1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết luận trong tiểu thuyết chuyện của lý của ma văn kháng

65 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 850,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người yêu văn chương của ông có thể dễ dàng nhận thấy, theo mốc thời gian, Ma Văn Kháng đã vinh danh ở một số tác phẩm sau: tiểu thuyết Mưa mùa hạ - Giải thưởng Văn học Công nhân; Mùa lá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

GVC TS La Nguyệt Anh

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới GVC.TS La Nguyệt Anh - người

đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã cố gắng, nỗ lực, song do năng lực bản thân có hạn nên khóa luận chắc chắn còn nhiều thiết xót Kính mong nhận được sự lượng thứ và góp

ý chân thành của các thầy, cô giáo để được học hỏi, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm cho các công trình sau

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả khóa luận

Hoàng Thị Thanh Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

- Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của cá nhân dưới sự hướng dẫn của GVC TS La Nguyệt Anh

- Những số liệu và tài liệu được trích dẫn trong đây là trung thực

- Kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả khóa luận

Hoàng Thị Thanh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khóa luận 6

7 Cấu trúc khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Sơ lược về vấn đề triết luận và khuynh hướng triết luận trong văn học sau 1975 7

1.1.1 Triết luận và triết luận trong văn học 7

1.1.1.1 Khái niệm triết luận 7

1.1.1.2 Triết luận trong văn học 7

1.1.2 Sơ lược về khuynh hướng triết luận trong văn học Việt Nam sau 1975 9

1.2 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Chuyện của Lý 13

1.2.1 Vài nét về tác giả Ma Văn Kháng và quá trình sáng tác 13

1.2.1.1 Vài nét về tác giả Ma Văn Kháng 13

1.2.1.2 Quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng 14

1.2.2 Tiểu thuyết Chuyện của Lý trong dòng chảy văn xuôi đương đại Việt Nam 16

CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN TÍNH TRIẾT LUẬN TRONG TIỂU THUYẾT CHUYỆN CỦA LÝ CỦA MA VĂN KHÁNG 18

2.1 Triết luận về cuộc sống miền núi đương đại 18

2.2 Triết luận về thân phận con người 24

2.3 Triết luận về tình yêu 37

CHƯƠNG 3: ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TÍNH TRIẾT LUẬN TRONG TIỂU THUYẾT CHUYỆN CỦA LÝ CỦA MA VĂN KHÁNG 47

3.1 Cốt truyện hướng tới tính triết luận 47

Trang 6

3.2 Ngôn ngữ mang sắc thái tranh biện, đối thoại 49 3.3 Giọng điệu trầm tư, cảm thương 52 KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhắc đến các nhà văn Việt Nam trong dòng văn học đương đại, sẽ thật

là thiếu sót nếu như chúng ta không kể đến Ma Văn Kháng - một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam đương đại Hơn nửa thể kỉ cầm bút, dù lớp bụi thời gian có in dấu lên bao vấn đề lịch sử nhưng những tác phẩm của ông sẽ vẫn luôn vượt không gian và thời gian để sống mãi trong tâm hồn bạn đọc bao thế hệ Với khát vọng sáng tạo nghệ thuật chưa bao giờ ngưng cùng một tâm hồn nhạy cảm, sâu sắc trước cuộc đời, cho đến hôm nay ông vẫn luôn phóng ngòi bút tinh tế, điêu luyện cùng những vốn sống sâu rộng của mình

để cho ra đời những tác phẩm giá trị

Vượt qua những năm tháng nhọc nhằn, Ma Văn Kháng đã được đông đảo công chúng biết đến như một nhà văn có tài và xuất sắc trên hai thể loại chính là truyện ngắn và tiểu thuyết Được biết đến là một nhà văn có duyên với tiểu thuyết, ông luôn mang trong mình sự nhiệt huyết và cố gắng đổi mới tư duy, tìm hướng đi trong sáng tạo nghệ thuật Bằng chứng về những sáng tạo cách tân nghệ thuật chính là việc nhà văn được tôn vinh qua rất nhiều giải thưởng Người yêu văn chương của ông có thể dễ dàng nhận thấy, theo mốc

thời gian, Ma Văn Kháng đã vinh danh ở một số tác phẩm sau: tiểu thuyết Mưa mùa hạ - Giải thưởng Văn học Công nhân; Mùa lá rụng trong vườn - giải

thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1985, cũng là một trong số bộ ba tác phẩm được tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001, đã được dựng

thành phim truyền hình dài tập Mùa lá rụng; Gặp gỡ ở La Pan Tẩn - giải thưởng Hội văn nghệ các dân tộc thiểu số năm 2001; Một mình một ngựa giải thưởng Hội

Nhà văn Hà Nội năm 2009 Gần đây nhất, ngày 19 tháng 05 năm 2012, ông đã vinh dự được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho chùm các tác

phẩm: Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn và Truyện

ngắn chọn lọc

Một cuộc đời cần mẫn và sáng tạo với hơn 30 tác phẩm văn xuôi, trong

đó mảng đề tài miền núi và dân tộc được ông đặc biệt quan tâm Từ Đồng bạc trắng hoa xòe (1979) đến Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001) và sau này là Chuyện của Lý (2013), nhà viết tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã đi được một chặng đường

Trang 8

hơn ba mươi năm về đề tài dân tộc và miền núi Tây Bắc Ông gắn bó với miền đất này như quê hương thứ hai của mình, để rồi với tình yêu con người và văn hóa nơi đây đã làm nên những trang văn sáng ngời về số phận những người trí thức và người nông dân nghèo nơi phố huyện nhỏ heo hút miền núi Từ những tập truyện ngắn đầu tay, dấu vết non nớt về tư duy nghệ thuật qua những câu chuyện độc đáo về cuộc sống và con người miền núi xưa nay, đến thể loại tiểu thuyết, một thể loại văn xuôi được Ma Văn Kháng đặc biệt quan tâm, tìm tòi sáng tạo sao cho lưu giữ được hình bóng cuộc sống, từ đó, ta thấy được bản lĩnh vững vàng của nhà văn Bên cạnh truyện ngắn và tiểu thuyết, Ma Văn Kháng còn viết về đề tài văn học thiếu nhi, ông đã đóng góp bốn truyện hay

Tác phẩm tâm huyết của ông về đề tài này Côi cút giữa cảnh đời, đã được tổ

chức SIAD (Thụy Điển) trao giải thưởng Những cuốn sách ra đời nối tiếp nhau, theo sự từng trải về cuộc đời, sự sung mãn, điêu luyện của bút lực đã khẳng định đóng góp và tài năng của Ma Văn Kháng trong nền văn xuôi Việt Nam nửa sau thế kỉ XX

Như đã nói ở trên, Ma Văn Kháng là nhà văn có một phong cách nghệ thuật độc đáo, trong sáng tác của mình ông thường đi sâu, khai thác về những cảnh đời, số phận của con người từ bọn người thấp cổ bé họng đến người trí thức, quan lại Từ đó, ông gửi gắm những triết luận nhân sinh của mình, chính

vì vậy, văn phong của ông luôn có một “nguyên tắc triết luận” riêng biệt Ông

từng viết: “tôi rất quan tâm đến tính triết luận, cho nên ở các truyện ngắn tôi thích, tôi thường tìm điểm nhấn, nó như những cái mấu mắc vào lòng bạn đọc”

Trong văn xuôi sau 1975, sự gia tăng tính triết luận, ngôn ngữ đối thoại là một minh chứng rõ nét cho sự cách tân cùng sự mở rộng trong mối quan hệ giữ nhà

văn, tác phẩm và bạn đọc Ngoài những tiểu thuyết như Mùa lá rụng trong vườn, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, tiểu thuyết Chuyện của Lý cho người đọc thấy

rõ những triết luận về cuộc sống, con nguời, tình yêu và các mối quan hệ trong

xã hội

Với tất cả những lý do trên, tác giả khóa luận đã lựa chọn vấn đề “Triết luận trong tiểu thuyết Chuyện của Lý của Ma Văn Kháng” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình Từ đó, có thể khẳng định đóng góp của Ma Văn Kháng là vô

cùng to lớn trên phương diện sáng tạo nghệ thuật mà tiêu biểu ở thể loại tiểu thuyết

Trang 9

trong thời kì đổi mới, đồng thời khóa luận cũng có thể góp một phần nhỏ vào kho

tư liệu tham khảo vốn rất đa dạng về sáng tác của nhà văn

2 Lịch sử vấn đề

Ma Văn Kháng là một trong số những nhà văn có đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975, mặc dù các sáng tác của ông ngay từ đầu không phải là một hiện tượng đặc biệt như một vài nhà văn của nền văn xuôi đương đại lúc bấy giờ Tuy nhiên, với niềm đam mê cùng nhiệt huyết văn chương và sự bền bỉ, Ma Văn Kháng đã dần khẳng định được phong cách của mình Những đổi mới về nghệ thuật cũng như sự sâu sắc về nội dung trong các tác phẩm của nhà văn đã được đề cập đến ở nhiều bài viết, lời giới thiệu

về sáng tác của ông

Trong khi đó, khuynh hướng triết luận trong văn xuôi thời kì đổi mới đến nay đã có sự phát triển mạnh mẽ trong nền văn học Việt Nam Do đó, việc tìm hiểu chất triết luận trong các tác phẩm văn chương phát triển khá nhanh, nó đã trở thành hướng tìm tòi, nghiên cứu của nhiều bài viết và các công trình nghiên cứu lớn nhỏ khác nhau Có thể kể đến những luận văn đã nghiên cứu về chất triết

luận như “Triết luận trong truyện ngắn Nguyễn Khải” của Nguyễn Thị Huấn, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSPHN, 2002; “Yếu tố triết luận trong thơ Nguyễn Duy” của Lê Trâm Anh, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, ĐHSPHN, 2007; “Chất triết luận trong trường ca của Thanh Thảo” của Hoàng Thị Thu Hương, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, ĐHSPHN, 2009 Đề tài “Triết luận trong tiểu thuyết Chuyện của Lý của Ma Văn Kháng” của chúng tôi chính là sự tiếp nối mạnh nghiên cứu

triển vọng nói trên

Như đã nói, Ma Văn Kháng là người đã xây những viên gạch mới trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đồng thời ông cũng là người gắn bó mật thiết

với đề tài về văn hóa đồng bào dân tộc miền núi Từ Đồng bạc trắng hoa xòe đến Gặp gỡ ở La Pan Tẩn rồi sau đó là Chuyện của Lý, Ma Văn Kháng đã tiến

một bước dài về tư duy viết tiểu thuyết, ngòi bút ngày càng uyển chuyển, tung hoành và đầy sáng tạo Chính vì vậy đã có rất nhiều người, nhiều công trình nghiên cứu về ông cả ở mảng truyện ngắn và tiểu thuyết Người nghiên cứu không khó để nhận thấy tên tuổi và tác phẩm của Ma Văn Kháng xuất hiện rất

nhiều trên các báo, tạp chí như: “Đọc Vùng biên ải của Ma Văn Kháng” (Tạp

Trang 10

chí Văn học 2/1985), “Tư duy đổi mới nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80 (Tạp chí Văn học 2/1998), “Ma Văn Kháng với đời sống đương đại” (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật 5/2006)… đã góp phần tạo ra cuộc

tranh luận sôi nổi làm cho đời sống văn học đương đại trở nên phong phú và đa dạng hơn Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá của các Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà nghiên cứu phê bình nhà văn, nhà thơ, bạn đọc như: Phong Lê, Lã Nguyên, Trần Đăng Suyền, Trần Đăng Khoa,… đã được đăng tải trên các báo, tạp chí…

Tiểu thuyết Chuyện của Lý cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm như trong Luận văn thạc sĩ của Phan Thị Bích Thuật khi bàn về “Nghệ thuật tự sự của

Ma Văn Kháng qua hai tiểu thuyết Côi cút giữ cảnh đời (1989) và Chuyện của Lý (2013)” đã viết: “Đọng lại trong lòng độc giả ở mỗi trang viết trong hai cuốn tiểu thuyết này chính là triết lí về cuộc sống Triết lí nhân sinh về số phận con người,

về luật nhân quả ở đời, lòng nhân ái, sự đố kị, sức mạnh của đồng tiền, quyền lực… tất cả đều được nhà văn chắt lọc từ chính cuộc sống đời thường” [13, tr.88]

Như vậy, khi nghiên cứu đề tài này tôi nhận thấy phần lớn các tác giả chủ yếu tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật trong các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới Trong đó, đã có rất nhiều công trình đưa ra dẫn chứng từ tiểu

thuyết Chuyện của Lý Tuy nhiên, chưa có một luận văn hay bài viết nào bàn sâu

về tác phẩm mà đặc biệt là tính triết luận thể hiện trong cuốn tiểu thuyết trên mà chủ yếu chỉ mang tính phát hiện Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ tập chung đi

sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu đề làm rõ tính triết luận trong tiểu thuyết Chuyện của Lý của Ma Văn Kháng để thấy được tài năng, vai trò và sự sáng tạo miệt mài

của nhà văn trong nền văn học dân dộc Việt Nam

Hơn nữa, xuất phát từ sự ngưỡng mộ tài năng và tâm huyết với văn chương của một người “nhà giáo - nhà văn thế hệ mới”, đồng thời mong muốn đóng góp tiếng nói của mình vào mảng nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng, chúng tôi

lựa chọn đề tài “Triết luận trong tiểu thuyết Chuyện của Lý của Ma Văn Kháng”

Hy vọng với đề tài mới mẻ này cuốn tiểu thuyết Chuyện của Lý là những sáng

tác chưa được các nhà nghiên cứu, phê bình một khám phá một cách hoàn chỉnh,

sẽ đem đến những điều thú vị cho văn đàn

Trang 11

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu tính triết luận trong tiểu thuyết Chuyện của Lý của Ma Văn

Kháng trên cơ sở những biểu hiện của nó qua nội dung và nghệ thuật để thấy tài năng, vốn sống và vai trò của chất triết luận trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn nói riêng và trong dòng tiểu thuyết nói chung Đồng thời thấy được chiều sâu, tầm khái quát và tư duy nhạy cảm trước mọi vấn đề trong cuộc sống của Ma Văn Kháng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Khóa luận tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề triết luận trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới Từ đó, đi sâu khai thác những nội dung biểu hiện tính triết luận và đặc sắc nghệ thuật thể hiện tính triết luận Qua

đó, thấy được tài năng và đặc trưng phong cách nghệ thuật của nhà văn

4.2 Phạm vi

Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi xác định phạm vi nghiên

cứu tính triết luận trong tiểu thuyết Chuyện của Lý của Ma Văn Kháng

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu tính triết luận trong tiểu thuyết Chuyện của Lý với mục đích

và hướng nghiên cứu trên, khóa luận sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Chúng tôi vận dụng phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại để làm nổi bật chất triết luận của nhà văn

Ma Văn Kháng

- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Để làm rõ chất triết luận trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, chúng tôi đã vận dụng kết hợp phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp văn học với văn hóa,…

Ngoài ra, khóa luận còn vận dụng các thao tác như: giải thích, chứng minh, bình luận… trong quá trình nghiên cứu nhằm mục đích đưa đến tính thuyết phục và đạt hiệu quả cao trong việc hoàn thiện khóa luận

Trang 12

6 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã tiến hành nghiên cứu tính triết luận trong tiểu thuyết

Chuyện của Lý của Ma Văn Kháng từ quan niệm đến phương diện biểu hiện

nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Từ đó giúp người đọc có cái nhìn bao quát hơn những tầng sâu ý nghĩa mà nhà văn gửi gắm qua tác phẩm

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận được chia thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Biểu hiện tính triết luận trong tiểu thuyết Chuyện của Lý của

Ma Văn Kháng

Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật thể hiện tính triết luận trong tiểu thuyết

Chuyện của Lý của Ma Văn Kháng

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Sơ lược về vấn đề triết luận và khuynh hướng triết luận trong văn học sau 1975

1.1.1 Triết luận và triết luận trong văn học

1.1.1.1 Khái niệm triết luận

Trước hết chúng ta cầu hiểu rõ các khái niệm triết lí, triết luận Qua khảo

sát, chúng tôi được biết có rất nhiều tài liệu nói đến khái niệm triết lí, triết luận,

nhưng nhìn chung các khái niệm đều có cùng quan điểm Tiêu biểu như trong

Từ điển tiếng Việt: “Triết lí là những quan niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội Người ta thường nói bài thơ chứa đựng một thứ triết lí bi quan, yếm thế; Anh ta có một triết lí riêng về cuộc sống…” [12, tr.1389] Hay trong Đại từ điển Tiếng Việt, triết lí được định nghĩa là:

“Quan niệm chung và sâu sắc nhất của con người về những vấn đề nhân sinh

và xã hội” [15, tr.707] Trong Từ điển Tiếng Việt Tường giải và liên tưởng của Nguyễn Văn Đạm, triết luận được định nghĩa là: “Quan niệm về cuộc sống và cách giải quyết những vấn đề mà nó nêu lên” [4, tr.854]

Khi nhìn từ góc độ chiết tự, “triết luận” là một từ ghép được tạo bởi hai thành tố “triết” và “luận” “Triết” là những gì liên quan đến triết học, triết lí

“Luận” là bàn bạc, lí giải, tranh luận Như vậy, hiểu theo một cách chung nhất

“triết luận” là bàn bạc, lí giải để đi đến kết quả là sự chiêm nghiệm về những vấn đề mang tính chân lý phổ quát của cuộc sống

1.1.1.2 Triết luận trong văn học

Văn học và triết học từ xưa đến nay vốn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Đặc biệt, thời trung đại “văn - sử - triết”, “văn - triết” bất phân là một hiện tượng đặc thù mà bản chất là sự đan xen trực tiếp của lối tư duy luận lý và lối tư duy hình tượng trong một tác phẩm văn chương Bước sang thời hiện đại, hiện tượng ấy đã cáo chung, nhưng điều đó không có nghĩa là vị trí triết học đã hoàn toàn vắng bóng trong các tác phẩm văn học Ngược lại nó chuyển sang quan hệ gián tiếp, tan biến hình tượng, cấu trúc tác phẩm Văn học Việt Nam

Trang 14

sau 1975, các nhà văn tìm đến chất triết luận và nó nổi lên như một khuynh hướng văn học, đang càng ngày càng thu hút sự chú ý của các cây bút muốn chiếm lĩnh hiện thực chiều sâu của sự nhận thức Từ việc định nghĩa về “triết luận” như trên, suy rộng ra có thể hiểu, triết luận trong văn chương là khái niệm

để chỉ khía cạnh triết học tiềm ẩn và hiện diện trong bất kì một sáng tạo nghệ thuật ngôn từ nào đó Nó gồm hai thành tố cơ bản là “chủ đề triết luận” (nội dung) và “hình thức triết luận” (nghệ thuật biểu hiện chất triết luận)

Có thể thấy, triết luận trong văn chương chính là sự hòa quyện của tư tưởng triết học trong hình thức và nội dung của tác phẩm văn học, hay chính

là sự giao thoa lối tư duy thiên về lí trí, trừu tượng của triết học kết hợp với lối tư duy thiên về cảm xúc, hình tượng của các loại hình nghệ thuật ngôn từ Triết luận nảy sinh từ nhu cầu gia tăng chất trí tuệ và lối tư duy lí tính cho mỗi tác phẩm văn chương Có nghĩa là, giờ đây nhà văn chuyển trung tâm chú ý

từ “phản ánh hiện thực” sang “nghiền ngẫm về hiện thực”, coi trọng sự xử lí hiện thực ở bề sâu của vấn đề Từ đó, nhà văn sẽ đem lại chiều sâu và giá trị phổ quát cho mỗi sinh thể nghệ thuật Trong những tác phẩm mang nhiều chất triết luận, người đọc có thể thấy quan điểm, tư tưởng của nhà văn thấm sâu vào mọi tầng lớp ý nghĩa của tác phẩm từ kết cấu, ý nghĩa, hình tượng,… đến ngôn ngữ, giọng điệu, nhiều khi còn được tác giả bộc lộ, gửi gắm trực tiếp những triết luận qua những lời trữ tình ngoại đề hoặc gửi vào lời nhân vật Và cũng chính những tư tưởng mới mẻ ấy, làm nên cá tính, sự sáng tạo riêng của mỗi nhà văn khi xây dựng cái hồn cốt tác phẩm tạo sự hấp dẫn mang dấu ấn

cá nhân Triết luận trong văn là sự khám phá những quy luật của đời sống qua

sự từng trải của mỗi nhà văn bằng tư duy nghệ thuật, có nghĩa là nó gắn với cái đặc trưng cơ bản của việc sáng tạo nghệ thuật và đặc biệt là sáng tạo văn chương Qua việc xây dựng thế giới hình tượng, người nghệ sĩ sẽ thể hiện những trải nghiệm riêng, kinh nghiệm về đời sống vừa có chiều sâu, vừa cụ thể, sinh động Hay nói cách khác, triết luận xuất phát từ nhu cầu nhận thức thực tại của chủ thể trên tinh thần triết học Yếu tố triết luận càng trở nên sâu sắc, giàu ý nghĩa trong các tác phẩm văn chương mà người cầm bút có nhiệt hứng trao đổi và truyền bá tư tưởng, sự trải nghiệm của bản thân Khi yếu tố này nổi bật trong các sáng tác như một điểm nhấn thì mặc nhiên nó sẽ tạo nên

Trang 15

đặc trưng, hình thành cá tính sáng tạo, một phong các đặc trưng riêng của mỗi nhà văn

Việc đi tìm chất triết luận trong tác phẩm văn chương chính là việc tìm hiểu cách luận giải của tác giả về những vấn đề lớn nhỏ của đời sống ở mọi ngóc ngách và những nét đặc sắc trong nghệ thuật dung chứa những triết luận sâu xa đó

1.1.2 Sơ lược về khuynh hướng triết luận trong văn học Việt Nam sau 1975

Văn học Việt Nam sau 1975 so với giai đoạn 1945 - 1975 và đặc biệt từ cao trào đổi mới 1986 đến nay đã có nhiều thay đổi quan trọng mang tính chất bước ngoặt như thay đổi quan niệm về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người Và một trong những thay đổi quan trọng nhất là nền văn học chuyển từ việc chỉ sáng tác theo một khuynh hướng chính (khuynh hướng sử thi) ở thời kì trước mà nay đã chuyển sang nhiều khuynh hướng sáng tác mới như khuynh hướng nhận thức, khuynh hướng thế sự - đời

tư, trong đó phải kể đến khuynh hướng triết luận đã làm nên sự đa dạng, phong phú cho diện mạo văn chương thời kì này

Từ sau 1975, khi hòa bình được lặp lại, con người sống có ước mơ, hoài bão cá nhân hơn, người ta thấy rằng việc phản ánh hiện thực không phải là cái đích cuối cùng của văn học nghệ thuật mà hiện thực chỉ là phương tiện để nhà văn diễn tả những suy nghĩ, chiêm nghiệm của bản thân về hiện thực Từ đó,

đề cao cách đánh giá của nhà văn về mọi vấn đề của cuộc sống Đồng thời, quan niệm về hiện thực cũng được mở rộng giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đời và hiểu ra rằng bên cạnh một hiện thực lịch sử còn có những hiện thực khác là cái phức tạp, chưa hề biết, không thể biết hết… Do đó, thời kì này cảm hứng sử thi bị lu mờ là một điều tất yếu của thời đại, bên cạnh

đó cảm hứng thế sự - đời tư, cảm hứng nhận thức lại và cảm hứng triết luận ngày càng nổi bật và dần khẳng định được vị trí của mình Khi nói về cảm hứng triết luận trong văn học giai đoạn này, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long nhận định “cảm hứng chiêm nghiệm, triết lí - nơi bộc lộ những kinh nghiệm từng trải

và nhu cầu nhận thức đời sống từ các quy luật phổ quát… ý thức tự vấn thường trực góp phần làm cho cảm hứng triết luận trở thành một nét phong cách quan trọng trong văn xuôi đương đại” Như vậy, việc tăng cường tính triết luận thực

Trang 16

sự là khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi thời kì đổi mới Khuynh hướng này coi trọng sự nghiền ngẫm, lí giải về các hiện thực diễn ra trong cuộc sống, từ

đó người viết có những lí giải mới, đáp ứng được điều mà nhiều nhà văn thế hệ trước đã trăn trở Khuynh hướng này còn đề cao vai trò của nhà văn, bên cạnh

tư cách của một người nghệ sĩ thì nhà văn còn hiện lên là một nhà tư tưởng, mang những kinh nghiệm đúc kết của bản thân làm kim chỉ nam cho con người

Tính triết luận sau 1975 là sự tiếp nối mạch cảm hứng triết luận trong văn chương truyền thống Trong thời trung đại mỗi tác phẩm là sự hòa quyện, gắn kết bởi ba yếu tố “văn - sử - triết” nhằm hướng tới mục đích “ngôn chí”,

“tải đạo”, vì vậy các sáng tác thời xưa viết nhiều về triết luận Ví như việc triết luận về trang nam nhi thời Trần được tác giả gửi gắm thông qua hình tượng

người tráng sĩ “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” (Cầm ngang ngọn giáo bảo

vệ non sông đã mấy thu) với đầy hào khí Có khi lại triết luận về tài mệnh đầy

xót xa trong những câu thơ mở đầu Truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi người

trông thấy mà đau đớn lòng” Về sau, trong văn học thời hiện đại Nam Cao từng đưa ra rất nhiều quan niệm về người cầm bút và kẻ mạnh như: “kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỷ, kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ người khác trên đôi vai của mình” (Đời thừa) Đó là những

triết luận về cuộc sống mà dù ở bất cứ thời kì nào nó vẫn còn nguyên giá trị

Hiện tượng “văn - sử - triết” bất phân ngày càng phai nhạt dần Nhưng không có nghĩa rằng chất triết học trong tác phẩm văn chương mất đi mà hơn nữa khi bước sang nền văn học hiện đại, nó còn được tiếp thêm luồng gió mới đến từ tư tưởng triết học Phương Tây Thời kì này, ý thức cá nhân trỗi dậy, tất yếu trở thành tư tưởng riêng tích lũy được từ những trải nghiệm của người nghệ sĩ Như Xuân Diệu nổi bật với triết luận sống vội vàng đến cuống quýt, lúc nào cũng gấp gáp, vội vã với niềm đam mê được tận hưởng mọi thanh sắc,

lạc thú của cuộc đời: “Ta muốn ôm/ Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn” Hay

những nhà thơ như Thế Lữ, Chế Lan Viên, Huy Cận… đều thể hiện ít nhiều những triết luận về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và xã hội

Với chiến thắng lẫy lừng của nhân dân ta trong mùa xuân 1975 đã mở ra một chân trời mới, một bước ngoặt lịch sử của đất nước và con người Việt Nam

Trang 17

Hòa bình trở lại, con người trở về với cuộc sống đời thường, hằng ngày lo miếng cơm manh áo, cái đời thường với muôn màu muôn vẻ trắng đen, bi hài,… lẫn lộn Con người từ đây phải đối mặt với nhiều vấn đề của cuộc sống, chính

vì vậy họ có những suy tư nhiều hơn Đặc biệt, với người cầm bút sự suy tư ấy càng phải sâu sắc, rõ ràng và có chiều sâu hơn bởi họ là những con người nhạy cảm trước những vấn đề bức thiết của thời đại Nhiều giá trị nếu trước đây được coi là chuẩn mực của xã hội thời chiến đến nay trở nên bị lỗi thời, lung lay, lạc nhịp bên cạnh đó, nhiều giá trị mới cũng được xác lập Ý thức cá nhân lại bừng tỉnh, nhu cầu công bố tư tưởng cá nhân trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Nhất

là từ thời kì đổi mới cho đến nay, nhu cầu bộc lộ những ý kiến cá nhân, sự phân tích, giải thích, bình luận về những vấn đề trong cuộc sống càng trở nên mạnh

mẽ trong nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ

Trong văn xuôi, khuynh hướng triết luận cũng nổi lên mạnh mẽ từ những nhà văn lão thành như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng,… cho đến các nhà văn thuộc tầng lớp sau này như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh,… Cả nội dung và hình thức triết luận đều có sự mở rộng phong phú, đánh dấu sự sáng tạo đổi mới của nhà văn Về nội dung triết luận được phát triển rộng, hướng tới những vấn đề nhân sinh, thế

sự, lịch sử, niềm tin, tôn giáo Về hình thức thể hiện vô cùng phong phú qua các thể loại khác nhau như: truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn Điểm qua một số sáng tác của các nhà văn giai đoạn này, chúng ta có thể thấy rõ điều đó

Khi viết về chiến tranh đã qua đi, để lại cho con người nhiều suy ngẫm

và nhận ra cần phải có một cách nhìn nhận khách quan hơn, Nguyễn Minh Châu

từng đưa ra trong tác phẩm của mình qua câu nói của nhân vật Lực: “Chiến tranh, kháng chiến, không phải như một số người khác, đến bây giờ tôi không

hề mảy may hối tiếc đã dốc cả tuổi trẻ vào đấy cống hiến cho nó, nhưng nó như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi thật khó gắn liền lại như cũ”

[2, tr470] Nhân vật Lực từ chiến tranh trở về nhận thức ra được rằng đó là cuộc chiến tàn khốc, chính nó đã cướp đi nhiều giá trị tốt đẹp của anh từ tuổi trẻ đến khát vọng về một cuộc sống cá nhân Tuy vậy, anh không hối tiếc vì đã cống hiến cả phần đời đẹp đẽ nhất cho cách mạng, cũng giống như thanh niên yêu nước lúc bấy giờ theo tiếng gọi của đất nước lên đường ra mặt trận với tình yêu

Trang 18

quê hương và niềm tin vào một ngày mai tươi sáng của dân tộc Nhưng rồi sau này anh nhận ra hiện thực chiến tranh đã để lại cho bản thân anh nhiều xót xa, hơn tất cả là tình yêu tan vỡ của anh và Thai

Đến với Nguyễn Khải, người đọc không khó để nhận thấy những triết luận

được ông gửi gắm ở tác phẩm của mình như truyện ngắn Thời gian của người

nhà văn đã đưa ra triết luận về mối quan hệ giữa số phận con người và tác động

của lịch sử: “Một nhà văn viết cả vạn trang sách nhưng chỉ lo lắng có sự nổi tiếng của mình, nổi tiếng bằng cách nào cũng được, thì anh ta chỉ có một người đọc duy nhất là chính tác giả Còn một đời văn chỉ viết có trăm trang sách chẳng hạn, nhưng là viết vì bạn đọc, cho bạn đọc thì sẽ có nhiều thế hệ người đọc chăm chú đọc trăm trang sách ấy Nó đâu chỉ là trăm trang, mà là vô cùng vô tận trang sách” Đây chính là khoảng thời gian để nhà văn cũng như mọi người bình tĩnh

nhìn nhận lại cả một chặng đường đầy gian khổ đã đi qua với những mất mát đau thương nhưng cũng rất anh hùng của cả dân tộc

Như vậy, triết luận đã trở thành một khuynh hướng sáng tác trong văn học,

và từ sau 1975 đến nay càng phát triển mạnh mẽ Đặc biệt văn học giai đoạn này, nhà văn không đưa ra một công thức cụ thể nào cho độc giả mà tác giả trở thành nhà tư tưởng Bởi người đọc lúc này có một trình độ văn hóa cao hơn trước, vì vậy mục đích mà họ tìm hiểu tác phẩm không chỉ còn để giải trí mà còn để lí giải được những băn khoăn, day dứt về những điều xảy ra trong cuộc sống đời thường Điều

đó, khiến cho các nhà văn buộc phải thay đổi, có cái nhìn mới về tư duy nghệ thuật, có góc nhìn sâu sắc hơn để đưa ra những suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc đời Người nghệ sĩ gửi gắm những chân lí cuộc sống qua các tác phẩm chính là sự đúc kết kinh nghiệm, sự từng trải và một vốn sống sâu rộng của mình Đồng thời,

từ đó tác giả sẽ cho người đọc thấy dấu ấn riêng của mình trên thi đàn văn học Kết quả là không ít những nhà văn làm được điều trên, ngoài sự đóng góp của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải giai đoạn trước, ta còn phải kể đến thời kì sau

mà tiêu biểu là Ma Văn Kháng đã tạo nên bề dày của khuynh hướng triết luận trong văn học sau 1975

Trang 19

1.2 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Chuyện của Lý

1.2.1 Vài nét về tác giả Ma Văn Kháng và quá trình sáng tác

1.2.1.1 Vài nét về tác giả Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, tên thường dùng và bút danh là Ma Văn Kháng Ông sinh năm 1936, tại thị xã Sơn Tây, thành phố

Hà Nội; nguyên quán là làng Kim Liên, nay là phố Kim Hoa, phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Kim Liên vốn là một làng quê, ngoại

ô Hà Nội, đó cũng chính là quê ngoại của nhà văn Ngày nay, mọi thứ đều thay đổi, tên làng cũng không còn, đường lát gạch hôm nào đã trở thành đường bê tông, mồ mả ông bà, chú bác nhà văn đã dời lên nghĩa trang Thanh Tước Mặc

dù vậy, Kim Liên vẫn là nơi gốc tích ra đời của Ma Văn Kháng

Thân phụ của nhà văn vốn là ông chủ cửa hàng cắt tóc ở thị xã Sơn Tây thời bấy giờ Thuở nhỏ, Ma Văn Kháng theo học trường làng Đang học lớp thứ Nhì năm thứ nhất thì xảy ra Nhật đảo chính Pháp Cũng từ đó, nạn đói năm

1945 đã để lại cho tuổi thơ của các nhà văn thời đó nói chung và Ma Văn Kháng nói riêng một ấn tượng khủng khiếp khó phai Đó là hình ảnh những xác người

chết nằm đầy ở lều chợ mà nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt từng viết, hay những cái xác người chết: “đen thui như những bộ xương khô nằm trần trụi, thảng hoặc được phủ một manh chiếu rách nằm chỏng chơ bên lề đường”

[6, tr.152] Đinh Trọng Đoàn sinh ra và lớn lên với tuổi thiếu niên đầy lam lũ, khó nhọc, chính điều đó giúp nhà văn có cái nhìn về cuộc đời với bao sự cảm thông day dứt về làng quê nghèo bởi vậy nó đã ám ảnh trong suốt cuộc đời cầm bút của ông Trên những trang viết của mình về cuộc sống những cảnh người ven đô vất vả, nghèo đói, nhà văn cho người đọc thấy thấp thoáng đâu đó là tấm lòng hoài niệm, xót xa, đồng cảm với những số phận bấp bênh, chìm nổi của họ Năm 1945 là mốc lịch sự hào hùng quan trọng mở đầu cho thời kì hòa bình của dân tộc Việt Nam, thế hệ thanh niên miền Bắc theo tiếng gọi của Đanko, Panven Corsaghin… xung phong đến những nơi khó khăn nhất của đất nước, tất cả vì một tình yêu dân tộc và khát vọng vào một ngày mai độc lập Đinh Trọng Đoàn đã rời thủ đô yêu dấu, “gánh chữ” lên Lào Cai - miền biên cương của Tổ quốc Bút danh Ma Văn Kháng không phải một cái tên được lấy một cách ngẫu nhiên để nghe giống với tiếng miền núi Mà ẩn sau đó là cả một

Trang 20

câu chuyện thấm đượm tình người Trong một lần Ma Văn Kháng bị sốt rét ác tính, ông Ma Văn Nho Phó Chủ Tịch huyện Bảo Thắng trên Tây Bắc, đã lặn lội tìm thầy thuốc chữa khỏi bệnh cho nhà văn và sau này hai người trở thành anh

em kết nghĩa, chính vì vậy mà bút danh Ma Văn Kháng ra đời theo ân tình đó Điều thú vị là ông Ma Văn Nho là người Kinh, quê ở Yên Bái, chứ cũng không phải là người dân tộc thiểu số

Ma Văn Kháng là người cần cù, chịu khó, bền bỉ, đi vào cuộc sống đời thường bằng một trái tim nhân hậu với những cuộc gặp gỡ hỏi thăm, ghi chép lặng lẽ, không cần đao to búa lớn ông khiêm nhường chuyển hóa toàn bộ những hiểu biết vốn sống của mình về cuộc sống nhân dân và hiện thực đất nước qua những trang văn Nhà văn Võ Văn Trực từng viết về Ma Văn Kháng như sau

“ăn mặc xềnh xoàng, đầu đội mũ lưỡi trai, vai mang chiếc túi dết căng phồng sáng vở” [14, tr.5] Ma Văn Kháng ban đầu làm thầy giáo, nhà cán bộ sau đó

mới đến với văn chương Con đường trở thành nhà văn của ông bắt đầu từ quãng đời trẻ trung nhất khi ông trải qua những đợt tiễu phỉ, làm thuế nông nghiệp, dạy học rồi làm nhà báo Có thể nói, ông đã trải qua lần lượt các cương

vị công tác từ cán bộ cách mạng: thiếu sinh quân, đến giáo viên dạy văn, hiệu trưởng cấp hai rồi cấp ba phổ thông ở Lào Cai, phóng viên rồi phó tổng biên tập báo Lào Cai, thư kí cho bí thư tỉnh ủy Lào Cai, dù ở cương vị công tác nào ông cũng luôn gần gũi, dễ mến, thân thiện với mọi người và đặc biệt không ngừng tìm tòi học tập và rèn luyện bản thân

1.2.1.2 Quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng đã trải qua 50 năm lao động và sáng tạo nghệ thuật không

ngưng nghỉ Từ khi tác phẩm đầu tay Phố cụt (1961) ra đời cho đến nay, ông

đã có một gia tài văn chương vô cùng đồ sộ gồm khoảng 200 truyện ngắn cùng hơn 10 cuốn tiểu thuyết Nhà văn luôn cần mẫn, chuyên nghiệp “chăm chút như chú ong làm mật”, đến nay Ma Văn Kháng đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá

trị như tiểu thuyết gồm: Đồng bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983), Ngược dòng nước lũ (1999), Một mình một ngựa (2009); truyện ngắn gồm: Trăng soi sân nhỏ (1994), Ngày đẹp trời (1986); hồi ký gồm: Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (2011)…

Trang 21

Hành trình sáng tạo của ông gắn liền với bút danh Ma Văn Kháng, nó như sự gắn bó ân tình với một cán bộ cánh mạng công tác trên miền núi, nơi

mà thầy giáo trẻ Ma Văn Kháng với ngọn lửa nhiệt huyết của mình đã mang con chữ lên vùng cao Bút danh Ma Văn Kháng xuất hiện lần đầu tiên trên thi

đàn văn học với truyện ngắn đầu tay Phố cụt (1961), ông viết về số phận những

con người sống quần tụ trong ngõ phố nhỏ heo hút miền núi Qua đó, thể hiện tấm lòng nhân hậu của người viết, sự cảm thông đối với những con người lao động lương thiện bị hoàn cảnh xô đẩy nhưng vẫn giữ được sự bao dung và

phẩm cách con người Nhưng chỉ đến khi truyện ngắn Xa Phủ ra đời thì tên tuổi

của Ma Văn Kháng mới thật sự được chú ý Trong tác phẩm này Ma Văn Kháng

đã để lại cho mình một phong cách riêng, ông đã tái hiện một cách rõ nét cuộc sống của các dân tộc miền núi Tây Bắc Cũng trong khoảng thời gian này, ông

về Hà Nội học và nhà văn hiểu ra rằng nếu chỉ bước chân vào hiện thực cuộc sống “cày sâu cuốc bẫm” thì chưa đủ, chính vì vậy ông cố gắng học tập từ nhiều kênh thông tin khác nhau Điều này đã giúp cho Ma Văn Kháng đạt được nhiều thành tựu và từ đó dần khẳng định được tên tuổi của mình với những giải thưởng khác nhau như giải nhì cuộc thi truyện ngắn 1967 - 1968 Ma Văn Kháng sau đó

đã cho ra đời liên tiếp 5 tập truyện ngắn và trở thành hội nhà văn Việt Nam vào năm 1974

Sau 1975, đất nước bước vào thời kì độc lập, sáng tác của ông nở rộ, bút lực càng tỏ ra sung sức, đề tài không những mở rộng mà còn khai thác sâu, nhiều chiều hơn Cùng với truyện ngắn, Ma Văn Kháng còn cho ra đời hàng loạt những tiểu thuyết có giá trị, phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống đồng

bào dân tộc miền núi như: Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983) và sau này là Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001), Chuyện của

Lý (2013)… Những sáng tác kể trên, đã bộc lộ được một vốn sống sâu rộng của

nhà văn về đề tài miền núi Vì lẽ đó, Ma Văn Kháng được biết đến là “Nhà văn của núi rừng”

Bên cạnh những tiểu thuyết viết về miền núi, ông còn khẳng định tên

tuổi của mình qua những sáng tác phản ánh về đô thị Trong đó, Mưa mùa hạ

(1982) là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Ma Văn Kháng về đời sống thành đô, sau vài năm trở về xuôi làm công tác xuất bản Sau đó, những năm trở lại đây,

Trang 22

hàng loạt những tác phẩm về thành thị như Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Chó bi, Đời lưu lạc (1992) lần lượt

được ông cho ra đời làm sôi sục nền văn học Những tác phẩm trên đánh dấu

sự trưởng thành của nhà văn trong sự nghiệp văn chương của mình Không phải ngẫu nhiên ông được đánh giá là nhà văn thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Nếu như ở mảng truyện ngắn, ông tỏ ra là một ngòi bút điêu luyện và tinh tế về nghề nghiệp thì đến với tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã chứng minh được khả năng sáng tạo của mình khiến đồng nghiệp phải kính phục Như vậy, ta thấy sáng tác của ông nói chung và ở thể loại tiểu thuyết nói riêng đều đề cập đến hai đề tài chính là: Miền núi và thành thị

Có thể nói, Ma Văn Kháng đã đi trọn một hành trình sáng tạo văn học, trong gần 50 năm nhà văn đã tích lũy cho mình một vốn sống, kinh nghiệm cùng tài năng của bản thân và thực tế trải nghiệm, nhà văn đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị cao và gặt hái được những thành công đáng kể Với kinh nghiệm là một nhà viết báo lâu năm cũng như một bề dày về thành tựu sáng tác của mình Ma Văn Kháng chính là tấm gương về một nhà văn - nhà báo gắn bó sâu nặng với đời sống nhân dân với một sự cố gắng bền bỉ phấn đấu cho sự phát triển chung của xã hội, cho sự hoàn thiện của con người, cho sự hữu ích về những cái hay, cái đẹp trong văn chương

1.2.2 Tiểu thuyết Chuyện của Lý trong dòng chảy văn xuôi đương đại Việt Nam

Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đã dần thoát ra khỏi lối mòn của đường ray cũ về một thời cách tân, đem đến những tiếng nói riêng, một bộ mặt riêng trên thi đàn văn học Và một trong số những thay đổi ấy chính là sự ra đời tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Với các sáng tác của mình, tác phẩm của ông đã làm thay đổi và có những bước cách tân vượt trội theo nhịp điệu vận động và phát triển của văn học Chính sự đổi mới đó đã tạo ra một “hiện tượng Ma Văn Kháng” Vì vậy, tác phẩm của ông đã nhận được sự quan tâm của độc giả trong

và ngoài nước

Tiểu thuyết Chuyện của Lý chính thức ra mắt bạn đọc năm 2013 Tác

phẩm là sự kết tinh tài năng và vốn sống của Ma Văn Kháng gần 80 năm qua Vẫn theo mạch viết về cuộc sống và con người dân tộc miền núi, dù ra đời muộn nhưng tác phẩm cũng đã để lại dấu ấn riêng trên thi đàn văn học đương đại Cùng

Trang 23

viết về đề tài miền núi ta còn bắt gặp sáng tác của Tô Hoài người được mệnh danh là “nhà văn của núi rừng Tây Bắc”, song ở mỗi nhà văn lại có những cách nhìn nhận riêng mang phong cách cá nhân Nếu như Tô Hoài đi sâu vào khai thác bức tranh thiên nhiên hoang sơ của phong cảnh, bản sắc văn hóa của người dân Tây Bắc thì Ma Văn Kháng lại mở ra một bức tranh lịch sử tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống, tập tục sinh hoạt, cuộc đấu tranh nội tâm giằng xé của đồng bào dân tộc trên con đường vươn lên chủ nghĩa xã hội

Về mặt nội dung, Chuyện của Lý được Ma Văn Kháng gửi gắm những

kinh nghiệm sống được đúc kết thành những triết luận mang tính khái quát về cuộc đời và con người Đúng như tên nhan đề, tác phẩm kể về cuộc đời và số phậm của nhân vật Lý từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành Với bao biến động, khó khăn xảy đến bên cô, từ đứa con sinh ra không có giấy giá thú, đến một cô gái thông minh, nhanh nhẹn đầy tình thương người và hiểu đời Và Lý cứ dần dần lớn lên như vậy trong tình yêu thương của những con người có trái tim nhân hậu Chính cô là minh chứng lớn lao cho mệnh đề mà Ma Văn Kháng

muốn gửi gắm “Con người là cái lý sâu xa nhất của cuộc đời”

Về mặt nghệ thuật, Ma Văn Kháng là người mở đường cho sự đổi mới của văn học Việt Nam đương đại Tác phẩm của ông luôn thể hiện sự cố gắng đổi mới trong cách tân nghệ thuật Với sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân trong đời sống, sự thay đổi thế giới nhân sinh quan, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã góp phần xây dựng những quan niệm nghệ thuật về con người với những đổi

mới đáng kể về các yếu tố nghệ thuật Qua tiểu thuyết Chuyện của Lý, Ma Văn

Kháng lại một lần nữa khẳng định được sự sáng tạo nghệ thuật cũng như dấu

ấn riêng của cá nhân qua việc nghệ xây dựng nhân vật, cốt truyện cùng một giọng điệu và ngôn ngữ mang tính triết luận, đã cho thấy vốn sống, kinh nghiệm đúc kết được của nhà văn qua gần 50 năm cầm bút

Tiểu thuyết Chuyện của Lý mặc dù mới được xuất bản và với đề tài quen

thuộc nhưng tư tưởng chủ đề mà tác giả gửi gắm vào trong từng trang sách là

vô cùng sâu sắc Tác phẩm đã đề cập được những vấn đề mang tính thời sự, đồng thời nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào muôn vàn khó khăn thử thách trong cuộc sống Từ đó, nhân vật của ông bừng lên sức sống mãnh liệt vượt qua mọi gian truân để khẳng định sức mạnh của bản thân

Trang 24

CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN TÍNH TRIẾT LUẬN TRONG TIỂU THUYẾT

CHUYỆN CỦA LÝ CỦA MA VĂN KHÁNG

2.1 Triết luận về cuộc sống miền núi đương đại

Ma Văn Kháng lấy bối cảnh đất nước đang trong thời kì chiến tranh để

xây dựng cuốn tiểu thuyết Chuyện của Lý Lúc này đế quốc Mỹ đã thua to ở

chiến trường miền Nam, nhất là ở Quảng Trị Do đó, chúng tăng cường đánh phá miền Bắc, trong đó có huyện Phong Sa Cứ đến mười hai giờ trưa khi bọn trẻ đi học về, trên vòm trời lại xuất hiện một tiếng ùn như đạn pháo làm rung chuyển

cả bầu không khí trong vùng Nếu ngoài tiền tuyến là những con người đang anh dũng chiến đấu để bảo vệ quê hương đất nước, thì trái lại ở hậu phương lại có những người nhân danh chính quyền mà sống sung sướng, bóc lột, vơ vét của cải, làm nhiều điều đồi bại với nhân dân Ma Văn Kháng thật nhạy bén khi nắm bắt được tình hình thời đại lúc bấy giờ, từ đó, ông đi sâu tìm tòi nguyên nhân của tội ác, đồng thời bày tỏ sự phẫn nộ của cả lý trí và trái tim trước sự tàn độc của những con thú người, cảnh giới con người trước tình trạng tha hóa đạo đức dẫn đến tình trạng tội ác gia tăng hủy hoại đời sống

Trong không khí ấy, tiểu thuyết Chuyện của Lý còn được nhà văn khai

thác sâu vào phong tục, những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc miền núi mà đặc biệt là dân tộc người Dao ở Huyện Phong Sa Phong Sa có hai mươi tám

xã, có bến phà Cốc Tủm và cây cầu Bảo Lâm Trong đó, có Lao Táo Chải là xã

xa xôi hẻo lánh nhất Huyện Phong Sa Nơi đây, có một sườn núi đá chen chúc các ngôi nhà người Mông mái đỏ, tường trình đất, với hai ngả đường, một đi

Cồ Dề Chải của người Nùng, một xuống thôn bản Ngồ, nơi người Dao cư trú cùng người Phù Lá Khi chiến tranh xảy ra, thị trấn Phong Sa đành bỏ hoang hoàn toàn Người dân theo lời kêu gọi của Nhà nước sơ tán vào làng Phèn Phàng của người Dao cách năm cây số đường chim bay Từ đây, Ma Văn Kháng gửi gắm những triết luận về cuộc sống và văn hóa người dân tộc Dao một cách sâu sắc và đầy ấn tượng

Người Dao xưa nay vốn ở trên vùng cao nơi rừng xanh núi đỏ, họ rất quý người Chính vì vậy, trong tác phẩm nhà văn để ông Thòn và bà Pham là hai

Trang 25

nhân vật đại diện cho con người Dao mang trong mình tình thương người nên

đã cưu mang hai mẹ con Lý về ở tại nhà ông bà bên Thôn Một Phèn Phàng, cách thôn trung tâm của xã Thèn Phàng nơi cơ quan huyện ủy sơ tán một con suối tên

là Suối Lớn Dù vẫn biết, thêm người là thêm việc nhưng với ông Thòn có thêm đứa trẻ là người già thêm được niềm vui, một niềm vui bỗng dưng không dễ gì

mà có được Ông Thòn - bậc đại hiền, người thông hiểu lẽ đời đã đưa ra triết luận

vô cùng sâu sắc trong văn hóa của người Dao: “Nhà nào cái ngưỡng cửa, cái bậc cửa có nhiều vết dao băm chặt, tức vết dao trẻ con nó đẽo cây khăng, gọt con quay, chặt đôi cà kheo, vót cái tên nỏ, thì đắt tiền mấy cũng mua” [7, tr.10]

Ma Văn Kháng muốn cho người đọc thấy, đối với người Dao nói riêng và con người nói chung đứa trẻ chính là cái phúc lộc của cuộc đời, có đứa trẻ trong nhà là có thêm niềm vui, tiếng nói cười nô đùa trẻ nhỏ trong nhà là thứ quý giá

mà “ông Giời” ban cho con người Người Dao có thói quen, nếu trong nhà có trẻ nhỏ khi mổ con gà, việc đầu tiên là cắt hai cái đùi để dành cho nó Trong

làng bản của họ có ba thứ âm thanh vô cùng quý giá “Thứ nhất là tiếng trẻ con

nô đùa Thứ hai là tiếng đọc sách Thứ ba là tiếng xa quay, dệt vải” Như vậy,

trong cuộc sống người Dao cho rằng khi đi chọn mua nhà nên nhìn vào cái bậc cửa nơi ghi dấu những trò chơi tinh nghịch của bọn trẻ và đối với bản làng Dao

âm thanh quý nhất chính là tiếng trẻ em nô đùa, bởi nhà nào có tiếng trẻ nhỏ chứng tỏ gia đình ấy sẽ nhiều may mắn, tài lộc

Trang phục ở từng dân tộc lại có những điểm riêng, trẻ con người Dao phân biệt bằng sắc áo chàm, con gái có đứa đội khăn đỏ, có mấy bông hoa len màu hoa dâm bụt thả hai bên tai Người Dao thường mặc chiếc áo sau lưng có

thêm Ấn nhà trời Theo lời của bà Pham kể về sự tích vuông vải đỏ sau lưng

rằng từ ngày xưa, ở một bản nọ có cặp vợ chồng trẻ người Dao sống cùng một con chim chích chòe nho nhỏ Hai người đang sống bên nhau vô cùng hạnh phúc thì tai họa ập đến gia đình họ, có một tên vua độc ác của xứ sở sai lính đến bắt người vợ đi sau khi đã đánh chàng trai đến ngất và giết con chim chích chòe Khi tỉnh dậy chàng thấy thương xót con chim bé bỏng bèn xé mảnh vải sau lưng gói xác chim Sau đó, được ấp ủ bằng hơi ấm của chàng chim chích chòe sống lại và nói với chàng “Vá vuông vải này vào lưng áo, chỗ chủ đã xé lấy vải niệm tôi ấy, rồi hãy đi tìm nàng” Nghe lời chim, chàng đi tìm vợ và

Trang 26

may mắn gặp được tiên Cảm kích vì tấm lòng yêu thương vợ chàng được Tiên đóng dấu Ấn nhà trời vào vuông vải sau áo và dặn về nhuộm sao cho đỏ trăm năm không phai thì sẽ cứu được vợ mình Chàng về nhà, lấy máu mình nhuộm đúng bảy ngày vừa lúc tấm vải đỏ rực như một vầng hồng thì vợ chàng liền hiện ra Từ đó, người Dao có tục lệ thêu sau áo một vuông vải đỏ gọi là Ấn nhà trời sau lưng như để thể hiện sự cảm kích về tình cảm vợ chồng, cũng là lời nhắn nhủ tới con người rằng hãy sống có tình nghĩa, làm nhiều việc thiện có ích cho cuộc đời vì theo quan niệm xưa ở hiền sẽ gặp lành

Người dân Dao có ngôn ngữ riêng, có những bài hát đặc trưng của dân tộc miền núi phía Bắc, nhưng khi người Dao hát miệng cứ ậm à ậm ừ… Bà Pham giải thích đó là vì xưa có một hôm Giời nhắn xuống trần gian bảo các dân tộc cho người lên Giời dạy hát cho nhưng người Dao lên muộn, Giời đã ngủ Nghe tiếng Giời ngáy, người Dao lại tưởng Giời hát, thế là từ đó cứ hát theo Thế mới thấy mỗi vùng miền lại có những nét phong tục riêng, có những câu chuyện văn hóa đặc trưng được đúc kết truyền miệng từ đời này sang đời

khác Đọc Chuyện của Lý người đọc sẽ hiểu biết thêm vễ những câu chuyện

mang màu sắc văn hóa của người Dao nơi núi rừng hiểm trở và khắc nghiệt

Dân tộc Dao nằm khuất trong một thung lũng, xưa là nơi ẩn cư của những người dám chống lại ách áp bức bóc lột, ly khai của chính quyền thực dân thổ

ty ác bá Kháng chiến chống Pháp nơi đây làm căn cứ du kích Đến kháng chiến chống Mỹ, nơi đây là địa điểm sơ tán của cơ quan huyện Phong Sa Theo truyền thuyết kể lại rằng: Nguồn gốc người Dao là Bàn Đại Hộ Bàn Đại Hộ tức là long quyển Bàn Vương là thủy tổ của người Dao, ban luật lệ cho phép mười hai họ con cháu Bàn Vương là các họ Bàn, họ Tẩn, họ Triệu, họ Lý,… vĩnh viễn ở trong núi rừng, sống bằng cách đao canh hỏa chủng, ruộng đất cứ cách mặt nước ba thốn trở lên là của người Dao Chính vì vậy, chó ở đây được người dân quý trọng như ân nhân Bởi thế mà mỗi nhà dân bình thường ở đây cũng

có vài ba chú chó quyển Chó nơi đây được nuôi dưỡng nơi rừng hoang, sinh sôi nảy nở tự nhiên nhưng luôn quyến luyến con người Bên cạnh mối quan hệ gần gũi với con người, âm thanh của những con vật ở đây còn trở thành âm thanh riêng của cuộc sống thường ngày Bên cạnh chó Mực còn có những con vật như: mèo, gà, vịt… đã trở thành người bạn của Lý ngay từ khi còn nhỏ

Trang 27

“Đẫy giấc thì tỉnh Tỉnh thì nằm nghe con mèo Nhung kêu meo meo, con gà trống cưỡng tập gáy, con chó Mực sủa toang toang, con gà mái đẻ trứng cục tác, con vịt gọi đàn cạc cạc, con lợn đòi ăn ịt ịt” [7, tr.10] Tất cả những âm

thanh ấy như gợi đến sự no đủ, ấm áp của con người giữa trốn rừng xanh

Ma Văn Kháng đã vẽ lên trước mắt người đọc khung cảnh sinh hoạt hằng ngày của dân tộc Dao như lên rừng lấy củi, săn bắn con cá, con gà làm thức ăn, làm rãy làm nương, thêu thùa khăn áo,… Đây là những công việc hết sức đời thường để kiếm miếng cơm manh áo của người dân trốn rừng núi hiểm trở Bên cạnh đó, nhà văn còn miêu tả toàn cảnh căn nhà của người Dao vô cùng chân thực, với một nửa nhà là sàn lát bằng lá vầu, nửa còn lại là đất đồi san phẳng, đầu hồi có một cái bếp lò, vách nứa là nơi gài dao, cạnh những chiếc cuốc thuổng

có cái cối xay bằng đá Giữa nhà người Dao đặt một cái bàn thờ, đặc biệt phía sau treo rất nhiều tranh các vị thánh hình thù kì dị Sống trên những quả đồi cao, không thể trách khỏi những cơn động rừng, mưa lũ xối xả khiến vách đá sụt lở, cây cối đổ rạp cả một đồi sơn trà như muốn cuốn trôi hết tất cả ruộng vườn nhà cửa Nhưng đặc biệt, họ còn phải đối mặt với những con thú dữ như trong tác phẩm nhà văn có viết về một lần rừng động con hổ què từ rừng già đi xuống bản làng người Dao, nó đã nhiều lần mò vào làng bắt chó bắt lợn, còn dám rình vồ người đi nương Hình ảnh sinh hoạt của người dân nơi đây hiện lên từng trang văn thật nhiều màu sắc, với những vẻ đẹp giản dị cùng sự hoang dã đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc

Không chỉ viết về cảnh sinh hoạt đời thường của người Dao, Ma Văn Kháng còn đưa bạn đọc đến với một vùng văn hóa tín ngưỡng của con người nơi đây Bộ tộc Dao là một cộng đồng người có một về dày văn hóa lịch sử vô cùng phong phú lâu đời Mà ông Thòn là minh chứng hiển nhiên của một vùng văn hóa dân gian cừ khôi Đây là một bộ tộc có học vấn uyên thâm Ông Thòn

có cả một hòm sách cổ viết bằng chữ Nôm - Dao đủ để thấy trình độ hiểu biết thông tỏ lẽ đời là vì thế Hơn nữa, theo tục lệ tổ tiên người Dao truyền lại, đàn ông Dao đến mười tám tuổi muốn được coi là người đã trưởng thành phải qua một lễ cấp sắc Không qua lễ cấp sắc thì dẫu tuổi cao vẫn bị coi như một đứa trẻ, khi ăn ngồi mâm với đàn bà trẻ nhỏ, chết không được về đất tổ Dương Châu

vì chưa được bên phần âm công nhận Đàn ông nơi đây muốn có được chứng

Trang 28

chỉ vào đời ấy phải trải qua một thời gian học tập và rèn luyện Lễ cấp sắc có

ba bậc: 3 đèn, 7 đèn, 12 đèn Mười hai đèn là bậc cao nhất gọi là chiếp nhị phin Ông Thòn trong tác phẩm đã hóa thân thành vị thầy cúng oai phong lẫm liệt chiếp nhị pin Dưới quyền ông lúc này là 120 quân lính, có thể hóa giải được tất cả các vía độc hại Người ta cho rằng âm dương luôn có sự giao thoa nào

đó Chính vì vậy, ở các dân tộc miền núi nói chung và dân tộc Dao nói riêng thường có tục lệ cúng lễ để cầu mong mưa thuận gió hòa, đuổi được những con

ma ác làm khổ con người

Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện của Lý, Ma Văn Kháng có miêu tả một

lần động rừng con hổ què đã đi xuống bản làng người Dao sinh sống và vào đến nhà ông Thòn, tại đây cô bé Lý đã đối mặt với con vật vô cùng nguy hiểm này Sau khi đuổi được con hổ, bà Pham đã phải kiểm tra xem cháu có bị sao không nhất là phần ở thóp và ngực Vì theo quan niệm người Dao, con người

có mười hai hồn Hồn ở thóp và hồn ở ngực là quan trọng nhất Rồi ông Thòn

đã tiến hành buổi cúng giữ vía cho cái Lý Ông oai nghiêm trong tấm áo choàng xanh, lúc này ông hiện lên không chỉ là một ông già người Dao giỏi giang việc trồng trọt săn bắn chài lưới nơi đồng rừng Đặc biệt, sau này khi ông Thòn qua đời trước sự đau buồn của mọi người trong gia đình, con mèo Nhung nhảy thót lên mặt giường và ngay sau đó thốc qua mặt người vừa đi vào cõi trần Bỗng

nhiên, ông Thòn mở choàng mắt, căn dặn đứa cháu gái đôi điều về đạo lý ở đời

“Phân biệt vuông với tròn, ngắn với dài, thô với tinh Ăn hạt nghũa, trả hạt nhân Đó là cái đạo lý của vạn vật, là cái phúc lộc của người đời” [7, tr.299]

Sự việc ông Thòn chết đi rồi sống lại, chứng tỏ ông là bậc đại nhân, đại hiền nên sinh tử không có phàm lệ, không hoàn toàn tuân theo quy luận sống gửi thác về phổ biến như mọi người Sự việc tưởng như kì ảo, nhưng lại rất phù hợp với bối cảnh miền núi hoang sơ

Thế rồi chiến tranh chống Mỹ cũng qua đi, một thời kì mới đang bắt đầu hình thành ở miền rừng núi Phong Sa Xã hội lúc bấy giờ tuy đã đi vào ổn định, nhưng

ý thức của con người chưa được nâng cao cho thấy sự nham nhở của thời đại Có

lẽ, vì từ khi loài người hình thành cho đến nay vẫn đang trong quá trình hoàn thiện nhân cách Một xã hội tốt đẹp đang là mơ ước của loài người Với lý tưởng nhân

văn cao cả “Xây dựng một xã hội trong đó mỗi người đều được xứng đáng với danh

Trang 29

hiệu kiêu hãnh Con Người” [7, tr.314] Và đâu đó, nơi Phong Sa núi rừng trùng

điệp, có những con người đang làm từ nhất việc làm nhỏ nhất, giản dị nhất những

mong thay đổi cuộc đời của người dân nơi đây Ma Văn Kháng viết “Con người là sản phẩm của hoàn cảnh” [7, tr.314] Nhà văn muốn nói với người dân rằng để con

người tốt hơn thì tự ta phải cải tạo hoàn cảnh nham nhở trong một xã hội đang bước một chân sang ngưỡng cửa của sự đổi mới Vốn dĩ, cuộc sống không bao giờ là êm thuận cả, những chuyện xảy ra xung quanh không hề đơn giản nhất là trong xã hội hỗn độn thế này con người càng phải can đảm đón nhận, sẵn sàng đương đầu Ma Văn Kháng viết về cuộc sống văn hóa của dân tộc miền núi phía Bắc trong sự am hiểu, từng trải vô cùng sâu sắc để từ đó ông nêu nên một triết luận mang tính thời

sự “Cần có sự cách tân, tổ chức lại cuộc sống hiện thời của chúng ta” [7, tr.413]

Chiến tranh đã đem đến cho con người quá nhiều mất mát, đau thương, giờ đây hòa bình đã được lập lại, tuy nhiên việc khắc phục những tổn thất mà nó gây ra là vô cùng khó khăn và nan giản Đây cũng chính là những trăn trở, suy tư của nhà văn trước sự nhiễu nhương của cuộc sống mới khi con người trở về với thời bình và là một ý tưởng lớn lao, giàu tính nhân văn mà Ma Văn Kháng muốn gửi gắm tới người đọc

Với một khoảng thời gian dài công tác ở các tỉnh miền núi Ma Văn Kháng đã có những trải nghiệm về cuộc sống nơi đây cũng như bằng tài năng của mình nhà văn đã khắc họa một cách chân thực nhất về phong cảnh và con người, từ đó nêu lên những triết luận về thời đại, cuộc sống sinh hoạt và văn hóa của người dân tộc Dao Dù sống ở nơi rừng xanh núi đỏ, chịu nhiều thiên tai động rừng đe dọa đến cuộc sống nhưng con người nơi đây luôn có một tấm lòng nhân hậu, thương người cao cả Bên cạnh đó, họ còn chịu khó, tần tảo, không ngừng phấn đấu cải tạo hoàn cảnh từng bước xây dựng cuộc sống tốt

đẹp, xứng đáng hơn Đọc Chuyện của Lý, không chỉ thấy hiện lên bức tranh

thiên nhiên thơ mộng ngập tràn một màu xanh mà còn để lại trong lòng độc giả những quan niệm vô cùng sâu sắc về đời sống của người dân tộc Dao Điều đó, chứng tỏ tài năng của Ma Văn Kháng trong cái nhìn đối với cuộc đời, ở cái tuổi đắng lẽ nên nghỉ ngơi thì ông vẫn luôn miệt mài cho ra đời những tác phẩm có giá trị cho hậu thế

Trang 30

2.2 Triết luận về thân phận con người

Trước hết chúng tôi nhận thấy, trong các tác phẩm của mình, Ma Văn Kháng để cập đến nhiều hạng người, kiểu người trong xã hội với địa vị, tính cách khác nhau Trong đó, phải kể đến sự xuất hiện của hình ảnh người phụ nữ

một cách khá đậm đặc Đặc biệt, trong tiểu thuyết Chuyện của Lý, đó là hình

ảnh người phụ nữ miền núi đẹp người, đẹp nết - một vẻ đẹp tự nhiên, khỏe mạnh, phồn thực, đầy khả năng làm vợ, làm mẹ, làm chủ một gia đình miền núi Nhưng họ là những người có số phận vất vả, kém may mắn Song điều đáng quý, Ma Văn Kháng lại để cho nhân vật người phụ nữ trong sáng tác của mình rất đáng trân trọng: dù phải đối mặt với khó khăn, thử thách, cuộc sống lạc hậu,… nơi miền núi, nhưng ở họ chưa bao giờ mất niềm tin vào cuộc sống

mà ngược lại họ luôn cố gắng vượt lên trên hoàn cảnh và mang trong mình khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc hơn

Tiểu thuyết Chuyện của Lý được Ma Văn Kháng viết bằng một ngòi bút

hiện thực xong vẫn đan xen lãng mạn Qua đó, nhà văn đã tái hiện một bức tranh sinh động và màu sắc với nhiều câu chuyện độc đáo trong bối cảnh miền núi đầy thơ mộng nhưng cũng dữ dội và giàu tính thẩm mĩ Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn luôn xây dựng những triết luận độc đáo trong sáng tác của mình Chính vì vậy, Lã Nguyên từng viết “mang chiều sâu của triết luận nhân bản về đời sống, nội dung tác phẩm Ma Văn Kháng bao giờ cũng vượt ra ngoài ý nghĩa

đề tài, chất liệu” Ông luôn có những khái quát mang tính chiều sâu về những

quy luật của cuộc sống, tình người Tiểu thuyết Chuyện của Lý cũng không ngoại

lệ, chỉ với hơn bốn trăm trang sách Ma Văn Kháng đã để lại dấu ấn của sự từng trải, kinh nghiệm sống giàu có của mình trong từng con chữ Trong thời gian tìm hiểu về cuốn tiểu thuyết tiếp nối đề tài về miền núi, chúng tôi nhận thấy Ma Văn Kháng đã đưa ra những khái quát cơ bản mang tính triết luận về thân phận con người đầy sâu sắc

Chuyện của Lý viết về một cô giáo trẻ đẹp - mẹ Nhu và một đứa trẻ - Lý

ra đời trong một hoàn cảnh éo le khốn khó với biết bao bất công áp bức Mặc

dù vẫn biết Ma Văn Kháng không phải nhà văn thích chơi chữ, tuy nhiên trong cuốn tiểu thuyết này, ngay từ nhan đề ông cũng đã gửi gắm những suy tư, trăn trở của mình qua tên nhân vật Lý Và quả thực, đúng như tên nhan đề, cuốn tiểu

Trang 31

thuyết là câu chuyện của Lý, từ một đứa trẻ lọt lòng đến một cô thiết nữ tròn mười bảy đang căng tràn sự sống “Lý” ở đây là cái lý ở đời, là công lý, lẽ phải

và phải chăng nhà văn muốn hướng tới cái lý sâu xa về con người, cuộc đời Hướng tới tính triết lý, nhà văn tin rằng con người mới chính là thứ quý giá và bất biến nhất của cuộc đời

Ma Văn Kháng thật tài tình khi xây dựng thành công nhân vật Lý - con không giá thú Lý được sinh ra trong sự hắt hủi của người đời, nó là đứa con không cha mà người ta vẫn thường gọi bằng cái tên là con hoang Lý sinh ra đến tờ giấy khai sinh cũng không có, nó không có tên trong sổ hộ tịch Chính

vì vậy, cái Lý không được hưởng bất cứ tiểu chuẩn gì từ khi nó còn trong bụng

mẹ Nhu Nhưng Lý ra đời là sự kết tinh của một trái tim đến với một trái tim, một tình yêu mãnh liệt và cháy bỏng của hai con người đang hừng hực nhựa xuân Và rồi cứ thế Lý lớn lên, ngoan ngoãn như thấu hiểu tất cả những nỗi vất

vả và hoàn cảnh thiếu thốn của mẹ, khiến nhiều người không khỏi cảm thương, xót xa Vốn sinh ra đã là đứa trẻ chịu nhiều thiệt thòi, còn đang trong thời bao cấp rồi chiến tranh Người lớn nếu đi làm cho nhà nước sẽ có lương và mỗi tháng được mua theo giá quy định số thức ăn, lương thực Còn trẻ con từ lúc mới đẻ đến vị thành niên, theo độ tuổi được cấp sổ từ bốn cân gạo đến mười cân Thế mà cái Lý hoàn toàn tay không Bởi nó là đứa con ngoài giá thú Cuộc đời thật trớ trêu, giờ đây khi có Lý rồi mẹ Nhu càng phải cố gắng hơn bởi cô không được hưởng bất cứ trợ cấp nào từ khi Lý nằm trong bụng mình Thậm chí, chị còn không được nghỉ một tháng trước và sau khi sinh Dẫu vẫn biết muôn vàn khó khăn còn đang ở phía trước mặc dù vậy, người phụ nữ miền biển với sự mạnh mẽ, gan dạ đã dũng cảm đương đầu đấu tranh để vượt qua mọi gập ghềnh, khổ ải của cuộc đời

Tuy nhiên, nhà văn không để cho nhân vật của mình rơi vào ngõ cụt, ông luôn để cho họ một con đường, một tia ánh sáng trong quãng đời u tối Vì

lẽ đó, khi ngoài kia xã hội có quay lưng với mẹ con Lý thì đâu đó vẫn còn những con người giàu lòng thương người, hiểu đời và sẵn sàng sẻ chia nỗi khó khăn, vất vả sự tần tảo của mẹ Nhu để cái Lý được ra đời Sinh ra trong hoàn cảnh ấy, chắc hẳn con người phải chịu đựng nhiều thiệt thòi cả về thể chất và tinh thần Nhưng những số phận bất hạnh ấy lại gặp được sự cưu mang, giúp

Trang 32

đỡ của những con người lương thiện đó là ông Tẩn Mè Thòn và bà Tẩn Mùi Pham Chính bà Pham là người đỡ được Lý ra trong bụng mẹ, ông Thòn vỗ đít để nó bật lên tiếng khóc của con người Và chính mẹ Nhu là người bật ra cái tên Lý - đứa con gửi gắm mọi tình mẫu tử thiêng liêng Ma Văng Kháng thật sự tài tình khi trong tác phẩm của mình nhà văn không phải là người trực tiếp đưa những khái quát, những triết luận về cuộc sống mà ông gửi gắm điều

đó thông qua nhân vật trong tác phẩm Đặc biệt, trong tiểu thuyết Chuyện của

Lý triết luận được bộc lộ qua những lời đối thoại, những câu nói của ông Thòn

- một người già làng với tình thương người, trí tuệ và phẩm chất tuyệt vời Ông Thòn khi nghe tên “Lý” liền tung hai tay lên trời và huơ to như hưởng

ứng, phấn khởi như vừa tìm ra một chân lý cuộc đời Theo ông: “Lý là đạo lý của vạn vật Lý là cái để phân biệt vuông với tròn, ngắn với dài, thô với tinh”

[7, tr.83] Đặt tên con là Lý như để khẳng định giá trị của đứa con gái bé nhỏ

và mong muốn con hãy trở thành một người có ích cho xã hội với con mắt tinh tường mà nhận ra mọi điều trong cuộc sống qua nhiều góc cạnh Có thể với mọi người, Lý chẳng qua cũng chỉ là đứa con hoang - đứa con không cha nhưng với mẹ Nhu nó chính là điểm tựa cuộc sống, Lý như ánh mặt trời mang tới niềm vui cũng như vầng trăng êm dịu soi sáng cái bóng tối của cuộc đời

ơn này có sống đến hai đời con cũng không trả hết…” [7, tr.50] Trải qua bao

đắng cay dường như trong người phụ nữ tần tảo, mạnh mẽ ấy là một trái tim nhân hậu vô ngần, xứng đáng là một con người không chỉ đẹp ở vẻ bên ngoài

mà còn sáng bừng một nhân cách đẹp tựa hương sen Còn với ông Thòn - người con của dân tộc Dao, theo ông trong làng bản có ba thứ âm thanh vô cùng quý

giá: “thứ nhất là tiếng trẻ con nô đùa, thứ hai là tiếng đọc sách, thứ ba là tiếng

xa quay, dệt vải” [7, tr.58] Như vậy, ông khẳng định cái lý của người Dao, của

mọi người là ở cái tình người Lý ra đời là niềm vui của đời, bởi tiếng cười của trẻ thơ mới chính là điều tuyệt vời nhất Hơn nữa, Lý còn chính là chỗ dựa tinh thần nâng đỡ mẹ Nhu, như đồ bảo hiểm của sinh mệnh

Ngày đăng: 23/12/2019, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w