1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa binh đoàn chủ lực và bộ đội địa phương trong chiến dịch đường 9 nam lào

72 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 845,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO.... Đánh dấu sự phát triển vượt bậc của quân đội ta trong tổ chức ch

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh

Người hướng dẫn khoa học

Thiếu tá, ThS TRƯƠNG HÙNG SƠN

Trang 3

Em xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè trong lớp và người thân trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành khóa luận cuối khóa

Trong quá trình làm khóa luận do thời gian nghiên cứu có hạn, cho nên khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện và đầy đủ hơn

Hà Nội ngày tháng năm 2018

Tác giả

Nguyễn Đắc Huy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu và sự

cố gắng nỗ lực của bản thân em dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Thiếu tá Ths TRƯƠNG HÙNG SƠN Nội dung của khóa luận tốt nghiệp này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội ngày tháng năm 2018

Tác giả

Nguyễn Đắc Huy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

8 Kết cấu khóa luận 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHỐI HỢP GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 5

1.1 MỘT SỐ NÉT NỔI BẬT VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ PHỐI HỢP TÁC CHIẾN TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ 5

1.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM CỦA CHIẾN DỊCH 9

1.2.1 Thời gian 9

1.2.2 Địa điểm 9

1.3 LỰC LƯỢNG THAM CHIẾN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 10

1.3.1 Các binh đoàn chủ lực 10

1.3.2 Các đơn vị bộ đội địa phương 10

Trang 6

1.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.4.1 Cơ sở lý luận 11

1.4.2 Cơ sở thực tiễn 12

kết luận chương 1 16

Chương 2 NỘI DUNG NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 17

2.1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ NÉT VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA 17

2.1.1 Giai đoạn 1 (7 - 1954 đến 12 - 1960): thời kì giữ gìn lực lượng chuyển sang khởi nghĩa từng phần – phong trào đồng khởi 17

2.1.2 Giai đoạn 2 (1 - 1961 đến 6 - 1965): Cách mạng miền nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành cách mạng, đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ 19

2.1.3 Giai đoạn 3 (7 - 1965 đến 12 - 1968): Phát triển thế tiến công chiến lược, đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền nam và chiến tranh phá hoại lần 1 (7 - 2 - 1965 đến 1 - 11 - 1968) của Mỹ ở miền bắc 21

2.1.4 Giai đoạn 4 (1 - 1969 đến 1 -1973): Đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và chiến tranh phá hoại lần 2 (6 - 4 - 1972 đến 15 - 1 - 1973) của Mỹ ở miền bắc buộc Mỹ phải kí hiệp định Paris 1973 về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước 23

2.1.5 Giai đoạn 5 (12 - 1973 đến 30 - 4 - 1975): Tạo thế, tạo lực và thực hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 24

Trang 7

2.2 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG

CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 26

2.2.1 Đợt 1 (từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm1971) Địch điều động, triển khai lực lượng chuẩn bị bàn đạp tiến công 26

2.2.1.1 Mục tiêu và kế hoạch của địch 26

2.2.1.2 Về phía ta 29

2.2.2 Đợt 2 (từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 11 tháng 3 năm 1971) Ta ngăn chặn địch ở Bản Đông và cơ động lực lượng phòng giữ Sê-pôn, tích cực chuẩn bị điều kiện để tham gia phản công lớn trên toàn mặt trận 33

2.2.2.1 Từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971 33

2.2.2.2 Từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 3 năm 1971 37

2.2.3 Đợt 3 (từ ngày đến ngày 23 tháng 3 năm 1971) Địch rút lui, ta chuyển sang tiến công địch trên toàn chiến dịch và đánh địch rút chạy 40

2.2.3.1 Địch rút lui 40

2.2.3.2 Về phía ta 41

Kết luận chương 2 42

Chương 3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 46

3.1 Ý NGHĨA LỊCH SỬ VỀ NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 46

Trang 8

3.2 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA

PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 47

3.2.1 Bài học kinh nghiệm về giành quyền chủ động trong các chiến dịch kịp thời chuẩn bị tổ chức địa bàn tác chiến, phương án tác chiến để đối phó với quân thù 47

3.2.2 Bài học về phát huy sở trường tác chiến phát huy thế mạnh của các binh đoàn chủ lực và bộ đội địa phương 50

3.2.3 Bài học về công tác bảo đảm hậu cần - kĩ thuật, đáp ứng yêu cầu chiến đấu liên tục dài ngày của các lực lượng tham gia chiến dịch 53

Kết luận chương 3 54

KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

2 B4 Chiến trường B4 Trị - Thiên được thành lập

tháng 4 năm 1966, gồm 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế

7 MTDTGPMN Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam

8 MACV Bộ chỉ huy Viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt

Nam

9 B2 Chiến trường B2 Nam Bộ được thành lập đầu

năm 1961, gồm các tỉnh từ Ninh Thuận đến Cà Mau

10 B3 Chiến trường B3 Tây Nguyên được thành lập

giữa năm 1964, gồm các tỉnh Tây Nguyên (trừ Lâm Đồng)

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiệp định Gionever được kí kết đánh giấu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, chấm dứt sự có mặt của người Pháp ở nước ta nói riêng và trên toàn cõi Đông Dương Mở ra thời kì cách mạng mới cho dân tộc Nhưng với âm mưu và thủ đoạn muốn chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và chống phá làn sóng cách mạng đang dâng cao, từ năm 1954 đế quốc Mỹ đã ngăn chặn cuộc tổng tuyển

cử của nhân dân ta để thống nhất hai miền nam bắc, từng bước can thiệp sâu vào miền nam Việt Nam, dựng chính quyền tay sai và cuối cùng trực tiếp can thiệp vào cách mạng nước ta, đẩy tình thế lên thành một cuộc chiến tranh Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ 1954 - 1975 của dân tộc Việt Nam diễn ra gay go quyết liệt Đế quốc Mỹ từng bước đẩy cuộc chiến tranh lên quy

mô ác liệt hơn, buộc ta phải có các hình thức kháng chiến cao hơn phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến của ta tới thắng lợi cuối cùng

Từ năm 1954 đến 1960, Mỹ tiến hành cuộc “Chiến tranh đơn phương” dựng chính quyền tay sai ở miền Nam để khủng bố cách mạng Sau thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” 1960 làm chiến lược Chiến tranh đơn phương thất bại , đế quốc Mỹ chuyển sang “ Chiến tranh đặc biệt” trước tình hình đó Đảng đã chủ trương thành lập Quân giải phóng miền nam và tăng cường cho lực lượng này về quân lực vũ khí trang bị kĩ thuật giành thắng lợi ở một số chiến dịch như Ấp Bắc (2 - 1 - 1963) Ba Gia Đồng Xoài (12 - 1964) đánh giấu sự thất bại của chiến lược Chiến tranh đặc biệt.Từ 1965 Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân viễn chinh Mỹ tham chiến trực tiếp tại miền nam Để phù hợp với điều kiện chiến trường Trung ương cục miền nam chủ trương với Quân ủy trung ương thành lập các sư đoàn và binh đoàn chủ lực để đối phó với quân viễn chinh Mỹ nhưng chưa có sự phối hợp

Trang 11

tác chiến của các binh đoàn chủ lực nào rõ rệt và giành thắng lợi lớn ở các chiến dịch

Sau thắng lợi của sự kiện tết Mậu thân 1968 cuộc kháng chiến của nhân dân ta gặp rất nhiều khó khăn do đế quốc Mỹ tăng cường các hoạt động phá hoại về cả mặt quân sự chính trị với cường độ gia tăng Mỹ tiến hành các cuộc ném bom phong tỏa biên giới và ngăn chặn con đường tiếp tế về mặt hậu cần cho đồng bào và Quân giải phóng miền nam, bên cạnh đó Mỹ còn cấu kết với một số nước lớn nhằm hạn chế sự giúp đỡ của họ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta đặc biệt là tiếp tế về mặt hậu cần và vũ khí

Trận đánh Làng Vây 1968 Đế quốc Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa đã kinh ngạc khi quân đội ta lần đầu tiên đưa xe tăng và tổ chức hiệp đồng tác chiến các quân binh chủng với bộ đội địa phương vào trận đánh Đánh dấu sự phát triển vượt bậc của quân đội ta trong tổ chức chỉ huy chiến đấu đồng thời cho thấy ngoài sự phối hợp tác chiến của các đơn vị bộ đội chủ lực góp phần vào thắng lợi của quân và dân ta đó là các đơn vị bộ đội địa phương của các tỉnh đội có mặt trong các trận đánh, bộ đội địa phương thường nắm chắc địa hình

cơ sở bố trí công sự của địch thời gian tác chiến chủ yếu và thông thuộc ở địa phương đó những vùng có giá trị cao về mặt chiến thuật Từ đó cùng với bộ đội chủ lực phối hợp tác chiến để giành những thắng lợi quân sự và xây dưng nghệ thuật đánh địch của quân đội ta phát triển cao hơn

Đỉnh cao của sự phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực và bộ đội địa phương đó là Chiến dịch đường 9 - nam Lào năm 1971 Chiến dịch đã làm kế hoạch “Việt nam hóa chiến tranh” của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thất bại, giữ vững hành lang cách mạng 3 nước Đông dương, đảm bảo thông suốt cho tuyến vận tải hậu cần chiến lược ở mền nam

Vì vậy em chọn đề tài “Nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa binh đoàn chủ lực và bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào” để làm rõ

Trang 12

nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương và nghệ thuật bố trí thế trận phản công chiến lược khi đối phó với các cuộc hành quân đánh phá chiến lược của đế quốc Mỹ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta Bên cạnh đó là sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến

2 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực với

bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào

- Nghiên cứu những bài học kinh nghiệm và ý nghĩa lịch sử từ Chiến dịch đường 9 - nam Lào

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào

- Làm rõ diễn biến nội dung ý nghĩa và những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào

- Vận dụng sáng tạo nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương vào sự nghiệp bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu

- Tài liệu liên quan đến nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào

5 Phạm vi nghiên cứu

- Chiến dịch đường 9 - nam Lào

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

- Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào

- Trong quá trình thực hiện đã sử dụng các phương pháp: phân tích tài liệu, sử dụng tư liệu lịch sử phân tích - tổng hợp, liệt kê, nghiên cứu lý thuyết

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Nhằm ôn lại nghệ thuật quân sự của dân tộc và vận dụng trong quá trình học tập Nâng cao ý thức bảo vệ tổ quốc cho học sinh sinh viên trong giai đoạn hiện nay

8 Kết cấu khóa luận

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phối hợp giữa binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào

Chương 2: Nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào

Chương 3: Ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiêm về nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương trong Chiến dịch đường 9 - nam Lào

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHỐI HỢP GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN

và quân sự và cỗ máy chiến tranh khổng lồ giới cầm quyền Mỹ ngày ấy vững tin vào thắng lợi dễ dàng và nhanh chóng trên chiến trường Việt Nam

Thế nhưng những tính toán chủ quan của Mỹ đã không trở thành hiện thực Quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ, đánh đổ đội quân nhà nghề có lúc lên tới gần 1,5 triệu quân đánh bại

ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ Trong cuộc chiến tranh đó kế thừa thành quả

và kinh nghiệm tích lũy được từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nền nghệ thuật quân sự hiện đại Việt Nam đã phát triển lên một tầm cao mới với nội dung và hình thức phong phú Ðó là nền nghệ thuật quân sự lấy nhỏ thắng lớn lấy ít địch nhiều lấy chất lượng cao thắng số lượng đông , biết cách hạn chế sở trường của địch phát huy cao độ sở trường của ta luôn giành thế chủ động tiến công luôn tạo ra thế mạnh để đánh địch và thắng địch

Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể thấy quân và dân Việt Nam đã giải quyết thành công những vấn đề rất cơ bản thuộc

về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao trong cuộc đụng đầu lịch sử với đội quân nhà nghề Mỹ và đồng minh của Mỹ

Trang 15

cả ở trên bộ trên không trên biển Mà nổi bật trong các vấn đề làm nên chiến thắng đó là sự phối hợp tác chiến của bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương Nổi bật về nghệ thuật quân sự phối hợp tác chiến nói trên phải kể đến các chiến dịch tiêu biểu như Đắc Tô - Tân Cảnh 1967 là trận đụng đầu trực tiếp của Quân giải phóng với Quân đội Mỹ mà bên phía Quân giải phóng có

sự tham gia của các đơn vị chủ lực như sư đoàn 1 với ba trung đoàn: 66 ,174

và 320 Trung đoàn bộ binh độc lập 24 Trung đoàn pháo 40 Tiểu đoàn 304 Kon Tum (bộ đội địa phương Tây Nguyên)

Trong chiến dịch này Bộ tư lệnh của Quân giải phóng miền nam Việt Nam xác định hướng và khu vực tiến công chủ yếu ở tây nam Đắc Tô (phía nam sông Pô Kô và đường 18) từ Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Kom Liệt đến nam điểm cao 875 do sư đoàn bộ binh 1 đảm nhiệm sẽ chia làm 3 khu chiến: khu chốt chiến dịch gồm các cụm chốt bộ binh và pháo binh ở Ngọc Bơ Biêng Ngọc Tang uy hiếp địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh là nơi khêu ngòi kéo đối phương ra tạo thời cơ diệt đối phương ngoài công sự do tiểu đoàn 6 của trung đoàn 24 đảm nhiệm Sử dụng trung đoàn 320 của sư đoàn 1 đánh đối phương

ở khu chiên thứ nhất gồm cao điểm 782 Plây Lang Lo Kram và điểm cao

823 Sử dụng 2 trung đoàn 66 và 174 của sư đoàn 1 đánh địch ở khu chiến thứ

2 và là khu quyết chiến ở Ngọc Kom Liệt, Bãi Le điểm cao 875 trong đó điểm cao 875 là trọng điểm Tiểu đoàn pháo hỏa tiễn của Quân giải phóng miền nam Việt Nam do sư đoàn nắm để chi viện chung

Hướng và khu vực tiến công thứ yếu ở đông bắc Đắc Tô gồm các điểm cao của dãy Ngọc Lan, Ngọc Sịa ở điểm cao 1323, 1030 và quận lỵ Đắc Tô

do trung đoàn 24 tiểu đoàn 304 2 đại đội đặc công 1 đại đội cối 1 đại đội công binh của tỉnh đảm nhiệm Có nhiệm vụ đánh vào sau đội hình địch tiêu diệt từng tiểu đoàn Việt Nam Cộng Hòa từng đại đội Mỹ dùng lối đánh nhỏ

uy hiếp Tân Cảnh khống chế sân bay Đắc Tô và đường 14 (đoạn nam, bắc Tân Cảnh) nhằm phân tán địch hỗ trợ cho hướng chủ yếu

Trang 16

Các hướng nghi binh và phối hợp ở Gia Lai do trung đoàn 95 tiểu đoàn

101, 1 tiểu đoàn pháo cối hỗn hợp gồm có 6 ĐKZ 75mm 4 cối 120mm 4 cối 82mm cùng lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm Ở Đắc Lắc giao trung đoàn 33, 1 tiểu đoàn bộ binh 2 đại đội đặc công và 1 đại đội cối 82mm cùng các lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm

Kết quả: Ta loại khỏi vòng chiến đấu 3000 lính đối phương trong đó có

2000 lính Mỹ, phá hỏng nặng 2 sân bay bắn rơi và phá hủy 38 máy bay (có 3 chiếc C130) phá hủy 7 xe quân sự (có 2 xe thiết giáp) Toàn chiến dịch Quân giải phóng đã loại khỏi vòng chiến 4570 lính đối phương,trong đó có 4030 lính Mỹ phá hỏng 3 sân bay bắn rơi và phá hủy 70 máy bay phá hủy 18 khẩu pháo 52 xe quân sự có 16 xe thiết giáp 2 kho đạn 3 kho xăng thu 104 súng các loại và 17 máy vô tuyến điện diệt gần hết 2 tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại nặng

6 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Mỹ) và 6 đại đội (có 2 đại đội Mỹ) đánh quỵ lữ đoàn 173 dù đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 4 Mỹ

Chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh đã ghi thêm vào trang sử quyết thắng của dân tộc ta những nét vàng son chói lọi Đólà một trong những chiến thắng lớn nhất mở đầu cho Đông - Xuân 1967 - 1968 của miền nam anh hùng.Bên cạnh chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh nói trên tiêu biểu và thắng lợi lớn mà nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các đơn vị chủ lực với bộ đội địa phương lên tới đỉnh cao trong kháng chiến chống Mỹ là Chiến dịch phản công Đường 9 - nam lào năm 1971 Chiến dịch đường 9 - nam Lào (cách gọi của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam) là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam do Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện với sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ Mục tiêu của chiến dịch là phá vỡ hệ thống hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền nam Việt Nam tại Lào và cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh tại thị trấn Tchepone nằm cách biên giới Việt - Lào 42 km về phía Tây

Trang 17

Quân đội Việt Nam Cộng Hòa có sự yểm trợ của Mỹ đã huy động một lực lượng lớn cho cuộc hành binh này Lực lượng địch có 15 trung đoàn lữ đoàn

bộ binh, lữ đoàn dù và thủy quân lục chiến 2 lữ đoàn thiết giáp (578 xe tăng

xe bọc thép) 21 tiểu đoàn pháo binh 1000 máy bay các loại với tổng quân số

55000 (15000 quân Mỹ trợ chiến) quân phái hữu Lào phối hợp tác chiến nhưng đã vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ và chịu tổn thất thất bại vô cùng lớn trước Quân giải phóng miền nam

Tham gia chiến dịch Quân giải phóng đã sử dụng 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324 và 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp 4 trung đoàn pháo binh 4 trung đoàn pháo phòng không, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4 B5 và Đoàn 559 Chiến dịch diễn ra làm ba đợt Đợt 1 (30 - 1 đến 17 - 2 - 1971): địch tiến hành nghi binh điều động lực lượng chuẩn

bị tiến công Ta triển khai thế trận chiến dịch đánh nhỏ để tiêu hao làm chậm bước tiến của địch Đợt 2 (8 - 2 đến 11- 3-1971): địch tiến quân bằng ba cánh kết hợp với đổ bộ đường không đánh chiếm Bản Đông và một số điểm cao ở nam bắc Đường 9 Ta chặn đánh trên toàn khu vực tập trung bẻ gãy cánh quân phía bắc Đường 9 đập tan mọi cố gắng của địch tiến lên Sê Pôn buộc địch phải co về phòng ngự Đợt 3 (12 - 3 đến 23 - 3 - 1971): ta tiếp tục tiến công tiêu diệt địch ở phía nam Đường 9 tập trung lực lượng vây ép Bản Đông Bị

uy hiếp tiêu hao lớn địch bỏ xe pháo luồn rừng rút chạy, ta truy kích tiêu diệt thêm nhiều đơn vị địch Kết quả: Diệt 2 lữ đoàn 1 trung đoàn bộ binh 8 tiểu đoàn pháo binh 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp đánh thiệt hại nặng một số lữ đoàn trung đoàn khác, loại khỏi chiến đấu hơn 21000 tên địch bắn rơi và phá hủy 556 máy bay 528 xe tăng xe bọc thép 112 khẩu pháo cối thu, 2 máy bay trực thăng 24 xe quân sự 78 khẩu pháo cối hơn 2000 súng bộ binh

Chiến dịch đường 9 - nam Lào giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược vô cùng to lớn tác động mạnh đến cục diện chiến trường giáng một đòn nặng nề

Trang 18

vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật tác chiến chiến dịch của Việt Nam lên một tầm cao mới ,mà đỉnh cao là nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực với

bộ đội địa phương Góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân ta đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người

Mỹ-1.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM CỦA CHIẾN DỊCH

Trang 19

tạo ra những chiều ngả giao thông chạy song song với dòng sông Sê Pôn Ðồng thời các cao điểm này cũng tạo ra các bức bình phong án ngữ bảo vệ trục đường chiến lược số 9

1.3 LỰC LƯỢNG THAM CHIẾN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

1.3.1 Các binh đoàn chủ lực

- Lực lượng quân sự: Tổng cộng có khoảng 25000 quân với chỉ huy là

Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là "Bộ tư lệnh 702")

- Các sư đoàn bộ binh: 2, 304, 308, 320 và 324 của Quân giải phóng miền nam Việt Nam

- Ba tiểu đoàn tăng - thiết giáp: 297, 397, 198, với 88 xe tăng (tiểu đoàn

397 trang bị 33 xe T-34/85, tiểu đoàn 297 trang bị 33 xe T-54, tiểu đoàn 198 trang bị 22 xe tăng lội nước PT-76)

- Một số tiểu đoàn đặc công

- Ba trung đoàn pháo binh cơ giới: 368, 38, 45

- Trung đoàn pháo mang vác 84

- Ba trung đoàn pháo phòng không: 230, 241, 591

- Ba trung đoàn công binh: 219, 83, 7

-Bảo vệ hậu phương chiến lược trực tiếp của chiến dịch là sư đoàn phòng không 367 gồm 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237

1.3.2 Các đơn vị bộ đội địa phương

- Các lực lượng tại chỗ của B5, B4 và Đoàn 559 của Quân giải phóng miền nam Việt Nam Bộ đội 559 đã tổ chức 7 khu vực tác chiến tại chỗ huy động tham gia chiến dịch 1 sư đoàn và 5 trung đoàn phòng không (có 1 trung đoàn tên lửa), 10 tiểu đoàn pháo cao xạ 25 đại đội và 33 trung đội súng máy phòng không bố trí thành 8 cụm trên tâm điểm là tam giác Bản Đông - Tha

Mé - La Hạp

Trang 20

- Lực lượng chính quy và dân quân Pathet Lào

1.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.4.1 Cơ sở lý luận

Trong thư gửi cán bộ chiến sĩ tham gia Chiến dịch Thu – đông 1947 Chủ

tịch Hồ Chi Minh đã nêu rõ: …Bộ đội chủ lực đánh, bộ đội địa phương dân

quân du kích cũng đánh,các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực địch …

Theo Người trước hết cần phải kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, phối hợp giữa các lực lượng giữa các chiến trường cùng đánh địch, tiến công kiên quyết giành thế chủ động trong các chiến dịch Tư tưởng của Hồ chủ tịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng để tạo nên sức mạnh to lớn

Thấm nhuần tư tưởng của Hồ chủ tịch cần phát huy cao độ sức mạnh của lực lượng vũ trang 3 thứ quân, trong kháng chiến Đảng ta đã chỉ rõ trước hết phải đặc biệt quan tâm chỉ đạo tổ chức lực lượng một cách hợp lí, trong tác chiến phải giải quyết tốt vấn đề nâng cao hiệu lực chiến đấu của từng đơn vị binh chủng đặc biệt là bộ đội chủ lực trong các chiến dịch vì lực lượng này có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng Phối hợp tốt lực lượng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thắng lợi trên chiến trường

Kế thừa và phát huy nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc của cha ông

ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về phối hợp các lực lượng cùng tham gia trận đánh để tạo sức mạnh và uy thế đánh địch trên chiến trường đã được cán bộ chiến sĩ vận dụng và phát triển thành nghệ thuật

Điển hình cho tư tưởng và nghệ thuật quân sự phối hợp tác chiến là một loạt các thắng lợi trên chiến trường như Chiến dịch Việt bắc thu đông 1947, Chiến dịch Điện biên phủ 1954 và đỉnh cao trong kháng chiến chống đế quốc

Mỹ là Chiến dịch đường 9 - nam Lào

Trang 21

1.4.2 Cơ sở thực tiễn

Qua từng thời kì, nghệ thuật phối hợp các lực lượng vũ trang đã được vận dụng và được phát triển mạnh mẽ Từ sau khi có Đảng lãnh đạo nghệ thuật này được sử dụng và có bước phát triển vượt bậc góp phần làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành thắng lợi Nghệ thuật phối hợp lực lượng quân chính quy và quân địa phương được thể hiện rõ nét qua nhiều trận đánh

và chiến dịch như trận Vạn Tường 18 - 8 - 1965, chiến dịch Play me (19 -10 đến 26 - 11 - 1965), chiến dịch Khe Sanh 1968

- Ngày 18 - 8 - 1965, trên đất Vạn Tường (huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) đã diễn ra trận đánh diệt Mỹ quy mô lớn đầu tiên của quân và dân miền nam Đêm 17 - 8 - 1965 hơn chục tàu chiến Mỹ từ ngoài khơi liên tục bắn đại bác vào thôn Vạn Tường và các cao điểm xung quanh Sáng 18 - 8 -1965, sau các đợt pháo kích và ném bom dữ dội lực lượng lớn quân Mỹ gồm 4 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, 1 tiểu đoàn xe tăng và xe bọc thép 2 tiểu đoàn pháo 105 ly ,

6 tàu đổ bộ và pháo hạm cùng hàng trăm máy bay chiến đấu ồ ạt từ 4 hướng tiến quân vào Vạn Tường với âm mưu tiêu diệt toàn bộ lực lượng của ta trong thời gian ngắn nhất Nhưng ảo tưởng ấy của quân địch bị phá sản hoàn toàn bởi trung đoàn 1 cùng với quân dân Vạn Tường đã bày sẵn kế hoạch và phương án sẵn sàng chiến đấu

Suốt một ngày đêm chiến đấu anh dũng mưu trí sáng tạo quân và dân Quảng Ngãi đã phối hợp nhịp nhàng với trung đoàn bộ binh 1 của quân khu 5, đại đội 31 địa phương và lực lượng dân quân du kích các xã Bình Phú, Bình Trị, Bình Hoà, Bình Hải đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân lớn của Mỹ Quân ta tiêu diệt 919 lính Mỹ bắn cháy 22 xe tăng xe bọc thép bắn rơi

13 máy bay và phá hủy hoàn toàn nhiều phương tiện chiến tranh của địch Đây là đòn đánh phủ đầu giáng đòn chí tử vào lính thuỷ đánh bộ Mỹ - một binh chủng được xem là thiện chiến tối tân của quân đội Mỹ lúc bấy giờ

Trang 22

Cố tổng bí thư Lê Duẩn từng nói :có thể coi trận Vạn Tường là một bước ngoặt chứng minh một cách hùng hồn rằng Quân giải phóng miền nam hoàn toàn có khả năng đánh bại được quân đội Mỹ trong điều kiện chúng có mọi ưu thế tuyệt đối về binh khí và hỏa lực so với Quân giải phóng

- Chiến dịch Play me:

Chiến dịch play me (19 - 10 đến 26 - 11 - 1965) là chiến dịch tiến công của LLVT Mặt trận Tây Nguyên ở khu vực Đức Cơ - Bàu Cạn - Plây Me (tỉnh Gia Lai) nhằm tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ củng cố và mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lòng tin đánh Mỹ và thắng Mỹ trên chiến trường

Lực lượng ta có: 3 trung đoàn bộ binh 320, 33 và 66 ,1 tiểu đoàn đặc công 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm và lực lượng vũ trang địa phương

Bộ đội chủ lực và quân địa phương đã nổ súng tiến công đồn Plây Me vào đêm 19 - 10 - 1965 uy hiếp dữ dội cứ điểm phía nam thị xã Plây Cu Chiều 23 - 10 Bộ Tư lệnh Biệt khu 24 quân đội Sài Gòn buộc phải sử dụng một lực lượng mạnh gồm một chiến đoàn có ba tiểu đoàn bộ binh cùng một chiến đoàn thiết giáp tới cứu nguy Thế nhưng chính lực lượng ứng cứu này lại bị lọt ngay vào trận địa phục kích và bị đánh tơi tả khiến toàn bộ chiến đoàn bộ binh cơ giới hỗn hợp bị tiêu diệt hoàn toàn trong đó 86 xe quân sự của chúng bị phá hủy Tình thế đó kích thích mạnh sự hung hăng của sư đoàn

kỵ binh không vận số 1 Mỹ lúc bấy giờ đóng căn cứ ở An khê Theo lệnh của Westmoreland, Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại miền nam, sư đoàn này

mở cuộc hành quân đánh vào khu vực phía tây đồn Plây me hòng giải vây, đồng thời tiêu diệt các đơn vị chủ lực của ta hiện đang có mặt trên địa bàn chiến dịch

Từ ngày 29 - 10 đến 9 - 11 địch cho máy bay lên thẳng đổ quân theo lối

"nhảy cóc" sục sâu nhằm chuẩn bị bàn đạp bãi đáp máy bay lên thẳng thực

Trang 23

hiện đòn đánh bất ngờ phía sau đội hình chiến dịch của ta Phán đoán đúng ý

đồ này của địch Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định chọn thung lũng Ya Ðrăng cách Plây me khoảng 25 km về phía tây làm điểm quyết chiến đánh trận then chốt tiêu diệt một bộ phận lực lượng sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ Một lần nữa tài nghệ điều hành cuộc chiến và sự dũng mãnh mưu trí của bộ đội ta đã biến tính toán trên đây thành hiện thực

Một loạt trận đánh ác liệt diễn ra tại các vạt rừng dưới lòng suối cạn ngay bãi đỗ máy bay lên thẳng và cả ở sở chỉ huy hành quân của lữ đoàn quân Mỹ Ðịch bị dồn xuống thung lũng Ya Ðrăng Tại đây từ đêm 16 - 11 và ngày 17 -

11 giữa ta và địch đã diễn ra những trận đánh quyết liệt trong đó có những trận giáp lá cà Trong nguy khốn địch sử dụng cả máy bay ném bom chiến lược B52 rải thảm dùng xăng đặc đốt các cánh rừng và dùng pháo hạng nặng bắn tới

4000 quả đạn để yểm trợ cho quân Mỹ hoặc để phi tang xác của đồng bọn Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, ngày 26 - 11 -1965 số lính Mỹ sống sót được máy bay lên thẳng đưa về căn cứ sư đoàn ở An Khê bỏ lại đằng sau những vạt rừng xơ xác đạn bom, những bãi lon hộp và khẩu phần thức ăn trống rỗng , xác lính Mỹ và xác máy bay lên thẳng xe quân sự ngổn ngang Chiến dịch Plây me kết thúc Ta tiêu diệt gần hết và đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ tiêu diệt một chiến đoàn bộ binh cơ giới hỗn hợp quân đội Sài Gòn, bắn rơi và phá hỏng 59 máy bay lên thẳng phá hủy 89 xe quân sự Phía Mỹ thừa nhận tại thung lũng Ya Ðrăng có 824 lính

kỵ binh không vận Mỹ chết và bị thương trong đó có hơn 300 binh sĩ tử trận Thắng lợi của Chiến dịch Plây me có ý nghĩa to lớn cả về chính trị và quân sự, khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của Quân giải phóng ngay trong trận đầu đánh quân Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên Về nghệ thuật quân sự chiến dịch Plây me diễn ra rất quyết liệt giữa Quân giải phóng và địch, trong đó với Quân giải phóng nổi lên là xác định đúng đối tượng tác

Trang 24

chiến và vận dụng cách đánh sáng tạo, linh hoạt đạt hiệu quả chiến đấu cao Quá trình chiến dịch đã diễn ra theo đúng phương châm tác chiến Quân giải phóng đề ra, xác định đúng vị trí vai trò của quân chủ lực và quân địa phương trong tiêu diệt địch

- Chiến dịch Khe Sanh 1968:

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh còn được gọi là Chiến dịch Đường 9 hay Trận Khe Sanh là một chiến dịch chính yếu trong chiến cục năm 1968 tại Việt Nam

Lực lượng tham chiến gồm sư đoàn bộ binh 304, 320, 324B và 325 (từ tháng 5 sư đoàn 308 và trung đoàn 246 vào thay cho các sư đoàn 324B và 325

đi chiến trường khác) trung đoàn 270 (Vĩnh Linh) và 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị và 5 đại đội đặc công

Cùng với quân và dân địa phương bộ đội chủ lực đã mở phương án tác chiến và tích cực đánh địch:

Đợt 1 (20 tháng 1 - 7 tháng 2): Quân giải phóng miền nam Việt Nam tiến công quận lỵ Hướng Hoá và cứ điểm Huội San diệt cứ điểm Làng Vây, làm chủ đoạn đường 9 từ Cà Lu đến biên giới Việt - Lào

Đợt 2 (8 tháng 2 - 31 tháng 3): Phát triển lên vây lấn và pháo kích căn cứ Khe Sanh suốt 50 ngày đêm bao vây Cồn Tiên, đánh một số trận ở hướng đông Quốc lộ 1 để ngăn chặn lực lượng Mỹ tới ứng cứu cho Khe Sanh

Đợt 3 (1 tháng 4 - 30 tháng 4): Giữ vững các khu vực làng Khoai, Cu

Bốc, các cao điểm 689 và 622, triệt phá giao thông trên Đường 9

Đợt 4 (8 tháng 5 - 15 tháng 7): Khôi phục thế vây lấn căn cứ Khe Sanh,

chặn đánh quân Mỹ rút chạy khỏi Khe Sanh

Ý nghĩa của chiến dịch: Trong khi Hội nghị Paris về Việt Nam đang gặp

bế tắc do phía Hoa Kỳ liên tục trì hoãn đàm phán thì chiến thắng tại Khe Sanh kết hợp với Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đã giúp phía

Trang 25

Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đảo ngược tình thế buộc Hoa Kỳ ngồi vào bàn đàm phán.Chiến thắng này cũng giúp Quân giải phóng miền nam Việt Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Hoa Kỳ tại miền nam Việt Nam

Như vậy: Trải qua thực tế hình thành và phát triển của lực lượng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương cùng với đó là sự phối hợp của hai lực lượng này Ở các chiến dịch ta đã phát triển các hướng của quân chủ lực cùng với quân địa phương phá vỡ trước hết là kế hoạch của địch sau đó là các mục tiêu trọng yếu và lừa địch vào những nơi có giá trị cho ta tiêu diệt và làm cho địch thất bại Chính vì vậy mà qua từng thời kì của chiến tranh nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các binh đoàn chủ lực và bộ đội địa phương đã phát triển tới nhiều trình độ cao hơn đạt kết quả tốt và làm cơ sở cho việc huấn luyện và chỉ đạo chiến đấu của bộ đội mà đỉnh cao là Chiến dịch đường 9 - nam Lào

Kết luận chương 1

Mục tiêu chủ yếu của quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong chiến dịch này là cắt đứt căn cứ vận tải chiến lược của Quân giải phóng miền nam Việt Nam và tạo ưu thế chính trị có lợi cho Mỹ trên bàn đàm phán ở Pari, chúng

đã chuẩn bị về kế hoạch và huy động một lực lượng lớn cho cuộc hành quân lần này Quân và dân ta đã chuẩn bị tốt cho chiến dịch đảm bảo vững chắc

về mọi mặt từ lực lượng cho đến địa bàn tác chiến Huy động một khối lượng lớn vũ khí trang bị kĩ thuật cùng với đó là quyết tâm bảo vệ vững chắc tuyến đường vận tải chiến lược cho bộ đội quyết tâm giành chiến thắng để tạo ưu thế trên bàn đàm phán chính trị Cùng với học thuyết quân sự và thực tế kháng chiến qua các chiến dịch và trận đánh trước đó như Vạn Tường, Khe Sanh… ta có đủ trình độ tác chiến và kinh nghiệm để tiến hành một chiến dịch lớn có sự phối hợp của cả quân chủ lực và bộ đội địa phương

Trang 26

Chương 2 NỘI DUNG NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN

Thi hành Hiệp định Gionever, LLVT ta rút ra miền bắc tập kết Trong khi đó quân nguỵ và tay sai rút vào miền nam Với âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam biến miền nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân

sự của Mỹ Từ năm 1955 đế quốc Mỹ xây dựng cho chính quyền Ngô Đình Diệm một đội pháo binh thiết giáp chủ lực cùng 54000 quân địa phương dưới

sự điều khiển trực tiếp của Mỹ thông qua gần 700 cố vấn quân sự

Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ra sức phá hoại hiệp định Gionever 1954 về Việt Nam, thực hiện chính sách “tố cộng diệt cộng” đánh phá điên cuồng giết hại giam cầm hơn nửa triệu cán bộ đảng viên quần chúng yêu nước, đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi hành hiệp định Gionever và thực hiện tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước cùng chính quyền dân sinh dân chủ Cách mạng miền nam phải chịu những tổn thất nặng nề và lâm vào tình thế rất hiểm nghèo

Hội nghị lần thứ XV (1 - 1959) của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã xác định: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam

Trang 27

là khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng nhân dân, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc

và phong kiến dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân

Hội nghị còn dự đoán, vì đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất nên cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta có thể chuyển thành chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch

Ngay sau khi Hội nghị Trung ương Đảng, Chính phủ đã cho lập Đoàn vận tải quân sự Trường Sơn (Đoàn 559) bắt đầu chi viện người và vũ khí cho miền nam

Nghị quyết 15 của Đảng đã đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng miền nam mở đường cho cách mạng tiến lên Dưới ánh sáng nghị quyết Hội nghị Trung ương XV (1 - 1959) năm 1959 - 1960 các cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở vùng núi miền trung và đồng bằng nam bộ giành quyền làm chủ về tay nhân dân ở hàng nghìn xã ấp, đẩy địch vào thế bị động khủng hoảng tiêu biểu như nổi dậy ở Vĩnh Thạnh 4 - 1959, nổi dậy ở Bắc Ái 4 -

1959 khởi nghĩa Trà Bồng 8 - 1959 Cuối năm 1959 đầu năm 1960

một phong trào “Đồng Khởi” nổi dậy khởi nghĩa diệt bọn tề điệp ác ôn, giải

tán chính quyền cơ sở diệt đồn phá ách kìm kẹp của địch nổ ra rộng khắp các tỉnh nam bộ và vùng rừng núi trung trung bộ, nhân dân giành được quyền làm chủ

Phong trào “Đồng Khởi” đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền nam, từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công từ hình thức đấu tranh chính trị là chính có lực lượng vũ trang hỗ trợ chuyển sang kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, từ đấu tranh quân sự từng bước lên ngang hàng đấu tranh chính trị

Trang 28

Từ cao trào đồng khởi của nhân dân, LLVT cách mạng miền nam phát triển nhanh chóng Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ra đời (20 - 11 -1960) Từ miền bắc tuyến vận tải chiến lược vào miền nam bằng đường bộ, đường biển hình thành và phát triển Cách mạng miền nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công

2.1.2 Giai đoạn 2 (1 - 1961 đến 6 - 1965): Cách mạng miền nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành cách mạng, đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ

Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” đã làm thất bại cuộc chiến

“Chiến tranh đơn phương” của Eisenhower đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào thời kỳ khủng hoảng triền miên Trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền tay sai Mỹ phải đối phó bằng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Chúng ra sức củng cố và phát triển quân đội Sài Gòn Mở các cuộc hành quân càn quét gom dân lập ấp chiến lược theo kế hoạch Stanley-Taylor

Chính quyền Kennedy công bố học thuyết chiến tranh mới: Chiến lược

“Chiến tranh đặc biệt” và chọn miền nam Việt Nam làm nơi thí điểm Nội

dung chủ yếu của “Chiến tranh đặc biệt” là củng cố ngụy quyền tăng cường khả năng chiến đấu của ngụy quân bằng chỉ huy trang bị vũ khí yểm trợ kỹ thuật Mỹ Tăng cường phá hoại miền bắc chống miền nam thâm nhập bình định dồn dân vào “ấp chiến lược” Ngụy quyền, ngụy quân và “ấp chiến lược” được coi là xương sống của “Chiến tranh đặc biệt”

Trên đà thắng lợi cách mạng miền nam tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị đưa dần đấu tranh vũ trang lên ngang hàng với đấu tranh chính trị, giành và giữ thế chủ động xây dựng lực lượng mọi mặt củng cố mở rộng căn cứ địa phá “chương trình bình định” của Mỹ - Diệm đẩy cách mạng lên một bước mới Ngày 16 - 2 - 1962, MTDTGPMN ra đời đã cổ

vũ động viên nhân dân miền nam bước vào giai đoạn cách mạng mới

Trang 29

Ngày 2 - 1 - 1963, địch dùng 2000 quân có máy bay tàu chiến pháo binh phối hợp do 51 cố vấn Mỹ chỉ huy với chiến thuật trực thăng vận - thiết xa vận càn quét vào Ấp Bắc - Mỹ Tho Lực lượng ta chỉ có một tiểu đoàn tăng cường bằng 1/10 lực lượng địch nhưng đã đánh bại quân địch tiêu diệt 450 tên Chiến thắng Ấp Bắc quy mô không lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng chứng tỏ quân và dân miền nam có khả năng đánh bại chiến thuật “trực thăng vận - thiết xa vận”báo hiệu sự phá sản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" Được sự chi viện ngày càng lớn của miền bắc, QGPMNVN phát triển lớn mạnh từ tác chiến du kích tiến lên tác chiến tập trung mở các chiến dịch tiến công lớn nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân ngụy.

Chiến dịch Ba Gia - Quảng Ngãi (28 - 5 đến 20 - 7 - 1965 ) loại khỏi vòng chiến đấu trên 2000 địch, bắn rơi 18 máy bay hỗ trợ nhân dân 29 xã thuộc 6 huyện tỉnh Quảng Ngãi nổi dậy làm chủ

Chiến dịch Đồng Xoài - Bình Phước (10 - 5 đến 22 - 7 - 1965 ) tiêu diệt nhiều tiểu đoàn chiến đoàn quân đội Sài Gòn diệt gần 4500 địch, bắn rơi 34 máy bay góp phần cùng với cao trào đấu tranh chính trị, nổi dậy của nhân dân đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ

Những thắng lợi quân sự lớn chứng tỏ sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng miền nam, đủ sức đánh bại hoàn toàn quân ngụy dù có sự chỉ huy hỗ trợ của quân Mỹ Đến giữa năm 1965 chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ngụy sụp đổ

Ở miền bắc ngày 4 - 8 -1964 Mỹ dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ loan báo tàu chiến Mỹ bị Hải quân Việt Nam tấn công ở hải phận quốc tế ngoài khơi vịnh Bắc Bộ Chúng lấy cớ để ngày 5 - 8 - 1964 gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân hải quân đối với miền bắc nước ta Khi Mỹ gây ra

sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8 - 1964) và dùng không quân đánh phá một số nơi,

Trang 30

quân và dân ta đã đánh thắng ngay từ trận đầu và kiên quyết đánh trả hoạt động phá hoại tiếp theo của không quân Mỹ (từ 2-1965)

2.1.3 Giai đoạn 3 (7 - 1965 đến 12 - 1968): Phát triển thế tiến công chiến lược, đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền nam và chiến tranh phá hoại lần 1 (7 - 2 - 1965 đến 1 - 11 - 1968) của Mỹ ở miền bắc

Chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Kennedy đề ra 3 hình thức

chiến tranh: Chiến tranh đặc biệt Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh tổng lực Sau thất bại của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" Mỹ bị động chuyến sang tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" hòng nhanh chóng kết thúc chiến tranh “Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, nhưng sử dụng mức độ hạn chế quân Mỹ cùng với quân chư hầu trong khu vực và quân ngụy trong đó quân Mỹ giữ vai trò tác chiến chủ yếu trên chiến trường Mục tiêu “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam là nhanh chóng tạo ra ưu thế binh lực, hỏa lực “tìm diệt” chủ lực ta giành lại thế chủ động trên chiến trường, mở rộng và củng cố vùng kiểm soát giành lại dân Đồng thời gây chiến tranh phá hoại miền bắc ngăn chặn sự chi viện từ miền bắc vào miền nam, phá hoại sự nghiệp xây dựng miền bắc, làm lung lay ý chí giải phóng miền nam của Đảng ta và nhân dân ta

Quân và dân miền nam giữ vững và phát triển thế tiến công càng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ Sau trận Núi Thành mở đầu đánh Mỹ trận Vạn Tường tháng 8 - 1965 ta đẩy lùi cuộc hành quân tìm diệt của quân Mỹ diệt hơn 900 địch bắn nhiều xe tăng xe bọc thép… đã chứng tỏ quân và dân ta có

đủ khả năng đánh bại chiến thuật tìm diệt của đế quốc Mỹ Mở ra cao trào

“Tìm Mỹ mà đánh lùng Ngụy mà diệt” trên toàn miền nam

Từ những trận đầu thắng Mỹ như Núi Thành 26 - 5 -1965, trận Vạn Tường 18 - 8 - 1965 quân và dân miền nam tiến lên mở các chiến dịch tiến công và phản công làm thất bại một bước quan trọng chiến lược chiến tranh

Trang 31

cục bộ của Mỹ Hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966

- 1967 của Mỹ với trên 1000 cuộc hành quân lớn nhỏ đánh vào các vùng giải phóng của ta, lớn nhất là cuộc hành quân Junction City bị thất bại Trên toàn

miền nam quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 15 vạn quân địch trong đó có 68200 tên Mỹ Phong trào đấu tranh chính trị vùng địch chiếm, nhất là các thành phố lớn dâng lên mạnh mẽ làm mất ổn định chế độ Mỹ-Ngụy Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại một bước quan trọng Nắm vững thời cơ có lợi đêm 30 rạng ngày 31 - 1 - 1968, quân dân ta

mở Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đồng loạt tiến công địch ở

4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn trên toàn miền nam gây cho địch thiệt hại lớn và khủng hoảng tinh thần, vây hãm tiến công quân Mỹ trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20 - 1 đến 15 - 7 -1968 từ Cửa Việt đến biên giới Việt - Lào) giành thắng lợi lớn bồi thêm một đòn nặng vào quân Mỹ-Ngụy tạo bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ

Quân dân miền bắc quyết tâm vừa đánh thắng Mỹ vừa đảm bảo sản xuất

và đời sống, vừa tích cực chi viện cho miền nam Đến cuối năm 1968 quân dân miền bắc đã bắn rơi bắn cháy 3234 máy bay, diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái Mỹ bắn chìm bắn cháy 143 tàu chiến tàu biệt kích Mỹ - Ngụy, đánh bại chiến tranh phá hoại lần 1 bằng không quân và hải quân của Mỹ

Bị thất bại nặng nề ở Việt Nam, trước làn sóng phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam trên thế giới và ngay trong nước Mỹ ngày càng mạnh mẽ ngày

1 - 11 - 1968 chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom bắn phá miền bắc và phải ngồi vào bàn thương lượng ở Hội nghị Paris “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ bị phá sản

Trang 32

2.1.4 Giai đoạn 4 (1 - 1969 đến 1 - 1973): Đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và chiến tranh phá hoại lần 2 (6 - 4 - 1972 đến 15 - 1 - 1973) của Mỹ ở miền bắc buộc Mỹ phải kí hiệp định Paris 1973 về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước

Chiến lược “Chiến tranh cục bộ bị phá sản” Nixon chuyển sang thực

hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” ra sức phát triển và hiện đại hoá

quân đội Sài Gòn để từng bước thay thế quân Mỹ rút dần về nước,đẩy mạnh bình định ở miền nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh ra toàn ba nước Đông Dương

Sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Sihanouk Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc tiến công xâm lược Campuchia nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của Việt Nam QGPMNVN phối hợp với LLVT cách mạng Campuchia tổ chức các chiến dịch phản công đánh bại các cuộc tiến công lớn của địch mở rộng vùng giải phóng của cách mạng Campuchia

Đầu năm 1971 quân đội Sài Gòn được sự yểm trợ, chi viện hoả lực của

Mỹ và sự phối hợp của quân đội phái hữu Lào mở cuộc hành quân Lam Sơn

719 đánh ra Đường 9 - Nam Lào nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta chia cắt 3 nước Đông Dương QGPMNVN phối hợp với LLVT cách mạng Lào mở chiến dịch phản công, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân của địch

Phát huy quyền chủ động tiến công từ 3 - 1972 ta mở cuộc tiến công chiến lược vào hệ thống phòng ngự của địch trên 3 hướng gồm các chiến dịch: Chiến dịch Trị Thiên 30 - 3 đến 27 - 6 - 1972; Chiến dịch Bắc Tây Nguyên 30 - 3 đến 5 - 6 -1972 , tiếp đó ta mở chiến dịch đồng bằng sông Cửu Long 10 - 6 đến 10 - 9 - 1972 phối hợp với LLVT cách mạng Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum và đánh bại các cuộc phản kích, lấn chiếm của địch

Trang 33

Trước thất bại nặng nề của quân đội Sài Gòn, Mỹ cho không quân và hải quân trở lại đánh phá ác liệt ở miền nam và tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền bắc Cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội Hải Phòng cuối tháng 12 năm 1972 (chiến

dịch Linebacker II) bị đập tan và là một “Điện Biên Phủ trên không” đối với

đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris về Việt Nam (27 - 1- 1973) rút hết quân Mỹ và quân các nước chư hầu Mỹ ra khỏi miền nam Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” thất bại

2.1.5 Giai đoạn 5 (12 - 1973 đến 30 - 4 - 1975): Tạo thế, tạo lực và thực hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam kết thức cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Tuy rút hết quân đội nhưng Mỹ vẫn để lại 2 vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự để lại vũ khí, trang bị chiến tranh và tiếp tục viện trợ quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Quân ngụy lên đến hơn 1 triệu tên và ra sức lấn chiếm phá hoại Hiệp định Paris Quân dân miền nam kiến quyết đánh bại các cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ” của địch, cả nước khẩn trương tạo thế, tạo lực để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền nam

Quân và dân ta đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của địch, khẩn trương tạo thế tạo lực mở rộng vùng giải phóng Thắng lợi của chiến dịch Đường 14-Phước Long đã đặt cơ sở cho hội nghị Bộ Chính trị họp cuối năm

1974 đầu 1975 thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam (1975

-1976) quyết định nắm vững thời cơ chiến lược, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 với 3 đòn tiến công chiến lược:

Đòn thứ nhất: Chiến dịch Tây Nguyên (3 - 1975) Từ cuối năm 1974

quân ta đã bí mật dàn thế trận chiến dịch Tây Nguyên, lấy Buôn Ma Thuột làm trận then chốt mở màn Ngày 4 - 3, quân ta tiến công cắt đường 19, 21

Trang 34

nối Tây Nguyên với đồng bằng khu 5 Ngày 9 - 3, đánh chiếm Đức Lập - Núi Lửa cô lập hoàn toàn Buôn Ma Thuột

Chiến dịch Tây Nguyên mở màn bằng trận Buôn Ma Thuột (10 đến 11 -

3 - 1975) Ngày 10 - 3 4 cánh quân ta tiến công Buôn Ma Thuột Sau 2 ngày chiến đấu quân ta tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở đây làm chủ thị xã Địch điều quân phản kích bị quân ta diệt gọn Nắm bắt ý đồ của địch rút chạy khỏi Tây Nguyên ta bố trí đánh chặn và truy kích tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn

2 - Quân khu 2 của địch, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ

Đòn thứ hai: Chiến dịch Trị Thiên - Huế (5 đến 26 - 3 - 1975) và chiến dịch Đà Nẵng (28 đến 29 - 3 - 1975) cùng với hoạt động tiến công và nổi dậy

của quân và dân Khu 5 giải phóng các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và 2 thành phố Huế - Đà Nẵng loại khỏi chiến đấu Quân đoàn 1 - Quân khu 1 của địch Vừa đánh địch rút chạy khỏi Tây Nguyên ngày

21 - 3 quân ta thọc sâu bao vây Huế Ngày 26 - 3 quân ta tiêu diệt và làm tan

rã lực lượng địch ở Huế, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng Quân ta tiếp tục tấn công Đà Nẵng phối hợp với quần chúng nổi dậy Ngày 29 - 3 Đà Nẵng được giải phóng

Đòn thứ ba: Chiến dịch Hồ Chí Minh (26 đến 30 - 4 - 1975) Ngày 14 - 4

- 1975 Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định chiến dịch tiến công vào Sài Gòn giải phóng hoàn toàn miền nam mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh Sau khi chọc thủng và đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn - Gia Định của địch ngày 26 - 4 5 cánh quân ta tiến vào Sài Gòn sáng 30 - 4 thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong nội đô 10 giờ 45 phút ngày 30 - 4

xe tăng ta tiến vào Dinh Độc Lập tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện Kết hợp với nổi dậy của nhân dân tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 3 - Quân khu 3 của địch giải phóng Sài Gòn -

Trang 35

Gia Định buộc chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện Chiến dịch

Hồ Chí Minh toàn thắng Đồng thời phát triển tiến công và nổi dậy tiêu diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 4 - Quân khu 4 của địch giải phóng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các hải đảo do quân đội Sài Gòn đóng giữ kết thúc toàn thắng cuộc Kháng chiến chống Mỹ

Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn Nhân dân Việt Nam đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới với quy mô lớn quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt nhất từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai Đây cũng là cuộc chiến bại chưa từng có trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ Xâm lược Việt Nam, Mỹ đã qua năm đời tổng thống huy động 6 triệu lượt binh sĩ Mỹ, chi phí 352 tỉ USD ném xuống Việt Nam 7850000 tấn bom, hàng chục triệu lít chất độc diệt cây sử dụng những loại vũ khí kỹ thuật mới nhất (chỉ trừ vũ khí hạt nhân) nhưng đã chịu thất bại chưa từng có trong lịch

sử nước Mỹ

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài hơn 100 năm, mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - cả nước Việt Nam hoàn toàn độc lập thống nhất và đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội đồng thời tạo điều kiện cho cách mạng Lào

và cách mạng Campuchia giành thắng lợi quyết định góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội

2.2 NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BINH ĐOÀN CHỦ LỰC VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 – NAM LÀO

2.2.1 Đợt 1 (từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm1971) Địch điều động, triển khai lực lượng chuẩn bị bàn đạp tiến công

2.2.1.1 Mục tiêu và kế hoạch của địch

* Mục tiêu

Trang 36

Mục đích cuộc hành quân của Mỹ - ngụy ở Đường 9 - Nam Lào là cắt tuyến vận chuyển chiến lược của ta từ gốc, đánh phá kho tàng nhằm làm cho lực lượng vũ trang của ta ở miền Nam suy yếu không thể đánh tập trung lớn trong mùa khô năm 1971 và cả năm 1972 để chúng dễ dàng thực hiện chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh”

Cuộc hành quân này còn nhằm mục đích thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền bắc, đưa quân ngụy miền nam ra thực nghiệm trong một kế hoạch cao nhất của âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” hy vọng rèn luyện cho quân ngụy trở thành lực lượng nòng cốt của chính sách dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương trở thành lực lượng mạnh có khả năng thay thế quân Mỹ ở miền nam Việt Nam Campuchia và Lào có thể đương đầu với chủ lực của ta ở miền bắc Việt Nam.Thúc đẩy công cuộc “Việt Nam hóa chiến tranh” và tuyên truyền cho học thuyết Ních xơn ở Đông Dương

* Kế hoạch của địch

Ngày 7 tháng 1 năm 1971, MACV nhận được thẩm quyền lập kế hoạch chi tiết cho cuộc tấn công vào các khu căn cứ 604 và 611 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Tướng James W Sutherland, Jr được giao nhiệm vụ lập kế hoạch để MACV thông qua

Kế hoạch tác chiến của địch gồm 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1 (từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971): Điều động lực lượng, chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát

Giai đoạn 2 (từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 2 năm 1971): Tiến công chiếm các mục tiêu Bản Đông và Sê-pôn

Giai đoạn 3 (từ ngày 15 tháng 2 đến đầu tháng 5 năm 1971): Lùng sục, đánh phá kho tàng

Ngày đăng: 23/12/2019, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w