TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH NGUYỄN VIỆT PHÚ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “CHỦ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA” TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TỐNG 1075 – 1
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
NGUYỄN VIỆT PHÚ
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
“CHỦ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA” TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG QUÂN TỐNG
(1075 – 1077)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
HÀ NỘI 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
NGUYỄN VIỆT PHÚ
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
“CHỦ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA” TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG QUÂN TỐNG
(1075 – 1077)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học
CN Trần Ngọc Lâm
HÀ NỘI 2018
Trang 3Em xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè trong lớp và người thân trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành khóa luận cuối khóa
Trong quá trình làm khóa luận do thời gian nghiên cứu có hạn, cho nên khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện và đầy đủ hơn
Em xin trân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Việt Phú
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu và sự
cố gắng nỗ lực của bản thân em dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Thượng
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
8 Kết cấu của khóa luận 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “CHỦ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA” TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TỐNG (1075 – 1077) 4
1.1 Khái niệm và đặc điểm của nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Đặc điểm của nghệ thuật quân sự “Chủ động đánh địch từ xa” 5
1.2 Cơ sở hình thành Của nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077) 6
1.2.1 Bối cảnh lịch sử 6
1.2.2 Truyền thống đánh giặc giữ nước của ông, cha ta 8
1.2.3 Những kinh nghiệm đánh giặc giữ nước của ông cha ta từ trước năm 1075 – 1077 9
Tiểu kết chương 1 13
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “CHỦ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA” TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TỐNG (1075 – 1077) 14
2.1 Chủ trương của nhà Lý 14
2.2 Cuộc dẫn binh đánh sang đất Tống của nhà Lý năm 1075 16
2.2.1 Diễn biến 16
2.2.2 Kết quả 19
2.3 Nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” trong kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077) 20
Trang 72.3.1 Nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự “Chủ động đánh địch từ xa” – Tiên phát chế nhân trong kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077) 20
2.3.2 Tài năng của Lý Thường Kiệt 23
Tiểu kết chương 2 26
CHƯƠNG 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ 27
“CHỦ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA” TRONG CHIẾN TRANH 27
BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY 27
3.1 Nắm vững, đánh giá đúng tình hình, tương quan lực lượng để đưa ra phương án tác chiến táo bạo 27
3.2 Vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến đảm bảo bí mật, bất ngờ 30
3.3 Xây dựng ý chí quyết tâm cho chiến sĩ và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế và các nước trên thế giới 31
3.4 Kết hợp đấu tranh trên tất cả các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế và ngoại giao 33
3.5 Giữ nước ngay từ thời bình 35
3.6 Xây dựng được tư tưởng tích cực, chủ động tiến công 36
Tiểu kết chương 3 39
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vào thế kỉ XI, nhà Tống gặp phải khó khăn về kinh tế, chính trị đã quyết định xâm lược Đại Việt để giải quyết tình hình khó khăn trong nước Quân và dân nhà Lý đã chủ động tiến hành các biện pháp để đối phó
Từ thực tiễn các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược trong quá khứ
đã giành những thắng lợi vẻ vang, quân và dân nhà Lý đã kế thừa có chọn lọc những tinh hoa về nghệ thuật quân sự của dân tộc trong lịch sử, đồng thời đã biết vận dụng linh hoạt, phối hợp các nghệ thuật đó để hình thành nên nghệ thuật quân sự đặc sắc, phù hợp với sức mạnh của quân và dân ta cũng như khắc chế sức mạnh của kẻ thù, một trong những nghệ thuật quân sự đó là
“Chủ động đánh địch từ xa” – Tiên phát chế nhân
Nhà Lý đã cử Lý Thường Kiệt làm tổng chỉ huy tổ chức kháng chiến,
Lý Thường Kiệt chủ trương tấn công trước để phòng vệ, ông đã đề ra sách lược “Chủ động đánh địch từ xa”, tấn công trước để phòng vệ, nhằm đánh tan
ý đồ tấn công của nhà Tống
Trong giai đoạn hiện nay, trước tình hình thực tiễn đặt ra đòi hỏi chúng
ta cần phải nghiên cứu những giá trị nghệ thuật quân sự mà ông cha ta đã đúc kết nói chung, nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” nói riêng Từ
đó giúp chúng ta tìm ra những kinh nghiệm có giá trị sâu sắc để góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay
Từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài Nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 92 Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ thêm về nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
Vận dụng một cách sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý báu có thể
kế thừa và phát huy trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát nghệ thuật “Chủ động đánh địch từ xa” và làm rõ cơ sở hình thành nghệ thuật quân sự “Chủ động đánh địch từ xa” của quân và dân Nhà Lí năm (1075 - 1077)
Phân tích những nét đặc sắc, kết quả việc vận dụng nghệ thuật quân sự
“Chủ động đánh địch từ xa”trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
Rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
4 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật quân sự “Chủ động đánh địch từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
5 Phạm vi nghiên cứu
Nghệ thuật quân sự của quân và dân nhà Lí trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các biện pháp nghiên cứu
so sánh, logic, thống kê, phân tích; các phương pháp lịch sử, phương pháp chuyên gia
Trang 107 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
Sau khi nghiên cứu đề tài nghệ thuật quân sự “Chủ động đánh địch từ xa” của quân và dân nhà Lý, đặc biệt là Lý Thường Kiệt chống lại quân xâm lược nhà Tống (1075 – 1077), ta thấy được những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự “Chủ động đánh địch từ xa” – Tiên phát chế nhân của quân và dân nhà Lý, đồng thời thấy được tài cầm quân và tài năng của Lý Thường Kiệt
trong kháng chiến chống quân xâm lược Tống
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài giúp nâng cao nghệ thuật “Chủ động đánh địch từ xa” phá thế tiến công của địch trong chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc hiện nay
Làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các đối tượng sinh viên
8 Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo:
Chương 1: Những vấn đề chung về nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch
từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
Chương 2: Nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
Chương 3: Những bài học kinh nghiệm của nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc hiện nay
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “CHỦ
ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA” TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG QUÂN TỐNG (1075 – 1077)
1.1 Khái niệm và đặc điểm của nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch
từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về nghệ thuật quân sự
Trong lịch sử kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc từ xa xưa,
nước ta luôn phải chống lại những kẻ thù xâm lăng lớn mạnh hơn ta rất nhiều
lần Tuy tương quan lực lượng và phương tiện là rất lớn nhưng dân tộc ta lại
có truyền thống yêu nước, tình đoàn kết keo sơn và ý chí độc lập tự do sâu
sắc Chính trong những cuộc chiến không cân sức kéo dài ấy nên dân tộc ta đã
hình thành rất nhiều những nghệ thuật quân sự độc đáo Trải qua những bước
phát triển từ thấp đến cao, từ sơ khai đến hoàn thiện, ông cha ta đã đúc kết
được những kinh nghiệm quý báu trong kháng chiến để tạo nên những nghệ
thuật quân sự vô cùng quý giá và phù hợp với thực tiễn chiến đấu của từng
thời kì
Theo Từ điển Bách Khoa quân sự Việt Nam “Nghệ thuật quân sự là lý
luận và thực tiễn chuẩn bị, tổ chức và tiến hành đấu trranh vũ trang Nó
nghiên cứu các quy luật của chiến tranh và đấu tranh vũ trang, xác định những
nguyên tắc và phương pháp tiến hành các hoạt động quân sự trong chiến
tranh Nghệ thuật quân sự được hình thành từ ba bộ phận: Chiến lược quân
sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật Ba bộ phận nghệ thuật quân sự là
một thể thống nhất có quan hệ biện chứng chặt chẽ, trong đó chiến lược quân
sự đóng vai trò chủ đạo”
Trang 12Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “Nghệ thuật quân sự là cách đánh, cách dùng binh đã trở thành thông thạo, điêu luyện trong một trận chiến đấu, một chiến dịch hay trên toàn bộ chiến trường Nghệ thuật quân sự không có một khuôn mẫu cụ thể nào, nó có thể biến hóa khôn lường muôn hình muôn vẻ”
(Trích Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật quân sự)
Như vậy có thể thấy được bản chất của nghệ thuật quân sự là hệ thống các quan điểm về nghệ thuật về nghệ thuật quân sự và các vấn đề có liên quan đến chiến lược, chiến dịch, chiến thuật trong hoạt động quân sự của một tổ chức, tập đoàn quân Trong nghệ thuật quân sự bao gồm rất nhiều nghệ thuật chiến đấu khác nhau trong phạm vi từng trận đánh hay toàn bộ cục diện của cuộc chiến tranh Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nổi bật là nghệ thuật quân sự chủ động đánh địch từ xa
1.1.1.2 Khái niệm về “Chủ động đánh địch từ xa”
Đây là một nghệ thuật quân sự độc đáo và chưa từng có tiền lệ trong lịch sử kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta Nghệ thuật “Chủ động đánh địch từ xa” – Tiên phát chế nhân là ra tay trước để giành chiếm ưu thế, để đoạt lợi, để bắt lấy sự chiến thắng, chủ động tiến công trước để triệt phá cơ sở chuẩn bị, làm giảm thiểu sức mạnh, ý chí và hành động xâm lược của quân địch, tạo tiền đề cho việc giành thắng lợi trong chiến tranh Kế "Tiên phát chế nhân" là không nói quá xa, viễn vông, mà phải nhìn vào thực tế gần nhất Tất cả đều là áp dụng thủ đoạn "chớp nhoáng" không cho địch kịp trở tay, không cho dư luận phản ứng kịp Vẫn có câu "Tiên hạ thủ vi cường" là vậy
1.1.2 Đặc điểm của nghệ thuật quân sự “Chủ động đánh địch từ xa”
Đây là một nghệ thuật quân sự độc đáo và cũng rất hiệu quả Đề cao tinh thần cảnh giác, chớp thời cơ nhưng cũng không kém phần mạo hiểm, đòi hỏi trên dưới một lòng, nếu không sẽ khó thành công Tuy là dẫn quân sang
Trang 13đất Tống để đánh chặn thế mạnh của giặc, nhưng về bản chất lại không phải
là cuộc xâm lược, không có mục địch nào khác là phòng ngự chủ động, không chiếm đất đai, không bành chướng lãnh thổ mà chỉ là đánh vào các thành trì, kho lương thảo của địch để hạn chế phần nào thế mạnh của chúng Cuộc Bắc phạt này của Lý Thường Kiệt mang tính chính nghĩa, lại thu phục được lòng dân ta, cả dân chúng nước Tống nên giành được chiến thắng rất nhanh chóng
và không gặp nhiều khó khăn cũng như không bị chống trả quyết liệt
1.2 Cơ sở hình thành Của nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077)
1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Sau thất bại trong lần xâm lược năm 981, nhưng nhà Tống vẫn chưa từ
bỏ âm mưu và tham vọng xâm lược nước ta để mở rộng bờ cõi Đến khoảng giữa thế kỉ XI, nhà Tống quyết định xâm lược Đại Việt lần nữa Vừa nhằm biến nước ta thành quận huyện của nhà Tống vừa nhằm giành lấy những thắng lợi quân sự ở Đại Việt để tạo thế uy hiếp các nước Liêu và Hạ ở phía Bắc.Một mặt, nhà Tống thực hiện chính sách hòa hoãn với hai nước Liêu, Hạ
ở phía Bắc và Tây Bắc để ổn định tình hình trong nước Mặt khác, huy động lực lượng từ phương Bắc với hàng vạn kỵ binh, bộ binh tinh nhuệ và quân địa phương ở các tỉnh Nam Trường Giang; đồng thời, xuất chi một lượng lớn công khố bảo đảm cho huấn luyện, xây dựng các căn cứ quân sự, hậu cần giáp biên giới để tập kết lực lượng, tích trữ lương thảo, phục vụ trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt Lúc này số quân Tống đang tập hợp ở các căn
cứ Ung, Khâm, Liêm khoảng 10 vạn đang huấn luyện, song chưa thể đánh ngay được vì số quân này là tân binh Hoa Nam vừa mới tuyển Nhà Tống sẽ rút 45 ngàn cấm binh thiện chiến ở phương Bắc đưa xuống chiến trường phía Nam để lập đạo quân chủ lực, thì việc đó làm chưa xong
Trang 14Trong nước, quân và dân nhà Lý đang ra sức củng cố, ổn định đất nước Năm 1072 vua Lý Thánh Tông qua đời, thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên thay, tức là vua Lý Nhân Tông Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, được sự phò
tá của các đại thần Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành nên tình hình quốc gia vẫn khá ổn định Nắm được tình hình nhà Tống sắp sửa đem quân sang xâm lược nước ta, Thấy được mưu đồ của giặc thôn tính nước ta ngày càng lộ rõ, triều đình nhà Lý đã chủ động tăng cường phòng bị, củng cố lực lượng, nắm chắc mọi động thái của địch ở phương Bắc; mở cuộc tiến công đánh bại lực lượng quân sự, đập tan mối uy hiếp xâm phạm lãnh thổ từ phía Nam (năm 1069) Sử sách còn ghi lại, thời nhà Lí đã chủ động đánh bại kẻ thù ở phía Nam (quân Chiêm Thành), phá tan âm mưu liên kết của nhà Tống với Chiêm Thành Trước nguy cơ xâm lược của nhà Tống, Lí Thường Kiệt đã sử dụng biện pháp
"tiên phát chế nhân" chủ động đánh địch từ xa, tiến công trước để đẩy kẻ thù vào thế bị động Từ đó tạo ra thế chủ động trên chiến trường, đẩy địch vào thế
bị động chống trả, chủ quan, bắt chúng phải đánh theo cách đánh của ta Từ
đó khai thác triệt để các thế mạnh vốn có của ta, khoét sâu chỗ hiểm yếu của địch để từ đó đi đến chiến thắng Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình trước thế địch mạnh, Lý Thường Kiệt cho rằng: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của chúng” Chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đòn phủ đầu - Tiên phát chế nhân Ông quyết định mở trận tiến công quy mô sang đất Tống Mục tiêu cụ thể của cuộc tấn công này chính là ba thành Ung Châu , Khâm Châu, Liêm Châu (thuộc Quảng Tây ngày nay) Đó là những điểm tập kết lương thảo, khí giới, nhân lực của quân Tống dành cho cuộc xâm lược Đại Việt, cũng là những đầu mối giao thông quan trọng trên tuyến đường vận chuyển của nước Tống về phía Nam Chính Thái úy Lý Thường Kiệt là người được giao quyền tổng chỉ huy trong chiến dịch sống còn này
Trang 151.2.2 Truyền thống đánh giặc giữ nước của ông, cha ta
Lịch sử đã đặt ra cho dân tộc ta biết bao thử thách ngặt nghèo trong quá trình dựng nước và giữ nước Nhưng với tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, với truyền thống đoàn kết vươn lên trong đấu tranh và xây dựng, với tài thao lược kiệt xuất của cha ông, nhân dân ta đã vượt qua tất cả mọi trở ngại, chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Từ trong thực tiễn chống giặc ngoại xâm, dân tộc ta đã hình thành nghệ thuật chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông Trong quá trình đó, nghệ thuật quân sự Việt Nam từng bước phát triển và được thể hiện rất sinh động trong khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng, trên các phương diện tư tưởng chỉ đạo tác chiến, mưu kế đánh giặc Một trong những đỉnh cao nghệ thuật quân
sự đó là nghệ thuật chủ động đánh địch từ xa mà Lý Thường Kiệt đã sử dụng
để đương đầu với quân xâm lược Tống
Giải phóng, bảo vệ đất nước là nhiệm vụ quan trọng, là mục tiêu cao nhất của các triều đại phong kiến trong chiến tranh giữ nước Do đó, cha ông
ta luôn nắm vững tư tưởng tiến công, coi đó như một quy luật để giành thắng lợi trong suốt quá trình chiến tranh Thực hiện tiến công liên tục mọi lúc, mọi nơi, từ cục bộ đến toàn bộ, để quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi Tư tưởng tiến công được xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến tranh giữ nước Tư tưởng đó thể hiện rất rõ trong đánh giá đúng kẻ thù, chủ động đề ra kế sách đánh, phòng, khẩn trương chuẩn bị lực lượng kháng chiến, tìm mọi biện pháp làm cho địch suy yếu, tạo ra thế và thời
cơ có lợi để tiến hành phản công, tiến công
Trang 161.2.3 Những kinh nghiệm đánh giặc giữ nước của ông cha ta từ trước năm 1075
Trong giai đoạn dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương - An Dương Vương, nhiều truyền thống dân tộc đã được hình thành, tư duy, tư tưởng quân
sự Việt Nam xuất hiện và phát triển bước đầu Nhân dân Văn Lang - Âu Lạc phải liên tục chống nhiều thứ giặc, tiêu biểu là hai cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III Tr CN) và chống Triệu (thế kỷ II Tr CN) Vừa dựng nước, tổ tiên ta đã phải nghĩ đến đánh giặc, giữ nước Qua đấu tranh với thiên tai và địch họa, ý thức cộng đồng, ý chí chống ngoại xâm phát sinh và phát triển Người Việt đã rút ra được nhiều bài học, trong đó có bài học chiến thắng quân thù xâm lược và bài học mất cảnh giác thời An Dương Vương
Thất bại của An Dương Vương đã dẫn đến thảm họa nước ta liên tục bị phong kiến phương Bắc từ Triệu, Hán đến Tùy, Đường đô hộ Thời Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm với âm mưu đồng hóa thâm độc của ngoại bang là một thử thách hết sức nghiêm trọng đối với sự mất còn của dân tộc ta Tư duy, tư tưởng quân sự của ông cha ta giai đoạn này chứng tỏ người Việt từ sớm đã có ý thức dân tộc, ý chí quật cường và tinh thần bền bỉ bảo vệ giống nòi, tổ tiên, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa lâu đời, quyết tâm giành lại
tự do, độc lập Tinh thần và ý chí đó được biểu hiện qua bao cuộc khởi nghĩa
và chiến tranh chống ách đô hộ, chống sự đồng hóa tàn bạo, thâm hiểm của kẻ thù
Sau chiến thắng Bạch Đằng (938), khi nước Đại Việt độc lập đang vươn lên mạnh mẽ để xây dựng một quốc gia văn minh, thịnh vượng, thì ở phương Bắc cũng xuất hiện những thế lực bành trướng, xâm lược và nạn ngoại xâm vẫn không ngừng đe dọa Nhân dân ta lại phải tiếp tục đánh giặc, giữ nước Hai nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn gắn bó khăng khít với nhau Gần năm thế kỷ phục hưng đất nước cũng là một giai đoạn huy hoàng của lịch sử
Trang 17dân tộc với bao thành tựu rạng rỡ của nền văn hóa Thăng Long và nhiều chiến công hiển hách trong sự nghiệp giữ nước Tư tưởng quân sự của ông cha ta giai đoạn này phát triển mạnh mẽ, thể hiện nguyện vọng hòa bình, ý chí thống nhất quốc gia, tinh thần độc lập, tự cường dân tộc và quyết tâm chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ non sông đất nước Chiến công của Đinh Tiên Hoàng dẹp yên "loạn mười hai sứ quân" chứng tỏ tư tưởng quyết không để đất nước bị chia cắt, không để thế nước suy giảm vì sự sẻ chia Chiến thắng của Lê Đại Hành (981) khẳng định ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện cho đất nước bước vào kỷ nguyên văn minh Đại Việt Giai đoạn
Lý - Trần thể hiện tư duy, tư tưởng quân sự của ông cha ta trong việc xây
dựng và phát triển một nền binh chế và kế sách giữ nước tiến bộ của Nhà nước Đại Việt Biết bao quan điểm, tư tưởng quân sự độc đáo, tiến bộ xuất hiện Và từ đó một tổ chức quân sự với nhiều thứ quân ra đời bao gồm cấm quân (quân triều đình), quân các đạo, lộ (quân địa phương) và dân binh, hương binh các làng bản Vũ khí quân sự giai đoạn này cũng vì thế có những bước phát triển mới, từ bạch khí chuyển sang hỏa khí Tư tưởng và nghệ thuật quân sự đã đạt đến một đỉnh cao chói lọi, thể hiện trí tuệ, tài năng quân sự của dân tộc ta
Mưu là để lừa địch, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở, chỗ ít phòng bị, làm cho chúng bị động, lúng túng đối phó Kế là để điều địch theo ý định của ta, giành quyền chủ động, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta Trong các cuộc chiến tranh giải phóng, với ý chí kiên cường của dân tộc, triều đại nhà Đinh, Tiền Lê đã tạo được thế trận chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc, kết hợp các cách đánh, các lực lượng cùng đánh Trong chống giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước, cha ông ta đã kết hợp chặt chẽ giữa quân triều đình, quân địa phương và dân binh, thổ binh các làng xã cùng đánh địch, làm cho lực lượng địch luôn bị phân tán, không thực hiện được hợp quân Để
Trang 18bảo vệ kinh thành, triều đình các thời kì đã xây dựng nhiều công trình phòng ngự, các tuyến phòng ngự để chặn giặc, cản bước tiến của quân địch Khi quân địch tiến công không thành công phải chuyển vào phòng ngự, ông cha ta
đã dùng quân địa phương và dân binh liên tục quấy rối, làm cho địch mệt mỏi, căng thẳng, tạo thời cơ cho quân đội chuyển sang phản công giành thắng lợi hoàn toàn
Kế sách đánh giặc của ông cha ta không những sáng tạo, mà còn hết sức mềm dẻo, khôn khéo đó là "biết tiến, biết thoái, biết công, biết thủ" Biết kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoại giao, tạo thế mạnh cho ta, biết phá thế mạnh của giặc, trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định Ông cha ta không những giỏi trong bày mưu, lập kế để đánh thắng giặc trên chiến trường, mà còn thực hiện "mưu phạt tâm công", đánh vào lòng người
Ông cha ta đã phát triển mưu, kế đánh giặc, biến cả nước thành một chiến trường, tạo ra một "thiên la, địa võng" để diệt địch Làm cho "địch đông
mà hoá ít, địch mạnh mà hoá yếu", đi đến đâu cũng bị đánh, luôn bị tập kích, phục kích, lực lượng bị tiêu hao, tiêu diệt, rơi vào trạng thái "tiến thoái lưỡng nan" Trong tác chiến, ông cha ta đã triệt để khoét sâu điểm yếu của địch là tác chiến ở chiến trường xa, tiếp tế khó khăn, nên đã tập trung triệt phá lương thảo, hậu cần của địch
Thời tiền Lê: Năm 995, hơn 100 chiến thuyền của Đại Cồ Việt đã tiến sang bờ biển nước Tống, đánh vào trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu Đến mùa hè năm 995, đội hương binh 5.000 người ở châu Tô Mậu (Lạng Sơn) của Đại Cồ Việt đã tấn công vào Ung Châu rồi lui binh
Thời nhà Lý: Năm 1022 vua Lý Thái Tổ đã sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh giặc Đại Nguyên Lịch Năm 1052 thủ lĩnh người dân tộc Tày, Nùng là Nùng Trí Cao đưa quân vượt biên giới đánh Tống chiếm lại được
Trang 19nhiều châu, quận Năm 1059, vua Lý Thánh Tông cho quân đánh Khâm Châu nước Tống Năm 1060, châu mục Lạng Châu là Thân Thiệu Thái đánh vào đất Tống nhằm cứu dân Việt bị bắt trở về.
Năm 1069, vua Lí Thánh Tông đêm quân sang đánh chiếm Chiêm Thành, chiếm được kinh đô Vijaya, đòi là được 3 châu là Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý (thuộc Quảng Bình,, Quảng Trị ngày nay) Ba châu này vốn dĩ là của nước Văn Lang thời xưa, đã trở thành lãnh thổ của Chiêm Thành trong thời kì Bắc thuộc
Mùa thu năm 1075, Lý Thường Kiệt đem quân vào Nam đánh Chiêm Thành, đẩy lui được sự phá hoại của Chiêm Thành ở biên giới phía Nam, chiếm lại những phần đất đai đã bị mất từ các thời vua trước
Trang 20Tiểu kết chương 1
Sự hình thành của nghệ thuật quân sự “Chủ động đánh địch từ xa” là một tất yếu lịch sử Nếu cứ ở yên không hành động, chờ giặc đánh sang mới hành động thì sẽ tự đưa mình vào thế bị động Trước sức mạnh của quân Tống, Lý Thường Kiệt đã rất quyết đoán đưa ra kế sách đánh sang đất Tống trước khi địch tràn vào bờ cõi Lý Thường Kiệt đã biết tiếp thu, phát huy những kinh nghiệm, truyền thống quý báu của các thế hệ ông cha đi trước trong đánh giặc ngoại xâm Từ đó đúc kết, chắt lọc những tinh hoa của nghệ thuật quân sự để đưa ra kế sách tiến công để phòng ngự một cách chủ động, gây bất ngờ cho triều đình Tống Lịch sử đã cho thấy sự thành công tuyệt vời của kế sách này Kế sách tiên phát chế nhân này được xem như là nghệ thuật quân sự “chủ động đánh địch từ xa”, một trong những nghệ thuật quân sự mới
mẻ và chưa có tiền lệ thời bấy giờ
Trang 21Chương 2 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “CHỦ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA” TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TỐNG (1075 – 1077)
2.1 Chủ trương của nhà Lý
Sau khi nắm bắt được các thông tin mật báo từ người của nhà Lý trong nội bộ đất Tống, Lý Thường Kiệt đã nắm được chặt chẽ âm mưu xâm lược của nhà Tống Từ đó ông đưa ra chủ trương: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc” Chủ động mở cuộc tấn công sang đất địch, tạo cho địch sự bất ngờ, triệt phá các căn cứ xuất phát xâm lược của địch và thế mạnh của chúng Chủ trương “Tiên phát chế nhân” đó của Lý Thường Kiệt là một sáng tạo độc đáo, xuất phát từ sự nhận thức vững vàng về sức mạnh vật chất và tinh thần của dân tộc, sự phân tích, đánh giá đúng những điểm mạnh, yếu của địch Chủ trương này biểu thị tư tưởng tích cực tiến công chiến lược, lấy tiến công để phòng ngự một cách chủ động
Kể từ khi vương triều Lý thành lập cho đến thời vua Lý Thánh Tông thì quan hệ Tống – Việt nhìn chung là khá tốt Hai nước thường xuyên gửi sứ giả qua lại, quan hệ buôn bán cũng rất phát triển Người Tống mở các Bạc dịch trường gần các vùng biên giới để làm nơi trao đổi, buôn bán giữa thương nhân hai nước Quan hệ thương mại giữa hai nước là một phần quan trọng trong việc giao thương của Đại Việt và Tống Các vua Lý thường hay tỏ ra nhún nhường với Tống, thường gửi cống phẩm và nhận các sắc phong của vua Tống Thư từ của Đại Việt gửi cho vua Tống gọi là Biểu, một tên gọi dành cho văn bản cấp dưới dành cho cấp trên Thư từ, từ lại từ nhà Tống gửi cho vua Lý được gọi là Chiếu, tên gọi dùng cho văn bản vua gửi cho cấp dưới Mặc dù Đại Việt chấp nhận mối quan hệ nước lớn, nước nhỏ đối với Tống nhưng vẫn hết sức tự lực, tự cường trong các chính sách đối nội và đối ngoại
Trang 22Các vua Lý một mặt vẫn nhận sắc phong vương của nhà Tống, mặt khác vẫn
tự xưng đế, và các vấn đề biên giới đối với Tống vẫn rất cương quyết để bảo
vệ chủ quyền, lãnh thổ quốc gia
Trước và trong khi đem quân chinh phạt nhà Tống, Lý Thường Kiệt cho soạn thảo các văn bản kể tội triều đình Tống, nêu rõ mục đích và danh nghĩa xuất quân của Đại Việt, rồi cho người niêm yết dọc đường tiến quân Một trong những bản bố văn điển hình viết:
“Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hòa mục Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép “thanh miêu”,
“trợ dịch”, khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoả cái mưu nuôi mình béo mập Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót Những việc từ trước, thôi nói làm gì! Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình! Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi !”
Một đoạn Bố văn khác thì viết: “Có những dân Giao Chỉ làm phản rồi trốn sang Tống Các quan lại dung nạp và giấu đi Ta đã khiến sứ sang tố giác các việc ấy, quan coi Quế Châu không chịu trả lời Ta lại sai sứ vượt bể sang
tố cáo với Quảng Châu, quan coi Quảng Châu cũng không chịu báo Vì vậy, quân ta tới đuổi bắt dân trốn ấy…”
Lại có đoạn Bố văn tố cáo việc triều đình Tống chuẩn bị đánh Đại Việt:
“Quan coi Quế Châu đã kiểm điểm dân các động và đã tuyên bố rõ rằng muốn sang đánh Giao Chỉ…”
Trang 23Những bản Bố văn truyền ra đem lại nhiều hiệu quả Đây là đòn dân vận cao tay của Lý Thường Kiệt ngay trên lãnh thổ của nước đối địch Việc tiến quân được thuận lợi, quân ta chỉ phải đương đầu với quân triều đình Tống
mà không vấp phải sự kháng cự tự phát của dân chúng, nhất là các tuyến hậu cần được an toàn Hiệu quả của các bố văn được người Việt đời sau kể lại :
“Dân Tống thấy lời tuyên cáo, đều vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta Từ
đó, mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường Kiệt đàng xa, thì nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam, rồi cùng nhau bày hương án bái phục bên đường Nhờ đó mà uy thanh quân ta lan khắp”
2.2 Cuộc dẫn binh đánh sang đất Tống của nhà Lý năm 1075
2.2.1 Diễn biến
Thoạt nhìn tương quan lực lượng hai nước, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt vào đất Tống chẳng khác nào tự sát, lấy trứng chọi đá Dân số ước tính của nước Tống thời bấy giờ khoảng 40 triệu người, quân số có tới hơn 100 vạn quân thường trực Trong khi đó dân số Đại Việt thời này ước tính khoảng 4 triệu người, quân thường trực có chừng 7 vạn Nhưng xét kỹ sẽ thấy, bấy giờ năm 1075 quân đội nước Tống đa phần lính tráng tinh nhuệ vẫn đóng ở biên thùy phía bắc để phòng thủ hai nước Liêu, Hạ Số quân ở phía nam kém hơn, và cũng ít hơn Quân số toàn lộ Quảng Tây của Tống ít hơn quân số Đại Việt
Nước Tống rộng lớn, để tập trung được số quân đông cho các trận chiến cần phải có đủ thời gian di chuyển trên những quãng đường dài để tập hợp Kể cả thông tin liên lạc từ lộ Quảng Tây tới triều đình Tống và ngược lại cũng là cả một vấn đề lớn Tin tức từ biên giới Tống – Việt về đến Biện Kinh nước Tống thời bấy giờ trung bình mất khoảng một tháng rưỡi Nếu gặp phải những đội quân cơ động nhanh, dùng chiến thuật tốc chiến để diệt từng điểm
Trang 24một trên lãnh thổ thì quân Tống ắt sẽ gặp cảnh khốn đốn vì thông tin liên lạc chậm và không kịp điều quân cứu viện Đó chính là chìa khóa để nước nhỏ có thể đánh thắng, thậm chí thôn tính nước lớn
2.2.1.1 Trận đánh thành Khâm – Liêm
Lý Thường Kiệt làm tổng chỉ huy toàn đội quân Bắc phạt khoảng 10 vạn quân , xuất quân vào tháng 10 - 1075 Bao gồm cả lực lượng chính quy của triều đình lẫn quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Trong đó bộ binh gồm phần lớn là quân các châu động phía Bắc do tướng Tông Đản làm tổng chỉ huy, dưới trướng Tông Đản là các tù trưởng ở các châu động biên giới phía bắc Đại Việt Bao gồm Lưu Kỷ tri châu Quảng Nguyên, Hoàng Kim Mãn tri châu Môn, Thân Cảnh Phúc tri Lạng Châu, Vi Thủ An tri châu Tô Mậu… Mỗi tù trưởng đều có quân bản bộ chừng vài nghìn người Khi có chiến sự, triều đình sẽ điều động họ tham chiến Các tù trưởng đều tự cầm quân của mình, phối hợp với nhau dưới trướng một tổng chỉ huy chung Tổng binh lực cánh bộ binh chừng 4 vạn quân, tập kết ở các châu Quảng Nguyên, châu Môn, Quang Lang, Tô Mậu phụ trách tấn công biên giới Tống từ phía Tây Nam Quân đội các châu động đi đánh trận mang
cả vợ con đi theo Cả đoàn người vừa quân lính vừa gia đình đông đến 6 – 7 vạn người, đánh đến đâu cướp kho lương của địch làm lương ăn đến đấy
Đạo quân của triều đình ở phía Đông do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy, gồm cả thủy lục quân xuất phát từ vùng Móng Cái ngày nay tiến vào đất Tống nhằm tới châu Khâm Còn đạo quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số ở phía Tây đặt dưới sự chỉ huy của Tông Đản chia làm 4 mũi tiến vào đất Tống: Lưu Kỷ từ Quảng Nguyên (Cao Bằng), Hoàng Kim Mãn từ Môn Châu (Đông Khê - Cao Bằng), Thân Cảnh Phúc từ Quang Lang (Lạng Sơn) và Vi Thủ An
từ Tô Mậu (Quảng Ninh) và nhắm tới châu Ung Đạo quân phía Tây sẽ
"dương Tây" để đạo quân phía Đông bất ngờ "kích Đông"