52 Chương 3: Ý NGHĨA VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN THẮNG CHI LĂNG – XƯƠNG GIANG NĂM 1427 VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG & AN NINH
*****************************
NGUYỄN NGỌC SƠN
NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN THẮNG CHI LĂNG – XƯƠNG GIANG NĂM 1427
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Giáo dục quốc phòng an ninh
Hà Nội – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG & AN NINH
*****************************
NGUYỄN NGỌC SƠN
NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN THẮNG CHI LĂNG – XƯƠNG GIANG NĂM 1427
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Giáo dục quốc phòng an ninh
Người hướng dẫn khoa học
Trung tá : Trần Đức Cường
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Trung tá : Trần Đức Cường đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong trung tâm giáo dục Quốc phòng Hà Nội 2, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ tôi trưởng thành trong suốt thời gian học tập tại trung tâm, đã tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi đã luôn tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quãng thời gian học tập
và quá trình thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả đề tài
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp đƣợc hoàn thành là kết quả nghiên cứu và do sự cố gắng nỗ lực của bản thân Các vấn đề trên chƣa từng đƣợc công bố trong các công trình nghiên cứu nào khác
Bài khóa luận tốt nghiệp này không trùng với các kết quả nghiên cứu của tác giả khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
7.1 Ý nghĩa khoa học 3
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
8 Bố cục của đề tài 4
Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN THẮNG CHI LĂNG – XƯƠNG GIANG NĂM 1427 5
1.1 Các khái niệm cơ bản về nghệ thuật quyết chiến chiến lược 5
1.1.1 Khái niệm nghệ thuật quân sự 5
1.1.2 Khái niệm nghệ thuật quyết chiến 5
1.1.3 Khái niệm nghệ thuật chiến lược 6
1.1.4 Khái niệm nghệ thuật quyết chiến chiến lược 6
1.2 Các yếu tố cấu thành nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến tranh 7
Trang 71.2.1 Thế trận chiến lược 7
1.2.2 Vấn đề tiêu diệt chiến lược 10
1.2.3 Nghệ thuật quyết chiến 12
1.3 Bối cảnh lịch sử diễn ra trước trận quyết chiến chiến lược chi lăng – xương giang năm 1427 14
1.3.1 Tình hình địch 14
1.3.2 Tình hình ta 18
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2 : NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN THẮNG CHI LĂNG – XƯƠNG GIANG NĂM 1427 VÀ CHIẾN LƯỢC TIÊU DIỆT ĐỊCH CỦA ÔNG CHA TA 25
2.1 Diễn biến và kết quả trận quyết chiến chiến lược chi lăng – xương giang năm 1427 25
2.1.1 Diễn biến và hành động của ta và địch 25
2.1.2 Kết quả 29
2.2 Nghệ thuật quyết chiến trong trận chi lăng – xương giang năm 1427 31
2.2.1 Diễn biến mới sau khi chiến thắng Tốt Động – Chúc Động 31
2.2.2 Xây dựng địa bàn quyết chiến 35
2.2.3 Xây dựng và sử dụng lực lượng của ta 37
2.2.4 Tiêu diệt chiến lược lực lượng quân địch 39
2.3 Nghệ thuật chiến lược trong trận chi lăng –xương giang năm 1427 45
2.3.1 Xác định và đánh giá đúng kẻ thù 45
Trang 82.3.2 Mở đầu và kết thúc chiến tranh đúng lúc 45
2.3.3 Phương châm tiến hành chiến tranh 46
2.3.4 Phương thức chiến tranh 46
2.3.5 Hình thức chiến thuật 47
2.3.6 Một số nhận xét 50
Tiểu kết chương 2 52
Chương 3: Ý NGHĨA VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN THẮNG CHI LĂNG – XƯƠNG GIANG NĂM 1427 VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY 53
3.1 Ý nghĩa 53
3.2 Một số bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến thắng chi lăng – xương giang năm 1427 vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay 53
3.2.1 Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân 53
3.2.2 Phát huy nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế thời và mưu kế 55
3.3 Xác định cách đánh có hiệu lực 57
3.4 Vận dụng bài học kinh nghiệm vào xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân – an ninh nhân dân trong giai đoạn hiện nay 58
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nhờ có sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Lê Lợi và Nguyễn Trãi với cách đánh như “ Vây thành diệt viện” , biết dựa vào địa thế hiểm trở của thiên nhiên để đánh giặc , có kế hoạch chuẩn bị
kĩ lưỡng cùng với đó là những nhà lãnh đạo tài ba như Lê Lợi, Nguyễn Trãi…Đã thu hút được sự tham gia đông đảo của nhân dân Trong chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang, Lê Lợi- Nguyễn Trãi đã sử dụng tài tình những biện pháp chính trị để đánh địch Phát huy chiến quả của thắng lợi trước nhằm uy hiếp và làm tan rã nhanh chóng tinh thần chiến đấu của địch ở các trận sau và cao hơn nữa, còn khiến cho cả đạo viện binh Mộc Thạnh không đánh mà tự bỏ chạy Có thể nói trên cơ sở tiến công bằng lực lượng quân sự kết hợp với những biện pháp chính trị, binh vận, đánh địch về mọi mặt là một trong những tư tưởng chỉ đạo chiến tranh sáng tạo của nghĩa quân Lam Sơn
Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang còn chứng tỏ nghệ thuật quân sự điêu luyện và tài thao lược kiệt xuất của tổ tiên ta ở thế kỷ XV Bộ chỉ huy nghĩa quân đã giải quyết đúng đắn và sáng tạo nhiều vấn đề chiến lược chính xác, sử dụng binh lực hợp lý và bày thế trận lợi hại Trong ba khối quân chiến lược của địch, quân Liễu Thăng ở Lạng Sơn, quân Mộc Thạnh ở Tuyên Quang ( Hà Giang bây giờ và quân Vương Thông ở Đông Quan, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã chọn đạo quân Liễu Thăng làm mục tiêu quyết chiến Tiêu diệt được đạo quân này là cơ bản đập tan được kế hoạch tăng viện của địch đồng thời cũng dễ dàng đánh tan được đạo quân Mộc Thạnh và bại Vương Thông Trận Chi Lăng – Xương Giang đã đi vào lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Với chiến công hiển hách này đã kết thúc
Trang 10thắng lợi cuộc kháng chiến gian khổ chống giặc Minh xâm lược, giành lại độc lập tự do cho đất nước Trận chiến này đã công hiến xuất sắc những kinh nghiệm thực tiễn về nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn Trong lịch
sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã có những trận đánh xuất sắc, tiêu biểu, kết thúc thắng lợi nhiều cuộc chiến tranh, mà trận Chi Lăng – Xương Giang là một trong số đó Nghệ thuật đánh địch đặc sắc , độc đáo của ông cha ta trong trận Chi Lăng – Xương Giang xưa kia để lại nhiều bài học quý báu vẫn còn nguyên giá trị, mãi mãi là niềm tự hào to lớn cho chúng ta, mãi mãi là những kinh nghiệm và bài học có giá trị, giúp chúng ta có cơ sở để nghiên cứu, phát triển, vận dụng sáng tạo , hiểu quả vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc ngày nay
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi lựa chọn đề tài : “ Nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427” làm đề tài khóa luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Thông qua nghiên cứu để làm sáng tỏ các yếu tố tạo thành nghệ thuật quân sự quyết chiến chiến lược trong chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427 từ đó rút ra ý nghĩa bài học kinh nghiệm trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề liên quan, cấu thành nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc
- Làm rõ những vấn đề tạo thành nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427
- Rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay
Trang 114 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427
5 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề tạo nên Nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427 của dân tộc ta
6 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý thuyết, lịch sử, phân tích, logic…
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài làm sâu sắc thêm về nghệ thuật quyết chiến chiến chiến lược bổ sung thêm vào kho tàng lịch sử quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam qua các thời kì
- Đề tài góp phần bổ sung các phương pháp luận cơ bản về sự phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện nay Từ đó dần hoàn thiện hệ thống các nghệ thuật quân sự Việt Nam, xây dựng nền quốc phòng – an ninh nhân dân trong tình hình mới
Trang 13Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN THẮNG CHI LĂNG –
XƯƠNG GIANG NĂM 1427 1.1 Các khái niệm cơ bản về nghệ thuật quyết chiến chiến lược
1.1.1 Khái niệm nghệ thuật quân sự
Theo từ điển bách khoa quân sự Việt Nam: “ Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng và tình cảm” Bên cạnh đó, khái niệm quân sự cũng được khái quát theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp quân sự theo nghĩa rộng là hình thức hoạt động đặc biệt của xã hội, liên quan đến đấu tranh
vũ trang, chiến tranh, quân đội hay lực lượng vũ trang Theo nghĩa hẹp, quân
sự là một trong những hoạt động cơ bản của quân đội với các hoạt động khác như chính trị, hậu cần, kỹ thuật…Tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội
Từ đó khái niệm nghệ thuật quân sự (NTQS) là “lý luận, thực tiễn chuẩn bị và
thực hành chiến tranh, chủ yếu là đấu tranh vũ trang gồm: Chiến lược quân
sự, nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật” ( Trích trong cuốn từ điển bách khoa quân sự Việt Nam)
1.1.2 Khái niệm nghệ thuật quyết chiến
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, chống lại biết bao thế lực thù địch mạnh về quân số giỏi về chất lượng bằng những nghệ thuật, chiến thuật độc đáo sáng tạo Ông cha ta đã để lại cho ta biết bao bài học về “ NTQS”, tài thao lược, kinh nghiệm và khả năng quyết chiến đánh bại kẻ thù Cũng từ những bài học, kinh nghiệm ấy ta đã kế thừa và phát huy hơn nữa các nghệ thuật cũng như tài thao lược trong cầm quân để rồi đúc kết
ra khái niệm về nghệ thuật quyết chiến đó là “nghệ thuật chọn hướng và chọn
mục tiêu tiến công, nhằm đúng vào những nơi hiểm yếu của địch, đặc biệt là giáng đòn quyết định cuối cùng vào nơi hiểm yếu nhất (đầu não của địch),
Trang 14gây chấn động cực mạnh, buộc quân địch phải hạ vũ khí Là nghệ thuật tạo thời cơ và nắm thời cơ tiến công đúng vào lúc địch yếu và sơ hở để hạ quyết tâm đánh bại quân thù Tích cực theo sát sự phát triển của so sánh lực lượng hai bên ta – địch trong quá trình tiến công đến toàn thắng trong thời gian ngắn nhất” Là nghệ thuật cơ động lực lượng nhanh chóng kết hợp với các lực lượng tại chỗ đã được bố trí trong thế trận đã bày sẵn để tranh thủ thời gian và chớp thời cơ đánh địch ( Trích trong bách khoa quân sự toàn thư)
1.1.3 Khái niệm nghệ thuật chiến lược
“Chiến lược quân sự là tổng thể phương châm, chính sách và mưu lược được hoạch định để ngăn ngừa và sẵn sàng tiến hành chiến tranh thắng lợi,
bộ phận hợp thành có tác động chủ đạo trong nghệ thuật quân sự” [1 tr.86]
Chiến lược quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải bắt đầu từ những luận điểm của Người được thể hiện trong các văn kiện, các bài viết và nói, đặc biệt là quá trình hoạt động thực tiễn của Người trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược quân sự được thể hiện khá toàn diện, sâu sắc ở nhiều góc độ với nhiều nội dung phong phú, có ý nghĩa lịch sử
và thực tiễn to lớn Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược quân sự bao gồm: Vấn đề đánh giá địch – ta, xác định mục tiêu phương châm, phương thức tiến hành chiến tranh, vấn đề xây dựng lực lượng
vũ trang nhân dân, xây dựng căn cứ địa của chiến tranh nhân dân, tư tưởng chiến lược tiến công, vấn đề lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu đánh mạnh, nghệ thuật
mở đầu kết thúc chiến tranh
1.1.4 Khái niệm nghệ thuật quyết chiến chiến lược
Đánh giặc giữ nước là một nội dung chủ yếu của lịch sử dân tộc Việt Nam Thế kỷ nào, thời đại nào quân và dân ta cũng đều phải chống giặc ngoại xâm Những chiến công hiển hách từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện
Trang 15Biên Phủ đến chiến dịch Hồ Chí Minh sẽ để lại cho các thế hệ mai sau những bài học, những tấm gương ngời sáng về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về trí tuệ Việt Nam Cuốn sách “ Một số trận quyết chiến chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc” của các tác giả: Phan Huy Lê- Bùi Đăng Dũng- Phan Đại Doãn- Phạm Thị Tâm – Trần Bá Chí, được tái bản theo yêu cầu của một số đơn vị, cơ quan và những nhà nghiên cứu Ở cuốn sách này tập thể tác giả đã
cố gắng phục dựng lại sáu chiến thắng oanh liệt có ý nghĩa quyết định của quân và dân ta trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thời kỳ phong
kiến độc lập Đó là :
Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288
Chiến thắng Tốt Động – Chúc Động năm 1426
Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427
Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785
Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789
Từ đó khái niệm nghệ thuật quyết chiến chiến lược là “hình thức tác
chiến chiến lược cao nhất, bao gồm một số chiến dịch, chiến dịch chiến lược
và các hoạt động tác chiến khác nhau được tiến hành đồng thời hoặc kế tiếp nhau bằng lực lượng chủ yếu của các bên tham chiến nhằm kết thúc chiến tranh Nghệ thuật quyết chiến chiến lược tổ chức chỉ đạo và chỉ huy thống nhất, không diễn ra riêng rẽ trên một chiến trường mà thường có sự phối hợp của các chiến trường khác” [2 “Một số trận quyết chiến chiến chiến lược
trong lịch sử dân tộc” của các tác giả: Phan Huy Lê, nhà xuất bản Quân đội nhân dân]
1.2 Các yếu tố cấu thành nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến tranh
1.2.1 Thế trận chiến lược
Trang 161.2.1.1 Yếu tố địa lý
Nhà nước Văn Lang trước kia, nhà nước Việt Nam ngày nay có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và biển Đông, là cửa ngõ đi vào lục địa châu Á, đi ra biển Thái Bình Dương rất thuận lợi vì vậy mà thường bị kẻ thù nhòm ngó Nước ta có hệ thống giao thông đường bộ, đường biển, đường sông, đường không bảo đảm giao lưu trong khu vực châu
Á và thế giới thuận lợi Có cấu tạo địa hình đa dạng bao gồm rừng núi cao nguyên, trung du chiếm ¾ lãnh thổ, nước ta có hai con sông lớn đó là sông Hồng và sông Mêkông bắt nguồn từ lục địa châu Á chảy ra biển Đông tạo nên
hệ thống giao thông thủy chiến lược rộng khắp
Việt Nam có núi sông hiểm trở, thuận lợi cho việc hình thành thế trận hiểm hóc để đánh giặc giữ nước Thuận lợi giao lưu buôn bán, văn hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới, thu hút đầu tư nước ngoài Nguồn khoáng sản phong phú là cơ sở quan trọng nhất để phát triển công nghiệp Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa thuận lợi cho sản xuất, sinh hoạt và sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi… Thuận lợi phát triển tổng hợp kinh tế biển, sinh vật phong phú đa dạng về số lượng và chủng loại Để bảo vệ đất nước, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc, ông cha ta đã đoàn kết và phát huy tối đa ưu thế của địa hình để lập trận giết giặc
1.2.1.2 Yếu tố kinh tế
Kinh tế Việt Nam trước đây lấy sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp
là chính, theo mô hình tự cung tự cấp, trình độ canh tác thấp, quy mô nhỏ, tính chất phân tán Theo một số nhà nghiên cứu thì nước ta nằm trong vùng các nước thuộc nền văn minh nông nghiệp Trình độ phát triển thấp ảnh hưởng trực tiếp đến nghệ thuật đánh giặc của dân tộc Vì vậy ngay từ thời kì đầu dựng nước dân tộc ta đã biết kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đất nước đi đôi với chăm lo củng cố quốc phòng, sẵn sàng đánh giặc giữ nước theo tinh
Trang 17thần tự lực tự cường Quán triệt tư tưởng “ quốc phú binh cường”, trong xây dựng đất nước tổ tiên ta đã đề ra những chính sách nhằm phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng như “ ngụ binh ư nông” của nhà Lý, “ Khoan thư sức dân
để làm kế sâu dễ bền gốc” của nhà Trần, “ ra sức làm đường đắp đê, đào kênh, cải tạo đồng ruộng đẩy mạnh chăn nuôi sản xuất ra các loại công cụ lao động, đóng thuyền bè để phát triển sản xuất cơ động quân đội”
Có nhiều thuận lợi để phát triển cả về giao thông hàng hải, hàng không, đường bộ với các nước trên thế giới Tạo điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các nước trên thế giới Vùng biển rộng lớn, giàu có, phát triển các ngành kinh tế biển( khai thác, nuôi trồng , đánh bắt hải sản, giao thông biển, du lịch,…)
1.2.1.3 Yếu tố chính trị, văn hóa – xã hội
Về chính trị: Việt Nam có khoảng hơn 54 dân tộc anh em cùng chung sống hòa thuận, đoàn kết nhất trí cao Đây là nội dung quan trọng để hình thành sức mạnh đại đoàn kết dân tộc Quá trình dựng nước, dân tộc ta đã sớm xây dựng nhà nước, xác định chủ quyền lãnh thổ, tổ chức ra quân đội để cùng toàn dân đánh giặc giữ nước Lịch sử quốc gia dân tộc Viêt Nam từ khi ra đời tới nay là lịch sử dựng nước và giữ nước gắn bó với nhau Dựng nước luôn luôn gắn chặt với giữ nước, trong đó dựng nước là yếu tố cơ bản Phải xây dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt mới có điều kiện, khả năng chiến thắng các thế lực thù địch và giữ được nước mới có điều kiện để xây dựng đất nước Trong quá trình hình thành và phát triển, truyền thống đó có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ tư tưởng và các thành quả tinh thần và vật chất của dân tộc ta Nằm ở ơi giao thoa các nền văn hóa nên có nhiều nét tương đồng về lịch
sử , văn hóa Đây cũng là thuận lợi cho nước ta chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á
Trang 18Về chính trị quốc phòng: Vị trí quân sự đặc biệt quan trọng của vùng Đông Nam Á Biển Đông có ý nghĩa chiến lược trong công cuộc phát triển và bảo vệ đất nước
Về văn hóa – xã hội: Mỗi dân tộc làng xã lại có phong tục tập quán riêng Nhưng trong quá trình lao động xây dựng đất nước, đấu tranh bảo vệ tổ quốc Các dân tộc lại xây dựng được truyền thống văn hóa như: Tinh thần đoàn kết, yêu nước thương, ý thức lao động cần cù sáng tạo, ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất… Đây là nguồn gốc sức mạnh dân tộc để chống lại thiên nhiên, đánh bại kẻ thù
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa bản địa xuất hiện sớm từ thời tiền sử, được kết cấu vững chắc Văn hóa làng xã việt Nam là cơ sở quan trọng để hình thành thế trận “ làng nước Việt Nam” Gắn kết được trách nhiệm của mỗi công dân với gia đình, dòng họ, quê hương, xóm làng và với Tổ quốc Việt Nam Quá trình dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã xây dựng được nền văn hóa truyền thống đó là: “ Yêu nước, thương nòi, đoàn kết, sống hòa thuận thủy chung, lao động cần cù sáng tạo, đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất”
1.2.2 Vấn đề tiêu diệt chiến lược
Tư tưởng của Hồ Chí Minh và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta về vấn đề tiêu diệt chiến lược
Đối với những người cộng sản chúng ta, học thuyết quân sự Mác- Lênin bao giờ cũng mang tính chất tổng hợp, gắn liền với kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội, với khoa học và kỹ thuật…Học thuyết ấy không bao giờ mang tính chất quân sự thuần túy Chiến lược quân sự Mác – Lênin đúng đắn và sáng tạo bao giờ cũng là một chiến lược tổng hợp Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân tuyệt đẹp của chân lý ấy Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân, trong đó phải có lực lượng vũ trang nhân
Trang 19dân làm nòng cốt Kháng chiến toàn dân phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh địch trên tất cả các mặt trận: Quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao… Sự khái quát trên đã phản ánh nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới và
là một sự phát triển đến đỉnh cao tư tưởng vũ trang toàn dân của chủ nghĩa Mác – Lênin Sự phát triển sâu sắc làm phong phú thêm lí luận mác xít về chiến tranh nhân dân trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngăn chặn được chiến tranh là thượng sách, Người cố gắng dùng các phương thức ít đổ máu để giành và giữ chính quyền Khi đã dùng đến chiến tranh thì sự hi sinh mất mát là không thể tránh khỏi Do đó Người thường xuyên nhắc nhở các cấp, các nghành, toàn dân phải ghi ơn những người đã ngã xuống cho độc lập tự do của Tổ quốc, phải chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ và đối xử khoan hồng với binh địch tù hàng Tư tưởng nhân văn trong quân sự của Hồ Chí Minh được kết tinh trong truyền thống “ Đại- Ngĩa- Trí-Tín-Nhân”, “ mở đường hiếu sinh” cho kẻ thù của truyền thống Việt Nam, nó độc lập hoàn toàn với tư tưởng hiếu chiến, tàn
ác của thực dân, đế quốc xâm lược Trong lĩnh vực nghệ thuật quân sự, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lấy tư tưởng chiến lược tiến công giành thế chủ động, đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của nhiều lực lượng hình thức quy mô và mọi lúc mọi nơi Khéo léo nhuần nhuyễn các yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, với : Chí, dũng, lực, thế thời, mưu để đánh thắng địch một cách có lợi nhất tồn thất ít nhất Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghệ thuật chiến tranh toàn dân toàn diện của Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao
Tư tưởng của ông cha ta
Tích cực chủ động tiến công là tư tưởng xuyên suốt trong nghệ thuật đánh giặc là yếu tố cơ bản có tính quyết định thắng lợi trong chiến tranh giữ
Trang 20nước Có tư tưởng tích cực, chủ động tiến công mới có hành động tiến công Tích cực chủ động tiến công được thể hiện ở tinh thần cảnh giác, tích cực chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, giữ quyền chủ động đánh địch, tìm địch mà đánh Tiến công liên tục từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn
bộ làm thay đổi so sánh tương quan lực lượng trên chiến trường, thay đổi cục diện của chiến tranh để đi đến thắng lợi Cha ông ta vận dụng linh hoạt tư tưởng tích cực, chủ động tiến công để giành thắng lợi trong chiến tranh bại quân giặc Tích cực chủ động tiến công không có nghĩa là loại trừ phòng trừ phòng ngự mà tổ tiên ta thực hiện “ Phòng ngự thế công” trong trường hợp không thể thực hiện được các hành động tiến công địch
1.2.3 Nghệ thuật quyết chiến
“Anh dũng và thông minh là hai yếu tố tạo nên sức mạnh của dân tộc ta trong chiến đấu chống ngoại xâm”
Tổ tiên ta đã dựa trên yếu tố chính nghĩa, trên tinh thần yêu nước nồng nàn và chiến đấu anh dũng của quân và dân, phát huy mọi thế mạnh của ta trong điều kiện ta chiến đấu trên đất nước mình, đánh bại những đạo quân xâm lược từ xa đến, mà sáng tạo ra cách đánh của ta, buộc địch phục tùng ý chí của ta, buộc địch đánh theo cách đánh có lợi cho ta, không cho địch đánh theo cách đánh sở trường của chúng
Nguyễn Huệ nói : “ Người khéo thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít” Trong chỉ đạo chiến tranh, Trần Quốc tuấn nhấn mạnh :” Phải xem xét tình thế chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà ứng biến cho đúng” Ngô Thời Nhiệm một tướng giỏi của Nguyễn Huệ cho rằng là một người tướng giỏi phải biết : lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ”
Trang 21Sức sáng tạo của dân tộc ta thể hiện ở chỗ không phải chỉ có quân đội đánh giặc, mà cả nhân dân và quân đội cùng đánh Ta yếu mà ta đánh thắng
đó cũng là sáng tạo Sự nỗ lực chủ quan phi thường của toàn dân tộc, sức sống mãnh liệt của nền nghệ thuật đó cũng nói lên sức sáng tạo này Nền nghệ thuật đó dựa trên cơ sở đánh giá địch ta một cách bình tĩnh, hiểu địch, hiểu ta một cách sâu sắc
Nhìn bao quát cả cuộc chiến tranh, tổ tiên ta không sợ địch, tin tưởng mình có thể đánh bại địch Trong việc xử trí tình huống chiến lược cụ thể thì không khinh địch,đánh giá đúng mức sức mạnh ban đầu của quân xâm lược, lúc quân địch còn mạnh thì ta hành động rất thận trọng, nhưng khi địch đã yếu lại hành động rất táo bạo Trước thanh thế lớn lao của quân Thanh tiến vào xâm lược nước ta, lời phân tích của Ngô Thời Nhiệm sau đây nêu rõ được phần nào điều đã nói trên :” Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước, đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên, cho chúng ngủ lại một đêm, rồi lại đuổi đi, cũng như ngọc bích của nước Tần đời xưa vẫn nguyên lành chứ có mất gì đâu”
Tư tưởng của Hồ Chí Minh
Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, tạo lực, lập thế, tranh thời, biết đánh địch bằng mưu, thắng địch bằng thế, lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông Lực ở đây là sức mạnh tổng hợp : Chính trị và quân sự, tiền tuyến và hậu phương, dân tộc và thời đại Người dạy: “ Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm kilôgam Đó là thế thắng lực” Người khẳng định : “ Thế địch như lửa, thế ta như nước, nước nhất định thắng lửa”.Người rất coi trọng vấn đề tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ Tư tưởng đó được biểu hiện rõ trong bài thơ “ Học đánh cờ” : “ Lạc nước, hai xe đánh bó phí/ gặp
Trang 22thời một tốt cũng thành công” Người kịp thời hoãn cuộc khởi nghĩa ở Cao- Bắc- Lạng khi nhận định thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới Còn khi thời cơ xuất hiện, Người lập tức chỉ thị: “ Thời gian rất gấp ta phải làm nhanh” Người luôn nhấn mạnh phải biết đánh và biết không đánh nếu thời cơ chưa lợi, nếu chưa thật chắc thắng, không mạo hiểm, phiêu lưu Tư tưởng của Người về thời, thế, lực làm cho lực lượng kháng chiến nhỏ hóa thành to, yếu chuyển thành mạnh, càng đánh càng thắng Theo Người đó là nghệ thuật quân sự động viên toàn dân, vũ trang nhân dân, toàn dân đánh giặc
1.3 Bối cảnh lịch sử diễn ra trước trận quyết chiến chiến lược chi lăng – xương giang năm 1427
1.3.1 Tình hình địch
Sau chiến thắng Tốt Động – Chúc Động, quân địch phải chuyển hẳn sang thế phòng ngự bị động còn quân dân ta thì hoàn toàn giành quyền chủ động thế tiến công trên các chiến trường toàn quốc Trước tình hình đó, Vương Thông một mặt âm mưu giảng hòa lập kế hoãn binh, mặt khác vội vã phái người về nước cầu cứu Ngày 31 tháng 1 năm 1427 nhà Minh lại tiếp tục lần nữa điều quân tiếp viện cho Vương Thông Lực lượng viễn chinh này chia làm hai đạo kéo sang nước ta
Đạo thứ nhất do thái tử Thái Bảo An Viễn Hầu Liễu Thăng làm tổng binh, Bảo Định bá Vương Minh làm tá phó tổng binh, đô đốc Thôi Tụ làm hữu tham tướng, tiến theo đường Quảng Tây
Đạo thứ hai do thái phó Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh làm tổng binh, Hưng Anh bá Từ Hanh làm tá phó tổng binh, Tân Ninh bá Đàm Trung làm hữu phó tổng binh, tiến theo đường Vân Nam Đạo viện binh của Liễu Thăng điều động quân các vệ Bắc Kinh, Nam Kinh, ty lưu thủ Trung Đô, hộ vệ Vũ Xương, các đô ty Hồ Quảng, Phúc Kiến, Triết Giang và các vệ nam Trực Lệ
Trang 23Cùng đi theo với đạo quân này, nhà Minh còn phái những quan lại cao cấp rất
am hiểu tình hình nước ta như công bộ thượng thư Hoàng Phúc, thái tử thái bảo binh bộ thượng thư Lý Khánh làm tham tán quân vụ Chúng còn điều thêm tên việt gian hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân Giúp việc Đạo viện binh do Mộc Thạnh chỉ huy điều động quân từ các vệ Thành Đô, các đô ty
Tứ Xuyên, Vân Nam “ Cả hai đạo viện binh đó lúc đầu gồm 7 vạn quân
Tháng 4 nắm 1427, nhà Minh điều động thêm 1000 quân ở các hộ vệ Vũ Xương, 1200 ở hộ vệ Thành Đô, 1 vạn quân tinh nhuệ ở vệ Nam Kinh, 33.000 quân từ ty lưu thủ Trung Đô, các đô ty Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồ Quảng, Triết Giang, Hà Nam, Sơn Đông Tất cả trên 45.200 quân tăng cường thêm cho hai đạo viện binh Liễu Thăng, Mộc Thạnh”[3,tr721-722]
Như vậy tổng số quân chính quy bao gồm bộ binh kỵ binh tinh nhuệ điều động hầu khắp các tỉnh từ Sơn Đông xuống Quảng Tây, từ Quảng Đông sang Tứ Xuyên của nhà Minh tăng viện cho cuộc chiến tranh xâm lược nước
ta lần này tối thiểu cũng đến 115.000 tên Đó là quân chủ lực được chọn lọc, chưa kể số quân phu chuyển vận lương thực, vũ khí và số thổ binh ở Quảng Đông, Quảng Tây Nhà Minh sai hình bộ thượng thư Phản Kính đến Quảng Tây và phó đô ngự sử Hồ Dị đến Quảng Đông đôn đốc việc vận chuyển quân
lương “ Theo sử cũ nước ta, đạo quân của Liễu Thăng gồm 10 vạn quân và 2
vạn ngựa, đạo quân của Mộc Thạnh gồm 5 vạn quân và 1 vạn ngựa” [4,tr.43]
Tổng số hai đạo quân lên đến 15 vạn Có lẽ đó là số quân chiến đấu bao gồm quân chính quy và thổ binh mà chưa tính hết số dân phu Theo Lam Sơn Thực Lục thì tổng số quân địch là 20 vạn quân Con số này có lẽ bao gồm cả quân chiến đấu và dân phu Những tướng cầm đầu hai đạo quân địch đều đã tham gia cuộc chiến tranh xâm lược nước ta trước đây hoặc là quan chức lâu năm trong chính quyền đô hộ Liễu Thăng vốn là tùy tướng của Trương Phụ- kẻ cầm đầu đạo quân xâm lược nước ta năm 1406 Bấy giờ Liễu Thăng đang
Trang 24đóng quân ở cửa Hàm Tử ( Khoái Châu, Hưng Yên) và đem quân đuổi theo
Hồ Quý Ly đến cửa biền Kỳ La( Cẩm Xuyên Hà Tĩnh) Mộc Thạnh từ năm
1406 đã giữ chức tả phó tổng binh trong đạo quân Trương Phụ Mộc Thạnh đã chỉ huy trận đánh chiếm thành Đa Bang ( Ba Vì Hà Tây) và đã từng bị nghĩa quân Trần Ngỗi đánh bại ở trận Bô Cô( trên bờ sông Đáy, Ý Yên, Nam Hà) năm 1408
Hoàng phúc năm 1406 cũng theo Trương Phụ làm đốc biện quân lương Khi nhà Minh đặt ách thống trị lên nước ta, Hoàng Phúc kiêm giữ hai chức bố chánh và án sát, tổ chức trấn áp phong trào yêu nước của nhân dân ta, thực hiện chính sách bóc lột vơ vét của cải và đồng hóa ráo riết Hắn nắm vững địa hình, hiểu biết tường tận tình hình nước ta Hai mươi năm nhà Minh thống trị đất nước ta thì Hoàng Phúc đã ở đây đến 18 năm Việc điều động binh lần này với số quân chiến đấu 15 vạn và những tướng dày kinh nghiệm, am hiểu tình hình và quen thuộc chiến trường nước ta, chứng tỏ nhà Minh vẫn giữ quyết tâm xâm lược, dùng bạo lực hòng tiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân
ta, lập lại nền thống trị của chúng Để thực hiện âm mưu đó chúng phải vượt qua nhiều khó khăn
Minh Tuyên Tông (1426-1436) khi lên ngôi đã phải gánh những hậu quả tàn hại sau cuộc chiến tranh to lớn với phong kiến Mông Cổ mấy năm trước Mâu thuẫn giữa các dân tộc thiểu số với triều đình vẫn còn gay gắt Biên thùy phía Bắc và phía Tây của nhà Minh vẫn thường xuyên bị uy hiếp Phong trào đấu tranh của các dân tộc thiểu số, nhất là nghĩa quân “ áo đỏ” ở vùng Vân Nam đã bùng lên khá mạnh Nông dân khởi nghĩa do Đường Trại Nhi lãnh đạo khởi phát từ năm 1420 cũng gây nhiều khó khăn cho triều đình Tình hình
trên được Nguyễn Trãi vạch rõ trong thư gửi Vương Thông: “ Huống chi ở
nước các ngươi, quốc chúa liền năm tử tang, cốt nhục tàn hại lẫn nhau, Bắc khẩu xâm lăng, đại thần lấn át, gia dĩ lúa má mất luôn, thổ mộc làm mãi,
Trang 25chính lệnh hà khắc, giặc cướp như ong Từ niên hiệu Hồng Vũ đến nay, cùng binh độc rũ, trong nước tổn hao, nhân dân mệt nhọc, trời làm tang vọng chính ở lúc này”[5,tr.123] Do đó đầu năm 1427 nhà Minh ra lệnh điều động
viện binh mà 9 tháng sau quân tiếp viện mới đến biên giới Những khó khăn
về đối nội, đối ngoại, nhất là phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc
đã có tác dụng cản trở việc điều quân, bắt phu, cung cấp lương thực để tiếp tục chiến tranh của nhà Minh và về khách quan có lợi cho cuộc đấu tranh cứu nước của dân tộc ta
Tuy nhiên nhìn chung đầu thế kỷ XV vẫn là thời thịnh đạt của triều Minh Đó là một đế chế mạnh nhất phương Đông hồi ấy Vì vậy, dù có một số khó khăn nhà Minh vẫn quyết tâm điều động viện binh tiếp tục những cố gắng chiến tranh lớn nhất Khi các đạo quân viễn chinh của Liễu Thăng- Mộc Thạnh chưa sang, nhà Minh đã sai tổng binh Quảng Tây là Trấn Viễn hầu Cố Hưng Tổ đem quân sang ứng viện cho Vương Thông trước Đại quân Liễu Thăng- Mộc Thạnh sang tiếp viện lần này có thể làm cho so sánh lực lượng ta địch thay đổi Trên 15 vạn quân hợp với số quân hơn 10 vạn ở Đông Quan và các thành khác khiến cho số lượng quân địch tăng lên gấp bội Nhiệm vụ của viện binh là trước hết giải vây cho thành Đông Quan rồi sau đó phối hợp với Vương Thông tổ chức phản công mong xoay chuyển lại cục diện chiến tranh
Về lực lượng nghĩa quân, không có tài liệu nào ghi chép số quân cụ thể.”
Trong các bức thư của Nguyễn Trãi gửi Vương Thông số nghĩa binh tổng cộng đến 45 vạn”[6,tr.122] Đó là con số mà Nguyễn Trãi tuyên bố trong bức
thư dụ hàng nhằm uy hiếp tinh thần địch Thực tế lực lượng nghĩa quân không nhiều đến thế Điều chắc chắn là lực lượng nghĩa quân lúc bấy giờ đã trưởng thành đến mức độ giành quyền chủ động trên toàn bộ chiến trường, ghìm chặt quân Vương thông Giữa lúc đó viện binh giặc lại sang, cùng một lúc ta phải đối phó với ba khối quân địch: Đạo quân Vương Thông ở Đông Quan, đạo
Trang 26viện binh chủ lực lớn nhất từ Quảng Tây tiến xuống, đạo viện binh chủ lực từ Vân Nam tiến vào Một cục diện mới sẽ diễn ra trong phạm vi rộng lớn từ rừng núi biên giới phía Bắc đến đồng bằng Sông Hồng Mỗi khối quân địch là một mục tiêu tác chiến to lớn có tính chất chiến lược Tình thế đó đòi hỏi bộ chỉ huy nghĩa quân phải có kế hoạch đối phó chính xác, chủ động, phối hợp chặt chẽ với nhau trên toàn bộ chiến trường
1.3.2 Tình hình ta
Một điểm nổi bật của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là luôn luôn phải đối phó với viện binh giặc Sau mỗi lần bị thất bại nặng nề chúng lại điều động thêm viện binh Từ cuối năm 1426 đến cuối năm 1427 trong khoảng một năm nhà Minh đã 4 lần gửi viện binh sang nước ta, đạo này rồi tiếp đạo khác Sau chiến thắng Tốt Động- Chúc Động diệt hơn 6 vạn sinh lực địch Lê Lợi – Nguyễn Trãi lại bắt được thư mật xin viện binh của Vương Thông gửi về nước Biết rõ âm mưu địch, bộ chỉ huy tối cao đã chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện để giáng cho chúng những đòn thất bại nặng nề, đập tan hoàn toàn âm mưu xâm lược của nhà Minh Bấy giờ trong các tướng có một số người bàn với Lê Lợi- Nguyễn Trãi nên nhanh chóng hạ thành Đông Quan rồi sau đó dốc toàn lực phá tan viện binh của giặc Ý kiến này biểu thị quyết tâm diệt địch, nhưng chưa đánh giá đầy đủ so sánh lực lượng hai bên Thực tế lúc bấy giờ nghĩa quân đóng ở miền Bắc không phải nhiều lắm Một bộ phận vẫn phải tiếp tục bao vây các thành Tây Đô( Vĩnh Lộc Thanh Hóa) Cổ Lộng, Chí Linh
và các thành khác Mặt khác nghĩa quân còn phải dành một phần lực lượng ở hậu phương từ thanh hóa trở vào, nhất là Hóa Châu( Thừa Thiên Huế) để bảo
vệ cương giới phương nam Số quân cơ động chiến đấu của nghĩa quân trên các chiến trường ước chừng trên 6 vạn, kể cả lực lượng dự bị
Trước tình hình đó tập trung lực lượng hạ thành Đông Quan, thành lũy kiên cố nhất, có khoảng 4 vạn quân địch với đầy đủ vũ khí, lương thực và hệ
Trang 27thống phòng thủ chắc chắn tất không phải là việc dễ dàng Đánh thành Đông Quan đòi hỏi phải tập trung một lực lượng lớn, có ưu thế tuyệt đối về số lượng, không những có tinh thần chiến đấu cao, mưu trí và linh hoạt, mà còn phải có trang bị vũ khí và phương tiện đầy đủ Như vậy nghĩa quân sẽ bị tiêu hao đồng thời dễ sơ hở ở nhiều chiến trường khác, nhất là các vùng trên đường hành quân của viện binh giặc Lê Lợi – Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy đã
so sánh lực lượng giữa ta và địch, nhận xét đúng tình hình cụ thể, đề ra chủ trương vây thành, diệt viện (VTDV) ,không dốc sức đánh thành Đông quan
mà tập trung lực lược tiêu diệt các đạo viện binh
Qua nhiều năm chiến đấu, nhất là từ khi dời căn cứ từ thượng du Thanh Hóa vào Nghệ An, kinh nghiệm “VTDV” của nghĩa quân đã tích lũy được nhiều Cho đến cuối năm 1426 đầu năm 1427 nghĩa quân đã giải phóng hầu hết đất nước, địch phải co rút vào trong một số thành cố thủ Lê lợi – Nguyễn Trãi chủ trương vây thành, kết hợp bao vây và tiến công bằng quân sự với vận động thuyết phục kẻ thù Kết quả là quân địch ở một số thành đã đầu hàng Đồng thời với việc vây thành, nghĩa quân còn tập trung chuẩn bị diệt viện Trong năm 1426-1427, trước khi đối phó với viện binh Vương Thông- Mộc Thạnh, nghĩa quân Lam Sơn cũng đã có nhiều kinh nghiệm diệt việt Tháng
10 năm 1426, viện binh của Vương An Lão mới đến Tam Giang đã bị đòn đánh ở cầu Xa Lộc ( Lâm Thao Phú Thọ) Tháng 11 năm đó, viện binh của Vương Thông phối hợp với quân lính ở Đông Quan vừa mới mở cuộc hành quân ra khỏi thành đã bị đánh tan tác ở Tốt Động – Chúc Động Tháng 7 năm
1427, viện binh của Cố Hưng Tổ mới đến biên giới đã bị giáng một đòn quyết liệt ở ải Pha Lũy, phải tháo chạy về nước Nghĩa quân đã từng đánh viện binh của địch khi chúng đang hành quân kéo sang nước ta ( Vương An Lão, Cố Hưng Tổ), hay khi chúng vừa đem quân càn quét( Vương Thông), nghĩa là đều đánh địch trên đường vận động Đánh vận động ngoài thành lũy là lối
Trang 28đánh sở trường của nghĩa quân Lam Sơn nhằm thực hiện “ lấy yếu trị mạnh”,
“ tránh chỗ thực, đánh chỗ hư”, “ lấy thế nhàn rỗi đánh quân mệt mỏi” Việc tiêu diệt các đạo viện binh của Vương An Lão, Vương thông, Cố Hưng Tổ đã chứng tỏ điều đó và chiến thắng Tốt Động – Chúc Động là thành công rực rỡ của tư tưởng chỉ đạo tác chiến này
Với kinh nghiệm dày dặn qua nhiều năm chiến đấu và tài năng quân sự lỗi lạc, Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã đề ra chủ trương tác chiến chủ động và tích
cực : “ Đánh thành là hạ sách, ta đánh vào thành vững hàng tháng hàng năm
không hạ nổi Quân ta sức mòn khí nhụt, nếu viện binh của giặc tới thì trước mặt sau lưng ta đều bị địch đánh Đó là thế nguy, sao bằng nuôi oai chứa sức, đợi quân cứu viện, viện binh dứt thì thành tất phải hàng Làm một việc
mà được hai, đó mới là kế vẹn toàn”[7,tr42-43] Như thế là Lê Lợi – Nguyễn
Trãi chủ trương vây hãm thành Đông Quan và tập trung lực lượng tiêu diệt viện binh khi chúng mới kéo vào nước ta Rõ ràng các nhà lãnh đạo nghĩa quân Lam Sơn rất tin tưởng vào khả năng thắng lợi của kế hoạch đề ra và thấy
rõ ý nghĩa đầy đủ của nó trong mối quan hệ giữa diệt viện và đánh thành Như
Lê Lợi đã nhận định, nếu tập trung đánh thành thì chưa chắc đã hạ được thành nhanh chóng mà viện binh địch tới lại dồn ta vào thế “ trước mặt sau lưng đều
bị đánh” Như vậy ta đang chủ động tiến công lại chuyển thành bị động chống
đỡ Sau trận đại bại ở Tốt Động – Chúc Động, mấy vạn tàn quân của Vương Thông bị giam chân ở Đông Quan đã ngót một năm trời Quân địch ở trong
tình trạng “ sức hết kế cùng, quân sĩ nhọc mệt, trong thiếu lương thực, ngoài
không viện binh, bám hờ khu nhỏ mọn, nghỉ tạm thành chơ vơ, há chưa phải
là như thịt lên thớt, cá trong nồi sao? “[8,tr188] Vương Thông ra sức cố thủ
là vì còn chờ mong vào viện binh của nhà Minh Tập trung lực lượng tiêu diệt viện binh là làm mất chỗ dựa, đập tan nguồn hi vọng cuối cùng của địch Lúc
đó quân địch ở Đông Quan cũng như các thành khác nếu không đầu hàng thì
Trang 29sẽ bị tiêu diệt Nguyễn Trãi đã chỉ rõ điều đó cho Vương Thông: “ Nếu viện
binh đến, thế tất phải thua, viện binh đã thua bọn các ông tất bị bắt” Cho nên, “ làm một mà được cả hai” là như vậy [9,tr119] Tuy nhiên không phải
đối với thành nào quân ta cũng chủ trương vây hãm như nhau Những thành lẻ loi, cô lập, cách xa đường tiến quân của viện binh giặc như Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô thì nghĩa quân chỉ tiếp tục bao vây dụ hàng mà không nhất thiết
mở các trận công thành đánh chiếm Còn những thành như Khâu Ôn, Chi Lăng ( Lạng Sơn) Xương Giang ( Bắc Giang), Tam Giang ( Việt Trì Phú thọ) nằm trên đường tiến quân của viện binh giặc thì Lê Lợi – Nguyễn Trãi chủ trương kiên quyết đánh chiếm kỳ được bằng bất cứ giá nào trước khi viện binh kéo sang Những thành nói trên là những cứ điểm trên đường giao thông
từ Quảng Tây và Vân Nam tiến vào thành Đông Quan Trên đường tiếp viện của giặc, những thành này là những nhịp cầu tiếp ứng quan trọng Kiên quyết tiêu diệt bằng được các cứ điểm đó trước khi viện binh kéo sang là nhằm tích cực chuẩn bị chiến trường cho những trận quyết chiến chiến lược sắp tới Hạ các thành đó là trực tiếp tiêu diệt các lực lượng tiếp ứng, phá thế dựa vào nhau của địch Để thực hiện chủ trương trên, Lê Lợi – Nguyễn Trãi đề ra kế hoạch cụ thể sau đây: Các tướng Trần Lựu, Lê Bôi tiến quân của viện binh giặc từ Quảng Tây và Vân Nam sang như Lạng Sơn, Lạng Giang, Tuyên Quang, Tam Đái, Quy Hóa, nhân dân được lệnh dời nhà cửa, đưa vợ con và chuyển của cải đi nơi khác làm kế “ thanh dã ”, thực hiện vườn không nhà trống, để khi quân giặc kéo vào không còn nơi trú ngụ, không cướp bóc được lương thực, đẩy chúng vào tình trạng bị cô lập Hạ gấp thành Xương Giang, tiêu diệt toàn bộ sinh lực ở đấy Đồng thời biến Xương Giang Thành căn cứ vững chắc và điểm cuối cùng chặn đứng bước tiến của viện binh địch về Đông Quan rồi bao vây tiêu diệt chúng Song song với việc bao vây tiến công
Trang 30bằng quân sự, Lê Lợi – Nguyễn Trãi đẩy mạnh công tác vận động, dụ hàng thực hiện phương châm “ mưu phạt nhi tâm công” , đánh vào lòng địch
Trong cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng của nghĩa quân Lam Sơn, công tác địch vận được coi là nhiệm vụ chiến lược, gắn liền với mọi hoạt động quân sự Dựa vào ưu thế tuyệt đối về chính trị của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Nguyễn Trãi luôn luôn nêu cao tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, tinh thần nhân đạo của nhân dân ta , chỉ cho quân thù thấy rõ tính chất phi nghĩa phản nhân đạo và nguyên nhân thất bại tất yếu của chúng
Từ năm 1425 về sau , trong mọi cuộc vây thành hay đánh chiếm các cứ điểm quân sự của địch từ Diễn Châu, Nghệ An vào Tân Bình, Thuận Hóa hay Tây
Đô, Chí Linh, Đông Quan… Trên cơ sở tiến công về quân sự, Nguyễn Trãi đều kết hợp với công tác địch vận, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bức thư gửi cho bọn quan lại, tướng tá nhà Minh như Lý An, Phương Chính, Đả Trung, Vương Thông Sơn Thọ… Công tác địch vận kết hợp chặt chẽ với tiến công quân sự đã đem lại những thành công tốt đẹp Nhiều thành đầu hàng, nghĩa quân không tốn một mũi tên ngọn giáo
Lần này nữa, trên danh nghĩa Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã thảo ra nhiều bức thư dụ hàng, nói rõ điều nhân nghĩa, phân biệt lẽ phải trái, chỉ rõ lối thoát chính đáng cho kẻ thù Những bức thư và hoạt động địch vận đó đã góp phần làm lung lay tan rã tinh thần quân địch, làm suy sụp sức chiến đấu của chúng Thành công bước đầu của việc thực hiện kế hoạch chuẩn bị tiêu diệt viên binh địch là nhân dân các nơi đều hưởng ứng làm kế hoạch “ thanh dã”, và nghĩa quân Lam Sơn đã hạ được các thành nằm trên hai đường tiến quân của địch Tháng 2 năm 1427 toàn bộ quân địch trong thành Điêu Diêu ( Gia Lâm Hà Nội) bị bao vây đã ra hàng các chiến sĩ nghĩa quân Lam Sơn do Bùi Quốc Hưng và Nguyễn Chích chỉ huy Tháng 3 năm 1427, đơn vị nghĩa quân do hai tướng nói trên chỉ huy lại vây thành Thị Cầu ( thị xã Bắc Ninh) và buộc quân
Trang 31địch phải đầu hàng Với chiến thắng Thị Cầu, quân ta đã giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, đồng thời cắt hẳn
sự ứng viện lẫn nhau giữa Đông Quan và Xương Giang Quân địch ở thành Xương Giang càng bị cô lập, hệ thống thành lũy của địch từ Lạng Sơn về Đông Quan căn bản bị suy sụp Trong khi đó thì đơn vị nghĩa quân do Trịnh Khả và Lê Khuyển chỉ huy cũng bao vây thành Tam Giang, án ngữ trên đường thủy bộ từ Vân Nam sang Đông Quan Đầu tháng 4 năm 1427, toàn bộ quân địch ở thành này phải ra hàng quân ta Ở Đông Bắc , đơn vị nghĩa quân
do Trần Lựu và Lê Bôi chỉ huy đã bao vây thành Khâu Ôn, một trong các thành lũy quan trọng Giữa tháng 2 năm 1427, sau một thời gian vây hãm quân địch trong thành bị cạn lương, hoang mang đến cao độ Một bộ phận trốn chạy về Quảng Tây, một bộ phận ở lại cố thủ bị quân ta tiêu diệt Cũng vào lúc đó, đơn vị của Trần Lựu và Lê Bôi lại giải phóng luôn cả thành Trấn
Di
Trang 32Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 tác giả đã nghiên cứu và làm rõ cơ sở khoa học, các yếu
tố cấu thành lên nghệ thuật quyết chiến chiến lược, các yếu tố địa lý, kinh tế
và xã hội các cơ sở, yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên ta và cùng với đó là thất bại của trận Tốt Động – Chúc Động đã làm phá sản kế hoạch phản công của Vương Thông đồng thời tạo ra lợi thế cho nghĩa quân Lam Sơn buộc quân Minh phải rút cố thủ và chấp nhận đàm phán Thất bại như vậy quân địch vẫn không chịu đầu hàng và vẫn quyết tâm tiến công xâm lược để trả trù và cướp nước ta
Tìm hiểu được bối cảnh lịch sử diễn ra trước trận quyết chiến chiến lược
để từ đó làm cơ sở nghiên cứu nghệ thuật quyết chiến chiến lược trong chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427
Trang 33Chương 2 : NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN THẮNG CHI LĂNG – XƯƠNG GIANG NĂM 1427 VÀ CHIẾN
LƯỢC TIÊU DIỆT ĐỊCH CỦA ÔNG CHA TA 2.1 Diễn biến và kết quả trận quyết chiến chiến lược chi lăng – xương giang năm 1427
2.1.1 Diễn biến và hành động của ta và địch
Nói về tình hình thành Xương Giang trước hết phải kể qua chính sách di dân của quân Minh Bên cạnh việc bắt người Việt sang nước Minh làm nô lệ, quân Minh còn cho người nước mình sang ở trong các thành thị trên lãnh thổ Đại Việt Đây là một trong những chính sách nhằm mục đích đồng hóa người Việt Đầu tiên là vợ con của các binh lính, quan lại người Minh, tiếp đó là các thương gia, giới thị dân di dân sang chủ yếu tại các thành lớn hoặc gần biên giới nước Minh như Đông Quan, Tam Giang, Tây Đô, Khâu Ôn… Thường dân người Minh bị bắt làm tù binh đông đến mức Lê Lợi phải hạ lệnh các xứ chia nhau chu cấp cho họ Điều này thể hiện thiện chí rất lớn của nghĩa quân Lam Sơn ngay khi mà chiến tranh còn đang gay cấn
Đi vào trận đánh thành Xương Giang đây là trận gay go quyết liệt nhất trong các trận bao vây chiếm thành Thắng lợi của trận này đã trực tiếp dọn đường cho các thắng lợi diệt viện sau đó Dưới thời Minh thống trị, thành Xương Giang là trụ sở của phủ Lạng Giang bao gồm các huyện Lạng Giang, Yên Dũng, Yên Thế, Lục Nam, Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang và huyện Hữu Lũng Tỉnh Lạng Sơn Là thành lũy kiên cố nhất của giặc nằm trên đường Quảng Tây sang Đông Quan, cách bờ sông thương 3km về phía Bắc ( cách thị
xã Bắc Giang 2km) Thành Xương giang thuộc vùng đất làng thành còn gọi
là làng Đông Nham, xã Thọ Dương thị xã Bắc Giang ngày nay Đây là một thành khá lớn được xây dựng trên một vùng cao, phía đông Bắc có ngọn đồi thấp, phía Nam có sông Hương chảy qua Lòng thành rộng hơn 69 mẫu Bắc
Trang 34Bộ, có nhiều doanh trại, nhà giam và kho lương thực Tường thành đắp bằng đất cao và dày, bốn góc có bốn vọng gác đắp cao hơn mặt thành Phía ngoài thành có hào sâu bao bọc
Thành Xương Giang cách Đông Quan hơn 50km( tính theo đường dịch trạm trước kia gần như trùng với quốc lộ 1A bây giờ) Đây là một vị trí quân
sự trọng yếu của địch, vừa có thể ứng cứu nhanh chóng cho Đông Quan, vừa
có thể làm chỗ dựa cho viện binh tiến sang Quân Minh đóng giữ thành này có khoảng trên 2.000 tên do đô chỉ huy Lý Nhậm, tri phủ Ly Tử Phụ và các tướng Kim Dận, Cố Phúc, Phùng Trí, Lưu Thuận chỉ huy Sở chỉ huy của chúng đặt trên một khu đất cao ở khoảng giữa hơi chếch về phía Đông Bắc thành, ngày nay nhân dân vẫn gọi là “ đồi quân Ngô”
Tại thành Xương Giang, quân Minh chính quy vốn chỉ có vài ngàn, do các tướng Lý Nhậm, Kim Dận, Cố Phúc, Phùng Trí, Lưu Thuận, Lưu Tử Phủ chỉ huy nhưng quân minh lại dùng lời và đe dọa vừa cổ vũ dân chúng trong thành ( chủ yếu là người Minh), cả nam cả nữ, già trẻ cùng tham gia giữ thành Cùng với ưu thế vượt trội về hỏa lực, thêm thành cao hào sâu, thành Xương Giang trở thành một con nhím vô cùng khó công phá Xưa kia Lý Thường Kiệt đánh thành Ung Châu, quân tướng đều tinh nhuệ được huấn luyện kĩ càng nhưng cũng phải đến hơn một tháng rưỡi mới hả nổi, thiệt hại đến hơn một vạn quân Ung Châu và Xương Giang đều có điểm chung là quân và dân đều đặt mình vào thế cùng mà đồng lòng tự thủ, và đều là thành trì kiên cố, vũ khí dồi dào Riêng thành Xương Giang còn có ưu thế của thời đại khi mà hỏa lực trên thành hoàn toàn vượt trội nghĩa quân Lam Sơn Ngoài
ra còn có một điểm bất lợi là quân lính mà Lê Lợi dùng để đánh thành vốn không phải là quân lính tinh nhuệ mà là tân binh mới tuyển ở các lộ Khoái Châu, Lạng Giang khi quân Lam Sơn tiến ra bắc
Trang 35Từ cuối năm 1426, Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã phái các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Linh, Lê Thụ đem quân phối hợp với quân vùng Lạng Giang, Khoái Châu bao vây thành Xương Giang Quân Lam Sơn cố gắng tiếp cận tường thành trước hết phải vượt qua hỏa lực của các loại súng đại bác, hỏa tiễn trên thành bắn xuống Thành cao, quân ta trèo lên thì địch trên thành giương cờ hò hét, chống cự quyết liệt Đánh nhau ngày đêm quân ta thiệt hại nhiều vẫn không hạ được thành Quân Lam Sơn phải chuyển sang kế hoạch lâu dài hơn Lê Lợi điều động nhân dân các xứ tích cực rèn vũ khí, dùng súng lớn, tải lương thực tiếp tế cho quân đội đánh thành Xương Giang Lê Sát cùng các tướng ở ngoài thành dựng thêm nhiều chiến cụ công thành, lại đắp núi đất, đặt súng bắn vào thành Quân dân nước Minh trong thành thiệt hại nặng, nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu không chịu đầu hàng, quyết tâm ấy càng tăng thêm khi nhân một đêm tối trời, Lý Nhậm đã dẫn đội cảm tử quân ra ngoài thành đánh phá, đốt các chiến cụ mà quân ta dày công chế tạo Quân Lam Sơn
bị bất ngờ nên để mất mát các chiến cụ quan trọng và để xổng mất quân địch Mất đi các chiến cụ, việc công phá lại thêm khó khăn Tiếp đó quân Lam Sơn dùng kế đào địa đạo vào trong thành Bọn Lý Nhậm, Cố Phúc lại phát hiện được và cho quân đào hào cắt ngang địa đạo, ném đá xuống như mưa, quân ta
bị thiệt hại Suốt hơn sáu tháng trời quân Lam Sơn vừa chế tạo lại chiến cụ công thành vừa đánh giằng co với địch
Đến tháng 9 năm 1427, mặc dù cục diện thành Xương Giang vẫn không
có gì thay đổi nhiều, nhưng tình hình cả nước lại có chuyển biến tích cực Vòng vây quanh thành Đông Quan đã được củng cố chặt chẽ như kế hoạch của Lê Lợi Các hậu phương được củng cố, hệ thống cai trị dần hoàn thiện, lực lượng quân Lam Sơn được bổ sung thêm, quân lính được huấn luyện và trang bị tốt hơn lại cộng thêm nhiều thành trì khác của quân Minh đã bị hạ hoặc xếp giáo quy hàng Thành Xương Giang càng trở lên trơ trọi Tình hình
Trang 36mới đã cho Lê Lợi có thêm nhiều lực lượng cơ động mạnh để tung vào các điểm nóng trên chiến trường Thái úy Trần Nguyên Hãn được lệnh đem quân tăng cường cho mặt trận thành Xương Giang, hội binh với Lê Sát và các tướng lên đến 8 vạn quân, nhận nhiệm vụ bằng mọi giá phải sớm hạ được thành trước khi bọn Liễu Thăng, Mộc Thạnh tiến sang
Một viên tướng Minh ở thành Nghệ An đã đầu hàng nghĩa quân tên là
Thái Phúc, đã tự nguyện đến tận Xương Giang gửi thư dụ hàng “ Thành
Xương Giang nhỏ mọn kia dám chống lại mệnh trời, nổi giận khi đánh, nghĩa nên phải thế, sự không được dừng Nhưng đem núi Thái sơn đè bẹp quả trứng, sức không chịu được bao lâu, lấy lửa đỏ rực đốt cháy lông gà, thế khó đương được chốc lát Lấy thuận mà đánh kẻ nghịch, lo gì không phải theo, lấy sức mạnh mà đánh kẻ yếu lo gì không đánh được mà còn lấy lời nói chăm chăm hiểu dụ, thật vì nhân mạng trong một thành là hệ trọng, mà không nỡ làm cho thương tổn” [10,tr167] Nguyễn Trãi nêu cao tinh thần nhân nghĩa
và sức mạnh của nghĩa quân : “ Đối với đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận theo thì sống, kẻ nào chống lại thì chết” Và lấy thực tế để chỉ rõ con đường
họa phúc cho chúng: “ nay hãy tạm lấy một việc trước mắt bày tỏ từng việc
cho các ông nghe : Các thành Tân Bình, Thuận Hóa, Nghệ An, Diễn Châu, Tam Đái, Thị Kiều, Tiền Vệ, đều may biết thời thế, hiểu quyền biến, chuyển họa làm phúc, để cho người trong các thành ấy có đến hơn 56.000 người đều được an toàn Duy có một thành Khâu Ôn, không hiểu biết sự biến, để cho người trong một thành ngọc đá đều bị thiêu cháy, há chẳng đáng xót thương! Các ông nên nghĩ, chớ để hối hận về sau!” [11,tr175]
Mặc cho Nguyễn Trãi nhiều lần gửi thư khuyên nhủ nhưng chúng vẫn không tỏ ra sợ hãi hay thấy được những thiệt hại nếu chúng vẫn cố tình đối đầu với quân ta, quân địch vẫn ngoan cố liều chết cố thủ để chờ viện binh Đáp lại lòng tin tưởng của Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn cùng các tướng đã dùng
Trang 37kế hợp nhiều phương pháp công phá thành Các núi đất được tăng cường đắp lên quanh bốn mặt thành, từ đó súng đạn, cung nỏ của quân Lam Sơn bắn vào thành tới tấp Trần Nguyên Hãn lại cho quân một lần nữa đào địa đạo xuyên vào lòng thành, đồng thời tung quân với sự yểm trợ của tượng binh tràn lên tấn công khắp bốn mặt thành
2.1.2 Kết quả
“ Được nhân dân địa phương các làng Hòa Yên, Hà Vị, Nam Xương(
làng Vẽ), Đông Nham (làng Thành), Châu Xuyên ( phố Châu Xuyên, thị xã Bắc Giang) đã giúp đỡ nghĩa quân vây thành Các làng này ở sát thành Xương Giang nằm dưới sự khủng bố trấn áp của quân địch ngót 20 năm trời Căm thù quân giặc tàn bạo, nhân dân ta đã đào hào xuyên thành, đắp những
ụ đất cao, cung cấp lương thực, sửa chữa vũ khí, làm thang treo thành, chuẩn
bị các phương tiện đánhh thành Nghĩa quân dùng nỏ cứng, các loại hỏa pháo, hỏa tiễn ngày đêm bắn vào thành Quân địch trong thành càng ngày càng hoang mang, khốn quẫn Quân lính bị chết quá nửa, lương thực cạn, số còn lại mệt mỏi, rã rời, không còn sức chiến đấu Nửa đêm 28 tháng 9 năm
1427 ( ngày 8 tháng 9 năm Đinh mùi), quân ta bắc thang ào ạt đột nhập vào chiếm thành Thành bị hạ bọn tướng giặc ngoan cố phải tự tử, toàn bộ quân giặc bị tiêu diệt Trải qua hơn 9 tháng bao vây bền bỉ và tiến công dữ dội, trước sau đánh 30 trận” [12, tr45], nghĩa quân đã giành thắng lợi giòn giã Hạ
được thành Xương Giang, quân Lam Sơn đã chiếm được cứ điểm rất quan trọng trên đường hành quân từ Trung Quốc đến Đông Quan của viện binh nhà Minh tiếp ứng cho Vương Thông Quân Lam Sơn hạ thành sát ngày viện binh tiến sang khiến tin tức không thông Viện binh nhà Minh vẫn tin tưởng thành Xương Giang còn giữ được, vì vậy ngay cả khi các tướng trụ cột như An Viễn hầu Liễu Thăng, Bảo Định bá Lương Minh và Thượng thư bộ binh nhà Lý Khánh đã chết, các tướng còn lại vẫn cùng Đô đốc Thôi Tụ cùng Thượng thư