnh to lớn của toàn dân đánh giặc Sức mạnh ấy còn được nhân lên gấp bội bằng sự kết hợp lực lượng mọi mặt của toàn dân tộc với lực lượng cách mạng của thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em, bầu bạn trong mặt trận chống đế quốc xâm lược
Trang 179
Trong chỉ đạo thực tiễn, để tạo lực lượng cho cách mạng, từ năm 1941 khi về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh, thúc đẩy việc xây dựng các tổ chức cách mạng của quần chúng, hình thành các đạo quân chính trị ngày càng hùng hậu Trên cơ sở đó, Người chỉ thị các đội du kích, thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đồng thời chăm lo xây dựng các vùng căn cứ địa và chính quyền cách mạng ở các địa phương Nhờ thế mà khi thời cơ đến, với lực lượng cách mạng đã chuẩn bị sẵn sàng và chu đáo, nhân dân trên mọi miền đất nước đã vùng lên giành toàn bộ chính quyền bằng cuộc tổng khởi nghĩa Thánh Tám năm 1945 Cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 đánh dấu bước thành công lớn của nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế thời
Giai đoạn 1945-1954: Sau thành công của cách mạng tháng 8 năm 1945
là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 Trong chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta đã lợi dụng được địa hình hiểm trở của núi rừng Tây Bắc để đưa ra các phương thức tác chiến trong mỗi trận đánh: cách thức kéo pháo vào trận địa, dấu pháo ở sườn núi, đào công sự, hầm hào nhưng tất cả những yếu tố đó đều được đặt trên một nền tảng quan trọng là sự đồng lòng đồng sức của tinh thần “tất cả cho tuyền tuyến và tất cả để chiến thắng”
Nhân dân ở vùng tự do Thanh – Nghệ - Tĩnh, vùng mới giải phóng Tây Bắc cũng như vùng sau lưng địch đều hăng hái tham gia phục vụ trận tuyến Chúng ta đã tổ chức những tuyến cung cấp dài 400-500km từ Thanh Hóa, Phú Thọ đến Tây Bắc Chúng ta đã huy động mọi phương tiện từ hiện đại đến thô
sơ có thể huy động được để vận chuyển lương thực, đạn dược ra mặt trận, cácđoàn xe ô tô đi không đèn trong suốt nhiều đêm, hàng vạn xe đạp thô sơ, xe đẩy thô sơ, hàng ngàn thuyền mảng, đoàn lừa, ngựa được sử dụng để vận chuyển cho tiền tuyến Cả dân tộc Việt Nam đã đảm bảo công việc hậu cần
Trang 1810
cho một lực lượng bộ đội lớn, tác chiến trên một mặt trận rất xa hậu phương, trong một thời gian dài; một việc làm mà quân Pháp không thể lường trước được, nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng
Như vậy tinh thần quyết chiến, quyết thắng, đoàn kết đồng lòng, đồng sức của dân tộc ta và nghệ thuật phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đã là những nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng lực làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ
Phát huy nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời được phát huy cao trong các cuộc kháng chiến, đặc biệt đã làm nên chiến thắng lớn, chiến dịch Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Trang 1911
Tiểu kết chương 1
Trong nghệ thuật quân sự Việt Nam có nhiều loại hình nghệ thuật quân
sự khác nhau như lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang… và điển hình là nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp lực, thế, thời đã được ông cha ta vận dụng một cách tài tình qua nhiều trận đánh và giành được nhiều thắng lợi to lớn như: kháng chiến chống quân Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt, chống quân Thanh của Quang Trung hay chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng… Tất cả nhưng thắng lợi đó đã cho ta thấy được sự tài ba của ông cha ta trong việc vận dụng lực, thế, thời khi hoàn cảnh đất nước còn nghèo nàn, thường xuyên bị quân giặc phương Bắc sang xâm lược, quân sĩ chưa đủ mạnh… Các vị tướng tài của dân tộc nhận thức được rằng không thể dùng trứng chọi đá mà phải dùng mưu, mưu muốn thành thì phải lợi dụng thế trận, lực lượng, thời cơ mà vận dụng trong chiến đấu Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam Đảng ra đời với những đường lối, quyết sách đúng đắn đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam, cùng với đó là những kinh nhiệm quý báu của cha ông ta để lại Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời đã được phát huy mạnh mẽ
Trang 2012
Chương 2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
đồ thế giới phụ thuộc vào sự dàn xếp giữa các thế lực quốc tế, tạo nên những vùng lãnh thổ được hoạch định theo một trật tự thế giới mới đang hình thành, thường được gọi là Trật tự Ianta
Theo đó, châu Âu bị chia thành hai mảng: Tây Âu do Mỹ, Anh, Pháp chiếm đóng, Đông Âu do Liên Xô quản lý Nước Đức cũng bị chia thành hai miền tương tự – Tây Đức và Đông Đức Và ngay thành phố thủ đô Beclin cũng bị phân đôi – Tây Beclin và Đông Beclin Chính vì thế mà nơi đây được coi như một điểm nóng rất gay cấn, rất dễ biến thành ngòi nổ cho một cuộc chiến tranh mới
Ở Châu Á – Thái Bình Dương, dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật,
Mỹ được quyền chiếm đóng Nhật Bản; bán đảo Triều Tiên bị chia đôi theo vĩ tuyến 38: Liên Xô đóng ở phía Bắc, Mỹ đóng ở phía Nam; Việt Nam bị chia theo vĩ tuyến 16: quân Trung Hoa ở phía bắc, quân Anh ở phía nam
Trang 2113
Trong thời gian Thế chiến 2, phong trào giải phóng dân tộc đã có một bước phát triển mạnh mẽ Nhất là ở vùng Đông Á và Đông Nam Á, cuộc đấu tranh chống ách thống trị thực dân gắn kết với cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật đã thu hút đông đảo quần chúng, tập hợp nhiều đảng phái chính trị tham gia nhằm giải thoát khỏi tình trạng thuộc địa và phụ thuộc Với những tên gọi khác nhau, mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật đã ra đời ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Miến Điện, Inđônêxia…đều nhằm mục đích chung là giành độc lập, tự do Bước đột phá là ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng (15.8.1945), ba nước Inđônêxia, Việt Nam và Lào đều lần lượt tuyên bố độc lập vào các ngày 17.8, 2.9 và 12.10 năm đó Có thể coi đây là những quốc gia độc lập đầu tiên trên thế giới thoát khỏi hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sau Thế chiến 2 Còn ở các nơi khác, mặc dầu phong trào đấu tranh chống phát xít kết hợp với yêu sách độc lập khá sôi nổi nhưng các đế quốc lại trở về làm chủ thuộc địa cũ của mình: Mỹ trở về Philippin; Anh trở về Ấn Độ, Miến Điện, Xingapo; Pháp trở về Campuchia …
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối Hồng quân Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt phát xít Đức tại Béc-lin Ngày 9-5-1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô tiến công như
vũ bão vào quân đội Nhật Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đứng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những
Trang 2214
phần tử phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay thầy đổi chủ, chống lại cách mạng
2.1.2 Bối cảnh trong nước
Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp Tháng 3-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau
và hành động của chúng ta” Tháng 4-1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp
và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam
Từ tháng 4-1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức Đầu tháng 5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng
về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân Ngày 4-6-1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước Tháng 8-1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: tập trung, thống nhất, kịp thời 23 giờ ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại
Trang 2315
Tân Trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền Từ ngày 14 đến ngày 18-8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam
và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam Ngày 19-8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội Ngày 23-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu Ngày 25-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền
2.1.3 Vai trò Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời không chỉ chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, mà còn khẳng định vai trò quyết định về
sự lãnh đạo của của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, muốn làm cách mạng thì
“Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi.Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
Trang 2416
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với đường lối đúng đắn, dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lê-nin, phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử loài người, Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết chung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp nhân dân yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, đấu tranh chống thực dân, phong kiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Quá trình tổ chức và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành nhiều thắng lợi quan trọng
Qua 15 năm lãnh đạo cách mạng (1930 - 1945), với ba cao trào cách mạng lớn (1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945), khi thời cơ đến, Đảng đã nhanh chóng chớp lấy thời cơ, với tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập”, Đảng ta đã phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc ta đã giành lại nền độc lập sau hơn
80 năm bị thực dân đô hộ
Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã kịp thời đề ra những chủ trương và quyết sách đúng đắn, khôn khéo, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để giữ vững chính quyền non trẻ
Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, giành thắng
Trang 2517
lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”
2.2 NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
2.2.1 Nghệ thuật tạo sức mạnh bằng lực
Do đặc điểm của cuộc chiến tranh chống pháp xâm lược của dân tộc ta luôn phải lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, nên các cuộc tác chiến chiến dịch và tác chiến chiến lược thường diễn ra trong điều kiện lực lượng chủ lực của ta yếu hơn quân địch Yêu cầu đặt ra là phải làm thế nào với lực lượng sẵn có và có thể huy động được có thể đánh thắng chúng
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong mỗi thời
kì, trong mỗi giai đoạn của chiến tranh, việc xây dựng lực lượng, xác định nhiệm vụ của các lực lượng cách mạng và chiến tranh cách mạng việc sử dụng lực lượng có sự khác nhau nó phụ thuộc vào mục tiêu chiến lược và phương thức tiến hành chiến tranh của từng trận đánh
Cách tổ chức và bố trí lực lượng vũ trang nhân dân đã được Hồ Chí Minh kế thừa từ truyền thống của tổ tiên ta đánh giặc: có quân triều đình, quân các lộ và hương binh, làng chiến đấu nhưng đã được nâng lên một tầm cao mới đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai phương thức chiến tranh; phương thức chiến tranh nhân dân địa phương (chiến tranh du kích) và phương thức chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực (chiến tranh chính quy) nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược Từ trong kháng chiến trường kỳ của dân tộc, so sánh lực lượng giữa ta và địch lúc đầu có sự chênh lệch rất lớn Địch có số lượng hơn ta nhiều về quân đội, máy bay, đại bác xe tăng với các loại vũ khí hiện đại Còn ta thì bắt đầu từ tầm vông, giáo mác của
Trang 2618
các đội tự vệ, đội du kích mà đi lên Lực lương vũ trang của ta lúc đầu chỉ là những đơn vị nhỏ mà điển hình là đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với 34 chiến sĩ, trang bị rất thô sơ, thiếu thốn về nhiều mặt
Nhận thấy việc xây dựng lực lượng ở giai đoạn này (1945-1954) có vai trò rất quan trọng trong việc đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta đã chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết của dân tộc Đương đầu với kẻ thù xâm lược có quân số đông, vũ khí, trang bị nhiều và hiện đại, Đảng ta, ngay từ những ngày đầu kháng chiến đã chủ trương xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc Một cách tổng quát, có thể thấy rằng: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương hợp thành quân đội nhân dân; dân quân, du kích, tự vệ là tổ chức
vũ trang của quần chúng cách mạng Ba thứ quân gắn bó chặt chẽ trong quá trình xây dựng, trưởng thành cũng như trong hoạt động chiến đấu và công tác Thực tế trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cho thấy, đẩy mạnh tác chiến của ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, phát triển chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy là một nội dung lớn, đồng thời là một thành công lớn của nền nghệ thuật quân sự hiện đại Việt Nam
Nghệ thuật quân sự của ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp là nghệ thuật vận dụng sáng tạo các hình thức tác chiến và thủ đoạn chiến thuật,
là nghệ thuật xác định cách tổ chức và sử dụng lực lượng thích hợp để đánh bại mọi biện pháp tác chiến và chiến thuật của địch Thực tế lịch sử cho thấy, trong những năm đầu kháng chiến, ta đẩy mạnh chiến tranh du kích bằng các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung rồi từng bước đẩy mạnh vận động tiến tới dần dần tổ chức các chiến dịch quy mô nhỏ, với
Trang 2719
lực lượng là bộ đội chủ lực phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương Sau đó, các chiến dịch quy mô vừa và lớn, được thực hiện, vận dụng rộng rãi linh hoạt các hình thức tác chiến vận động, đánh công kiên Nhằm thích ứng với các hình thức tác chiến đó, bộ đội chủ lực ta được tổ chức thành các đại đoàn, chủ yếu là bộ binh, có thành phần binh chủng kỹ thuật phối hợp Các hình thức tác chiến (đánh du kích, đánh vận động, đánh công kiên) kết hợp với nhau ngày càng chặt chẽ, linh hoạt, tạo hiệu quả tiêu hao, tiêu diệt địch với quy mô ngày càng lớn Nhờ đó, ta đã lần lượt đánh bại các biện pháp tác chiến bằng hệ thống đồn bốt và các đội quân ứng chiến nhỏ, đến các cứ điểm, cụm cứ điểm, cao nhất là tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với lực lượng địch lúc cao nhất lên tới hơn 16000 binh sỹ
Nghệ thuật chiến dịch của ta hình thành và phát triển từ các chiến dịch quy mô nhỏ đến vừa và lớn, với những loại hình thích hợp, kết hợp tiến công
và phản công Chiến thuật của ta kế thừa di sản đánh giặc cứu nước xa xưa của tổ tiên được nâng lên một trình độ mới, phát huy cao độ sức mạnh của tinh thần chiến đấu và sự mưu trí, sáng tạo, phát huy sở trường đánh gần, đánh đêm, tận dụng các loại vũ khí cả thô sơ và hiện đại để chiến thắng các thủ đoạn tác chiến cùng binh khí kỹ thuật hiện đại của quân đội Pháp
Nói đến chiến dịch Điện Biên Phủ lại càng cho ta thấy rõ hơn về sự so sánh tương quan về lực lượng giữa ta và địch có sự chênh lệch rất lớn
* Về phía ta: Lực lượng khoảng 55.000 người, gồm: 5 đại đoàn (304, 308,
312, 316, 351); 2 trung đoàn pháo binh (45, 675); Trung đoàn pháo cao xạ 367; Tiểu đoàn hỏa tiễn (H6 sáu nòng); Tiểu đoàn ĐKZ 75mm và súng cối 82mm; 4 đại đội súng cối 120mm Vũ khí của ta: 24 khẩu sơn pháo 75mm, 24 khẩu lựu pháo 105mm, 76 khẩu pháo cao xạ 37mm, 12 khẩu pháo hỏa tiễn H6
và 715 xe ô tô
Trang 2820
Với lực lượng gần 10 vạn người (cả bộ đội, dân công và lực lượng khác) cùng với quãng đường từ 300 đến 500km, việc tiếp tế vô cùng khó khăn Với tinh thần tất cả dồn sức cho Điện Biên Phủ, trong chiến dịch, nhân dân các địa phương đã đóng góp 25.560 tấn gạo, 266 tấn muối, 1.909 tấn thực phẩm, 26.453 lượt dân công, 20.991 xe đạp thồ, 1.800 mảng nứa, 756 xe thô sơ, 914 con ngựa thồ và 3.130 chiếc thuyền Đồng bào Tây Bắc đã giao cả những rẫy lúa, nương ngô cho các đơn vị thu hoạch, để bộ đội ăn no, đánh thắng Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn giã gạo ban đêm nuôi bộ đội, điều mà trước đó theo phong tục lâu đời rất kiêng kỵ Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lai Châu trước đây, nay là hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên đã tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu với tất cả tinh thần, sức lực, trí tuệ, của cải, vì mục tiêu chiến thắng, giải phóng đất nước, quê hương khỏi ách xâm lược; góp phần trực tiếp cùng quân, dân cả nước làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ
* Về phía địch: Lực lượng quân Pháp ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn, 7 đại
đội bộ binh (trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù), 2 tiểu đoàn pháo binh 105mm (24 khẩu - sau đợt 1 được tăng thêm 4 khẩu nguyên vẹn và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều
bộ phận thay thế khác), 1 đại đội pháo 155mm (4 khẩu), 2 đại đội súng cối 120mm (20 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc M24 Chaffee của Mỹ), 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm
14 chiếc (7 máy bay khu trục, 6 máy bay liên lạc trinh sát, 1 máy bay lên thẳng) Lực lượng gồm khoảng 16000 quân, được tổ chức thành 3 phân khu
có công sự, trận địa kiên cố, vững chắc, liên hoàn với 49 cứ điểm, 8 trung tâm
đề kháng Ngoài ra quân Pháp còn có lực lượng không quân mạnh của Mỹ hỗ trợ thường xuyên
Trang 2921
Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp Quân ta càng đánh, càng mạnh, càng thắng, quân viễn chinh Pháp càng ngày càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng Vùng giải phóng của ta được
mở rộng, chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố Đến năm 1953, quân
và dân ta đã làm chủ trên chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho
ta
Ngày 25-1-1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh” Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng đắn: Giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang
“đánh chắc, tiến chắc” Đây là quyết định đúng đắn nhưng ta cũng gặp không
ít khó khăn Đó là, thời gian tác chiến dài hơn, cách đánh cũng khác nên có những việc ta phải chuẩn bị lại từ đầu, nhất là việc tổ chức, bố trí hệ thống hỏa lực chiến dịch Với địa hình hiểm trở, pháo của ta kéo vào tập trung tại trận địa đã khó khăn, nay thay đổi phương châm tác chiến lại phải kéo pháo phân tán ra các trận địa mới trên các điểm cao tạo thành vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, để bắn trực tiếp vào các mục tiêu dưới lòng chảo càng khó khăn hơn Với tinh thần quả cảm, không quản ngại gian khổ,
hy sinh, quân và dân ta đã tìm mọi cách vượt qua thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy
Trang 3022
bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch; một trận tiêu diệt điển hình nhất, trực tiếp đưa đến việc buộc thực dân Pháp xâm lược phải ngồi vào bàn hội nghị ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương
Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ được thể hiện nổi bật trước hết, đó là sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn, sáng tạo, kiên quyết và tài giỏi của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân ủy Trung ương
và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam Nắm vững âm mưu, kế hoạch chiến lược của địch, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời đề ra phương châm kháng chiến: “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt” nhằm phá khối chủ lực, cơ động chiến lược của địch ngay từ trong trứng nước Theo đó, quân và dân ta trên khắp các địa bàn, nhất là ở Đồng bằng Bắc Bộ, chủ động đẩy mạnh các hoạt động tác chiến làm cho địch không những không thể thực hiện được kế hoạch đã vạch ra, mà còn lâm vào thế bị động đối phó Trước nguy cơ lực lượng cơ động chiến lược trên chiến trường Đông Dương bị xé lẻ, phân tán, Na-va vội điều lực lượng lớn lên Điện Biên Phủ xây dựng tập đoàn cứ điểm, được mệnh danh là “bất khả chiến bại” hòng lôi kéo, “nghiền nát” lực lượng chủ lực của ta Trung ương Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhận định: Đây tuy là mưu đồ của địch, nhưng cũng là thời cơ cho ta tập trung binh lực, hỏa lực để tiêu diệt lớn quân địch, kết thúc chiến tranh Tác chiến trên địa bàn này, ta tuy có những khó khăn nhất định, nhưng
có thuận lợi cơ bản, đó là: Phát huy được sở trường đánh địch ở địa hình rừng núi, địa bàn chiến dịch tiếp giáp vùng mới giải phóng Đối với địch, có bất lợi: Chưa kịp xây dựng, củng cố vững chắc công sự, trận địa, lại xa hậu phương, chỉ có thể tiếp tế bằng đường không; địa thế của “lòng chảo Điện Biên” lại thấp Trong quá trình chuẩn bị, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhận thấy địch đã củng cố, xây dựng nơi đây thành tập đoàn cứ điểm mạnh nên ta không