1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong truyện ngắn của nguyễn thị thu huệ

59 108 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 885,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt tiêu biểu cho hệ thống ngữ nghĩa của từ ngữ trong mỗi tác phẩm văn học được tập trung ở các “trường nghĩa”, căn cứ vào việc các hệ thống từ ngữ có ý nghĩa giống nhau hoặc gần gi

Trang 1

CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS ĐỖ THỊ HIÊN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện khóa luận tốt nghiệp này, trong quá trình tiến hành triển khai tôi đã nhận được rất nhiều những đóng góp và quan tâm từ mọi người, vì

vậy tôi gửi lời cảm ơn đến:

Đầu tiên, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến TS Đỗ Thị Hiên, là

giáo viên trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận: Cô đã chỉ bảo, hướng

dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành triển khai khóa luận

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy cô trong tổ chuyên ngành: Ngôn ngữ học khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

đã hết sức giúp đỡ tôi khi tôi thực hiện triển khai đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người thân, bạn bè đã bên cạnh chia sẻ và động viên tôi khi tôi gặp khó khăn trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Là bước đầu làm quen với việc tìm hiểu, nghiên cứu khoa học đồng thời do sự có hạn về mặt thời gian vì vậy khóa luận vẫn còn nhiều thiếu sót cũng như những hạn chế Rất mong thầy cô và các bạn có những góp ý, bổ sung để tôi có thể hoàn thành khóa luận một cách hoàn thiện nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2019

Nguyễn Thị Hiền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

1 Khóa luận với đề tài: “Trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ người

phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ” là kết quả của việc

tìm tòi, nghiên cứu của bản thân tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS Đỗ

Thị Hiên và sự tiếp thu những thành tựu của thế hệ đi trước

2 Đề tài cũng như nội dung của khóa luận không hề có sự sao chép bởi một công trình nghiên cứu nào có sẵn từ trước đó

Nếu lời cam đoan không đúng với sự thật tôi sẽ chịu mọi trách nhiệm

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2019

Nguyễn Thị Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của khóa luận 6

8 Bố cục của khóa luận 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Trường nghĩa 8

1.1.1 Khái niệm trường nghĩa 8

1.1.2 Phân loại 9

1.1.2.1 Trường nghĩa dọc 9

1.1.2.2 Trường nghĩa tuyến tính (Trường nghĩa ngang) 12

1.1.2.3 Trường nghĩa liên tưởng 13

1.1.3 Trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương 14

1.1.3.1 Trường nghĩa biểu vật và ngôn ngữ văn chương 15

1.1.3.2 Trường nghĩa biểu niệm và ngôn ngữ văn chương 17

1.1.3.3 Trường nghĩa liên tưởng và ngôn ngữ văn chương 18

1.2 Vài nét về nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ 19

1.2.1 Cuộc đời 19

1.2.2 Sự nghiệp 21

Tiểu kết chương 1 23

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA CHỈ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ 25

2.1 Kết quả thống kê 25

Trang 6

2.2 Trường từ vựng chỉ hình dáng bên ngoài của người phụ nữ 27

2.2.1 Trường từ vựng chỉ đặc điểm đôi mắt 27

2.2.2 Trường từ vựng chỉ đặc điểm khuôn mặt 29

2.2.3 Trường từ vựng chỉ trang phục của người phụ nữ 30

2.2.4 Trường từ vựng chỉ đặc điểm hình dáng cơ thể 30

2.2.5 Trường từ vựng chỉ đặc điểm một số bộ phận khác như môi, tóc, da, răng, mày, mi, tai 31

2.3 Trường từ vựng chỉ tâm trạng của người phụ nữ 32

2.4 Trường từ vựng chỉ hoạt động của người phụ nữ trong đời thường 33

2.5 Trường từ vựng chỉ tính cách của người phụ nữ 34

Tiểu kết chương 2 35

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA CHỈ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ 36

3.1 Khắc họa vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ 36

3.2 Khắc hoạ vẻ đẹp tầm hồn, tính cách của người phụ nữ 40

3.3 Thể hiện phong cách của tác giả 45

3.3.1 Đề tài và chủ đề 45

3.3.2 Cách xây dựng hình tượng nhân vật 46

3.3.3 Phong cách sử dụng ngôn ngữ 48

Tiểu kết chương 3 50

KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó cùng

với các sự kiện hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học” (M Gorki) Câu

nói nhằm nhấn mạnh vai trò cũng như khẳng định tầm quan trọng của ngôn ngữ trong Văn học nghệ thuật Ngôn ngữ vừa có thể giúp cho độc giả hiểu được tất cả những nội dung thông tin mà người tạo lập muốn truyền đạt, lại vừa có thể gợi cho độc giả khả năng về sự liên tưởng bởi nó mang tính hình tượng và hàm súc cao

Trong mỗi một tác phẩm văn học thì yếu tố ngôn ngữ luôn được các tác giả sử dụng theo một hệ thống Đặc biệt tiêu biểu cho hệ thống ngữ nghĩa của

từ ngữ trong mỗi tác phẩm văn học được tập trung ở các “trường nghĩa”, căn cứ vào việc các hệ thống từ ngữ có ý nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau sẽ tạo nên các trường nghĩa cũng dựa vào điều này đã tạo nên sự kết nối ngôn ngữ trong các tác phẩm và tạo nét riêng, nét độc đáo của mỗi một cá nhân tác giả văn học

Là một trong số ít những lí thuyết có vị trí và vai trò quan trọng hàng đầu của chuyên ngành ngôn ngữ học, vì vậy trường nghĩa từ trước đến nay luôn là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Việc tìm hiểu

về lĩnh vực trường nghĩa không chỉ làm rõ sự phong phú và đa dạng của hệ thống ngôn ngữ, cho thấy mối quan hệ ngữ nghĩa của hệ thống từ vựng mà còn giúp ta sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả hơn Ngoài ra, việc vận dụng các trường nghĩa theo một hệ thống sẽ góp phần giúp độc giả

dễ dàng cảm thụ được tất cả những tinh hoa của tác phẩm cũng như nội dung

tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm

1.2 Là nhà văn nữ sinh năm 1966, có thể nói độ tuổi cũng như sự bươn trải

trong nghề vẫn thuộc vào hàng “trẻ” của tao đàn văn học dân tộc tuy nhiên, Nguyễn Thị Thu Huệ lại đạt được rất nhiều thành công trên con đường văn chương cũng như khẳng định được tên tuổi của bản thân trong giới văn nghệ

sĩ Qua từng câu văn của bà bạn đọc có thể thấy một lối văn vô cùng sắc sảo, nhạy bén đặc biệt là mang tính thời sự, phản ánh hiện thực cuộc sống một

Trang 8

cách chân thật nhất Với những dự cảm sâu sắc về hạnh phúc, tác giả đã đưa tới cho mọi người niềm tin yêu vào cuộc sống, cho dù quá khứ hay hiện tại có

tù mù, khó khăn thì con người vẫn nhìn về phía trước đón chờ một ngày mai tươi sáng

Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ đã soi chiếu nhân vật của mình dưới nhiều góc độ khác nhau, giúp ích cho việc làm nổi bật những “cái mới” trong quan niệm nghệ thuật về con người vì vậy mà thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn vô cùng sinh động Trong đó nổi bật và được quan tâm hơn cả là hình tượng của nhân vật nữ Tuy nhiên, không giống với những nhà văn ở giai đoạn trước, xây dựng hình ảnh người phụ nữ mang tính chủ quan hay mang tính điển hình cho một lớp người với những nét tính cách tiêu biểu nhất thì Nguyễn Thị Thu Huệ lại soi chiếu người phụ nữ ở mọi khía cạnh cuộc sống, phản ánh một cách chính xác, chân thật ngay cả ở những chuyện nhỏ bé, hay riêng tư nhất Điều đó tạo nên sự độc đáo riêng cho những sáng tác của bà

Đối với văn học, ngôn ngữ có vai trò quan trọng bậc nhất và nó cũng chính là điểm nhấn giúp tạo nên “thương hiệu” cho mỗi nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ cũng lựa chọn cho bản thân phong cách ngôn ngữ riêng, vận dụng sự riêng biệt về phong cách ngôn ngữ ấy tác giả đã đưa ngòi bút của mình vào xây dựng hình tượng nhân vật nữ một cách độc đáo và mới lạ

Vì vậy chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ

người phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ” Đây là một

đề tài mới mẻ, chưa có công trình nghiên cứu và điều quan trọng là qua việc nghiên cứu đề tài giúp chúng ta thấy được tài năng của Nguyễn Thị Thu Huệ trong việc tạo dựng nên hình tượng nhân vật đặc biệt là người phụ nữ đồng thời làm rõ tính thiết thực của nó trong việc học tập và giảng dạy các tác

phẩm văn học nói chung và tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thực tế đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học tiến hành tìm hiểu về

trường nghĩa và các ứng dụng của nó “Khởi đầu phát triển của lý thuyết

Trang 9

Mỹ và các nhà ngôn ngữ học Đức vào những năm đầu của thế kỉ XX Những học giả này đã chịu ảnh hưởng của học thuyết dạng lời nói bên trong của ngôn ngữ mà tác giả của nó là Humboldt Tuy nhiên, không chỉ có mỗi học thuyết của học giả Humboldt là cơ sở duy nhất dẫn đến sự hình thành lý thuyết trường nghĩa, mà sự ra đời của xu hướng ngôn ngữ học này còn dựa trên cơ sở tiền đề của chủ nghĩa cấu trúc Saussure Ông cho rằng giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định Chính tư tưởng

ấy đã góp phần thúc đẩy và tác động một cách mạnh mẽ, quyết định đến sự hình thành lí thuyết về các trường Từ cơ sở của học thuyết ấy, nhiều nhà nghiên cứu đã có những ý kiến cũng như quan điểm khác nhau về lí thuyết trường nghĩa Tiêu biểu là lý thuyết trường nghĩa của Trier - một học giả người Đức Ông đã khai sinh ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử về sự hình thành, tồn tại và phát triển ngữ nghĩa học nhưng lúc này ông lại không sử

dụng thuật ngữ trường nghĩa mà ông dùng trường ngôn ngữ Phải đến G

Ipsen, người đầu tiên trong lịch sử của ngành ngôn ngữ học mới sử dụng thuật ngữ trường nghĩa” [1-tr.2] Ông cho rằng: “Trường nghĩa bao hàm những từ có những mối quan hệ với nhau về hình thái và về nghĩa” [1-tr.2]

Từ đó lí thuyết về trường nghĩa được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực ngôn ngữ học

Tiếp thu những thành tựu về trường nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, ở Việt Nam có một số người đã đi sâu tìm hiểu các công trình nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Hoàng Phi, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thiện Giáp,… Tuy nhiên khách quan để nhận xét thì các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu một vài hệ thống ở giai đoạn đầu chứ chưa đi rộng ra để nghiên cứu Người đạt được thành tựu lớn nhất trong lĩnh vực này là Đỗ Hữu Châu, ông là người đã chỉ ra được một cách đầy đủ, chi tiết nhất về lý thuyết trường nghĩa

Ông khẳng định “giữa các từ có khá nhiều sự liên hệ, nói cách khác là sự

đồng nhất không chỉ về hình thức mà còn về cả ý nghĩa” [1-tr.2] Dựa trên cơ

sở những điểm chung của từ ngữ, chúng tôi tiến hành phân tách tất cả hệ thống từ vựng của tiếng Việt để biến thành những hệ thống nhỏ lẻ hơn đồng thời có thể phát hiện ra được mối liên hệ giữa các từ trong từ vựng

Nguyễn Thúy Khanh đã có công trình “Đặc điểm trường từ vựng - ngữ

nghĩa tên gọi động vật trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga” [5]

Trang 10

“Tác giả đã chỉ ra các đặc điểm định danh tên gọi động vật gồm: dựa vào

nguồn gốc tên gọi, tiếng Việt chủ yếu sử dụng các tên gọi thuần Việt, số lượng tên gọi vay mượn không đáng kể mà chủ yếu mượn từ tiếng Hán Dựa vào kiểu ngữ nghĩa của tên gọi, tác giả phân biệt tên gọi có tác dụng phân biệt các loại (loài) với nhau hay các loại nhỏ trong các loại lớn Từ đặc trưng định danh tên gọi động vật tiếng Việt và tiếng Nga, tác giả đưa ra bảng thống kê so sánh vai trò, giá trị của từng đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh động vật trong hai ngôn ngữ, Kết quả có 21 nét nghĩa khu biệt trong lời giải nghĩa tên gọi động vật tiếng Việt và tiếng Nga và cấu trúc lời giải thích mỗi tên gọi gồm có

phần chỉ ra loại và phần chỉ ra những khác biệt về giống Từ đó tác giả phân

tích quá trình chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Nga Cuối cùng nêu ra ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ động vật và của các thành ngữ so sánh có tên gọi động vật” [8-tr.34]

“Bùi Minh Toán cũng vận dụng lí thuyết về trường nghĩa để xem xét vận động chuyển hóa về nghĩa và về trường nghĩa của từ tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp của con người Ông đã xác lập hàng loạt các trường từ vựng

trong Truyện Kiều như: trường lửa, trường nước, hay trường cỏ cây, tác giả

không dừng lại ở việc chỉ ra được sự chuyển nghĩa, chuyển trường của chúng

mà còn xác định giá trị thẩm mĩ mà chúng biểu đạt trong quá trình chuyển nghĩa Ngoài ra, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về trường nghĩa nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu của họ đều theo hướng nghiên cứu mà

Đỗ Hữu Châu đã đưa ra” [1-tr.3]

Vận dụng các thành tựu của các nghiên cứu về trường nghĩa, một số khóa luận đi sâu vào tìm hiểu trường nghĩa trong các tác phẩm văn học Tiêu biểu là những khóa luận sau:

Khóa luận “Khảo sát trường nghĩa chiến tranh trong tiểu thuyết Nỗi

buồn chiến tranh của Bảo Ninh” do sinh viên Lê Thị Là thực hiện năm 2011

Ở đề tài này, tác giả đã tập trung nghiên cứu hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng trường từ ngữ khi miêu tả thiên nhiên thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật

Từ đó thấy được tính chất bạo tàn, ác liệt của những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa của những cuộc kháng chiến

Tiếp theo đề tài “Khảo sát trường nghĩa nông thôn trong tiểu thuyết

Trang 11

thực hiện năm 2015 “Trong đề tài này, tác giả đã khảo sát một số trường

nghĩa liên quan đến tín ngưỡng, tâm linh; trường nghĩa thuộc cơ quan hành chính nhà nước; trường nghĩa miêu tả tâm lí con người thuộc vùng nông thôn

Từ đó, tác giả khai thác hiệu quả mức độ sử dụng của các trường từ ngữ trong việc tìm hiểu thực trạng đời sống tâm linh sinh động, phong phú và đa dạng ở nông thôn Qua đó, chúng ta có thể thấy được cái nhìn mới mẻ về nông thôn Việt Nam những năm sau năm 1986” [1-tr.4]

Bên cạnh đó còn có công trình: “Khảo sát trường từ vựng ngữ nghĩa

chỉ người phụ nữ trong sáng tác của Nam Cao” - Vũ Thùy Linh (K36);

“Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong truyện Tô Hoài viết cho thiếu nhi” -

Nguyễn Thị Bạch Dương, Luận văn Ths, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2010 hay

“Trường nghĩa trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8” - Nguyễn Thị

Phương (K33),…

Nghiên cứu về trường nghĩa trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu

Huệ, có đề tài “Ngôn ngữ nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu

Huệ” của tác giả Tạ Thị Tình Tác giả đã cung cấp một số vấn đề lí thuyết về

ngôn ngữ của nhân vật nữ trong các sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu và thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Kế thừa, học hỏi những thành tựu và những phát hiện sáng tạo của các công trình nghiên cứu về trường nghĩa, chúng tôi đi sâu tìm hiểu:

“Trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong truyện ngắn của

Nguyễn Thị Thu Huệ” Chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn đóng

góp thêm minh chứng về việc tiếp cận một tác phẩm văn học dưới góc nhìn ngôn ngữ đặc biệt là trường nghĩa, từ đó thấy được điểm độc đáo trong việc

sử dụng ngôn ngữ cũng như những tâm tư tình cảm được gửi gắm của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi triển khai khóa luận này nhằm:

- Hệ thống hóa, làm rõ các trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

Trang 12

- Thấy được tài năng của Nguyễn Thị Thu Huệ trong việc vận dụng các

hệ thống ngôn ngữ để khắc họa chân dung các nhân vật

- Trau dồi thêm những kiến thức về ngôn ngữ cho bản thân để từ đó có

thể đi sâu tìm hiểu được các tác phẩm văn học từ góc độ ngôn ngữ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ những mục đích chỉ ra ở trên chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu, tổng hợp những vấn đề lí thuyết về trường nghĩa để từ đó

xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài

- Khảo sát, thống kê, phân loại trường từ vựng chỉ người phụ nữ trong

truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

- Phân tích, đánh giá tác dụng của việc sử dụng các trường nghĩa trong

sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ

trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

- Phạm vi nghiên cứu: Được giới hạn ở những tác phẩm truyện ngắn của

Nguyễn Thị Thu Huệ, ngữ liệu khảo sát được tập hợp trong cuốn: “37 truyện

ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” (Nxb Văn học 2010)

6 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành triển khai đề tài chúng tôi vận dụng các phương pháp:

- Thủ pháp thống kê, phân loại

Cùng với việc tiếp thu những thành tựu trước đó, đề tài không chỉ giúp

làm sáng tỏ vấn đề tính hệ hống của từ ngữ mà còn khẳng định vai trò của

Trang 13

trường nghĩa trong các tác phẩm văn chương Từ đó góp phần hoàn thiện nền

tảng lí thuyết về trường nghĩa

- Về mặt thực tiễn:

+ Kết quả của việc nghiên cứu mà chúng tôi thống kê được sẽ giúp ích

cho việc học tập, giảng dạy liên quan đến từ ngữ trong các tác phẩm văn học

nói chung và trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ nói riêng

+ Kết quả nghiên cứu của khóa luận còn góp phần mở ra hướng nghiên

cứu tích hợp giữa ngôn ngữ với văn học

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa

luận được triển khai thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong

truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

Chương 3: Giá trị nghệ thuật của trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người

phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Trường nghĩa

1.1.1 Khái niệm trường nghĩa

Trong cuộc sống chúng ta rất hay gặp những thuật ngữ “trường nghĩa” hay “trường từ vựng - ngữ nghĩa” nhưng khi đi sâu vào hỏi “trường nghĩa” là

gì thì không phải ai cũng có thể trả lời được

“Lí thuyết về trường nghĩa được ra đời vào khoảng vài chục năm gần

đây Tư tưởng cơ bản của lí thuyết chính là khảo sát từ vựng một cách có hệ thống Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về trường nghĩa Song, có thể quy vào hai cách hiểu tương đương với hai khuynh hướng sau:

Khuynh hướng thứ nhất: Quan niệm trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện Đại diện cho khuynh hướng này là

I Weisgerber và J Trier

Khuynh hướng thứ hai: Cố gắng xây dựng lí thuyết trường nghĩa trên

cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là Ipsen” [1-tr.8]

Nhóm từ vựng - ngữ nghĩa chính là kiểu trường nghĩa tiêu biểu nhất Người có ảnh hưởng lớn và nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này là GS Đỗ Hữu

Châu Theo ông “những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đạt

được các từ nói chung (ý nghĩa của nó) vào những hệ thống con thích hợp”

Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được coi là một trường

nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [3-tr.170]

Theo TS Nguyễn Văn Thạo: “Mỗi hệ thống ngữ nghĩa do một tập hợp

các từ biểu hiện được gọi là một trường nghĩa, trong đó các từ có liên quan đến nhau về ngữ nghĩa hay có cùng một phạm trù ngữ nghĩa Đối với quan hệ ngữ nghĩa trong trường nghĩa thì chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường” [8-tr.49]

Trang 15

Như vậy, từ thực tế trên ta rút ra được nhận xét rằng vẫn chưa tìm thấy một khái niệm trọn vẹn, hoàn chỉnh về trường nghĩa Tuy nhiên để có thể dễ hiểu và dễ dàng vận dụng vào triển khai đề tài chúng tôi lựa chọn khái niệm

sau: “Trường nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định của một ngôn ngữ

dựa vào sự đồng nhất nào đấy về ngữ nghĩa”

Ví dụ:

- Đi, đứng, ngồi, bò, nằm, chạy, nhảy, ngủ,… là các từ chỉ hoạt

động của con người, gọi là trường nghĩa

- Hồng, tím, vàng, đỏ, lục, lam, xanh, đen, nâu,… là các từ chỉ màu sắc, chúng được coi là trường nghĩa

- Tay, chân, mắt, đầu, cổ, tai, mũi,… là các từ chỉ bộ phận cơ thể

con người, chúng được coi là trường nghĩa

- Lông mi, đồng tử, con ngươi, thuỷ tinh thể, kết mạc, bọng mắt, lông

mày,… là những từ chỉ các bộ phận của mắt, đây cũng được coi là trường nghĩa

1.1.2 Phân loại

Mỗi một nhà nghiên cứu khi nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ nói chung

và từ vựng nói riêng thì đều có các quan điểm riêng về trường nghĩa vì vậy dẫn đến một hệ quả là có nhiều cách phân loại trường nghĩa khác nhau trên

những tiêu chí nhất định nào đó “Nhà ngôn ngữ học F de Saussure đã chỉ ra

hai dạng: quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ tộc tuyến, quan hệ ngữ hình) Tương ứng với hai loại quan hệ nói trên có hai loại trường nghĩa đó là trường nghĩa dọc (gồm trường nghĩa biểu niệm và trường nghĩa biểu vật); trường nghĩa ngang (hay còn gọi là trường nghĩa tuyến tính) Trong đó trường nghĩa liên tưởng vừa mang tính chất là trường nghĩa dọc, lại vừa mang tính chất là trường nghĩa ngang bởi cơ chế liên hội mà có” [1-tr.8]

1.1.2.1 Trường nghĩa dọc

a Trường nghĩa biểu vật

Theo GS Đỗ Hữu Châu: “Một trường biểu vật là một tập hợp những từ

đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa ra

Trang 16

các nghĩa biểu vật của các từ về trường nghĩa biểu vật thích hợp, chúng ta chọn các danh từ làm gốc Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật như người, động vật, thực vật, vật thể,… Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của

từ Như vậy, chúng ta sẽ đưa một từ vào một trường nghĩa biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi của danh từ trên” [3-tr.171]

Hay TS Nguyễn Văn Thạo đã chỉ ra: “Trường biểu vật là tập hợp

những từ có liên quan đến nhau về nghĩa biểu vật hoặc có sự đồng nhất với nhau về một phạm trù nghĩa (biểu vật)” [8-tr.52]

Ví dụ 1: Xét từ “tay” chúng ta có các trường nghĩa biểu vật sau:

1 Bộ phận của tay: ngón tay, móng tay, đốt ngón tay, cổ tay, mu bàn

tay, lòng bàn tay, ngón cái, ngón út, ngón giữa,…

2 Đặc điểm hình dáng của tay: dài, ngắn, mũm mĩm, mập mạp, thô,

cứng, mềm mại, gầy, chai sần,…

3 Hoạt động của tay: cầm, nắm, bóp, véo, đấm, xoa, xòe, vuốt, vỗ,…

4 Bệnh về tay: trẹo tay, á sừng, nước ăn tay, mụn cóc, tê tay, nấm tay,

Ví dụ 2: Với từ “mắt” chúng ta có các trường nghĩa biểu vật sau:

1 Ngoại hình của mắt: xanh, đen, nâu, xám, tròn, dài, bồ câu, mắt

lươn, lá dăm, một mí, hai mí,…

2 Cấu tạo của mắt: lông mi, đồng tử, giác mạc, con ngươi, thuỷ tinh

thể, kết mạc, bọng mắt, lông mày,…

3 Hoạt động của mắt: nhắm, mở, nhăn, lườm, liếc, nháy, trợn,…

4 Bệnh về mắt: cận thị, viễn thị, đục thủy tinh thể, viêm màng mắt,

quáng gà, mù lòa,

5 Cảm giác về mắt: đau, ngứa, rát, nhức, cộm, chói,

“Các trường biểu vật khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức các đơn

vị, miền phân bố ở từng ngôn ngữ Khi từ có nhiều nghĩa biểu vật thì có thể nằm trong nhiều trường khác nhau Các trường đó có thể thẩm thấu vào nhau, giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cùng nằm trong trường kia Quan hệ của các từ đối với một trường biểu vật không giống nhau Có những từ gắn rất chặt với trường (những từ, ngữ điển hình), có

Trang 17

những từ, ngữ gắn lỏng lẻo hơn Căn cứ vào tính chất, quan hệ giữa từ với trường, chúng ta hiểu rằng có một lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường, gồm những từ điển hình cho nó Ngoài cái lõi của trường là các lớp từ khác mỗi lúc một đi xa khỏi lõi, liên hệ với trường mờ nhạt hơn” [8-tr.52, 53]

Ví dụ:

- Những từ ngữ đặc trưng cho trường nghĩa chỉ người (chỉ có ở người)

như: tư duy đạo đức, suy nghĩ tính toán, tư duy học nói, tư duy ăn mặc,

- Các từ ngữ thuộc về trường nghĩa chỉ người nhưng đồng thời cũng là các từ ngữ hướng biên (vì chúng còn thuộc về cả những trường nghĩa động

vật khác) như: ăn, ngủ, uống, cầm, nắm,

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp mặc dù là ở các trường nghĩa khác nhau nhưng chúng vẫn sẽ có một số lượng nhỏ từ ngữ nhất định nào đó chung

3 Hoạt động: ăn, uống, ngủ, chạy,

b Trường nghĩa biểu niệm

“Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc

biểu niệm” [3-tr.176]

Ví dụ: Ta có cấu trúc biểu niệm (hoạt động), (di chuyển)

- Di chuyển bằng chân: đi, bước, chạy, bò, nhảy,…

- Di chuyển trong không khí: chao, liệng, lượn, bay,…

- Di chuyển dưới nước: bơi, lặn, lội, ngụp,…

“Cũng như các trường biểu vật, trường biểu niệm lớn có thể phân chia

thành các trường nhỏ và cũng có những miền, những mật độ khác nhau Do

từ có nhiều nghĩa biểu niệm nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm khác nhau Các trường biểu niệm giao thoa, thẩm thấu vào nhau, có lõi trung tâm là các từ điển hình và các lớp ngoại vi là các từ kém điển hình Để xác

Trang 18

lập một trường biểu niệm, chúng ta dựa vào một cấu trúc nghĩa biểu niệm làm gốc đồng nhất nào đó trong nghĩa biểu niệm” [8-tr.53, 54]

“Tuy có nguồn gốc ở các khái niệm nhưng không đồng nhất với khái

niệm, cho nên các trường biểu niệm cũng không đồng nhất với tập hợp các khái niệm, không phải là những sự kiện tư duy thuần túy mà là những sự kiện ngôn ngữ” [3-tr.177]

Ví dụ: Trường nghĩa biểu niệm (đồ dùng), (phục vụ sinh hoạt)

1 Đồ dùng trong học tập: cặp sách, bút bi, thước kẻ, tẩy, hộp bút, kẹp

nháp, sách vở, thẻ học sinh,…

2 Đồ dùng để chứa đựng: hòm, vali, tủ, thúng, thùng, vại, xô, chum,

khau, chai,…

3 Đồ dùng để di chuyển: xe máy, xe đạp, xe ô tô, xe cải tiến, ván trượt,

xích lô, tàu hỏa, thuyền, máy bay,…

4 Đồ dùng để che thân: quần, áo, khố, váy, gang tay, bi tất, mũ, nón,

giày,…

“Sự phân lập thành trường nghĩa biểu vật hay trường nghĩa biểu niệm

dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Ý nghĩa của từ sẽ được hiểu sâu sắc hơn nhờ sự định vị từng từ trong trường nghĩa thích hợp” [8-tr.54]

Ví dụ: Nghĩa của từ “đoàn kết” bị chi phối bởi nghĩa của các từ tập hợp: dân tộc, tổ chức, đoàn, đội, nhóm, là vì “đoàn kết” chỉ được dùng trong

trường hợp chỉ một nhóm, một tốp người từ hai người trở lên còn nếu trường hợp chỉ một người đơn độc, không có tập hợp người thì sẽ không sử dụng

được từ “đoàn kết” Ngoài ra, khi đi vào tìm nghĩa biểu niệm chính xác của từ

này thì ta không thể thiếu một bước quan trọng đó là có sự so sánh nó với

những từ phân chia và gần hơn các từ chung tay, cùng nhau, đùm bọc, bao bọc

“Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm, như

đã nói, dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phản ánh hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loại trường dọc này có liên hệ với nhau: nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật Nhưng khi cần phân lập một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm Trái lại, khi phân

Trang 19

lập các trường biểu niệm, chúng ta đưa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng đến một nét nghĩa nào đó” [3-tr.184] 1.1.2.2 Trường nghĩa tuyến tính (Trường nghĩa ngang)

“Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang) trước hết xuất phát từ

tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ, các tín hiệu phải lần lượt kế tiếp thành một chuỗi mà không thể đồng thời xuất hiện, do đó quan hệ tuyến tính còn gọi

là quan hệ ngang hay quan hệ ngữ đoạn Muốn có quan hệ ngữ đoạn với nhau, các yếu tố phải cùng thực hiện một chức năng về ngôn ngữ hoặc về nội dung giao tiếp Thông qua các kết hợp ngữ đoạn, các từ sẽ bộc lộ ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp của chúng” [8-tr.54, 55]

Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang) có thể hiểu như sau: “Là

trường nghĩa bao gồm tất cả các từ có thể kết hợp với một từ ngữ gốc nào đó

Ví dụ: Các trường nghĩa ngang của “thời tiết”: mưa, nắng, gió, hanh,

ẩm ướt, khô, gió mùa, gió nồm, bão, lạnh, nóng, hay trường nghĩa ngang

của từ tóc là: suôn mượt, rối, khô, xơ, chẻ ngọn, dài, ngắn,…

Một số đặc điểm về trường nghĩa tuyến tính:

- “Các từ trong cùng một trường tuyến tính là những từ thường xuất

hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó” [3-tr.185]

- “Các từ chỉ nơi chốn có quan hệ cú pháp chặt với các từ chỉ hoạt

động dời chỗ, chỉ tư thế nhưng lại có quan hệ cú pháp lỏng với các động từ chỉ hành động phá vỡ, tạo tác, các từ có quan hệ cú pháp chặt thường hiện thực hóa các nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của từ” [3-tr.186]

- “Cùng với các trường nghĩa dọc, trường nghĩa biểu vật và trường

nghĩa biểu niệm, các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại

và những đặc điểm hoạt động của từ” [3-tr.186]

1.1.2.3 Trường nghĩa liên tưởng

“Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp tất cả các từ nhằm biểu thị sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất,… có quan hệ liên tưởng với một từ trung

Trang 20

tâm” [8-tr.55] Hay Ch Bally - nhà ngôn ngữ học người Pháp là người đầu

tiên đưa ra khái niệm của “trường nghĩa liên tưởng” cho rằng “mỗi từ đều có

thể trở thành trung tâm của một trường liên tưởng nào đó”

“Các từ trong cùng một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bởi các ý nghĩa liên hội có thể có của các từ trung tâm Các từ trong cùng một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường trực tuyến và trường tuyến tính” [8-tr.55]

“Trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do

xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân Chính vì vậy các trường liên tưởng không có tính ổn định Trong trường liên tưởng có những từ có ý nghĩa biểu vật giống nhau, nhưng cũng có những từ khác nhau về nghĩa” [8-tr.56]

Ví dụ 1: Cùng một việc “ăn nhẹ” mỗi một người tùy thuộc vào điều

kiện gia đình, vùng miền sẽ liên tưởng ra những món ăn nhất định nào đó khác nhau chẳng hạn như ở nông thôn sẽ khác ở thành thị, miền Nam sẽ khác miền Bắc, hay trẻ nhỏ khác người lớn,…

Ví dụ 2: Nói đến từ “nông thôn” chúng ta thường nghĩ tới đồng ruộng,

chăn trâu, cắt cỏ, lúa, đình làng, ao hồ, lợn, gà, phiên chợ,

Ví dụ 3: Nhắc đến từ “lớp học” người ta sẽ liên tưởng đến học sinh,

thầy giáo, cô giáo, sách vở, bút, bàn ghế, bảng, thước kẻ, phấn,

Ví dụ 4: Tương tự khi nhắc đến “chiến tranh” người ta nghĩ tới chết

chóc, súng đạn, tha phương, khói lửa, nỗi buồn, chia ly,…

1.1.3 Trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương

“Ngôn ngữ” là chất liệu của văn học, là một trong những yếu tố quan trọng nhất để tạo nên các tác phẩm văn chương, nó luôn là yếu tố đầu tiên mà mỗi một nhà văn đều cần phải sử dụng khi đi vào tiến hành sáng tác một tác phẩm và cũng chính là yếu tố đầu tiên giúp con người có sự “va chạm”, tiếp nhận với chính những sáng tác ấy, nếu không có ngôn ngữ thì chắc chắn sẽ không có sự ra đời của các tác phẩm văn học

Trang 21

1.1.3.1 Trường nghĩa biểu vật và ngôn ngữ văn chương

“Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ”, vì vậy một tác phẩm văn

chương có sự phong phú và đa dạng về vốn từ thì tác phẩm ấy sẽ càng giàu có

về biện pháp khai thác ngữ nghĩa bởi lẽ những biện pháp ấy giúp tăng thêm tác dụng của ngữ nghĩa cũng như làm nổi bật được tài năng và tư tưởng của tác giả Trên thực tế có rất nhiều những phương thức chuyển nghĩa khác nhau như: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, Và ở mỗi một phương thức khác nhau sẽ có những sự chuyển nghĩa khác nhau theo một đích nhất định nào đó Tuy nhiên có hai phương thức để chuyển nghĩa của từ cơ bản và phổ biến đó

là “hoán dụ” và “ẩn dụ”

Phần lớn các từ được chuyển theo phương thức ẩn dụ thường diễn ra trong sự chuyển “trường biểu vật’, tức là một số từ đã thuộc “trường biểu vật” này nhưng vẫn được chuyển sang một “trường biểu vật” khác

Ví dụ 1: Từ “bánh trôi nước” chỉ một loại bánh được chuyển sang trường “đặc điểm hình dáng và số phận người phụ nữ” nó có thể kéo theo các từ: trắng, tròn, nổi, chìm, rắn, nát, tấm lòng son,… cũng được chuyển theo

trường đó

Ví dụ 2: Từ “lửa” nếu chuyển sang trường chỉ “hoạt động của con

người” thì kéo theo các từ: đốt, châm, thắp, phóng hỏa, bật, khêu, ủ, tắt, dập, gạt, đun, thiêu,… cũng chuyển sang trường đó

Ví dụ 3:

“Ngày ngày Mặt Trời (1) đi qua trên lăng

Thấy một Mặt Trời (2) trong lăng rất đỏ”

(Viếng lăng Bác - Viễn Phương)

(1) Trường nghĩa biểu vật thứ nhất: Mặt Trời

(2) Trường nghĩa biểu vật thứ hai: Mặt Trời chỉ Bác Hồ - chủ tịch Hồ Chí Minh Theo phương thức chuyển nghĩa này đã biểu thị được niềm tin, hi vọng, nguồn sống của nhân dân khi được Bác soi sáng, dẫn đường

Cần lưu ý, nếu một trường nghĩa được sử dụng hoàn toàn đúng với trường gốc cơ sở vốn có của chúng thì ý nghĩa gợi hình ảnh sẽ ít nhiều bị mờ

đi thậm chí sẽ biến mất bởi chúng có sự trung hoà về ngữ cảnh Nhưng khi từ ngữ được chuyển trường thì lại dẫn đến hệ quả ngược lại, chúng sẽ gợi lên cho chúng ta những hình ảnh phong phú và giàu có hơn, tức là ngoài nghĩa

Trang 22

riêng vốn có thì nó còn kéo theo cả những ấn tượng, những liên tưởng của

“trường nghĩa cũ” sang “trường nghĩa mới” giúp cho “trường nghĩa mới” có thêm được những ý nghĩa liên tưởng của “trường nghĩa cũ”

Trong văn học, các từ ngữ trong mỗi một câu văn, một đoạn văn hay thậm chí là trong một tác phẩm thường kéo theo một “trường biểu vật” nhằm cùng làm nên sự hoàn hảo nhất về “trường nghĩa”

Ví dụ:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”

Hình ảnh chủ đạo trong bài thơ trên là sóng kéo theo các từ: dữ dội, dịu

êm, ồn ào, lặng lẽ, sông, tìm, bể

Hình ảnh chủ đạo khi thì được tác giả thể hiện một cách rõ ràng trong tác phẩm nhưng cũng có thể lại được hiểu ngầm thông qua những trường trong tác phẩm ấy điều này cũng đòi hỏi về sự liên tưởng phong phú của độc

giả

Ví dụ:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”

(Bánh trôi nước - Hồ Xuân Hương) Hình ảnh chủ đạo trong bài thơ trên là hình ảnh của bánh trôi nước,

mặc dù không hề nhắc đến bánh trôi nước trong những câu thơ nhưng người

đọc hoàn toàn có thể đoán ra bởi nó được thể hiện qua các từ: trắng, tròn, nổi,

chìm, rắn, nát, nặn đây đều là những từ ngữ miêu tả trạng thái của bánh trôi

nước, đồng thời kết hợp với biện pháp tu từ ẩn dụ gợi thân phận chìm nổi của người phụ nữ

Trang 23

1.1.3.2 Trường nghĩa biểu niệm và ngôn ngữ văn chương

“Trường nghĩa biểu niệm được hình thành trong quá trình nhận thức về

nghĩa chủng loại của sự vật, các trường biểu niệm không có sự đồng nhất với tập hợp các khái niệm nguyên nhân ở đây không phải là những sự kiện tư duy thuần túy mà là những sự kiện ngôn ngữ Một từ có nhiều nghĩa biểu niệm sẽ là

sự chuyển đổi của một quá trình nhận thức, ở đó các kết quả nhận thức đi sau không phủ nhận các kết quả nhận thức đi trước về nghĩa biểu niệm của nó” [1-tr.15]

Tại một vị trí nhất định tác phẩm chỉ có thể làm sáng tỏ hay phản ánh được một phương diện nhất định nào đó của hiện thực mà thôi Vì vậy để làm rõ sự đồng nhất thì bản thân từ ngữ cũng phải mang những điểm chung nào đó, phù hợp với nhau để làm nên sự “cộng hưởng ngữ nghĩa” của các từ, và sự “cộng hưởng ngữ nghĩa” ấy phải dựa trên chính nét nghĩa đồng nhất vốn có của các từ

Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

(Việt Bắc - Tố Hữu)

Trong khổ thơ trên nhà thơ đã sử dụng rất nhiều trường nghĩa khác nhau như:

- Chỉ các mùa trong năm: xuân, thu

- Chỉ màu sắc: xanh, đỏ, trắng, vàng

- Chỉ người nói chung: ta, mình, người đan nón, cô em gái, ai

- Chỉ hoạt động của sự vật, con người: đan, chuốt, hái, nở, kêu, đổ, rọi

Tất cả những trường nghĩa trên đã cộng hưởng, phối hợp, giao hòa với nhau từ các mùa trong năm, đến hoạt động của sự vật con người trong những câu thơ trên đã phác họa nên bức tranh tứ bình tuyệt đẹp của Việt Bắc với

Trang 24

những nét đơn sơ, bình dị, đó là sự kết hợp độc đáo giữa cổ điển và hiện đại, giữa con người với bức tranh thiên nhiên, tất cả tạo nên một sự cổng hưởng, tổng hòa về thiên nhiên và cuộc sống

Ngoài ra, “sự cộng hưởng ngữ nghĩa không chỉ xảy ra với các từ, mà

nó còn có thể chi phối cấu trúc cú pháp và ngữ âm tiết tấu” [1-tr.16]

1.1.3.3 Trường nghĩa liên tưởng và ngôn ngữ văn chương

“Mỗi trường liên tưởng là một tập hợp các từ xuất hiện khi có một từ

kích thích Mỗi từ đều có thể trở thành từ trung tâm của một trường liên tưởng Trường liên tưởng có tính chủ quan cao nên không ổn định, không giúp ích cho việc phát hiện những quan hệ cấu trúc ngữ nghĩa nội tại nhưng lại có hiệu lực cao trong giải thích việc dùng từ, đặc biệt là việc dùng từ trong các tác phẩm văn học Khi thưởng thức và nghiên cứu văn học nhiều khi phải viện đến trường liên tưởng để lí giải các hiện tượng ý tại ngôn ngoại, hay chuỗi kết hợp bất thường, mơ hồ về nghĩa trong thơ ca hay các biểu tượng, biểu trưng văn học” [8-tr.57]

“Một từ khi được nhắc tới thường gợi ra trong chúng ta một loạt các từ

khác Đó chính là sự liên tưởng Nói cách khác, tập hợp các từ cùng được gợi

ra từ mối liên tưởng với một từ trung tâm gọi là trường liên tưởng và mỗi từ đều có những sự liên tưởng riêng Trường liên tưởng mang tính chủ quan, phụ thuộc vào điều kiện, môi trường sống, thời đại sống, kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân Vì thế, mỗi cá nhân sẽ có trường liên tưởng khác nhau Do

đó nó mang tính chủ quan, cá thể cao” [8-tr.60]

Chính vì vậy muốn thành công thì các tác giả ngoài việc có tài năng thì còn phải biết thích ứng một cách nhanh nhạy với thời đại, đặc biệt là về ngôn ngữ Vì vậy, là người nghệ sĩ không nên chỉ đi theo những lối mòn có trước

mà còn cần biết đi trước thời đại có như vậy thì tác phẩm của họ mới được công chúng đón nhận và không bị đi vào lãng quên Việc phản ánh nắm bắt thời đại cũng như phản ảnh hiện thực cuộc sống là việc không chỉ dừng lại ở các nhà văn mà còn là việc của tất cả những người làm văn học hay giảng dạy văn học Chúng ta phải tích cực trong việc đổi mới tư tưởng, quan điểm, tình

Trang 25

cảm và trau dồi vốn sống cũng như phải tích cực rèn giũa, làm mới ngôn ngữ của bản thân

1.2 Vài nét về nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

1.2.1 Cuộc đời

“Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn nữ sinh ngày 12 tháng 8 năm 1966 tại

thành phố Hạ Long, Quảng Ninh, quê ở Thạnh Phú, Bến Tre Bà được đánh giá là nhà văn trẻ nổi tiếng trong nước Bà được bầu làm Phó Chủ tịch khoá

X, Chủ tịch khoá XII Hội Nhà văn Hà Nội Nguyên Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá VIII Giám đốc Trung tâm Bản quyền văn học Việt Nam Hiện nay, bà đang sinh sống tại Hà Nội và làm việc ở Đài Truyền hình Việt Nam” [10]

Nhà văn đã từng tâm sự: “Làm được những việc mình yêu thích, có

được những thứ mình cần do chính bàn tay mình làm ra Viết văn, viết kịch, làm phim, đọc sách làm cho cuộc sống của tôi phong phú Nhưng điều quan trọng hơn là những tác phẩm của tôi được độc giả tiếp nhận và yêu thích, đó

là một sự đền bù vô giá” [10]

Nguyễn Thị Thu Huệ là một trong những nhà thơ nữ nổi lên trong những năm từ năm 1990 đến nay Tác giả được xem là một trong những gương mặt gây được sự chú ý, quan tâm của độc giả cũng như là một nhà văn

được đánh giá là một cây bút hết sức “có duyên” trong lĩnh vực truyện ngắn

Sinh năm 1966 trong một gia đình có truyền thống văn học Bố là một nhà báo, mẹ là một nhà văn có dấu ấn trong nền văn học Việt Nam hiện đại Chính vì xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn chương như vậy nên ngay từ nhỏ nhà văn đã được thừa hưởng sâu sắc vốn sống cũng như lối

tư duy sắc sảo thâm sâu của người cha và chất nữ tính duyên dáng của người

mẹ Như vậy chính yếu tố gia đình đã hình thành nên phong cách đặc trưng riêng cho ngòi bút Nguyễn Thị Thu Huệ một trái tim đa cảm, một cái nhìn tinh tế điều này được thể hiện rất rõ trong những chi tiết miêu tả về hình ảnh người phụ nữ trong truyện ngắn của bà Hơn thế, ngay từ khi còn rất nhỏ bà

đã sớm bộc lộ tài năng thiên bẩm về lĩnh vực văn chương và hội họa và bà

cũng có ước mơ trở thành một họa sĩ Có lần nhà văn đã bộc bạch: “Mình

Trang 26

không nghĩ sau này sẽ trở thành nhà văn thế hệ bọn mình lúc ấy hồn nhiên lắm, không bao giờ có ước mơ phải trở thành một người nổi tiếng, giàu sang

gì đâu”, ấy vậy mà tài năng cũng như niềm say mê của mình với văn học đã

đưa bà đến với văn chương, và dành tình yêu cho văn chương Tuy nhiên con đường văn chương của bà đã có khoảng thời gian bị chững lại, bị đứt đoạn khi

bà lập gia đình, bà đã dành hầu như là tất cả thời gian để chăm sóc con cái Ở nhà chăm con được khoảng hai năm, rồi bà làm biên tập viên sân khấu tại Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đã từng suy nghĩ rất nhiều về bản thân mình, về sự kì vọng của mẹ, về con đường văn chương mà mình đã từng khao khát Bản thân luôn đau đáu về sự kì vọng của mẹ mình

rồi bà viết cứ viết: “Lúc đó tôi đã viết như lên đồng, ý tưởng tuôn trào như

không kịp nghĩ” “Và bà đã cho ra đời năm truyện ngắn Hậu thiên đường,

Biển ấm, Bảy ngày trong đời, Tình yêu ơi, ở đâu?, Minu xinh đẹp và đã

được gửi đi dự thi tại Tạp chí Văn nghệ quân đội, cả năm tác phẩm đều được đánh giá rất cao” [10]

“Tiếp đó bà chuyển sang làm cho hãng Phim Truyền hình Việt Nam đặc

biệt là nhiều tác phẩm của bà đã được chọn để chuyển thể thành phim và để

lại dấu ấn lớn Truyện ngắn Của để dành, Nước mắt đàn ông đã đạt được

huy chương vàng Liên hoan phim Truyền hình Thời gian cứ thế trôi, chính những tác phẩm mà bà dụng tâm tạo thành đã giúp bà khẳng định được năng lực của mình trên văn đàn văn chương dân tộc và song song với văn chương

bà còn thành công ở lĩnh vực phim trường trở thành Giám đốc của một kênh Truyền hình Việt Nam (VTC9 Let’s Việt - 2008)” [10]

Dù bận rộn với công việc nhưng bà luôn dành một tình yêu, một niềm

đam mê cháy bỏng cho văn chương “Văn chương luôn làm ấm lòng tôi, viết

và đọc là điều không thể thiếu trong cuộc sống”, bà còn coi văn chương như

một người bạn tri cốt của mình “Văn chương đến với tôi là người bạn chung

thủy có thể chia sẻ với mình nhiều điều”

“Với những đóng góp to lớn cho nền văn học của dân tộc, nhà văn đã

được nhà nước trao tặng nhiều giải thưởng to lớn về văn học như: Năm 1993 Nguyễn Thị Thu Huệ đã nhận giải thưởng của báo Tiền Phong trong cuộc thi

Tác phẩm tuổi xanh đồng thời cũng được nhận giải A trong cuộc thi viết về

Trang 27

đội cho chùm tác phẩm gồm 5 truyện ngắn và được tặng thưởng của Hội Nhà

văn Việt Nam cho tập Hậu thiên đường” [10]

1.2.2 Sự nghiệp

Các tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ quan tâm phản ánh những vấn

đề nhức nhối và nan giải trong đời sống xã hội một cách giản dị, tự nhiên song lại không kém phần sắc sảo, những tác phẩm như những thước phim ngắn chân thực sống động về cuộc sống hàng ngày xoay quanh mỗi chúng ta Chính vì vậy mà tác phẩm của bà luôn có một nét tự nhiên, tự nhiên xoáy sâu,

tự nhiên lôi cuốn, tự nhiên khai thác nội tâm suy nghĩ và xúc cảm bạn đọc; không đột ngột, giật gân mà nhẹ nhàng sâu lắng, từng ngôn từ cứ thế mà thẩm thấu vào tâm trí của độc giả, đó cũng chính là điểm lợi hại của nữ nhà văn Hơn 20 năm cầm bút, bà đã xây dựng được cho mình một một màu sắc, một mùi hương riêng không lẫn đi đâu được Bên cạnh đó, trong sự nghiệp sáng tác của mình Nguyễn Thị Thu Huệ đã gặt hái được rất nhiều thành công Cụ thể:

“Tác phẩm đã xuất bản: Cát đợi (truyện ngắn 1992), Hậu thiên đường (truyện ngắn 1993), Phù thuỷ (truyện ngắn 1995), Tân cảng (truyện 1997),

21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2001), Nào, ta cùng lãng quên

(2003), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2010), Thành phố đi vắng

(tập truyện ngắn 2012)” [12]

“Ngoài ra bà còn đạt được các giải thưởng văn học: Giải thưởng Tác

phẩm Tuổi xanh của báo Tiền Phong, Giải nhất Cuộc thi Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Giải A Cuộc thi tiểu thuyết và truyện ngắn Hà Nội, Tặng thưởng

Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994 với Hậu thiên đường, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013 với Thành phố đi vắng” [12]

Nhà văn quan niệm: “Trong sáng tác, tôi không tự thần thánh mình dù

đã có những thành tựu nhất định Tôi viết theo hướng bất chợt, không bao giờ

cố ép mình để viết Tôi cho rằng, làm bất cứ nghề gì cũng cần phải có tài, dù

là ít Riêng với những người làm nghệ thuật thì yếu tố tài năng rất cần thiết Bên cạnh đó một thứ bắt buộc phải có là kiến thức trang bị về nghề nghiệp của mình Tuy nhiên, có tài mà không có học thì đến một lúc nào đó cũng sẽ

Trang 28

hết tài, hoặc những sản phẩm tinh thần của họ sẽ chỉ là sự lấp lánh của bản năng mà thôi Tài năng cần được nuôi dưỡng bởi kiến thức học hỏi và kinh nghiệm cuộc sống” [12]

Ngòi bút của Nguyễn Thị Thu Huệ hướng vào hầu hết tất cả các hiện tượng đang xảy ra trong lối sống hàng ngày, phản ánh cuộc sống bình thường của những con người bình thường trong xã hội Cùng với những dự cảm sâu sắc và tinh tế, nhạy bén của bản thân về hạnh phúc, những tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ đã đem lại cho bạn đọc niềm tin yêu về cuộc sống, về tình yêu cũng như về con người, giúp họ luôn có niềm tin mãnh liệt vào một ngày mai tươi sáng, tốt đẹp hơn Nhà văn được độc giả nhớ đến qua những câu chuyện viết về cuộc sống xã hội hiện đại với góc nhìn nhiều chiều, len lỏi từng ngóc ngách cuộc sống nhưng tâm điểm lớn nhất trong sáng tác của bà đó

chính là hình ảnh của những người phụ nữ và các vấn đề xoay quanh họ (Hậu

thiên đường; Biển ấm; Cõi mê; Nào, ta cùng lãng quên,…) Tuy nhiên

trong xã hội ngày nay, xã hội mà bị chi phối bởi dục vọng, tiền bạc thì nỗi quan tâm của những nhân vật nữ của bà lại không hề liên quan đến tiền tài, cũng không phải trách nhiệm và bổn phận, lại càng chẳng phải các giá trị đạo đức mà lại chính là hai chữ “tình yêu” Những người phụ nữ ấy dù ở bất cứ giai đoạn nào trên chiếc dây độ tuổi cuộc đời thì họ vẫn luôn khát khao hướng tới tình yêu của mình, họ kiếm tìm, hiến dâng, hi sinh cho tình yêu Tác giả đã phản ánh một cách sinh động những bề bộn, lo toan cuộc sống xoay quanh

người phụ nữ (thể hiện trong tập “37 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu

Huệ”) từ đó giúp độc giả có những thái độ đúng đắn cũng như có cái nhìn

tích cực hơn đối với cuộc sống đặc biệt là trong mối quan hệ giữa người với

người Nhưng khi chúng ta tiếp xúc với Thành phố đi vắng, một tập truyện gần đây của nhà văn ta sẽ thấy nó có một sự thay đổi khác so với thời Hậu

thiên đường đó chính là Nguyễn Thị Thu Huệ thay vì xoay quanh vấn đề tình

yêu thì bà đã đưa tâm điểm sang vấn đề đô thị hiện đại, truyện phản ánh về tình người ngày càng biến chất trong cuộc sống thành thị hiện đại, điều đó

được bà lí giải: “Ngày trước, những câu chuyện của đời sống đến với tôi, và

tôi kể lại chúng theo cách nhìn của một người trẻ, trong một xã hội ít bất an, đâu đó còn nhiều góc bình yên Bây giờ, đời sống của đám đông, của những

Trang 29

táp thẳng khiến tôi chao đảo, buồn bã và đau đớn Và tôi đã kể những chuyện qua lăng kính của tôi, những ngày tháng này Lạnh lùng ở câu chữ, nhưng xa xót trong tâm can Tuy vậy, tôi chưa mất hẳn niềm tin vào con người Rải rác

ở đâu đó vẫn còn những người đau đáu làm điều tốt, làm ra những thứ có ích cho cộng đồng”

Tuy nhiên không dừng lại ở đó, sức cuốn hút của Nguyễn Thị Thu Huệ đối với độc giả còn được thể hiện ở lối văn phong mạnh mẽ, bứt phá, sắc sảo,… xoáy sâu vào đúng chất hiện trạng xã hội, phản ảnh một cách chân thật bức tranh toàn cảnh cũng như mọi góc cạnh cuộc sống Tất cả những điều đó

đã tạo nên cái tên Nguyễn Thị Thu Huệ với vị trí vững chắc trong lòng độc giả, góp phần làm phong phú cho nền văn học nước nhà

Tiếp xúc với những tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, người đọc có thể dễ dàng cảm nhận được mọi góc cạnh của nhân vật với nhiều góc độ và sắc thái khác nhau dù chỉ là một chi tiết nhỏ nhặt nhất để nhân vật sống động như chính những con người trong cuộc sống mà bản thân độc giả đã từng bắt gặp và tiếp xúc như hình ảnh những cô sinh viên, những người bà, người mẹ, anh bộ đội phục viên,… Điều đặc biệt nhất là hình ảnh người phụ nữ xuất hiện với tần suất lớn, mỗi nhân vật nữ lại mang một nét tính cách khác nhau

vô cùng phong phú và đa dạng điều đó tạo nên sức hấp dẫn cho thế giới nhân vật Nguyễn Thị Thu Huệ

Khi nói đến đặc điểm phong cách sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, đã có rất nhiều phát biểu khác nhau, trong đó tác giả Kim Dung

trong bài “Hồi ức một binh nhì và Bến trần gian” nhận xét: “Truyện ngắn

Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt - vừa bụi bặm trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, văn của chị vừa táo bạo vừa thanh khiết Một cái gì đó không thuần nhất, không đơn giản, thậm chí có khi còn đối chọi nhau trong văn của Nguyễn Thị Thu Huệ” Hay nhà văn Hồ Phương nhận xét: “Trong các tác giả trẻ, Thu Huệ là cây bút hết sức sắc sảo Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm, sao còn

ít tuổi mà Huệ lại lạc lõi thế Nó như con phù thủy lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình Ruột gan mình có gì hình như nó cũng biết cả” (Trong bài

viết “Thế hệ thứ ba” in trong Tạp chí Văn nghệ Quân đội 10/1994)

Ngày đăng: 23/12/2019, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w