Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch cuối cùng của cuộc Tổng tiến công chiến lược, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta.. Thực chất, đây là ba đòn ti
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
*****************************
NGUYỄN VĂN LỘC
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
*****************************
NGUYỄN VĂN LỘC
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học
Thượng tá, ThS Phạm Văn Dư
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường của trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô trong trường Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô ở khoa Giáo dục Quốc phòng
An ninh đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn Thượng tá Phạm Văn Dư - Giảng viên khoa Đường lối quân sự đã tận tâm hướng dẫn chúng em qua từng buổi học trên lớp cũng như những buổi nói chuyện, thảo luận về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài khóa luận này của em rất khó có thể hoàn thiện được
Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, kiến thức của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Sau cùng, em xin kính chúc quý thầy trong khoa Giáo dục quốc phòng
an ninh cũng như thầy Phạm Văn Dư - giảng viên hướng dẫn khóa luận luôn dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho các thế hệ sinh viên
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Lộc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi Những kết quả thu đƣợc hoàn toàn chân thực và chƣa có đề tài nào nghiên cứu
Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Lộc
Trang 5Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối trượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Kết cấu khóa luận 4
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH 5
1.1 Bối cảnh trong nước và thế giới 5
1.1.1 Tình hình thế giới 5
1.1.2 Tình hình trong nước 7
1.2 Tương quan lực lượng giữa hai bên trước chiến dịch Hồ Chí Minh 10
1.2.1 Quân giải phóng miền Nam Việt Nam 10
1.2.2 Lực lượng quân lực Việt Nam cộng hòa (quân đội Ngụy) 14
1.3 Nguồn gốc tên gọi chiến dịch Hồ Chí Minh 16
Tiểu kết chương 1 18
CHƯƠNG 2: DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH 19
Bản đồ chiến dịch Hồ Chí Minh 19
2.1 Giai đoạn 1(26/4/1975-28/4/1975) 20
2.1.1 Trên hướng đông, đông nam 20
2.1.2 Trên hướng bắc, tây bắc 22
Trang 62.2 Giai đoạn 2 (29/4/1975-30/4/1975) 23
2.2.1 Trên hướng đông, đông nam 23
2.2.2 Trên hướng bắc, tây bắc 25
2.2.3 Trên hướng tây, tây nam 29
Tiểu kết chương 2 32
CHƯƠNG 3: NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 33
3.1 Nghệ thuật chọn hướng, mục tiêu và thời cơ tấn công 33
3.1.1 Nắm chắc tình hình, quyết định thời cơ chính xác 33
3.1.2 Đánh giá đúng tình hình, so sánh tương quan lực lượng 35
3.2 Nghệ thuật “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, thắng chắc” 36
3.2.1 Tổ chức lực lượng, đề ra kế hoạch tác chiến và hiệp đồng chặt chẽ các lực lượng 36
3.2.2 Đánh địch từ nhiều hướng, bao vây, vu hồi, đánh thắng từng bước đến chiến thắng toàn bộ 39
3.3 Nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch 41
3.4 Những bài học kinh nghiệm vận dụng vào phát triển nghệ thuật quân sự của quân và dân ta hiện nay 42
3.4.1 bài học về quán triệt tư tưởng tích cực tiến công 44
3.4.2 Bài học về nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc: 44
3.4.3 bài học về nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời và mưu kế: 45
3.4.4 Bài học về quán triệt tư tưởng lấy ít địch nhiều, biết tập trung ưu thế lực lượng cần thiết để đánh thắng địch: 46
3.4.5 Bài học về kết hợp tiêu hao, tiêu diệt địch với bảo vệ vững chắc mục tiêu: 47
Trang 7Tiểu kết chương 3 49
KẾT LUẬN 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Đi suốt bề dày lịch sử hào hùng của dân tộc, mỗi công dân của đất nước Việt Nam ai cũng thấy được và trân quý tinh thần yêu nước, dám hi sinh và ý chí kiên cường không khuất phục trước kẻ thù của tầng lớp cha ông- những người đã đặt nền móng cho hòa bình hiện tại Từ thế kỷ thứ III trước Công Nguyên dân tộc ta đã đánh tan cuộc xâm lược đầu tiên của bọn phong kiến phương bắc do nhà Tần tiến hành Từ năm 179 trước công nguyên đến năm
938 , nước ta tiếp tục nằm dưới sự đô hộ của phương bắc (tổng cộng 1117 năm) Đây là thời kỳ đầy máu và nước mắt, nhưng cũng là thời kỳ biểu hiện sức mạnh quật cường, sự vươn lên thần kỳ của dân tộc ta và kết thúc với chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt Tiếp sau thời kỳ này là hàng loạt các chiến thắng vang dội khác: Lê Hoàn đánh tan quân Tống, nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên - Mông, Lê Lợi đánh bại quân Minh, Nguyễn Huệ đánh bại quân Thanh rồi đến những thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch cuối cùng của cuộc Tổng tiến công chiến lược, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta Nó là một điển hình của loại hình chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, với đặc trưng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc
thắng”, giành thắng lợi hoàn toàn, triệt để, trong thời gian ngắn
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 gồm ba chiến dịch kế
tiếp: chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh Thực chất, đây là ba đòn tiến công có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu sự phát triển đến đỉnh cao nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trong đó, chiến dịch Hồ Chí Minh (26-4 - 30-4-1975) là một điển hình của loại hình chiến dịch tiến công hiệp đồng binh
Trang 10chủng quy mô lớn Đây là chiến dịch đã tận dụng được và phát huy cao độ thế chiến lược do các chiến dịch trước (Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng) tạo ra để tập trung lực lượng với ưu thế áp đảo quân địch cả về lực lượng, thế trận và tinh thần Chiến dịch đó phát huy cao nhất sức mạnh của các binh đoàn, binh chủng hợp thành với quy mô lớn nhất, đập tan tuyến phòng thủ của địch ở vòng ngoài; đánh thẳng vào trung tâm đầu não, sào huyệt của địch, kết hợp với nổi dậy của quần chúng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Chiến dịch Hồ Chí Minh không chỉ là cuộc đọ sức quyết liệt giữa một đế quốc đầu sỏ mạnh nhất thế giới lúc đó (đế quốc Mỹ) với một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên quyết đứng lên chống xâm lược để bảo vệ đất nước, mà còn là cuộc đấu tranh gay gắt về tài trí giữa hai nền nghệ thuật quân sự của n ướ c t a và quân xâm lược Cuộc tổng tiến công và nổi dậy màu xuân năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành được toàn thắng, mở ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Nó kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một nửa thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, làm cho Tổ quốc ta vĩnh viễn độc lập, thống nhất và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Đại thắng mùa Xuân 1975 là thành quả vĩ đại của nhân dân ta, thể hiện ý chí, khát vọng độc lập, thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh Với đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, Đảng ta đã huy động được cao nhất sức mạnh của cả nước, bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh chính trị - tinh thần, sức mạnh truyền thống yêu nước nồng nàn của đất nước ngàn năm văn hiến cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược lâu dài, cam go, quyết liệt Hiểu được những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Hồ Chí Minh giúp những người giáo viên tương lai như tôi tích lũy thêm kiến thức giảng dạy để truyền đạt một cách tối ưu nhất truyền thống đánh giặc
Trang 11giữ nước hào hùng của dân tộc tới học sinh.Từ những lí do trên nên tôi
quyết định chọn đề tài: “Nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích những nét tiêu biểu về nghệ thuật quân sự của ông cha ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh, từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm quý báu để vận dụng vào công tác bảo vệ đất nước ở hiện tại và
tương lai
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế và sự tương quan
lực lượng chiến đấu giữa địch và ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu về diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu về nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Hồ Chí Minh
- Rút ra bài học kinh nghiệm từ nghệ thuật quân sự chống lại quân xâm lược của nhân dân ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh và vận dụng vào thực tiễn
để bảo vệ Tổ quốc
4 Đối trượng nghiên cứu
Nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Hồ Chí Minh
Trang 12quá trình vận động của chúng, từ đó có thể dựng lại bức tranh chân thực của
sự vật, hiện tượng như đã xảy ra
6.2 Phương pháp lịch sử
Nghiên cứu tổng quát các sự kiện, hiện tượng lịch sử, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, không cơ bản để làm bộc lộ bản chất, tính tất yếu và quy luật vận động và phát triển khách quan của sự kiện, hiện tượng lịch sử đang “ẩn mình”
trong các yếu tố tất nhiên lẫn ngẫu nhiên phức tạp ấy
6.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Dựa vào các nguồn tư liệu, sách báo, cộng thêm tham khảo có chọn lọc các tài liệu có liên quan đến nghệ thuật quân sự của các cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân nói riêng và nghệ thuật quân sự nói chung; phân tích những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Ngoài ra khóa luận còn thực hiện dựa trên việc sưu tầm các nguồn tư liệu, sách báo, cộng thêm tham khảo có chọn lọc các tài liệu có liên quan đến nghệ thuật quân sự của các cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng và nghệ thuật quân sự nói chung
7 Kết cấu khóa luận
Ngoài các phần danh mục bảng biểu, danh mục chữ viết tắt, mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, bài luận gồm 3 chương:
CHƯƠNG I: Bối cảnh và tương quan lực lượng trong chiến dịch Hồ
Chí Minh
CHƯƠNG II: Diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh
CHƯƠNG III: Những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Hồ Chí Minh và bài học kinh nghiệm
Trang 13Về phía Trung Quốc, sự ủng hộ tích cực về chính trị của Trung Quốc đối với Việt Nam thể hiện qua những tuyên bố, những bức điện gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam, phát biểu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc; qua những bức điện của các tổ chức đoàn thể Trung Quốc gửi cho các đoàn thể tương ứng Việt Nam Ngoài ra Trung Quốc còn giúp đỡ Việt Nam cả cơ sở vật chất, các trang thiết bị, và cả con người để nhân dân Việt Nam chiến thắng trong công cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc
Trên thực tế, các nước yêu chuộng hòa bình luôn ủng hộ lập trường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, cổ vũ cho thắng lợi của nhân dân ta, lên
án mạnh mẽ đế quốc Mỹ xâm lược, tiêu biểu là các nước như: Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Anbani, Cuba, Hunggari, Cộng hòa Dân chủ Đức Cùng với việc ủng hộ về chính trị, tinh thần, nhân dân ta còn nhận được sự giúp đỡ
to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống XHCN về vật chất và cố vấn, chuyên gia kỹ thuật Những sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa của các nước không chỉ là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với nhân dân Việt
Trang 14Nam, mà còn trực tiếp tăng cường sức mạnh cho Việt Nam trên vũ đài chính trị thế giới
Sự giúp đỡ nhiệt thành của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam trong tình thế Việt Nam đơn độc trong vòng vây của
kẻ thù, là vô cùng quan trọng, hết sức to lớn và quý báu Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng và sử dụng sự giúp đỡ ấy một cách hiệu quả, từng ngày, từng giờ tạo ra sức mạnh để chiến đấu giành độc lập, tự do, đưa Việt Nam thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Đầu năm 1966, Thủ tướng Cu Ba Phiđen Caxtơrô đã tuyên bố: "Vì Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng hiến dâng đến cả dòng máu của mình" (Báo lý luận chính trị)
Trên mặt trận ngoại giao, chúng ta đã tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới, và đã tập hợp được các nước Á, Phi, Mỹ Latinh, các nước Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ và ngay trong lòng nước Mỹ vào một mặt trận chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam Chưa kể đến, tại các hội nghị quốc tế, các đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được hầu hết các nước đồng tình, ủng hộ
1.1.1.2 Tình hình nước Mỹ (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) và đồng minh
Ngày 9 tháng 8 năm 1974, Tổng thống Richard Nixon buộc phải từ chức sau vụ bê bối Watergate Phó tổng thống Gerald Ford kế nhiệm chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ vẫn cam kết ủng hộ đồng minh Việt Nam Cộng hoà nhưng nền kinh tế Hoa Kỳ đang trong giai đoạn khó khăn sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 và phải tập trung viện trợ quân sự cho Israel khoảng 1,5 tỷ USD Trong lá thư ngày 10 tháng 8 năm 1972 của Tổng thống Hoa Kỳ gửi cho Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, Gerald Ford nhắc nhở Chính phủ VNCH nên sử dụng viện trợ của Hoa Kỳ và các đồng minh một cách hữu hiệu hơn để xây dựng nền kinh tế tự túc trong vài năm tới Nếu như trong tài
Trang 15khoá 1972-1973, Việt Nam Cộng hoà còn nhận được 1.614 triệu USD thì đến tài khoá 1973-1974, Sài Gòn chỉ còn nhận được 1.026 triệu USD và đến tài khoá 1974-1975 thì chỉ còn 780 triệu USD Thực tế, trừ đi các khoản của Cam
pu chia và Lào, số viện trợ Hoa Kỳ vào VNCH chỉ còn lại 313 triệu USD Đó
là sự sụt giảm nghiêm trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế và khả năng vận hành quân sự của VNCH
Ở thời điểm 1974-1975, đối với Hoa Kỳ vướng vào việc giải quyết khủng hoảng dầu lửa và vấn đề Trung Đông và việc giúp sức cho đồng minh Israel sau khi họ thua trận trước Ai Cập năm 1973 là vấn đề quan trọng hơn
so với việc viện trợ cho đồng minh Việt Nam Cộng hoà Mặt khác, do những ràng buộc của Hiệp định Pa-ri khiến họ không được phép và cũng không được
sự ủng hộ cả hai viện của Quốc hội Hoa Kỳ nên không có cơ sở can thiệp bằng quân sự ở Việt Nam của Chính phủ Hoa Kỳ Tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn làm hậu thuẫn cho chính quyền VNCH
và quân các nước đồng minh của Mỹ phải rút hết về nước Các đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam giữ nguyên lực lượng và thế bố trí trên các địa bàn
Trang 16chiến lược Đối với miền Bắc, đế quốc Mỹ phải chấm dứt vô điều kiện cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Nhân dân miền Bắc có điều kiện khôi phục và phát triển kinh tế, tập trung sức người sức của cho công cuộc chiến đấu nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Về việc ký hiệp định Pa-ri, ta đã thực hiện được ý định giữ nguyên thế
và lực của ta ở miền Nam để tiếp tục tiến công quân địch Do quân viễn chinh
Mỹ và quân chư hầu phải rút, quân và dân ta có thời cơ rất thuận lợi để “đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
` Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 21 (tháng 10 năm 1973) xác định:
“bất kể trong tình huống nào ta cũng phải nắm thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững
và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta nhằm đánh kế hoạch bình định và lấn chiếm của địch”
Trong hai năm 1973-1974 địch mở hàng vạn cuộc hành quân bình định
và lấn chiếm trên toàn miền Nam, trong đó có trên 300 cuộc hành quân quy
mô trung đoàn, sư đoàn, có máy bay, pháo binh yểm trợ
Những tháng đầu năm 1973 do ta sơ hở, địch đã lấn chiếm hàng nghìn
ấp ở Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ Từ giữa năm
1973, ta đã phát hiện được những thiếu sót và kịp thời khắc phục Các chiến trường đều đẩy mạnh hoạt động quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, thu hồi và mở rộng vùng giải phóng Ở Tây Nguyên ta giải phóng Chư Nghé (22-9-1973) ở miền Đông Nam Bộ ta giải phóng Tuy Đức, Bù Bông (11-1973) Quân và dân ta trên miền Bắc khẩn trương tăng cường lực lượng vận chuyển vật chất vào chiến trường, mở rộng và phát triển hệ thống đường chiến lược
Trang 17Sang năm 1974, do hoạt động mạnh của ta, địch phải rút bỏ nhiều vị trí như Đắc Song, Kiến Đức, Nha Bích, Tống Lê Chân (miền Đông Nam Bộ), Thượng Đức, Nông Sơn, Minh Long, Giá Vụt, Măng Đen, Măng Bút (Khu 5- Tây Nguyên)
Thế và lực của quân ngụy trên các chiến trường suy giảm rõ rệt Không còn chỗ dựa là quân Mỹ, hỏa lực và pháo binh, không quân, xe thiết giáp giảm 40 đến 70%, sức cơ động giảm 50%, tinh thần chiến đấu của quân ngụy
sa sút nghiêm trọng Tuy số quân còn đông, trang bị còn nhiều, song khả năng chiến đấu đã giảm sút rõ rệt
Trải qua hai năm chiến đấu quyết liệt và tích cực chuẩn bị về mọi mặt,
so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 - 1976
Qua thực tế, Bộ Chính trị họp từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày
8 tháng 1 năm 1975 nhận định thời cơ có thể đến sớm, ta có khả năng giành thắng lợi sớm hơn dự kiến Quyết tâm của Bộ Chính trị là tranh thủ bất ngờ,
mở cuộc tiến công lớn và rộng khắp trong năm 1975, tạo điều kiện để giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1976 Nếu thời cơ đến thì phải lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975
Trải qua hơn một tháng liên tục tổng tiến công và nổi dậy, với hai chiến dịch lớn, chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế - Đà Nẵng, quân và dân ta
đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự và hệ thống chính quyền ngụy ở hai quân khu, quân đoàn địch, giải phóng 16 tỉnh, 5 thành phố cùng nhiều quận lỵ Chi khu, yếu khu quân sự Vùng giải phóng được mở rộng chiếm 3 phần 4 đất đai và gần một phần hai dân số miền Nam Một cục diện chưa từng có mở ra Thời cơ giải
Trang 18phóng hoàn toàn miền Nam đã đến Trong phiên họp lịch sử ngày 25 tháng 1,
Bộ Chính trị chủ trương “Tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên) binh khí, kĩ thuật và cật chất, giải quyết xong Sài Gòn - Gia Định trước mùa mưa” Tiếp đó, Bộ Chính trị đã chính thức hạ quyết tâm mở chiến dịch
Hồ Chí Minh - chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn kết thúc chiến tranh, chiến dịch quyết chiến chiến lược lịch sử
1.2 Tương quan lực lượng giữa hai bên trước chiến dịch Hồ Chí Minh
1.2.1 Quân giải phóng miền Nam Việt Nam
1.2.1.1 Quần chúng nhân dân
Song song với tổng tấn công của bộ đội chủ lực, Chiến dịch còn được thực hiện với quá trình nổi dậy của quần chúng nhân dân Quá trình nổi dậy của quần chúng nhân dân đã diễn ra sôi nổi và được chuẩn bị từ sớm Ngay từ cuối năm 1974, Trung ương Cục và Quân Giải phóng đã có các biện pháp chính trị để chuẩn bị cho quần chúng tiến hành nổi dậy, đặc biệt đã có trên 40.000 người tham gia quá trình nổi dậy với 7.000 người công khai Các biện pháp đấu tranh bao gồm: ra đường phố làm công tác địch vận, phổ biến lôi kéo, tranh thủ hù dọa đối với lực lượng kìm kẹp tại chỗ của VNCH, thúc đẩy chúng vứt bỏ vũ khí, cởi bỏ trang phục, rút khỏi trụ sở, đồn bốt, về nhà hoặc tháo chạy, ẩn náu Sau khi Quân Giải phóng tiến vào tiếp quản các đô thị, quần chúng tiến hành dẫn đường hoặc chở bộ đội, bảo vệ nhà máy xí nghiệp, kho bãi, nhà ga bến cảng, thu các giấy tờ, hồ sơ, hạ cờ VNCH kéo cờ Mặt trận, cử đại diện chính quyền cách mạng
1.2.1.2 Lực lượng của ta trên hướng Bắc
Quân đoàn 1 gồm các sư đoàn bộ binh 312 (sư đoàn Chiến Thắng), 320B, trung đoàn pháo binh 45, lữ đoàn tăng thiết giáp 202; sư đoàn phòng không 367; lữ đoàn công binh 299; được tăng cường lữ đoàn pháo binh 38,
Trang 19trung đoàn tên lửa phòng không 236 (Đoàn Sông Đà), ba trung đoàn công binh 239, 259, 279; một trung đoàn phòng không hỗn hợp, ba tiểu đoàn pháo binh độc lập rút từ Bộ Tư lệnh pháo binh Tổng quân số 31.227 người; 778 xe vận tải, 44 xe tăng; 36 khẩu pháo 130 mm, 105 mm và 75 mm; 120 khẩu cao
xạ 57 mm và 37 mm; 9 xuồng máy, 2 ca nô, 12 xe công binh chuyên dụng
Bộ tư lệnh quân đoàn gồm: Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Hòa; Chính ủy: Thiếu tướng Hoàng Minh Thi
Nhiệm vụ của Quân đoàn 1 là bao vây tiêu diệt đối phương ở Phú Lợi, Bến Cát, Bình Dương, Lai Khê, Tân Uyên; ngăn chặn Sư đoàn 5 Quân lực Việt Nam Cộng hòa rút về nội đô và vô hiệu hóa đơn vị này; tấn công đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, các bộ tư lệnh binh chủng ở Gò Vấp, Bình Thạnh; tổ chức một lực lượng tấn công hợp điểm với các quân đoàn khác tại Dinh Độc Lập Do phải hành quân gấp từ miền Bắc vào bằng mọi phương tiện thuỷ, bộ và đường không Quân đoàn 1 bắt đầu tấn công chậm một ngày so với các đơn vị khác.[12]
1.2.1.3 Lực lượng của ta trên hướng Đông Nam
Quân đoàn 2 ban đầu gồm các sư đoàn bộ binh 325 (Trị Thiên), 304 (đoàn Vinh Quang), 324 (đoàn Hải Vân); lữ đoàn pháo binh 164; lữ đoàn tăng thiết giáp 203; sư đoàn phòng không 673; lữ đoàn công binh 219; trung đoàn đặc công 116 Tổng số xe chở hàng, chở người của Quân đoàn 2 lên tới 2.267 chiếc, Trong đó có 54 xe tăng, 35 xe thiết giáp, 223 xe kéo pháo, 87 khẩu pháo 130 mm và 105 mm; 136 pháo cao xạ Do được phối thuộc Sư đoàn 3 (Đoàn Sao Vàng) từ Quân khu 5 và một số đơn vị rút từ Quân khu 4, tổng quân số của Quân đoàn lên đến hơn 40.000 người (trước đó là 32.418 người)
Bộ tư lệnh quân đoàn gồm: Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Hữu An; Chính ủy: Thiếu tướng Lê Linh
Trang 20Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ tiến công trên chính diện rộng 86 km với chiều sâu nhiệm vụ từ 68 đến 70 km Nhiệm vụ ban đầu của quân đoàn là đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu Long Bình, căn cứ Long Bình, chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, cảng và bến phà Cát Lái, chi khu Đức Trạch, pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, đánh chiếm Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa, quận
9 và quận 4 Sài Gòn Tổ chức lực lượng thọc sâu đánh chiếm quận 1 và quận
3, hợp điểm tại Dinh Độc Lập.[12]
1.2.1.4 Lực lượng của ta trên hướng Tây Bắc
Quân đoàn 3 gồm các Sư đoàn bộ binh 316 (sư đoàn Tây Bắc), 320A (sư đoàn Đồng Bằng), 10 (sư đoàn Đắktô); trung đoàn đặc công 198 (đoàn đặc công hậu cứ); hai trung đoàn pháo mặt đất 40 và 575 (đoàn Anh Dũng); trung đoàn xe tăng 273 (đoàn Sơn Lâm); các trung đoàn phòng không hỗn hợp 234 (đoàn Tam Đảo), 593 (mới bổ sung) và 232 (chuyển thuộc từ Đoàn 559); hai trung đoàn công binh 7 (đoàn Hùng Vương); 575 (chuyển thuộc từ Đoàn 559); trung đoàn thông tin 29; các trung đoàn Gia Định 1 và 2 Tổng quân số 47.400 người, 54 xe tăng, 64 xe bọc thép, gần 100 khẩu pháo
130 mm, 105 mm và hỏa tiễn H12, trên 250 khẩu cối từ 61 mm đến 120 mm,
110 pháo phòng không 57 mm và 37 mm, hơn 250 khẩu súng máy phòng không các cỡ 12,4 mm và 14,5 mm
Bộ tư lệnh quân đoàn gồm: Tư lệnh: Thiếu tướng Vũ Lăng; Chính ủy: Đại tá Đặng Vũ Hiệp
Khác với Quân đoàn 2, Quân đoàn 3 phải tấn công trên một chính diện hẹp từ 7 đến 10 km nhưng có chiều sâu nhiệm vụ lên đến 100 km.Nhiệm vụ của quân đoàn trong giai đoạn 1 là sử dụng Sư đoàn 316 cùng binh chủng phối thuộc chặn đánh Sư đoàn 25 Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Gò Dầu, Trảng Bàng, cắt đường 1B, bao vây, chia cắt không cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa điều các đơn vị ở Tây Bắc Sài Gòn lui về Đồng Dù, Củ Chi
Trang 21Trong giai đoạn 2, Quân đoàn có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, sân bay Tân Sơn Nhất, các quận Tân Bình, Phú Nhuận đưa một bộ phận lực lượng thọc sâu, hợp điểm với các đơn vị khác tại Dinh Độc Lập.[12]
1.2.1.5 Lực lượng của ta trên hướng Đông Bắc
Quân đoàn 4 đã sứt mẻ bởi các Sư đoàn 6, 7 được đưa sang hướng đông; tăng cường sư đoàn 341 ("Sông Lam") của Quân khu 4 và lữ đoàn bộ binh 52; một tiểu đoàn pháo 130mm; một trung đoàn và một tiểu đoàn phòng không hỗn hợp, ba tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp Sau trận Xuân Lộc, quân số của quân đoàn còn khoảng 30.000 người
Bộ tư lệnh quân đoàn gồm: Tư lệnh: Thiếu tướng Hoàng Cầm; Chính ủy: Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện
Nhiệm vụ của quân đoàn là đánh chiếm khu vực Biên Hòa - Hố Nai (gồm cả Sở chỉ huy Không lực Việt Nam Cộng hòa và sân bay Biên Hòa), tiến về Sài Gòn chiếm các quận 1, 2, 3, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa, Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa, Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Đài phát thanh Sài Gòn Cũng như Quân đoàn 1, đến 17 giờ chiều 27 tháng 4, Quân đoàn 4 mới chuẩn bị xong bàn đạp tiến công và bắt đầu nổ súng chậm hơn một ngày.[12]
1.2.1.6 Lực lượng của ta trên hướng Tây Nam
Đoàn 232 gồm các sư đoàn 5, 9 chủ lực Miền, Sư đoàn Phước Long (tên ban đầu là đoàn C30B); sáu trung đoàn độc lập 16, 88, 24, trung đoàn
271, 172 và 27B; tiểu đoàn 26 xe tăng (17 xe T-54), một trung đoàn đặc công, tiểu đoàn xe tăng 24 (18 xe PT-85), tiểu đoàn 23 xe bọc thép (22 xe BTR-60
và 8 xe M-113); 5 đại đội pháo binh gồm 27 khẩu từ 85 mm đến 130 mm, bốn khẩu cối 160 mm và một giàn hỏa tiễn H12; trung đoàn phòng không hỗn hợp
595, một tiểu đoàn pháo phòng không 23 mm và một tiểu đoàn súng máy
Trang 22phòng không 12,7 mm Sau khi được tăng cường sư đoàn 8 (quân khu 8), tổng quân số của Đoàn 232 lên đến khoảng 42.000 người
Đoàn 232 do Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu làm tư lệnh, Đại tá Trần Văn Phác làm chính ủy
Bộ tư lệnh quân đoàn gồm: Tư lệnh cánh quân phía tây nam: Trung tướng Lê Đức Anh; Chính ủy: Thiếu tướng Lê Văn Tưởng
Nhiệm vụ của đoàn là cắt đường số 4 (Bến Lức - ngã ba Trung Lương), chiếm Tân An, Mỹ Tho, chia cắt Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ, thọc sâu đánh chiếm Bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô, cầu Nhị Thiên Đường, Tổng Nha cảnh sát, các quận 5, 6, 7, 8, 10, 11 Ngoài ra, đoàn 232 còn có nhiệm vụ đánh chiếm các tỉnh lỵ Long An, Kiến Tường; chốt chặn đường số 4 không cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Sài Gòn rút về đồng bằng sông Cửu Long
Mặc dù Sài Gòn - Gia Định là một thành phố lớn, rộng trên dưới
1000 km vuông, vào thời điểm tháng 4 năm 1975 có hơn 3,5 triệu dân nhưng
Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chọn 5 mục tiêu quan trọng nhất cần đánh chiếm trong thời gian ngắn nhất: Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa,
Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát, sân bay Tân Sơn Nhất
và Dinh Độc Lập.[12]
1.2.2 Lực lượng quân lực Việt Nam cộng hòa (quân đội Ngụy)
Đến thời điểm mở chiến dịch, Quân lực Việt Nam Cộng hòa chỉ còn trong tay hai quân đoàn (III và IV), trong đó Quân đoàn III đã bị tổn thất đáng kể trong Chiến dịch Phan Rang - Xuân Lộc và các trận đánh ở vùng ven đô
1.2.2.1 Quân đoàn III và Biệt khu Thủ đô
Quân số 245.000 người (bao gồm cả tàn binh từ Quân đoàn I và Quân đoàn II đã bị đánh tan nhập vào), 406 khẩu pháo, 624 xe tăng và xe thiết giáp, hơn 800 máy bay, 852 tàu các loại và xuồng chiến đấu
Tư lệnh Quân đoàn III: Trung tướng Nguyễn Văn Toàn
Trang 23Tư lệnh Biệt khu Thủ đô: Thiếu tướng Lâm Văn Phát
Các tuyến phòng thủ gồm có:
- Tuyến ngoài:
+ Sư đoàn 22 bộ binh (mới tái lập) ở Long An, Bến Lức, ngã ba Trung Lương, sở chỉ huy đặt tại Long An;
+ Sư đoàn 25 bộ binh giữ Đồng Dù, Trảng Bàng, Củ Chi, Hậu Nghĩa,
sở chỉ huy đặt tại căn cứ Đồng Dù;
+ Sư đoàn 5 bộ binh giữ Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương, sở chỉ huy đặt tại Lai Khê;
+ Sư đoàn Thủy quân lục chiến (chỉ còn 2 lữ đoàn) giữ Long Bình; + Sư đoàn 18 (chỉ còn 2 chiến đoàn) giữ Bàu Cá, Trảng Bom, Suối Đĩa;
+ Sư đoàn 5 không quân đóng tại Tân Sơn Nhất;
+ Lữ đoàn 3 thiết giáp giữ Biên Hoà;
+ Lữ đoàn 1 dù giữ Bà Rịa - Vũng Tàu;
- Tuyến trong:
Ba liên đoàn biệt động quân được triển khai tại Bình Chánh, Hóc Môn, Bình Triệu
Bốn Khu chiến được thành lập sau ngày 14 tháng 4 gồm:
- Liên đoàn đoàn 9 biệt động quân, 2 liên đoàn công binh và số quân
đang huấn luyện tại trại Quang Trung giữ Khu chiến Bắc từ Hóc Môn qua
Cầu Bông đến sân bay Tân Sơn Nhất
- Các liên đoàn biệt động quân 7, 8 giữ Khu chiến Tây từ Vĩnh Lộc qua
Tân Hiệp, Bà Hom đến Bình Chánh
- Liên đoàn bảo an 239 và một liên đoàn phòng vệ dân sự được vũ
trang giữ Khu chiến Nam từ Nhà Bè đến Nhơn Trạch
Trang 24- Lữ đoàn dù 4, Liên đoàn bảo an 391 và học viên Quân trường Thủ
Đức giữ Khu chiến Đông từ Gò Vấp, Quận 9 đến Thủ Đức
Năm liên khu phòng thủ nội đô gồm: Liên khu 1 (các quận 1, 3), Liên khu 2 (các quận 5, 6), Liên khu 3 (các quận 2, 4), Liên khu 4 (các quận 7, 8), Liên khu 5 (các quận 10 và 11) Các ổ đề kháng cũng được tổ chức tại Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô, Bộ Tổng tham mưu (do Liên đoàn biệt kích dù 81 phòng thủ), Tổng nha Cảnh sát, Căn cứ không quân Tân Sơn Nhất Bản thân Dinh Độc Lập cũng được bố trí làm một trung tâm đề kháng với một lữ đoàn cảnh
vệ quốc gia có xe tăng và xe bọc thép tăng cường.[12]
1.2.2.2 Quân đoàn IV
Vùng đồng bằng sông Cửu Long do Quân khu IV - Quân đoàn IV Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn còn nguyên vẹn, có 175.000 quân được biên chế thành 3 sư đoàn bộ binh 7, 9, 21, một lữ đoàn bộ binh độc lập, sư đoàn 4 không quân, ba trung đoàn thiết kỵ, hai hải đoàn tuần duyên, ba giang đoàn; được trang bị 493 xe tăng, xe thiết giáp, 366 khẩu pháo, 409 máy bay (trong
đó có 118 máy bay chiến đấu), 579 tàu, xuồng chiến đấu các loại Các lực lượng này được bố trí trong các cụm đề kháng quanh các thành phố lớn, thị
xã, các trục đường giao thông lớn trong đó có hai trọng điểm là Thành phố Cần Thơ và đường số 4.[12]
1.3 Nguồn gốc tên gọi chiến dịch Hồ Chí Minh
Hội nghị Bộ chính trị ngày 31/3/1975 xác định "Từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu" Ngày 1/4/1975 chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo
"thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" với tốc độ "một ngày bằng 20 năm" Ngày 8 tháng 4 năm 1975, tại Lộc Ninh, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được thành lập với thành phần: Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính uỷ: Phạm Hùng, các Phó Tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn
Trang 25Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Quyền Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, sau đó bổ sung Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Phó Tư lệnh và Trung tướng Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Có hai nhân vật lãnh đạo không phải là quân nhân tham gia là các ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt Ông Nguyễn Văn Linh được giao phụ trách công tác phát động quần chúng nổi dậy trong thành phố Ông Võ Văn Kiệt được giao phụ trách công tác tiếp quản các cơ sở kinh
tế, kỹ thuật sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được thành phố Các thành viên dự hội nghị đã nhất trí đề nghị Bộ Chính trị cho lấy tên gọi "Chiến dịch Hồ Chí Minh" thay cho tên gọi "Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định" Ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam gửi bức điện số 37/TK cho Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định:
“Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh Chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng quy mô lớn có kết hợp với nổi dậy của quần chúng, kết thúc chiến tranh Đó là chiến dịch quyết chiến chiến lược lịch sử.”
— Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam
Trang 26Tiểu kết chương 1
Sài Gòn là đô thị lớn nhất Việt Nam, là thành phố lớn bậc nhất của nước ta, là đầu não của miền Nam Nó có vị trí chiến lược về chính trị, tối quan trọng đối với các bên.Đối với Mỹ - Ngụy, Sài Gòn là thủ đô, trung tâm, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả miền Nam Đây là sào huyệt của chính quyền trung ương ngụy và các đảng phái chính trị, tôn giáo, văn hóa, nơi tập trung chỉ đạo, chỉ huy quân sự của toàn bộ cuộc chiến tranh với từng chiến trường, nơi chỉ đạo thực hiện các chủ trương chiến lược, các kế hoạch, thủ đoạn chiến lược, chiến thuật trên toàn chiến trường miền Nam và Campuchia Đây cũng là nơi tập trung quân sự lớn nhất miền Nam Đối với
ta, thành phố Sài Gòn là nơi tập trung số lượng dân cư đông đảo nhất ở miền Nam, nơi có lực lượng học sinh sinh viên, nhân sĩ trí thức, tư sản dân tộc và đặc biệt là lực lượng công nhân đây là những lực lượng đấu tranh chống lại chính quyền Mỹ - Ngụy quyết liệt nhất Nhân dân Sài Gòn có truyền thống yêu tự do, bất khuất chống ngoại xâm rất sâu sắc và liên tục trong suốt lịch sử
300 năm của thành phố Mọi biến động ở Sài Gòn, do vị trí trung tâm của nó, đều có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình toàn miền Nam và cục diện của chiến tranh Vì vậy chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch quan trọng quyết định đến kết quả của công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước của dân tộc ta Nhận thấy thời cơ không thể bỏ lỡ để giành thắng lợi cuối cùng, ta quyết định thực hiện chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Chương 1 đã khái quát tình hình thế giới, tình hình trong nước khi đó, có cái nhìn tổng quát
về đánh giá tương quan lực lượng giữa ta và địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh Từ đó ta thấy được những thuận lợi quyết định cho chiến thắng lịch sử này Đó cũng là những xuất phát điểm quan trọng để Đảng và nhân dân ta quyết tâm thực hiện thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được trình bày
ở chương 2
Trang 27CHƯƠNG 2:
DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
Bản đồ chiến dịch Hồ Chí Minh
Trang 282.1 Giai đoạn 1(26/4/1975-28/4/1975)
Quân ta tiến công theo hướng chủ yếu: đông, đông nam, bắc, tây bắc, tây, tây nam; bao vây chặt Sài Gòn, dưới đây là diễn biến chính ở các hướng tiến công:
2.1.1 Trên hướng đông, đông nam
Trên hướng đông do Quân đoàn 2 đảm nhiệm Sư đoàn 304 sử dụng trung đoàn 9 tiến công trường thiết giáp, trung đoàn 24 tiến đánh trường bộ binh ở căn cứ Nước Trong Đến 18 giờ 45 ngày 26, ta chiếm được trường thiết giáp Địch co lại ở khu vực trường bộ binh và các trường biệt kích, đồng thời điều thêm lực lượng từ Biên Hòa lên tổ chức phản kích Liên tục trong hai ngày 27,28, sư đoàn 304 đã đánh bại các đợt phản kích của địch và tổ chức nhiều đợt tiến công nhưng không dứt điểm
Sư đoàn 325, sử dụng trung đoàn 101 tiến công quận lỵ Long Thành, trung đoàn 46 luồn vào sau lưng địch đánh chiếm ngã ba Phước Thiềng, trung đoàn 18 bao vây địch ở Bỉnh Sơn và làm dự bị cho sư đoàn Đến 10 giờ ngày
27, trung đoàn 46 chiếm được Thái Lạc, Phước Thiềng, Phú Lợi và bao vây Long Tân 10 giờ 30 ngày 27, trung đoàn 101 chiếm xong quận lỵ Long Thành Sáng ngày 28, trung đoàn 46 dẫn đầu đội hình của sư đoàn tiến quân theo đường 25,liên tiếp tiêu diệt các cụm phòng ngự của địch ở Bến Sáng, Phú Hội, Long Tân, sau đó làm chủ quận lỵ Nhơn Trạch vào chiều ngày 28,
sư đoàn 325 đã tổ chức đánh bại tất cả các đợt phản kích của địch ở Nhơn Trạch, tạo điều kiện cho pháo binh Quân đoàn vào chiếm lĩnh trận địa bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất Trên hướng sư đoàn 3, lúc 20 giờ ngày 26,trung đoàn
12 đánh chiếm Đức Thạnh, sau đó truy kích địch qua ba huyện Đức Thạnh, Đất Đỏ, Long Điền, cùng lực lượng địa phương xóa bỏ một loạt vị trí ở ven biển, 15 giờ ngày 27, trung đoàn 141 chiếm xong thị xã Bà Rịa và trung tâm
Trang 29huấn luyện Vạn Kiếp Các lực lượng sư đoàn 3 phát triển xuống Vũng Tàu, nhưng địch đã phá cầu Cỏ May và tổ chức ngăn chặn tại đây Sư đoàn đã chuyển hướng vu hồi của trung đoàn 12 làm hướng tiến công chính và tăng cường thêm lực lượng của trung đoàn 2 cho hướng này, tiếp tục tổ chức tiến công địch
Trong ngày 27 địch đã dùng 114 lần chiếc máy bay các loại bắn phá đội hình tiến công của Quân đoàn 2, lực lượng phòng không của quân đoàn bắn trả quyết liệt, bắn rơi 7 chiếc
Hai tiểu đoàn địa phương Bà Rịa và hai đại đội địa phương Long Đất cùng phối hợp chặt chẽ với chủ lực tiến công địch ở Long Điền, Đất Đỏ Đến
17 giờ ngày 27, ta hoàn toàn làm chủ khu vực từ Long Hải đến Bà Rịa
Trên hướng đông nam do Quân đoàn 4 đảm nhiệm, sư đoàn 314 sử dụng
2 trung đoàn 270 và 273 tiến công đánh chiếm căn cứ Trảng Bom, trung đoàn
266 tiến đánh khu vực phòng thủ của địch từ Hưng Nghĩa - ấp Bầu Cá tiêu diệt lực lượng còn lại của sư đoàn 18 và trung đoàn 5 thiết giáp của Ngụy Đến 10 giờ ngày 27, trung đoàn chiếm được Trảng Bom, làm chủ từ suối Đỉa đến ga Long Lạc Ngày 28 sư đoàn 341 phát triển vào Hố Nai, khi bị địch ngăn chặn quyết liệt phải dừng lại tổ chức đột phá Sư đoàn 6, do không đánh trúng mục tiêu, để địch co cụm về Long Lạc - Hố Nai Sư đoàn 7 cùng lữ đoàn 52 tiến theo sau đội hình của sư đoàn 6, bố trí ở Nam lộ 1 chuẩn bị làm lực lượng thọc sâu của Quân đoàn
Các lực lượng ở vùng ven trên hai hướng đông và đông nam đồng loạt
tổ chức đánh chiếm và giữ các cầu bên trong lòng địch Ngày 27, đoàn 113 đặc công, đánh chiếm các cầu Ghềnh, Rạch Chiếc, Rạch Cát Địch phản kích chiếm lại, ta chuẩn bị đánh tiếp Đoàn đặc công 116 đánh chiếm cầu xa lộ Đồng Nai, đánh bại phản kích của địch, giữ vững cầu Ngày 28, đại đội 40 (đoàn 116) đánh chiếm cầu Bến Gõ (Cát Lái) Đoàn 10 đặc công tập kích đồn