1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống quân minh( 1418 1427)

50 870 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 630,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  TRẦN THU PHƯƠNG NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, THỰC HIỆN TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC TRONG KHÁNG CHIẾN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH



TRẦN THU PHƯƠNG

NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, THỰC HIỆN TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG

QUÂN MINH (1418 – 1427)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh

HÀ NỘI 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH



TRẦN THU PHƯƠNG

NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, THỰC HIỆN TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG

QUÂN MINH (1418 – 1427)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh

Người hướng dẫn khoa học

CN Trần Ngọc Lâm

HÀ NỘI 2018

Trang 3

Em xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè trong lớp và người thân trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành khóa luận cuối khóa

Trong quá trình làm khóa luận do thời gian nghiên cứu có hạn, cho nên khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện và đầy đủ hơn

Em xin trân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2018

Tác giả

Trần Thu Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu và sự cố gắng nỗ lực của bản thân em dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Thượng tá Trần Ngọc Lâm

Nội dung của khóa luận tốt nghiệp này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2018

Tác giả

Trần Thu Phương

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

7.1 Ý nghĩa khoa học 3

7.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

8 Kết cấu của khóa luận 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT “CHIẾN TRANH NHÂN DÂN THỰC HIỆN TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC” 4

1.1 Một số khái niệm cơ bản: 4

1.1.1 Khái niệm về nghệ thuật quân sự 4

1.1.2 Khái niệm “Chiến tranh nhân dân” 4

1.1.3 Khái niệm “Toàn dân đánh giặc” 5

1.2 Cơ sở hình thành nghệ thuật “chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc” trong kháng chiến chống quân Minh( 1418-1427) 7

1.2.1 Bối cảnh lịch sử 7

1.2.2 Truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta 11

Tiểu kết chương 1 14

Chương 2: NGHỆ THUẬT “CHIẾN TRANH NHÂN DÂN THỰC HIỆN TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC” TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH (1418-1427) 15

2.1 Diễn biến và kết quả cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của dân tộc ta (1418-1427) 15

2.1.1 Diễn biến 15

2.1.2 Kết quả 20

Trang 7

2.2 Nghệ thuật “chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc”

trong kháng chiến chống quân Minh (1418-1427) 20

2.2.1 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trước hết là một cuộc chiến tranh yêu nước và chính nghĩa, một cuộc chiến tranh nhằm giải phóng đất nước, nhằm cứu dân cứu nước khỏi ách thống trị tàn bạo của ngoại bang 20 2.2.2 Sức mạnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn không chỉ là sức mạnh của

nghĩa quân mà còn là sức mạnh đoàn kết đấu tranh của toàn dân Nghĩa quân Lam Sơn không chiến đấu một cách cô độc, lẻ loi mà có sự tham gia ủng hộ nhiệt tình của tất cả các tầng lớp nhân dân yêu nước 23

Tiểu kết chương 2 27 Chương 3: VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT “CHIẾN TRANH NHÂN DÂN THỰC HIỆN TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC” TRONG KHÁNG CHIẾN

CHỐNG QUÂN MINH (1418-1427) VÀO CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY 28 3.1 Những quan điểm của Đảng về chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc28

3.1.1 Tiến hành chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt, kết hợp chặt chẽ tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực 28 3.1.2 Tiến hành chiến tranh toàn diện 29 3.1.3 Chuẩn bị mọi mặt trên cả nước cũng như từng khu vực đủ sức đánh lâu dài, ra sức thu hẹp không gian, rút ngắn thời gian của chiến tranh, giành thắng lợi càng sớm càng tốt 30 3.1.4 Kết hợp kháng chiến với xây dựng, vừa chiến đấu vừa sản xuất, thực hành tiết kiệm giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta càng đánh càng mạnh 31 3.1.5 Kết hợp đấu tranh quân sự với bảo đảm an ninh chính trị, trật+ tự an toàn xã hội, trấn áp kịp thời mọi âm mưu và hành động phá hoại gây bạo loạn lật đổ ở địa phương 32 3.1.6 Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, phát huy tinh thần tự lực

tự cường, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế, sự đồng tình của nhân dân tiến bộ thế giới 32

Trang 8

3.2 Biện pháp nâng cao nghệ thuật “chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc” của Đảng ta trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay 33

3.2.1 Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay 33

3.2.3 Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về mọi mặt sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa 36

3.2.4 Phát huy tinh thần yêu nước và ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho toàn dân tộc 38

Tiểu kết chương 3 40

KẾT LUẬN 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Dân tộc ta có lịch sử truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước vô cùng oanh liệt Đất nước ta có tài nguyên phong phú, lại ở vị trí địa lí thuận lợi ở khu vực Đông Nam Á, nên nhiều thế lực thù địch liên tục nhòm ngó, đưa quân xâm lược, âm mưu thôn tính nước ta Chính vì lẽ đó, nhân dân ta luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống giặc ngoại xâm và đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của những quốc gia lớn mạnh Có thể nói, Việt Nam là một trong những dân tộc phải chống giặc ngoại xâm nhiều nhất trên thế giới

Chiến tranh là một cuộc đọ sức một mất một còn, là sự thử thách sức sống của một dân tộc Các cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược do nhân dân ta tiến hành đều là chiến tranh nhân dân chính nghĩa, thu hút được đông đảo quần chúng nhân tham gia Với hàng trăm cuộc khởi nghĩa giành lại hòa bình cho toàn dân tộc, có biết bao cuộc khởi nghĩa đã bị kẻ thù đàn áp dã man Có thể kể đến một số cuộc chiến tranh tiêu biểu như : trận Bạch Đằng chống quân Nam Hán, trận Bạch Đằng chống quân Mông Nguyên, trận Chi Lăng – Xương Giang chống quân Minh, chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh,

Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418-1427) thành công là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân ta dưới

sự lãnh đạo tài tình của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, nhân dân ta mở ra một số cuộc khởi nghĩa trong đó đặc biệt là khởi nghĩa Lam Sơn đã quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi của nước ta, giành lại hòa bình và cuộc sống ấm no cho tất cả mọi người dân Sức mạnh làm nên chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược trước hết là sức mạnh của chiến tranh nhân dân, của nghệ thuật quân sự Việt Nam; là sức mạnh của cả quân đội và nhân dân, sức mạnh của cả

ba thứ quân, của sự kết hợp tiền tuyến và hậu phương Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của toàn dân tộc Đây không chỉ là sức mạnh của cuộc kháng chiến chống quân Minh nói riêng mà còn là sức mạnh mang đến thành công cho tất cả các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trong lịch sử nhân loại

Trang 10

Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Từ lòng ngưỡng mộ các anh hùng hào kiệt của dân tộc, của khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc chiến tranh nhân dân cùng nhiều bài học về nghệ thuật quân sự, đặt ra cho chúng ta yêu cầu phải nghiên cứu nghệ thuật quân sự của ông cha ta đặc biệt là nghệ thuật chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418-1427) Nhằm làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn của nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghiên cứu được tính đặc sắc và đặc trưng của Nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống quân Minh, xây dựng niềm tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nghệ thuật chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống quân Minh( 1418-1427)” làm đề tài khóa luận của mình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418-1427)

Phân tích, làm rõ nghệ thuật “chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc” trong kháng chiến chống quân Minh (1418-1427)

Đồng thời đề ra những biện pháp nhằm nâng cao nghệ thuật “chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc” trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu

Nghệ thuật “chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc” trong kháng chiến chống quân Minh (1418-1427)

5 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp lịch sử

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Vận dụng nghệ thuật “chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc” trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

8 Kết cấu của khóa luận

Khóa luận gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tham khảo

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT “CHIẾN TRANH NHÂN

DÂN THỰC HIỆN TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC”

1.1 Một số khái niệm cơ bản:

1.1.1 Khái niệm về nghệ thuật quân sự

Theo Từ điển Bách Khoa quân sự Việt Nam “Nghệ thuật quân sự là lý luận

và thực tiễn chuẩn bị, tổ chức và tiến hành đấu tranh vũ trang Nó nghiên cứu các quy luật của chiến tranh và đấu tranh vũ trang, xác định những nguyên tắc

và phương pháp tiến hành các hoạt động quân sự trong chiến tranh Nghệ thuật quân sự được hình thành từ ba bộ phận: Chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật Ba bộ phận nghệ thuật quân sự là một thể thống nhất có quan hệ biện chứng chặt chẽ, trong đó chiến lược quân sự đóng vai trò chỉ đạo”

“Nghệ thuật quân sự là cách đánh, cách dùng binh đã trở thành thông thạo, điêu luyện trong một trận chiến đấu, một chiến dịch hay trên toàn bộ chiến trường Nghệ thuật quân sự không có một khuôn mẫu cụ thể nào, nó có

thể biến hóa khôn lường muôn hình muôn vẻ” (Trích Tư tưởng Hồ Chí Minh

về nghệ thuật quân sự)

1.1.2 Khái niệm “Chiến tranh nhân dân”

Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê nin về chiến tranh nhân dân: Chủ

nghĩa Mác- Lê nin cho rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Ăng-ghen khắng định: “Một dân tộc muốn giành độc lập cho mình thì không được giới hạn trong những phương thức thông thường để tiến hành chiến tranh Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích ở khắp nơi đó là những phương thức duy nhất nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể chiến thắng ” Ông nhấn mạnh: “Trong chiến tranh, thắng lợi và thất bại đều

rõ ràng là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào nhân dân và vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của dân cư và cả

kỹ thuật nữa” Lênin cho rằng: “Ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, có nhiều nguồn lực hơn, ai đứng vững được trong quần chúng nhân dân hơn thì người

ấy sẽ giành được thắng lợi trong chiến tranh”

Trang 13

Quan điểm của Đảng về chiến tranh nhân dân: Đảng ta chỉ rõ: “Chiến tranh nhân dân phải do toàn dân tiến hành, chủ yếu là nhân dân lao động, dưới

sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Vì nhân dân lao động có một tinh thần cách mạng kiên quyết và bền bỉ, vì giai cấp công nhân là giai cấp triệt để cách mạng nhất Trong điều kiện lịch sử hiện nay của nước ta, rõ ràng chiến tranh nhân dân là do toàn dân tiến hành vì những quyền lợi cơ bản của nhân dân dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân”

Như vậy, chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành vì lợi ích của nhân dân, có Lực lượng vũ trang làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của giai cấp tiến bộ; đấu tranh với địch là một cách toàn diện bằng mọi hình thức và vũ khí có trong tay chống lại sự xâm lược từ bên ngoài hoặc chống ách áp bức thống trị từ bên trong Mục đích chính trị của chiến tranh nhân dân càng triệt để, sự lãnh đạo càng đúng đắn thì lực lượng tham gia càng đông đảo, mạnh mẽ, sức mạnh và nghệ thuật của chiến tranh nhân dân tạo điều kiện cho các dân tộc nhỏ có thể đánh thắng những kẻ thù xâm lược có quân đội lớn mạnh hơn

1.1.3 Khái niệm “Toàn dân đánh giặc”

Toàn dân đánh giặc là cuộc kháng chiến phát huy sức mạnh của khối đại

đoàn kết toàn dân tộc, toàn dân cùng đứng lên kháng chiến

Xuất phát từ lí luận Mác- Lê Nin về vai trò quần chúng trong lịch sử nói chung, lịch sử đấu tranh nói riêng Theo lí luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin, quần chúng là động lực phát triển của cách mạng, muốn giành thắng lợi phải

có đông đảo quần chúng tham gia, do đó phải động viên toàn dân kháng chiến

Xuất phát từ truyền thống đoàn kết đấu tranh của dân tộc ta qua các thời

kì lịch sử Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước và đấu tranh bất khuất Mặt khác, cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, có phát huy sức mạnh toàn dân thì chúng ta mới có thể đánh địch toàn diện và lâu dài

Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa ta và quân xâm lược quá chênh lệch Nhân dân ta vừa giành được độc lập từ tay kẻ thù, đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, trong đó có 3 thứ giặc phải đối phó đó là: giặc

Trang 14

đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Còn kẻ thù thì không ngừng tăng cường lực lượng bao vây nhằm chống phá cách mạng Vì vậy, muốn giành thắng lợi chúng ta nhất thiết phải kháng chiến toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân thì mới có khả năng đánh tan quân xâm lược.

Xuất phát từ quyền lợi, lợi ích của mỗi người dân trong xã hội, từ đó xác định vai trò bổn phận của mình với đất nước Để bảo vệ được Tổ quốc mọi người dân phải đứng lên chống quân xâm lược, chỉ có hợp sức lại đánh tan quân thù thì tất cả mới bảo vệ được quyền lợi, lợi ích của mình

Thực hiện toàn dân đánh giặc là một trong những nét độc đáo trong nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta, được thể hiện cả trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng Nét độc đáo đó xuất phát từ lòng yêu nước thương nòi của nhân dân ta, từ tính chất tự vệ, chính nghĩa của các cuộc kháng chiến Hễ kẻ thù đụng đến nước ta, thì "vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước chung sức, trăm họ là binh", giữ vững quê hương, bảo vệ xã tắc

Từ lời thề của hai Bà Trưng và nghĩa quân: "Một xin rửa sạch nước thù; Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng; Ba kẻo oan ức lòng chồng; Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này", đến Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, nghệ thuật "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo", nghệ thuật quân sự Việt Nam đã liên tục phát triển dựa trên nền tảng của chiến tranh nhân dân, thực hiện tốt đổi yếu thành mạnh, kết hợp lực, thế, thời, mưu, để đạt mục đích

là cùng giành lại và giữ vững chủ quyền đất nước với tư tưởng "dập tắt muôn đời chiến tranh", "đem lại thái bình muôn thuở" Nội dung cơ bản của thực hiện toàn dân đánh giặc là : "Mỗi người dân là một người lính, đánh giặc theo cương vị, chức trách của mình Mỗi thôn, xóm, bản, làng là một pháo đài diệt giặc Cả nước là một chiến trường, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, vững chắc làm cho địch đông mà hóa ít, mạnh mà hóa yếu, rơi vào trạng thái bị động, lúng túng và bị sa lầy" Trong đánh giặc, ông cha ta đã tận dụng địa hình, xây dựng thế trận làng, nước vững chắc, vận dụng sáng tạo cách đánh của nhiều lực lượng, nhiều thứ quân Vận dụng rộng rãi, sáng tạo nhiều hình thức đánh giặc để đạt hiệu quả cao như: phòng ngự sông Cầu,

Trang 15

phục kích Chi Lăng, phản công Chương Dương, Hàm Tử, tiến công Ngọc Hồi,

Triều Hồ cho đóng thuyền chiến cỡ lớn, sáng chế loại hỏa pháo tên là súng Thần cơ để trang bị cho quân đội Lấy cớ giúp họ Trần khôi phục vương quyền, tháng 11 năm 1406 Minh Thành Tổ huy động khoảng 80 vạn quân theo hai đường đánh vào nước ta: từ Quảng Tây đánh vào Lạng Sơn và từ Vân Nam theo lưu vực sông Lô đánh xuống Trước những cuộc tấn công ồ ạt của giặc Minh, mặc dù nhà Hồ có dành được một số thắng lợi nhất định, nhưng do cha con Hồ Qúy Ly chỉ phòng ngự bị động nên bị vỡ hết phòng tuyến này đến phòng tuyến khác Tháng 1 năm 1407 địch chiếm thành Đa Đang (Ba Vì - Hà Tây), sau nhà Hồ tổ chức một số trận đánh ở Hoàng Giang, Mộc Hoàn, Muộn Hải (thuộc Hà Nam) Thượng tuần tháng 5 năm 1407 đại quân nhà Hồ (khoảng 7 van quân thủy bộ) từ Hoàng Giang phản công đánh địch ở Hàm Tử nhưng bị thất bại Vua quan nhà Hồ cùng tướng lĩnh, binh sĩ còn lại rút chạy Ngày 12 tháng 6 năm 1407 quân Minh tràn tới Nghệ An, chỉ trong thời gian ngắn cha con Hồ Qúy Ly và những người trong triều Hồ lần lượt sa vào tay giặc Cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ chấm dứt Đất nước ta một lần nữa bị phong kiến phương Bắc đô hộ

Trong hai mươi năm đô hộ của nhà Minh, nền kinh tế nước ta bị phá hoại nặng nề, gây ra nhiều hậu quả tác hại lớn đối với sự phát triển của xã hội, của đất nước ta

Trang 16

Nhà Minh ra lệnh tước đoạt mọi thứ vũ khí trong tay nhân dân ta Ai chế tạo, cấp giấu chiến thuyền, vũ khí dù là loại thô sơ nhất đều bị khép vào tội phản nghịch Mỗi khi nhân dân ta phản kháng hay vùng lên khởi nghĩa thì lập tức chúng dùng vũ lực đàn áp khốc liệt với nhiều thủ đoạn man rợ Quân giặc

“đi đến đâu chém giết thả cửa, hoặc chất thây người làm núi, hoặc rút ruột

của mẹ và con để dâng cho giặc” Những người sống sót thì “bị bắt hết làm nô

tì và bị đem đi bán mà tan tác bốn phương” Những người yêu nước bị quân Minh bắt, nếu không bị giết chết một cách tàn bạo, thì cũng bị đẩy sang Trung Quốc mà không mấy ai được trở về

Trong hai mươi năm đô hộ của nhà Minh, nền kinh tế nước ta bị đình đốn

và phá hoại nghiêm trọng

Về nông nghiệp, chính sách cướp ruộng đất để lập đồn điền và cấp chức

điền cho bọn quan lại làm cho nhiều nơi nông dân bị mất ruộng đất và phá sản Những hành động cướp bóc, vơ vét của địch, nhất là việc cướp trâu bò,

đã gây ra rất nhiều khó khăn trong sản xuất, làm cho nền kinh tế nông nghiệp

có khi bị phá hoại Những cuộc đàn áp khủng bố liên miên của địch còn làm mùa màng bị tàn phá, đồng ruộng phải bỏ hoang Trong lúc đó thì đê điều và các công trình thủy lợi bỏ bê trễ nên thiên tai hoành hành dữ dội Do đó, trong thời thuộc Minh, những nạn lụt lội, đê vỡ và mất mùa đói kém, dịch tễ…xảy

ra liên tiếp Năm 1407, do sự tàn phá của cuộc chiến tranh xâm lược của quân

Minh nên nạn đói và dịch xảy ra nghiêm trọng, “nhân dân không trồng trọt,

cầy cấy được, người chết đói rất nhiều” Hai năm sau, 1408 và 1409 đều có

nạn đói, dịch và nạn đói, dịch năm 1409 lại lớn hơn năm trước Năm 1411, lụt lớn, đê sông đáy bị vỡ, nhà cửa của dân bị trôi dạt Năm 1412, cả khu vực từ Diễn Châu trở vào, đồng ruộng bỏ hoang, dân không cày cấy được

Về phương diện kinh tế, nhà Minh đẩy mạnh việc vơ vét của cải và bóc lột

nhân dân ta một cách tham tàn Vừa chiếm được kinh thành nước ta, Trương Phụ đã cho quân lính mặc sức cướp phá và thu tiền đồng trở về nước Mùa hạ

Trang 17

Trương Phụ tâu lên vua Minh gồm: 235000 con voi, ngựa, trâu, bò, 13600000 thạch thóc, 86700 chiếc thuyền, 2539800 đồ quân khí

Về công thương nghiệp, chính sách thuế khóa nặng nề cùng với những thủ

đoạn vơ vét tài nguyên, lùng bắt thợ thủ công, hạn chế sự đi lại buôn bán và cấm chỉ về ngoại thương của giặc Minh là những trở lực nghiêm trọng Do những chính sách và thủ đoạn đó, nhiều nghề thủ công bị phá sản, việc buôn bán trong nước và ngoài nước bị sa sút hẳn

Đời sống của nhân dân lâm vào một tình trạng rất lầm than, cơ cực Ngoài thuế khóa, phú dịch, nhân dân còn phải chịu đựng biết bao nhiêu cảnh chém

giết, cướp bóc và tàn phá của quân địch Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn

Trãi đã từng kịch liệt tố cáo tội ác tày trời của quân Minh Theo Nguyễn Trãi, tội ác của quân địch đã chất cao như núi, mà dù:

Tát khô nước Đông Hải, khôn rửa sạch tanh hôi

Chẻ hết trúc Nam Sơn, khó ghi đầy tội ác

Và do đó:

Thần dân đều căm giận,

Trời đất lẽ nào dung tha.

Về mặt quân sự, nhà Minh đặc biệt chú ý xây dựng một hệ thống thành

lũy ở những nơi hiểm yếu và lập các vệ, sở đóng giữ ở khắp nơi Chỉ trong năm 1407, nhà Minh đã dựng lên trên nước ta một bộ máy trấn áp khá lớn với 14 vệ và nhiều sở Theo tổ chức quân đội của nhà Minh thì mỗi vệ có 5.600 quân, mỗi sở thì thiên hộ sở gồm 1120 quân và bách hộ sở gồm 120 quân Tại các phủ và các vệ, sở cũng như những địa điểm xung yếu, quân Minh đều xây dựng các thành lũy kiên cố để trấn giữ Trên đất nước ta, chúng dựng lên 39 thành lũy lớn, chưa kể các đồn canh phòng ở các nơi Giữa các phủ, huyện và những thành lũy ấy, quân Minh lập lên một hệ thống giao thông bằng trạm dịch để kịp thời liên hệ, tiếp ứng cho nhau Hệ thống giao thông này gốm 374 trạm dịch nối liền với thành Đông Quan (Tức là thành Đông Đô thời nhà Hồ và thành Thăng Long thời Lý - Trần) và từ Đông Quan lại có những trạm dịch bằng đường bộ và đường thủy nối liền với kinh đô nhà Minh

Trang 18

Trong chính quyền đô hộ, nhà Minh thiết lập một mạng lưới thu thuế mang tên là ti thuế khoá, ti tuần kiểm, ti thị bạc, ti thuế muối và một số cơ quan khai thác tài nguyên gọi là ngân trường cục (khai mỏ bạc), kim trường cục (khai mỏ vàng) châu trường cục (mò ngọc trai)

Tàn ác hơn nữa, quân Minh còn lùng bắt hàng loạt dân ta đem về nước phục dịch Riêng Trương Phụ trước sau đã bắt trên 9000 người phần nhiều là thợ thủ công Quân Minh còn bắt phường nhạc, thầy thuốc, phụ nữ, trẻ em đem về Trung Quốc hoặc phục vụ cho triều đình và quan lại nhà Minh hoặc bán làm nô tì

Mưu đồ lớn nhất của nhà Minh là đồng hoá dân tộc ta Âm mưu đó được quán triệt trong toàn bộ chính sách đô hộ của nhà Minh và được thực hiện ráo riết bằng nhiều thủ đoạn hiểm độc, nhất là những thủ đoạn huỷ diệt dân tộc, huỷ diệt văn hoá Tất cả những gì đã từng quy định sự tồn tại độc lập của đất nước ta, đã tạo nên sức sống của dân tộc ta, chúng đều tìm cách huỷ hoại Tên nước Đại Việt bị xoá bỏ và đất đai bị chia làm quận huyện của nhà Minh Chúng áp dụng phương sách “dĩ di trị di” để gây chia rẽ làm yếu sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta

Trong quân lính, bên cạnh số binh sĩ nhà Minh phái sang, chúng cũng tuyển mộ khá nhiều thổ binh.Theo quy định năm 1416, từ Thanh Hoá trở vào,

cứ 2 suất đinh chúng bắt 1 suất lính; từ Thanh Hoá trở ra, 3 suất đinh bắt 1 suất lính Số thổ binh này được chia về các vệ sở, đóng lẫn lộn với quân Minh

để dễ bề kiểm soát Số lượng thổ quan, thổ binh chiếm một tỉ lệ đáng kể trong

bộ máy đô hộ của nhà Minh Lúc bấy giờ, khắp nước lưu truyền rộng rãi một lời nguyền: “Muốn sống đi ẩn rừng ẩn núi, muốn chết làm quan triều Minh” Văn hoá là một cơ sở tồn tại quan trọng của dân tộc, là biểu hiện tập trung sức sống, bản lĩnh, tâm hồn của dân tộc Trong âm mưu đồng hoá, nhà Minh đặc biệt dùng nhiều thủ đoạn huỷ diệt nền văn hoá dân tộc của ta

Trước lúc xuất quân, Minh Thành Tổ đã trực tiếp ra lệnh cho bọn tướng xâm lăng: “Khi tiến quân vào thành An Nam thì chỉ trừ những bản kinh và sách về Thích, Đạo không huỷ, còn tất cả các bản in sách, các giấy tờ cho đến

Trang 19

mảnh giấy, một chữ đều phải thiêu huỷ hết Trong nước ấy, chỉ có những bia

do Trung Quốc dựng nên ngày trước thì để lại, còn những bia do An Nam lập

ra thì phải phá cho hết, một chữ cũng không được để lại” Trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta từ cuối năm 1406 đến giữa 1407, vua Minh nhiều lần nhắc Trương Phụ phải thi hành đầy đủ mệnh lệnh trên Tháng 8 năm 1418 triều nhà Minh lại cử người sang nước ta vơ vét những sách vở còn sót lại đem về Trung Quốc

Nhà Minh còn coi những phong tục tập quán lâu đời của nhân dân ta là

“man tục”, là “di tục” và bắt phải thay đổi theo những quy định cưỡng bức của chính quyền đô hộ Chúng bắt dân ta không được nhuộm răng đen, bắt đàn ông không được cắt tóc, phụ nữ không được mặc váy mà phải mặc quần dài, áo ngắn theo kiểu người Hoa Chúng còn quy định cách ăn mặc của các đẳng cấp trong xã hội, truyền bá các lễ giáo của phong kiến Trung Quốc

Nền đô hộ của nhà Minh không những kìm hãm sự phát triển tự nhiên của

xã hội mà còn đe dọa nghiêm trọng vận mạng của cả dân tộc, và mọi phẩm chất của con người Việt Nam Đất nước đứng trước một thử thách hiểm nghèo Nhưng nhân dân ta đã quyết tâm vượt qua thử thách đó bằng tất cả ý chí và nghị lực của một dân tộc đang phát triển mạnh mẽ

1.2.2 Truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta

Dân tộc Việt Nam đã trải qua chặng đường dài hàng nghìn năm dựng nước

và giữ nước đầy gian khổ hy sinh nhưng rất vẻ vang Một dân tộc mà hàng bao thế hệ kế tiếp nhau phải chống ngoại xâm, trong những điều kiện rất ác liệt, trong so sánh lực lượng hết sức chênh lệch, tiến hành chiến tranh vệ quốc với hoàn cảnh một nước kinh tế còn lạc hậu, chống lại sự xâm lược của những

kẻ thù giàu mạnh, đông quân hơn, trang bị hiện đại hơn, người Việt Nam đã tìm ra cách đánh riêng, có hiệu quả Qua mỗi cuộc chiến tranh, thời nào dân tộc ta cũng có những anh hùng hào kiệt, những tướng lĩnh thao lược, những nhà quân sự - chính trị kiệt xuất Trước kẻ thù xảo quyệt và hung bạo, dân tộc Việt Nam đã vùng lên, dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng bằng sức mạnh của truyền thống dân tộc anh hùng, lòng dũng cảm và trí tuệ của con người Việt Nam giàu lòng nhân nghĩa nhưng rất kiên cường

Trang 20

Cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên mà sử sách ghi lại là Cuộc kháng chiến chống quân Tần Năm 214 trước Công nguyên, nhân dân Âu Việt và Lạc Việt trên địa bàn Văn Lang, do vua Hùng và Thục Phán lãnh đạo Sang xâm lược nước ta thời bấy giờ là quân Tần với 50 vạn quân, do tướng Đồ Thư chỉ huy.Sau khỏang 5 đến 6 năm ( 214 – 208 TCN) kiên trì và anh dũng chiến đấu, quân Tần thua và tướng Đồ Thư bị giết

Sau cuộc kháng chiến chống quân Tần, cuộc kháng chiến của nhân dân Âu Lạc, do An Dương Vương lãnh đạo từ năm 184 đến 179 trước Công nguyên thất bại Do An Dương Vương chủ quan, mất cảnh giác, mắc mưu giặc Từ đây nước ta rơi vào thảm họa hơn 1000 năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ (thời kì Bắc thuộc)

Nước ta liên tục bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ: Nhà Triệu, nhà Hán, nhà Lương… đến nhà Tùy, nhà Đường Đây là thời kì thử thách, nguy hiểm đến sự mất, còn của dân tộc ta Cũng chính trong thời kì này nhân dân ta thể hiện đầy đủ tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ chống giặc ngọai xâm, giành lại bằng được độc lập dân tộc

- Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, mùa xuân năm 40, lật đổ nền thống trị của nhà Đông Hán Chính quyền độc lập Trưng Vương được thành lập, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững trong 3 năm

- Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, năm 248 chống nhà Ngô

- Phong trào yêu nước của người Việt do Lý Bôn (Lý Bí) lãnh đạo, mùa xuân

542, lật đổ chính quyền đô hộ nhà Lương Đầu năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế ( Lý Nam Đế), đặt quốc hiệu là Vạn Xuân

+ Khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (năm 687)

+ Khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế, năm 772)

+ Khởi nghĩa của Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương, năm (776 - 791)

+ Khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ chống nhà Đường (năm 905)

+ Năm 938, cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán xâm lược dưới sự lãnh đạo tài tình của Ngô Quyền dành thắng lợi vẻ vang Chấm dứt cảnh đất nước

bị chia cắt hơn 1000 năm đô hộ, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân

Trang 21

+ Năm 981 do Lê Hoàn lãnh đạo cuộc khàng chiến chống Tống lần thứ nhất

và giành được thắng lợi

+ Kháng chiến của nhà Hồ chống quân Minh xâm lược (1046-1047) bị thất bại

- Cuộc chiến tranh chống quân Tống xâm lược lần thứ hai (1075-1077): tháng

8 năm 1076 quân Tống xâm lược nước ta Lý Thường Kiệt đã lãnh đạo nhân dân lập phòng tuyến sông Như Nguyệt để chặn địch, quân địch bị thất bại nặng nề buộc phải rút quân về nước

- Chiến tranh chống quân Mông Cổ lần thứ nhất (1258): Đầu năm 1258, ba vạn quân Mông Cổ xâm lược nước ta Đến ngày 29/01/1258, quân Mông Cổ

bị thất bại nặng nề tháo chạy về nước, cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành thắng lợi

- Chiến tranh chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai (1285): Tháng 01/1285,

60 vạn quân Nguyên xâm lược nước ta Đến 6/1285, quân và dân Đại Việt đã quét sạch 60 vạn quân Nguyên ra khỏi bờ cõi, giành thắng lợi hoàn toàn

- Chiến tranh chống quân Mông - Nguyên lần thứ ba (1287-1288): tháng 12/1287, 50 vạn quân Nguyên xâm lược nước ta Đến 4/1288, quân dân Đại Việt đã quét sạch quân địch ra khỏi bờ cõi nước ta

Trang 22

Tiểu kết chương 1

Trong suốt chặng đường lịch sử lâu dài của dân tộc ta, các thể hệ nối tiếp nhau đã bền bỉ lao động, kiên cường đấu tranh, sáng tạo nên một nền văn hiến, rạng rỡ, lập nên nhiều chiến công hiển hách, lưu danh muôn đời

Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược thời xưa, nghệ thuật quân sự

mà ông cha ta đã vận dụng hết sức đa dạng Đặc biệt nghệ thuật chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc được ông cha ta vận dụng từ nhiều đời

để chiến thắng quân xâm lược Tiêu biểu là nghệ thuật chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418-1427)

Cơ sở hình thành nghệ thuật chiến tranh nhân dân thực hiện toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418-1427) được hình thành bởi rất nhiều yếu tố là bối cảnh lịch sử, những kinh nghiệm sử dụng nghệ thuật quân sự của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước, truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta giữ vai trò quyết định trong việc

tiêu diệt đối phương

Trang 23

Chương 2 NGHỆ THUẬT “CHIẾN TRANH NHÂN DÂN THỰC HIỆN TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC” TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH

(1418-1427) 2.1 Diễn biến và kết quả cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của dân tộc ta (1418-1427)

vì sự nghiệp đánh giặc cứu nước Sử gọi đó là Hội thề Lũng Nhai Hội thề đặt

cơ sở đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

Anh hùng, hào kiệt cùng nhiều người dân yêu nước ở Thanh Hóa và khắp bốn phương nghe tin Lê Lợi tổ chức khởi nghĩa, đã lần lượt tìm về Lam Sơn

tụ nghĩa Có những người gần như Lê Lai, Nguyễn Thận, Đinh Lễ ở vùng Lam Sơn, có nhiều người xa như Lưu Nhân Chú, Phạm Cuống ở Thái Nguyên, Nguyễn Xí ở Nghệ An, Trần Nguyên Hãn từ Vĩnh Phú, Nguyễn Trãi

và Phạm Văn Xảo ở kinh thành Thăng Long và biết bao anh hùng khác đã đến

tụ họp, dưới lá cờ đại nghĩa của Lê Lợi Trong số đó, Nguyễn Trãi đã đem đến cho Lê Lợi Bình ngô đại cáo, chỉ rõ con đường đưa cuộc chiến tranh đến thắng lợi và ông sớm trở thành lãnh tụ thứ hai của nghĩa quân

Ngày 7 tháng 2 năm 1418 (ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất) Lê Lợi cùng toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn Lê Lợi tự xưng là Bình Vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân nhất tề vùng lên đánh giặc cứu nước Lúc mới khởi sự, nghĩa quân không quá 2.000 người Buổi đầu “cơm ăn thì sớm tối không đầy hai bữa, áo mặc thì đông hè chỉ có một manh, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật là tay không” (Quân trung từ mệnh tập) Nghĩa quân bước vào cuộc chiến đấu trong tương lai quan lực lượng vô cùng chênh lệch, nhưng ai ai cũng một lòng tin tưởng vào thắng lợi

Trang 24

Núi rừng Lam Sơn trở thành căn cứ địa đầu tiên để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng Trong giai đoạn đầu (1418-1423), cuộc chiến tranh diễn ra chủ yếu dưới hình thức chiến tranh du kích nhằm chống lại các cuộc vây quét của địch Ỷ vào ưu thế binh lực, quân Minh thường huy động lực lượng lớn

để bao vây, càn quyét hòng tiêu diệt cuộc khởi nghĩa; nghĩa quân dựa vào địa thế núi rừng hiểm yếu và quen thuộc tiến hành tập kích, phục kích bẻ gãy nhiều đợt vây quét của quân thù

Thời kỳ đầu, nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn: “Khi Lương Sơn lương cạn mấy tuần, lúc Khôi Huyện quân không đầy một lữ ” (Bình Ngô đại cáo);

có những lúc nghĩa quân bị tổn thất nặng nhề, chỉ còn hơn 100 người Nhưng với nghị lực phi thường lại được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ, nên nghĩa quân

đã vượt qua được khó khăn, khôi phục và phát triển được phong trào Càng chiến đấu nghĩa quân càng thêm dày dặn, trưởng thành Với tư tưởng chủ động tiến công, bằng những hoạt động du kích, nghĩa quân đã đánh lui các cuộc hành quân của địch và gây cho chúng nhiều tổn thất Căn cứ nghĩa quân không ngừng mở rộng, từ lưu vực sông Chu lên vùng lưu vực sông Mã

Quân minh không thể đàn áp được nghĩa quân, chúng đành chịu chấp nhận đình chiến (từ 5-1423 đến 10-1424) Nghĩa quân tranh thủ thời gian hòa hoãn để tăng cường lực lượng về mọi mặt, như Nguyễn Trãi nói: “bên ngoài giả thác hòa thân” để “bên trong lo rèn chiến cụ”, “quyên tiền mộ lính, giết voi khao quân”

Sau một thời gian mua chuộc dụ dỗ không thành, quân Minh chuẩn bị đàn

áp Trước tình hình đó, Nguyễn Chích đề ra một kế hoạch sáng suốt và đã được Lê Lợi, Nguyễn Trãi chấp nhận là tạm thời rời bỏ núi rừng Thanh Hóa, tiến vào Nghệ An “nơi hiểm yếu, đất rộng, người đông” để xây dựng đất đứng chân, làm bàn đạp đẩy mạnh cuộc tiến công chống xâm lược

2.1.1.2 Giai đoạn chuyển hướng chiến lược xây dựng căn cứ địa từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa (1424-1425)

Theo kế hoạch chiến lược của Nguyễn Chích, nghĩa quân mở cuộc hành quân tiến vào giải phóng Nghệ An Sau khi hạ thành Trà Lân (Con Cuông) và

Trang 25

thành Nghệ An (Hưng Nguyên) Nhân dân Nghệ An khắp nơi vùng lên mạnh

mẽ cùng nghĩa quân giải phóng các châu, huyện và hăng hái gia nhập nghĩa quân; riêng Trà Tân đã hơn 5.000 người được tuyển, trở thành nghĩa binh Chỉ sau nửa năm, toàn phủ Nghệ an đã được giải phóng Quân Minh bị vây hãm trong thành

Tháng 6 năm 1425, nghĩa quân giải phóng phủ Diễn Châu, rồi thừa thắng tiến ra Thanh Hóa Nhân dân nhất tề hưởng ứng Chưa đầy một tháng, toàn vùng Thanh Hóa đã về tay nghĩa quân Quân địch phải rút về cố thủ ở Tây Đô (Vĩnh Lộc)

Tháng 8 năm 1425, Lê Lợi chủ trương “lánh chỗ thực, đánh chỗ hư”, cho một bộ phận nghĩa quân tiến vào giải phóng Tân Bình (Quảng Bình) vào Thuận Hóa (Quảng Trị, Thừa Thiên) Sau một số trận, quân Minh nhanh chóng tan rã Nghĩa quân làm chủ thêm một số vùng rộng lớn Hai vạn thanh niên ở đây nô nức xin gia nhập nghĩa quân

Chỉ trong vòng hơn một năm, từ căn cứ chật hẹp ở núi rừng Thanh Hóa, nghĩa quân Lam Sơn đã có một căn cứ địa vững chắc, một hậu phương rộng lớn từ Thanh Hóa vào Thuận Hóa Nghĩa quân đã liên tiếp giành được thắng lợi to lớn và phát triển vượt bậc về mọi mặt Đội du kích Lam Sơn đã trưởng thành trong chiến đấu và trở thành lực lượng vũ trang hùng hậu gồm hàng vạn quân, có đủ cả bộ binh, thủy binh, kỵ binh và tượng binh Đó là bước trưởng thành nhảy vọt của nghĩa quân, kể từ khi Nguyễn Chích đề ra đường lối chuyển hướng chiến lược

2.1.1.3 Giai đoạn phát triển tiến công ra phía Bắc, mở rộng hoạt động trong cả nước, thực hành tiến công, phản công tiêu diệt địch trên phạm vi toàn quốc

Do thất bại liên tiếp, quân Minh khiếp sợ cho người về nước cầu cứu viện binh Nhà Minh đã ra lệnh điều động 5 vạn quân và cử Vương Thông chỉ huy, sang tăng viện

Nhận thấy quân địch đã suy yếu, tinh thần sút kém và viện binh chưa sang, Lê Lợi và Bộ tham mưu quyết định mở cuộc tiến công ra Bắc, nhằm

Ngày đăng: 23/12/2019, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cục Nhà trường BTTM (1997), Giáo trình Lịch sử quân sự tập 2, NXB QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử quân sự tập 2
Tác giả: Cục Nhà trường BTTM
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 1997
2. Cục Nhà trường BTTM (1999), Giáo trình lịch sử quân sự, NXB QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử quân sự
Tác giả: Cục Nhà trường BTTM
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 1999
3. Hoàng Minh Thảo, Bàn về nghệ thuật quân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nghệ thuật quân sự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
5. Lịch sử Việt Nam (2014), Lê Lợi và kháng chiến chống quân Minh, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Lợi và kháng chiến chống quân Minh
Tác giả: Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2014
6. Nguyễn Lương Bích (2003), Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước
Tác giả: Nguyễn Lương Bích
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2003
7. Phan Huy Lê – Bùi Đăng Dũng – Phan Đại Doãn – Phạm Thị Tâm – Trần Bá Chí (1976), Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc
Tác giả: Phan Huy Lê – Bùi Đăng Dũng – Phan Đại Doãn – Phạm Thị Tâm – Trần Bá Chí
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 1976
8. Phan Huy Lê – Phan Đại Doãn (10-2015), Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), NXB QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)
Nhà XB: NXB QĐND
9. Quách Xuân Đà (2013), Những vấn đề cơ bản về nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định mở đầu chiến dịch tiến công trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, NXB QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định mở đầu chiến dịch tiến công trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc
Tác giả: Quách Xuân Đà
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 2013
10. Văn Tiến Dũng (2001), Nghệ thuật quân sự Việt Nam Lý luận và thực tiễn, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự Việt Nam Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Văn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2001
4. Hồ Đệ (2000), Góp phần tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật Quân sự Việt Nam trong lịch sử giữ nước, Nxb QĐND, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w