1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mo hinh giao duc Trung Quoc va kinh nghiem tham khao cho giao duc VN

38 459 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Trung Quốc Từ Sau Cách Mạng Văn Hóa Và Những Kinh Nghiệm Tham Khảo Cho Công Cuộc Đổi Mới Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Giáo Dục Học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 331 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN: MÔN GIÁO DỤC HỌC SO SÁNHĐỀ TÀI: NỀN GIÁO DỤC TRUNG QUỐC TỪ SAU CÁCH MẠNG VĂN HÓA VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM THAM KHẢO CHO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAYA.PHẦN MỞ ĐẦUTrung Quốc là một trong những nước lớn trên thế giới, sau những năm khủng hoảng và bế tắc của Cách mạng văn hoá thì giờ đây đã đi lên với một tốc độ rất nhanh chóng, từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong năm 2010; đến năm 2011, thu nhập bình quân đầu người là 5.449 USD. Đây là một trong những thành quả to lớn sau hơn 30 năm của công cuộc cải cách và mở cửa, thực hiện 4 hiện đại hoá, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Một trong những biện pháp chiến lược được Trung Quốc đưa ra để thực hiện những mục tiêu trên là ra sức phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp cải cách và mở cửa. Giáo dục Trung Quốc từ chỗ bị rẻ rúng, trí thức bị vùi dập trong Cách mạng văn hoá (1966-1976) thì sau 1976 trở đi đã trở thành “Trọng điểm chiến lược quốc gia”, “giáo dục phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội” và “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục”, “Kế hoạch trăm năm, giáo dục là gốc”; “Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc” và “Giáo dục kiến lập Trung Quốc”. Đó chính là những quan điểm soi sáng cho sự phát triển của giáo dục Trung Quốc từ 1976 đến những năm đầu của thế kỷ XXI. Chú trọng tới vấn đề phát triển giáo dục cũng chính là chú trọng tới tương lai của đất nước. Từ thực tế điêu tàn của giáo dục Trung Quốc sau Cách mạng văn hoá và yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp cải cách và mở cửa, giáo dục Trung Quốc cũng thực hiện một cuộc cải cách sâu sắc và toàn diện trên rất nhiều lĩnh vực: hệ thống giáo dục, cơ chế quản lý, chính sách giáo dục đối với các dân tộc thiểu số và những biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên… Những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước Trung Quốc trong cả một quá trình từ 1976 đến những năm đầu của thế kỷ XXI đã có tác dụng tích cực, làm thay đổi hẳn bộ mặt giáo dục Trung Quốc, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cải cách và mở cửa. Trung Quốc là một nước láng giềng của Việt Nam, có một quá trình lịch sử lâu dài ảnh hưởng qua lại với Việt Nam rất sâu sắc. Trước khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các nước XHCN trong đó có Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo mô hình của Liên Xô dựa trên thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ. Hiện nay, cả hai nước đều kiên định đi theo con đường xây dựng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đều đang ở thời kỳ then chốt phát triển toàn diện và sâu sắc trên con đường cải cách và mở cửa. Cả hai nước hiện nay đang có những biện pháp phát triển giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp đổi mới. Vì thế nghiên cứu cải cách giáo dục ở Trung Quốc từ 1976 đến những năm đầu của thế kỷ XXI sẽ đem lại những bài học kinh nghiệm quý báu, phục vụ cho việc xây dựng nền giáo dục ở nước ta. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về nền giáo dục Trung Quốc từ 1976 đến những năm đầu của thế kỷ XXI và rút ra những bài học kinh nghiệm, em đã chọn đề tài: “Nền giáo dục Trung Quốc từ sau cách mạng văn hóa và những kinh nghiệm tham khảo cho công cuộc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay”. B.PHẦN NỘI DUNGI.SƠ LƯỢC VỀ ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC:¬Tên nước: Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (The People''''''''s Republic of China); Thủ đô: Bắc Kinh ; Ngày Quốc khách: 01/10/1949.Thể chế nhà nước: Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa là nước Xã hội Chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy liên minh công nông làm nền tảng.Vị trí địa lý: Trung Quốc nằm ở phần nửa phía Bắc của đông bán cầu, phía đông nam của đại lục Á-Âu, phía đông và giữa Châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương; có biên giới chung với Nga, Mông Cổ (phía Bắc), với Kazakstan, Kirghitan, Taghikistan (phía Tây), với Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nê Pan, Bu Tan (phía Tây Nam), với Myanma, Lào, Việt Nam (phía Nam), với Triều Tiên (phía Đông).Dân số: Là quốc gia đông dân nhất thế giới với khoảng 1,3 tỷ người (tính đến tháng 12/2002). Dân số tập trung chủ yếu ở khu vực duyên hải phía đông.Diện tích: 9,6 triệu km2, lớn thứ tư trên thế giới.Tốc độ tăng trưởng kinh tế: GDP năm 2012 đạt 8.250 tỷ USD, tăng 7,8%, GDP bình quân đầu người 9.100 USD.Khí hậu: Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, khí hậu đa dạng từ ấm đến khô. Nhiệt độ trung bình cả năm là 9 -10oC. Dân tộc: Trung Quốc là một quốc gia có nhiều dân tộc. Dân tộc Hán là chủ yếu, ngoài ra còn có 55 dân tộc ít người (chiếm trên 6% dân số cả nước và phân bố trên 50-60% diện tích toàn quốc).Hành chính: gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực thuộc Trung ương và 2 đặc khu hành chính. Bốn cấp hành chính gồm: Tỉnh, địa khu, huyện, xã.Tôn giáo: Có 4 tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi và Thiên Chúa Giáo.Ngôn ngữ: Tiếng Hán phổ thông lấy âm Bắc Kinh làm tiêu chuẩn.II. GIÁO DỤC TRUNG QUỐC1. Sơ lược quá trình phát triển của nền giáo dục Trung Quốc:Nền văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh lâu đời và kéo dài nhất trên thế giới. Lịch sử Trung Quốc đặc trưng bởi sự chia cắt và thống nhất thường xuyên trên một vùng lãnh thổ rộng lớn, các triều đại nối tiếp nhau với một thời kỳ cực thịnh kế tiếp bằng một thời kỳ cực suy. Mặc dù vậy, trong nhiều thế kỷ, nền văn minh Trung Hoa vẫn luôn là nền văn minh tiên tiến nhất và có nhiều ảnh hưởng về văn hóa đến nước Đông Á. Giáo dục đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nền văn minh rực rỡ đó.Trung Quốc là một trong những nước có nền giáo dục phát triển từ rất sớm. Các triều đại Trung Quốc đã xem Nho giáo như một nền tảng triết học cho việc cai trị và duy trì chế độ phong kiến. Vì vậy, giáo dục chủ yếu hướng người học đến những kiến thức mang tính kinh điển và những giá trị đạo đức mang tính khuôn phép của “người quân tử” nhằm phục vụ cho chế độ phong kiến. Nền giáo dục Nho học có những ưu điểm là đề cao các giá trị đạo đức, nhấn mạnh trách nhiệm của người học với bản thân, gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, Nho học có những nhược điểm là xem nhẹ khoa học tự nhiên, ít chú trọng đến việc phát triển kỹ năng phân tích sáng tạo của người học, không bình đẳng về quyền lợi học tập giữa các giới.Đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Trung Quốc lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng về mọi mặt do ảnh hưởng của phương Tây, chiến tranh xâm lược và nội chiến. Các nhà cải cách đã bắt đầu nhấn mạnh đến những thay đổi căn bản về triết lý và hệ thống giáo dục để làm tiền đề cho những thay đổi trong đời sống xã hội của Trung Quốc. Sự nghiệp giáo dục hiện đại của Trung Quốc được bắt đầu từ trước khi xoá bỏ chế độ khoa cử phong kiến vào năm 1905, hệ thống trường học cùng với chương trình giảng dạy theo kiểu phương Tây đã ra đời, chấm dứt nền Nho học tồn tại hàng ngàn năm. Hệ thống chữ viết cũng được đơn giản hóa nhằm khuyến khích mọi người học tập. Đến khi nước CHND Trung Hoa ra đời năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc giữ vai trò lãnh đạo toàn diện đối với sự nghiệp giáo dục, theo đó các cấp ủy Đảng chỉ đạo việc thực hiện các chính sách và điều phối mọi hoạt động giáo dục ở các cấp chính quyền và trong mỗi trường học. Giáo dục và đào tạo lấy triết học Mác – Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng. 2. Giáo dục Trung quốc từ sau Cách mạng văn hóa đến nay2.1. Về cơ cấu, chính sách và mục tiêu cơ bản:Sau khủng hoảng của Cách mạng văn hóa, nền giáo dục Trung Quốc bước vào một thời kì lịch sử mới. Chính sách phát triển giáo dục được Đảng cộng sản Trung Quốc đưa ra là “dân tộc, khoa học và đại chúng”, đào tạo mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nông dân và công nhân trở thành những công dân tốt nhằm xây dựng nhà nước mới Xã hội chủ nghĩa. Nhà nước CHND Trung Hoa giữ vai trò chủ đạo trong tất cả các lĩnh vực của giáo dục, chính phủ đóng vai trò là nhà đầu tư chính và các đối tác xã hội là các nhà đồng đầu tư. Bộ Giáo dục là cơ quan nắm quyền quản lý cao nhất, chịu trách nhiệm thực thi các văn bản luật liên quan, các qui định, các hướng dẫn và các chính sách của trung ương; lập kế hoạch phát triển ngành giáo dục; tích hợp và điều phối các sáng kiến và chương trình giáo dục cấp quốc gia; hướng dẫn thực hiện cải cách giáo dục trên toàn quốc. Chính quyền cấp tỉnh có vai trò xây dựng các kế hoạch, ban hành các quyết định và điều lệ liên quan trực tiếp đến địa phương, phân bổ các nguồn quỹ tới các địa khu, và quản lý một số trường trung học điểm. Chính quyền cấp địa khu có vai trò phân bổ các nguồn quỹ đến các huyện, giám sát hoạt động giáo dục, giảng dạy và quản lý trường THPT, các trường sư phạm, các trường sư phạm tại chức, các trường nghề nông nghiệp, cùng với trường tiểu học và THCS điểm ở địa phương. Chính quyền cấp huyện có vai trò quản lý các trường còn lại gồm THCS, tiểu học và mẫu giáo. Nói chung, cấp trung ương và cấp tỉnh quản lý về giáo dục đại học trong khi các cấp địa phương đóng vai trò chủ chốt trong giáo dục trung học, giáo dục bắt buộc và giáo dục mầm non. Ngoài ra, những thành phần khác bao gồm các Bộ, các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước cũng góp phần trong đào tạo nghề và giáo dục cho người lớn.Các chính sách và các đổi mới giáo dục quan trọng đã được thực hiện để hài hòa giữa chức năng giáo dục chính trị tư tưởng với chức năng kinh tế của giáo dục, giữa giáo dục vì mục tiêu hiệu quả kinh tế với giáo dục vì công bằng và bình đẳng xã hội. Đến nay Trung Quốc đã ban hành một hệ thống các luật và văn bản dưới luật liên quan đến giáo dục tương đối hoàn chỉnh, bao quát nhiều vấn đề, làm nền tảng pháp lý cho công tác quản lý giáo dục. Các luật và văn bản dưới luật liên quan đến giáo dục kể đến: Luật giáo dục; Quy định về các loại bằng cấp học vấn; Luật giáo dục bắt buộc 9 năm; Luật khuyến khích giáo dục tư thục; Luật giáo viên; Luật giáo dục hướng nghiệp; Luật giáo dục đại học... Ngày nay, với mục tiêu cơ bản là kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử, văn hoá ưu tú của dân tộc Trung Hoa, tiếp thu mọi thành quả, văn minh, phát triển của nhân loại. Phát triển giáo dục được Trung Quốc đặt là một nhiệm vụ hàng đầu và hết sức quan trọng; "đặt giáo dục vào vị trí chiến lược ưu tiên phát triển” với sứ mệnh cơ bản là "phát triển đất nước thông qua khoa học và giáo dục", “phục vụ xây dựng hiện đại hoá, phục vụ nhân dân, kết hợp với lao động sản xuất và thực tiễn xã hội, bồi dưỡng phát triển người học một cách toàn diện". "Hướng tới nền giáo dục hiện đại, tới thế giới và tương lai" là đường hướng chủ đạo cho sự phát triển hệ thống giáo dục cả ngắn hạn và dài hạn. Với hệ thống giáo dục có số lượng đông đảo học sinh, sinh viên, giáo viên (gần 240 triệu học sinh-sinh viên và 11,5 triệu giáo viên); cùng thể chế quản lí và nền tảng cơ sở vật chất có thể khẳng định nền giáo dục Trung Quốc là một nền giáo dục có tốc độ phát triển mạnh mẽ và có quy mô lớn nhất thế giới.2.2 Hệ thống giáo dục: Trung Quốc có một hệ thống giáo dục thống nhất trên toàn quốc, bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học (6 năm), giáo dục trung học (6 năm, trong đó Trung học cơ sở (THCS-Sơ trung) là 3 năm và Trung học phổ thông (THPT-Cao trung) là 3 năm), và giáo dục đại học. Trong đó giáo dục tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc, căn cứ theo Luật giáo dục bắt buộc 9 năm ban hành năm 1986.*/ Giáo dục mầm non: Dành cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi, chương trình cơ bản hướng tới “giáo dục nhân cách”, chuẩn bị cho trẻ bước vào bậc học phổ thông. Hiện nay chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đối với giáo dục mầm non, đẩy mạnh khuyến khích cộng đồng xây dựng nhà trẻ để đáp ứng sự thiếu hụt và hỗ trợ các nhà trẻ tư thục để họ có thể giảm giá dịch vụ của mình, đồng thời chú ý hơn đến việc tăng lương và đào tạo thêm giáo viên đủ tiêu chuẩn.*/ Giáo dục tiểu học: Giáo dục tiểu học gồm 6 năm học dành cho trẻ từ 6-12 tuổi. Có thể nói phổ cập giáo dục tiểu học là một thành tựu vĩ đại của chính phủ kể từ sau công cuộc đổi mới trong điều kiện đất nước có diện tích và dân số lớn và sự chênh lệch về mọi mặt giữa các vùng miền cao. Căn cứ theo Luật giáo dục bắt buộc 9 năm, giáo dục tiểu học được miễn phí, trẻ thuộc các gia đình khó khăn còn nhận được tài trợ của nhà nước, các thành phần xã hội khác được khuyến khích thành lập trường tư. Với những nỗ lực nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, giáo dục trẻ đặc biệt và bồi dưỡng học sinh giỏi, Trung Quốc còn thành lập các trường điểm (hay trường chuyên) và các trường đặc biệt ở mỗi địa phương. Ngoài ra còn các trường tiểu học dành cho người lớn nhằm xóa mù chữ và phổ cập giáo dục cho người không nằm trong độ tuổi đến trường.Trẻ đến trường 5 buổi một tuần (trước 1997 là 6 buổi), mỗi tuần học chia ra thành 24 đến 27 tiết học với 45 phút/tiết. Một năm học kéo dài 9 tháng với 2 kỳ nghỉ: nghỉ hè vào tháng 7, 8 và kỳ nghỉ đông vào khoảng tháng 1,2. Chương trình học gồm các môn tiếng Hoa, toán, giáo dục thể chất, nhạc, họa, nhập môn tự nhiên, lịch sử và địa lý cùng với các buổi sinh hoạt về chính trị và đạo đức. Gần đây môn tiếng Anh đã được đưa vào chương trình tiểu học từ lớp 3. Ngoài ra từ lớp 4 học sinh phải tham gia các buổi lao động và hoạt động ngoài giờ khác. Các trường tiểu học thường do chính quyền các địa phương điều hành, tuy nhiên, cũng có những trường tư do các doanh nghiệp và các cá nhân điều hành.*/ Giáo dục trung học: Trong 6 năm, dành cho học sinh từ 12-18 tuổi, gồm trường THCS và THPT, mỗi cấp gồm 3 năm học, trong đó 3 năm THCS là bắt buộc căn cứ theo Luật giáo dục bắt buộc 9 năm. Học sinh đến trường 6 buổi một tuần, mỗi tuần chia ra thành 30 hoặc 31 tiết với 45 phút/tiết. Chương trình học thống nhất trên toàn quốc với các bộ môn: Tiếng Hoa, toán, vật lý, hóa học, sinh học, địa chất học, ngoại ngữ, lịch sử, địa lý, khoa học chính trị, âm nhạc, mỹ thuật và giáo dục thể chất. Ngoài ra học sinh phải tham gia các hoạt động ngoại khóa khác. Sau khi tốt nghiệp THCS, đa số học sinh thường học tiếp lên THPT, một số khác học lên các trường nghề hoặc trung học chuyên nghiệp trong thời gian 3 đến 5 năm. Học sinh tốt nghiệp trường nghề nhận bằng có giá trị tương đương như những học sinh tốt nghiệp THPT. Ở bậc THPT có các loại hình trường là THPT, THPT thường xuyên, trung học nghề, trung học nghề thường xuyên và đào tạo kỹ năng thực hành. Các trường phổ thông chủ yếu do chính quyền địa phương điều hành. Các trường phổ thông tư thường có chương trình giáo dục chuẩn và có xu hướng thiên về dạy nghề nhưng bằng cấp của các trường này được coi là tương đương với các trường công lập. */ Các trường chuyên: Các “trường chuyên” đã bị đóng cửa trong cuộc Cách mạng văn hóa được xuất hiện trở lại vào cuối những năm 1970, đầu những năm 1980, và trở thành một phần thiết yếu trong nỗ lực nhằm phục hồi hệ thống giáo dục yếu kém. Do các nguồn lực cho giáo dục còn hạn chế, các trường chuyên hay “trường điểm” – thường là những trường có thành tích cao trước đây – được ưu tiên về phân bổ giáo viên, thiết bị và vốn. Các trường điểm chỉ là một phần nhỏ trong tổng số các trường THPT chính quy được cho phép tuyển những học sinh giỏi nhất để giảng dạy, sao cho các em có thể cạnh tranh vào các trường hàng đầu ở những bậc học tiếp theo. */ Giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp:“Luật Giáo dục hướng nghiệp” được ban hành năm 1996. Giáo dục hướng nghiệp bao gồm các trường cao đẳng nghề, các trường trung cấp kỹ thuật, các trường trung học hướng nghiệp, các trung tâm tìm việc làm, các cơ sở đào tạo xã hội và kỹ năng cho người lớn. Để giáo dục hướng nghiệp đáp ứng tốt hơn yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế và đô thị hóa, chính phủ đã thiết kế lại mô hình giáo dục hướng nghiệp, định hướng tìm việc làm, và tập trung vào hai dự án giáo dục hướng nghiệp lớn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội về nhân công lành nghề chất lượng cao. Các dự án này nhằm: + Đào tạo ra đội ngũ nhân công có tay nghề cần thiết cấp bách cho các ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ hiện đại; + Đào tạo cho những người lao động ở vùng nông thôn chuyển đến các thành phố làm việc.*/ Giáo dục đại học(GDĐH):Sau khi tốt nghiệp trung học, học sinh phải vượt qua một kỳ thi tuyển sinh toàn quốc để được tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp. Gần đây việc tuyển sinh đại học còn xét đến tư cách đạo đức và thành tích học tập của học sinh ở bậc trung học. Có rất nhiều loại hình trường đáp ứng các nhu cầu của học sinh thuộc nhiều trình độ khác nhau. Các trường bao gồm trường đại học, học viện công nghệ, trường đại học mở, trường cao đẳng, trường cao đẳng thường xuyên, đào tạo từ xa, trường trung cấp, trường trung cấp thường xuyên v.v... Chương trình học ở các trường này kéo dài từ 2 đến 4 năm. Chương trình thạc sĩ kéo dài 2 năm và chương trình tiến sĩ kéo dài 4 năm. Cho đến ngày thành lập nước CHND Trung Hoa năm 1949, Trung Quốc đã du nhập mô hình phương tây, thành lập 55 viện đại học (VĐH), 79 trường đại học chuyên ngành và 81 trường kĩ thuật khác, với tổng cộng 130 nghìn sinh viên. Từ năm 1949, hệ thống GDĐH Trung Quốc đã được xây dựng lại theo mô hình của Liên Xô. Trong Cách mạng văn hóa, hầu hết các trường đại học cao đẳng đã bị đóng cửa, số lượng tuyển sinh chỉ giới hạn trong nhóm những người được cho là “thành phần ưu tú”. Từ thập niên 1980 đến nay, với đường lối cải cách mở cửa, GDĐH Trung Quốc phát triển hết sức mạnh mẽ. Trung Quốc thường phân chia các trường đại học thành hai loại: các trường đại học chính quy thông thường và các trường đại học cho người lớn tuổi. Các trường đại học chính quy gồm các VĐH và các trường đại học 4 năm, các trường đại học chuyên ngành đào tạo các chương trình dài hạn và ngắn hạn. Hệ thống các trường đại học người lớn gắn với các chương trình giáo dục thường xuyên cho người lớn học tại chức, bao gồm các trường đại học radio-TV, đại học buổi tối, đại học công nhân, nông dân, các trường hàm thụ, bồi dưỡng giáo viên, các trường quản lí... Chính phủ cũng đã chú trọng đến việc tạo ra các trường đại học chất lượng cao. Ngay từ năm 1993, dự án xây dựng 100 trường đại học đẳng cấp quốc tế đã được triển khai, theo đó có 708 trường đã được sáp nhập thành 302 trường. Việc sáp nhập này có mục đích tạo ra những cải tiến trong quản lý giáo dục, làm tối ưu việc huy động các nguồn lực và tăng cường chất lượng giảng dạy. Nhiều trường đại học của Trung Quốc hiện nay đã trở thành các trường có đẳng cấp hàng đầu thế giới; đó là một nỗ lực vượt bậc so với các nước tiên tiến có hệ thống GDĐH phát triển từ rất sớm. Trao đổi quốc tế trong GDĐH cũng ngày càng được coi trọng. Theo ước tính có khoảng 200.000 sinh viên quốc tế đang theo học tại các trường đại học của Trung Quốc. Số lượng học sinh Việt Nam theo học tại Trung Quốc cũng ngày càng tăng, chủ yếu ở các trường đại học chất lượng cao tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Nam Ninh, Thẩm Quyến, Quế Lâm v.v. Việc du học và tiếp tục học lên sau đại học cũng đang là một xu thế được các sinh viên Trung Quốc chọn lựa. Hiện nay có khoảng 700.000 sinh viên Trung Quốc đang theo học ở các trường đại học tại các nước trên thế giới. Theo số liệu thống kê năm 2004, Trung Quốc có 1731 trường đào tạo chính quy, 505 trường đào tạo người lớn, 315 viện nghiên cứu, 1187 trường đại học-cao đẳng tư thục. Năm 2007 có tổng số sinh viên vào khoảng 27 triệu, ứng với GER (19-24 tuổi) cỡ 23%. Hiện nay, giáo dục đại học ở Trung Quốc được Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đánh giá là có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. */ Các trường tư thục:

Trang 1

TIỂU LUẬN

BỘ MÔN GIÁO DỤC HỌC SO SÁNH

ĐỀ TÀIGIÁO DỤC TRUNG QUỐC TỪ SAU CÁCH MẠNG VĂN HÓA VÀNHỮNG KINH NGHIỆM THAM KHẢO CHO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO

DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẦN MỞ ĐẦU:

Trung Quốc là một trong những nước lớn trên thế giới, sau những năm khủnghoảng và bế tắc của Cách mạng văn hoá thì giờ đây đã đi lên với một tốc độ rấtnhanh chóng, từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, Trung Quốc đã vượtqua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong năm 2010; đếnnăm 2011, thu nhập bình quân đầu người là 5.449 USD Đây là một trong nhữngthành quả to lớn sau hơn 30 năm của công cuộc cải cách và mở cửa, thực hiện 4hiện đại hoá, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc Một trongnhững biện pháp chiến lược được Trung Quốc đưa ra để thực hiện những mụctiêu trên là ra sức phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sựnghiệp cải cách và mở cửa Giáo dục Trung Quốc từ chỗ bị rẻ rúng, trí thức bịvùi dập trong Cách mạng văn hoá thì sau 1978 trở đi đã trở thành “Trọng điểmchiến lược quốc gia”, “giáo dục phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội” và “ Xâydựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục”, “Kế hoạch trăm năm, giáo dục làgốc” Đó chính là những quan điểm soi sáng cho sự phát triển của giáo dụcTrung Quốc từ 1978 đến những năm đầu của thế kỷ XXI Chú trọng tới vấn đềphát triển giáo dục cũng chính là chú trọng tới tương lai của đất nước Từ thực tếđiêu tàn của giáo dục Trung Quốc sau Cách mạng văn hoá và yêu cầu cấp thiếtcủa sự nghiệp cải cách và mở cửa, giáo dục Trung Quốc cũng thực hiện mộtcuộc cải cách sâu sắc và toàn diện trên rất nhiều lĩnh vực: hệ thống giáo dục, cơchế quản lý, chính sách giáo dục đối với các dân tộc thiểu số và những biệnpháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên… Những chủ trương, chính sáchcủa Đảng và nhà nước Trung Quốc trong cả một quá trình từ 1978 đến nhữngnăm đầu của thế kỷ XXI đã có tác dụng tích cực, làm thay đổi hẳn bộ mặt giáodục Trung Quốc, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cải cách và mở cửa

Trung Quốc là một nước láng giềng của Việt Nam, có một quá trình lịch sử lâudài ảnh hưởng qua lại với Việt Nam rất sâu sắc Trước khi Liên Xô và các nướcĐông Âu sụp đổ, các nước XHCN trong đó có Việt Nam và Trung Quốc đều đitheo mô hình của Liên Xô dựa trên thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao

độ Hiện nay, cả hai nước đều kiên định đi theo con đường xây dựng XHCNdưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đều đang ở thời kỳ then chốt phát triểntoàn diện và sâu sắc trên con đường cải cách và mở cửa Cả hai nước hiện nayđang có những biện pháp phát triển giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao cho sự nghiệp đổi mới Vì thế nghiên cứu cải cách giáo dục ở TrungQuốc từ 1978 đến những năm đầu của thế kỷ XXI sẽ đem lại những bài học kinhnghiệm quý báu, phục vụ cho việc xây dựng nền giáo dục ở nước ta Với mongmuốn tìm hiểu rõ hơn về nền giáo dục Trung Quốc từ 1978 đến những năm đầu

của thế kỷ XXI, em đã chọn đề tài: “Giáo dục Trung Quốc từ sau cách mạng văn hóa và những kinh nghiệm tham khảo cho công cuộc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay”

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG:

I SƠ LƯỢC VỀ ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC.

Tên nước: Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (The People's Republic

of China)

Thủ đô: Bắc Kinh ; Ngày Quốc khách: 01/10/1949

Thể chế nhà nước: Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa

là nước Xã hội Chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhânlãnh đạo, lấy liên minh công nông làm nền tảng

Vị trí địa lý: Trung Quốc nằm ở phần nửa phía Bắc của đông bán cầu,phía đông nam của đại lục Á-Âu, phía đông và giữa Châu Á, phía Tây của TháiBình Dương; có biên giới chung với Nga, Mông Cổ (phía Bắc), với Kazakstan,Kirghitan, Taghikistan (phía Tây), với Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nê Pan,

Bu Tan (phía Tây Nam), với Myanma, Lào, Việt Nam (phía Nam), với TriềuTiên (phía Đông)

Dân số: Là quốc gia đông dân nhất thế giới với khoảng 1,3 tỷ người (tínhđến tháng 12/2002) Dân số tập trung chủ yếu ở khu vực duyên hải phía đông

Diện tích: 9,6 triệu km2, lớn thứ tư trên thế giới

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: GDP năm 2012 đạt 8.250 tỷ USD, tăng 7,8%,GDP bình quân đầu người 9.100 USD

Khí hậu: Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, khí hậu đa dạng từ ấm đếnkhô Nhiệt độ trung bình toàn quốc tháng 1 là -4,7oC, tháng 2 là 26oC Ba khuvực được coi là nóng nhất là Nam Kinh, Vũ Hán và Trùng Khánh

Dân tộc: Trung Quốc là một quốc gia có nhiều dân tộc Dân tộc Hán làchủ yếu, ngoài ra còn có 55 dân tộc ít người (chiếm trên 6% dân số cả nước vàphân bố trên 50-60% diện tích toàn quốc)

Hành chính: gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực thuộc Trungương và 2 đặc khu hành chính Bốn cấp hành chính gồm: Tỉnh, địa khu, huyện,xã

Tôn giáo: Có 4 tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi và ThiênChúa Giáo

Ngôn ngữ: Tiếng Hán phổ thông lấy âm Bắc Kinh làm tiêu chuẩn

II GIÁO DỤC TRUNG QUỐC

1 Sơ lược quá trình phát triển của nền giáo dục Trung Quốc:

Nền văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh lâu đời và kéodài nhất trên thế giới Lịch sử Trung Quốc đặc trưng bởi sự chia cắt và thốngnhất thường xuyên trên một vùng lãnh thổ rộng lớn, các triều đại nối tiếp nhauvới một thời kỳ cực thịnh kế tiếp bằng một thời kỳ cực suy Mặc dù vậy, trongnhiều thế kỷ, nền văn minh Trung Hoa vẫn luôn là nền văn minh tiên tiến nhất

và có nhiều ảnh hưởng về văn hóa đến nước Đông Á Giáo dục đã góp phầnquan trọng vào việc hình thành và phát triển nền văn minh rực rỡ đó

Nền giáo dục của Trung Quốc đã phát triển từ rất sớm Các triều đạiTrung Quốc đã xem Nho giáo như một nền tảng triết học cho việc cai trị và duytrì chế độ phong kiến Vì vậy, giáo dục chủ yếu hướng người học đến nhữngkiến thức mang tính kinh điển và những giá trị đạo đức mang tính khuôn phépcủa “người quân tử” nhằm phục vụ cho chế độ phong kiến Nền giáo dục Nhohọc có những ưu điểm là đề cao các giá trị đạo đức, nhấn mạnh trách nhiệm củangười học với bản thân, gia đình và xã hội Nhưng ngược lại, Nho học có nhữngnhược điểm là xem nhẹ khoa học tự nhiên, ít chú trọng đến việc phát triển kỹ

Trang 3

năng phân tích sáng tạo của người học, không bình đẳng về quyền lợi học tậpgiữa các giới.

Đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Trung Quốc lâm vào khủng hoảngnghiêm trọng về mọi mặt do ảnh hưởng của phương Tây, chiến tranh xâm lược

và nội chiến Các nhà cải cách đã bắt đầu nhấn mạnh đến những thay đổi cănbản về triết lý và hệ thống giáo dục để làm tiền đề cho những thay đổi trong đờisống xã hội của Trung Quốc Sự nghiệp giáo dục hiện đại của Trung Quốc đượcbắt đầu từ trước khi xoá bỏ chế độ khoa cử phong kiến vào năm 1905, hệ thống

trường học cùng với chương trình giảng dạy theo kiểu phương Tây đã ra đời,

chấm dứt nền Nho học tồn tại hàng ngàn năm Hệ thống chữ viết cũng được đơngiản hóa nhằm khuyến khích mọi người học tập

Đến khi nước CHND Trung Hoa ra đời năm 1949, Đảng Cộng sản TrungQuốc giữ vai trò lãnh đạo toàn diện đối với sự nghiệp giáo dục, theo đó các cấp

ủy Đảng chỉ đạo việc thực hiện các chính sách và điều phối mọi hoạt động giáodục ở các cấp chính quyền và trong mỗi trường học Giáo dục và đào tạo lấy triếthọc Mác – Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng Sau khủng hoảngcủa Cách mạng văn hóa, nền giáo dục Trung Quốc bước vào một thời kì lịch sửmới Chính sách phát triển giáo dục được Đảng đưa ra là “dân tộc, khoa học vàđại chúng”, đào tạo mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nông dân và công nhântrở thành những công dân tốt nhằm xây dựng nhà nước mới Xã hội chủ nghĩa.Nhà nước CHND Trung Hoa giữ vai trò chủ đạo trong tất cả các lĩnh vực củagiáo dục Các chính sách và các đổi mới giáo dục quan trọng đã được thực hiện

để hài hòa giữa chức năng giáo dục chính trị tư tưởng với chức năng kinh tế củagiáo dục, giữa giáo dục vì mục tiêu hiệu quả kinh tế với giáo dục vì công bằng

và bình đẳng xã hội Hiện nay, Trung Quốc có một hệ thống giáo dục thống nhấttrên toàn quốc, bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học (6 năm), giáo dụctrung học (6 năm, trong đó Trung học cơ sở (THCS-Sơ trung) là 3 năm và Trunghọc phổ thông (THPT-Cao trung) là 3 năm), và giáo dục đại học Trong đó giáodục tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc, căn cứ theo Luật giáo dục bắt buộc 9năm ban hành năm 1986 Với lực lượng đông đảo học sinh, sinh viên, giáo viên(gần 240 triệu học sinh-sinh viên và 11,5 triệu giáo viên); với thể chế quản lí vànền tảng cơ sở vật chất có thể khẳng định nền giáo dục Trung Quốc là một nềngiáo dục có quy mô lớn nhất thế giới

Trang 4

2 Mục tiêu cơ bản của nền giáo dục hiện đại Trung Quốc:

Giáo dục phải kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử, văn hoá ưu tú củadân tộc Trung Hoa, tiếp thu mọi thành quả, văn minh, phát triển của nhân loại.Phát triển giáo dục được Trung Quốc đặt là một nhiệm vụ hàng đầu và hết sứcquan trọng; "đặt giáo dục vào vị trí chiến lược ưu tiên phát triển” với sứ mệnh cơbản là “phục vụ xây dựng hiện đại hoá, phục vụ nhân dân, kết hợp với lao độngsản xuất và thực tiễn xã hội, bồi dưỡng phát triển người học một cách toàn diện".Với chính sách "phát triển đất nước thông qua khoa học và giáo dục", trẻ emTrung Quốc được hưởng nền giáo dục bắt buộc, miễn phí trong 9 năm (từ lớp 1tới lớp 9) "Hướng tới nền giáo dục hiện đại, tới thế giới và tương lai" là đườnghướng chủ đạo cho sự phát triển hệ thống giáo dục cả ngắn hạn và dài hạn

3 Cơ cấu quản lí giáo dục:

Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống giáo dục thống nhất trên toànquốc, chính phủ đóng vai trò là nhà đầu tư chính và các đối tác xã hội là các nhàđồng đầu tư Bộ Giáo dục là cơ quan nắm quyền quản lý cao nhất, chịu tráchnhiệm thực thi các văn bản luật liên quan, các qui định, các hướng dẫn và cácchính sách của trung ương; lập kế hoạch phát triển ngành giáo dục; tích hợp vàđiều phối các sáng kiến và chương trình giáo dục cấp quốc gia; hướng dẫn thựchiện cải cách giáo dục trên toàn quốc

Chính quyền cấp tỉnh có vai trò xây dựng các kế hoạch, ban hành cácquyết định và điều lệ liên quan trực tiếp đến địa phương, phân bổ các nguồn quỹtới các địa khu, và quản lý một số trường trung học điểm Chính quyền cấp địakhu có vai trò phân bổ các nguồn quỹ đến các huyện, giám sát hoạt động giáo

Trang 5

dục, giảng dạy và quản lý trường THPT, các trường sư phạm, các trường sưphạm tại chức, các trường nghề nông nghiệp, cùng với trường tiểu học và THCSđiểm ở địa phương Chính quyền cấp huyện có vai trò quản lý các trường còn lạigồm THCS, tiểu học và mẫu giáo Nói chung, cấp trung ương và cấp tỉnh quản

lý về giáo dục đại học trong khi các cấp địa phương đóng vai trò chủ chốt tronggiáo dục trung học, giáo dục bắt buộc và giáo dục mầm non Ngoài ra, nhữngthành phần khác bao gồm các Bộ, các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nướccũng góp phần trong đào tạo nghề và giáo dục cho người lớn

Đến nay Trung Quốc đã ban hành một hệ thống các luật và văn bản dướiluật liên quan đến giáo dục tương đối hoàn chỉnh, bao quát nhiều vấn đề, làmnền tảng pháp lý cho công tác quản lý giáo dục Các luật và văn bản dưới luậtliên quan đến giáo dục gồm: Luật giáo dục; Quy định về các loại bằng cấp họcvấn; Luật giáo dục bắt buộc 9 năm; Luật khuyến khích giáo dục tư thục; Luậtgiáo viên; Luật giáo dục hướng nghiệp; Luật giáo dục đại học

4 Hệ thống giáo dục:

4.1 Giáo dục tiểu học:

Giáo dục tiểu học gồm 6 năm học dành cho trẻ từ 6-12 tuổi Có thể nóiphổ cập giáo dục tiểu học là một thành tựu vĩ đại của chính phủ kể từ sau côngcuộc đổi mới trong điều kiện đất nước có diện tích và dân số lớn và sự chênhlệch về mọi mặt giữa các vùng miền cao Căn cứ theo Luật giáo dục bắt buộc 9năm, giáo dục tiểu học được miễn phí, trẻ thuộc các gia đình khó khăn còn nhậnđược tài trợ của nhà nước, các thành phần xã hội khác được khuyến khích thànhlập trường tư Với những nỗ lực nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền,giáo dục trẻ đặc biệt và bồi dưỡng học sinh giỏi, Trung Quốc còn thành lập cáctrường điểm (hay trường chuyên) và các trường đặc biệt ở mỗi địa phương.Ngoài ra còn các trường tiểu học dành cho người lớn nhằm xóa mù chữ và phổcập giáo dục cho người không nằm trong độ tuổi đến trường

Trẻ đến trường 5 buổi một tuần (trước 1997 là 6 buổi), mỗi tuần học chia

ra thành 24 đến 27 tiết học với 45 phút/tiết Một năm học kéo dài 9 tháng với 2

kỳ nghỉ: nghỉ hè vào tháng 7, 8 và kỳ nghỉ đông vào khoảng tháng 1,2 Chươngtrình học gồm các môn tiếng Hoa, toán, giáo dục thể chất, nhạc, họa, nhập môn

tự nhiên, lịch sử và địa lý cùng với các buổi sinh hoạt về chính trị và đạo đức.Gần đây môn tiếng Anh đã được đưa vào chương trình tiểu học từ lớp 3 Ngoài

ra từ lớp 4 học sinh phải tham gia các buổi lao động và hoạt động ngoài giờkhác Các trường tiểu học thường do chính quyền các địa phương điều hành, tuynhiên, cũng có một số trường tư do các doanh nghiệp và các cá nhân điều hành

4.2 Giáo dục trung học:

Trong 6 năm, dành cho học sinh từ 12-18 tuổi, gồm trường THCS vàTHPT, mỗi cấp gồm 3 năm học, trong đó 3 năm THCS là bắt buộc căn cứ theoLuật giáo dục bắt buộc 9 năm Học sinh đến trường 6 buổi một tuần, mỗi tuầnchia ra thành 30 hoặc 31 tiết với 45 phút/tiết Chương trình học thống nhất trêntoàn quốc với các bộ môn: Tiếng Hoa, toán, vật lý, hóa học, sinh học, địa chấthọc, ngoại ngữ, lịch sử, địa lý, khoa học chính trị, âm nhạc, mỹ thuật và giáo dụcthể chất Ngoài ra học sinh phải tham gia các hoạt động ngoại khóa khác

Sau khi tốt nghiệp THCS, đa số học sinh thường học tiếp lên THPT, một

số khác học lên các trường nghề hoặc trung học chuyên nghiệp trong thời gian 3đến 5 năm Học sinh tốt nghiệp trường nghề nhận bằng có giá trị tương đươngnhư những học sinh tốt nghiệp THPT Ở bậc THPT có các loại hình trường là

Trang 6

THPT, THPT thường xuyên, trung học nghề, trung học nghề thường xuyên vàđào tạo kỹ năng thực hành

Các trường phổ thông chủ yếu do chính quyền địa phương điều hành Các

trường phổ thông tư thường có chương trình giáo dục chuẩn và có xu hướng thiên về dạy nghề nhưng bằng cấp của các trường này được coi là tương đương với các trường công lập Các sinh viên tốt nghiệp từ các trường chuyên thường

có khả năng đỗ đại học cao hơn

4.3 Các trường chuyên

“Các trường chuyên” đã bị đóng cửa trong cuộc Cách mạng văn hóa đượcxuất hiện trở lại vào cuối những năm 1970, đầu những năm 1980, và trở thànhmột phần thiết yếu trong nỗ lực nhằm phục hồi hệ thống giáo dục yếu kém Docác nguồn lực cho giáo dục còn hạn chế, các trường chuyên hay “trường điểm” –thường là những trường có thành tích cao trước đây – được ưu tiên về phân bổgiáo viên, thiết bị và vốn Các trường điểm chỉ là một phần nhỏ trong tổng sốcác trường THPT chính quy được cho phép tuyển những học sinh giỏi nhất đểgiảng dạy, sao cho các em có thể cạnh tranh vào các trường hàng đầu ở nhữngbậc học tiếp theo

4.4 Giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp

“Luật Giáo dục hướng nghiệp” được ban hành năm 1996 Giáo dục hướngnghiệp bao gồm các trường cao đẳng nghề, các trường trung cấp kỹ thuật, cáctrường trung học hướng nghiệp, các trung tâm tìm việc làm, các cơ sở đào tạo xãhội và kỹ năng cho người lớn Để giáo dục hướng nghiệp đáp ứng tốt hơn yêucầu tái cấu trúc nền kinh tế và đô thị hóa, chính phủ đã thiết kế lại mô hình giáodục hướng nghiệp, định hướng tìm việc làm, và tập trung vào hai dự án giáo dụchướng nghiệp lớn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội về nhân cônglành nghề chất lượng cao Các dự án này nhằm:

+ Đào tạo ra đội ngũ nhân công có tay nghề cần thiết cấp bách cho cácngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ hiện đại;

+ Đào tạo cho những người lao động ở vùng nông thôn chuyển đến cácthành phố làm việc

4.5 Giáo dục đại học

Sau khi tốt nghiệp trung học, học sinh phải vượt qua một kỳ thi tuyển sinhtoàn quốc để được tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp Gần đâyviệc tuyển sinh đại học còn xét đến tư cách đạo đức và thành tích học tập củahọc sinh ở bậc trung học Có rất nhiều loại hình trường đáp ứng các nhu cầu củahọc sinh thuộc nhiều trình độ khác nhau Các trường bao gồm trường đại học,học viện công nghệ, trường đại học mở, trường cao đẳng, trường cao đẳngthường xuyên, đào tạo từ xa, trường trung cấp, trường trung cấp thường xuyênv.v Chương trình học ở các trường này kéo dài từ 2 đến 4 năm Chương trìnhthạc sĩ kéo dài 2 năm và chương trình tiến sĩ kéo dài 4 năm

Sau Cách mạng văn hóa, hầu hết các trường đại học cao đẳng đã bị đóngcửa, số lượng tuyển sinh chỉ giới hạn trong nhóm những người được cho là

“thành phần ưu tú” Hiện nay, với con số khoảng gần 2.500 trường đại học vàcao đẳng với khoảng gần 7 triệu sinh viên, giáo dục đại học của Trung Quốcđược Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO)đánh giá là phát triển nhanh nhất thế giới

Chính phủ cũng đã chú trọng đến việc tạo ra các trường đại học chấtlượng cao Ngay từ năm 1993, dự án xây dựng 100 trường đại học đẳng cấpquốc tế đã được triển khai, theo đó có 708 trường đã được sáp nhập thành 302trường Việc sáp nhập này có mục đích tạo ra những cải tiến trong quản lý giáo

Trang 7

dục, làm tối ưu việc huy động các nguồn lực và tăng cường chất lượng giảngdạy Nhiều trường đại học của Trung Quốc hiện nay đã trở thành các trường cóđẳng cấp hàng đầu thế giới; đó là một nỗ lực vượt bậc so với các nước tiên tiến

có hệ thống giáo dục đại học phát triển từ rất sớm

Trao đổi quốc tế trong giáo dục đại học cũng ngày càng được coi trọng.Theo ước tính có khoảng 200.000 sinh viên quốc tế đang theo học tại các trườngđại học của Trung Quốc Số lượng học sinh Việt Nam theo học tại Trung Quốccũng ngày càng tăng, chủ yếu ở các trường đại học chất lượng cao tại Bắc Kinh,Thượng Hải, Nam Ninh, Thẩm Quyến, Quế Lâm v.v Việc du học và tiếp tụchọc lên sau đại học cũng đang là một xu thế được các sinh viên Trung Quốcchọn lựa Hiện nay có khoảng 700.000 sinh viên Trung Quốc đang theo học ởcác trường đại học tại các nước trên thế giới

4.6 Các trường tư thục

Nhà nước ủng hộ các tổ chức giáo dục tư thục “Luật khuyến khích giáodục tư thục” đầu tiên có hiệu lực từ ngày 01/9/2003 Sự phát triển của các trường

tư thục đồng nghĩa với sự tăng lên về tổng thể các nguồn cung cho giáo dục và

sự thay đổi trong mô hình truyền thống là chỉ có các trường công lập, từ đó đápứng tốt hơn các nhu cầu giáo dục

Các trường tư thục tiên phong trong việc hợp tác với các đối tác nướcngoài điều hành trường học Nhiều đại học nước ngoài đã vào Trung Quốc theocách này, điều đó vừa giúp nâng cao chất lượng cho giáo dục của Trung Quốc,vừa mở ra các kênh mới để học sinh tiếp tục học lên cao

5 Sơ lược những cải cách giáo dục trong thời kỳ hiện đại hóa ở Trung Quốc

- Chính sách giáo dục từ những năm 1980: Trung Quốc bắt đầu sự nghiệp

đổi mới, công nghiệp hóa đất nước từ cuối thập niên 1970, giáo dục được xem là

nền tảng cho “Bốn Hiện Đại Hóa” (hiện đại hóa về nông nghiệp, công nghiệp,

quốc phòng và khoa học công nghệ) Trong những năm 1980, “thành tích” mộtlần nữa lại được xem là cơ sở để tuyển sinh và thăng tiến trong giáo dục Chínhtrị không còn được coi là thước đo quan trọng đối với hiệu quả công việc Sựphân quyền trong quản lý giáo dục từ cấp trung ương đến địa phương là cáchthức lựa chọn để cải thiện hệ thống giáo dục

- Hội nghị quốc gia về Giáo dục năm 1985: Hội nghị quốc gia về giáo dục

tháng 5/1985 công nhận năm lĩnh vực cơ bản của cải cách Việc trao quyền quản

lý tới các tỉnh thành, các vùng tự trị và các đặc khu hành chính là cơ sở quantrọng để các cấp chính quyền địa phương có nhiều quyền quyết định hơn trongviệc phát triển giáo dục cơ bản Các doanh nghiệp quốc doanh, các tổ chức đoànthể và các cá nhân được khuyến khích góp vốn để hoàn thành cải cách giáo dục

- Cải cách cơ cấu của giáo dục trung học: Hội nghị quốc gia về giáo dục

năm 1985 đã tạo tiền đề cho những cải cách mạnh mẽ của giáo dục trung họcdiễn ra sau đó Cuộc cải cách kêu gọi “hướng nghiệp hóa” giáo dục THPT, vớimục tiêu là dần dần giáo dục trung học sẽ thay đổi từ việc chủ đạo về giáo dụcphổ thông chuyển sang kết hợp cân bằng giữa giáo dục phổ thông và giáo dục kỹthuật, hướng nghiệp

- Cải cách tài chính và đầu tư của phính phủ vào giáo dục những năm 1985: Cơ cấu tài chính trong giáo dục đã thực hiện những thay đổi cơ bản từ hệ

thống tập trung trên cơ sở nguồn ngân sách hẹp chuyển sang hệ thống phân cấptrên cơ sở nguồn ngân sách đa dạng hơn rất nhiều Cải cách tài chính bao gồm 2chiến lược chính: phân cấp và đa dạng hóa

Trang 8

- Việc phát triển đội ngũ giáo viên từ cuộc cải cách năm 1985: Nhằm

nâng cao chất lượng giảng dạy, chính phủ đã khởi động “Chương trình quốc gia

về mạng lưới đào tạo giáo viên” với mục đích hiện đại hóa việc đào tạo giáoviên; cải tiến mạnh mẽ chất lượng giảng dạy Năm 1993, Luật giáo viên đãđược ban hành, theo đó lương hưu cho giáo viên cũng đã tăng đáng kể

- Luật Giáo dục bắt buộc 1986: “Luật Giáo dục bắt buộc 9 năm”, có hiệu

lực từ ngày 1/7/1986, đặt ra các yêu cầu và thời hạn để đạt được phổ cập giáodục tùy theo điều kiện của địa phương Chương trình cố gắng đưa những vùngnông thôn, nơi có mặt bằng học vấn bắt buộc chỉ từ 4 đến 6 năm, tiến kịp cácvùng thành thị

- Cải cách hướng tới đối tượng khó khăn trong những năm 1990: “Chương

trình quốc gia về giáo dục bắt buộc ở các vùng khó khăn” giai đoạn 1995-2000thực hiện chương trình giáo dục bắt buộc 9 năm ở miền tây, nâng cao chất lượnggiáo dục bắt buộc 9 năm ở các khu vực nông thôn miền đông và miền trung

Cải cách hệ thống và quy trình thi cử đánh giá những năm 2000: Thay đổi

đánh giá theo hướng “đa dạng/mềm mỏng” như các nước Nhật Bản và Hàn

Quốc đã làm trước đó Đó là “hệ thống đánh giá mang tính phát triển” tập trung

đến tất cả các khía cạnh của việc học và chú trọng hơn đến việc người học tiến

bộ như thế nào trong quá trình học tập

Cải cách giáo dục của Trung Quốc đầu thế kỷ 21: Thực hiện một hệ thống

quản lý trong đó chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm về giáo dục; Phát triểnnguồn nhân lực; Tiến hành chương trình giáo dục 9 năm bắt buộc miễn phí; Đẩymạnh thử nghiệm về đa dạng hóa sở hữu trong giáo dục; Thành lập và hoànthiện hệ thống tuyển dụng và đào tạo dựa trên thành tích; Mời gọi nhiều hơn nữacác đối tác nước ngoài tham gia vào phát triển giáo dục và nguồn nhân lực; Khuyếnkhích phát triển giáo dục cùng với công nghệ thông tin; Phát triển nguồn nhânlực qua các bước nhảy vọt; Mạnh dạn tìm tòi phương pháp hiệu quả để xây dựng

xã hội học tập Thiết lập một hệ thống thông tin để phát triển giáo dục và nguồnnhân lực quốc gia

Như vậy trong quá trình cải cách giáo dục của Trung Quốc từ 1976 tớinay, chúng ta thấy, Trung Quốc rất quan tâm tới việc xây dựng một nền giáo dụctheo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm đào tạo cho đất nước những con ngườiphát triển cả về đức, trí, thể, mĩ – có văn hóa, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, đủsức đưa Trung Quốc vươn lên thành một quốc gia hùng mạnh trên thế giới

6 Những thành tựu nổi bật về giáo dục Trung Quốc từ sau mở cửa đến nay:

6.1 Về giáo dục phổ thông:

Công tác phổ cập giáo dục 9 năm và xoá mù chữ được coi trọng và đã đạt được những thành tựu quan trọng Trước năm 1949 có tới 80% dân số Trung Quốc mùchữ, ở nông thôn tỷ lệ này là 95%, đến 2010, tỷ lệ mù chữ chỉ còn 5,5% tổng số dân cả nước Theo thống kê mới nhất, hiện nay Trung Quốc có hơn 400 nghìn trường tiểu học với 120 triệu học sinh, tỉ lệ theo học tiểu học của các em cùng độtuổi đạt trên 98% Trường THCS có 60 nghìn với hơn 60 triệu học sinh tại trường, tỉ lệ vào học sơ trung đạt trên 90% Trường THPT có hơn 30 nghìn trường với 30 triệu học sinh, tỉ lệ vào học cao trung trong đạt trên 40% Những năm gần đây, ngành giáo dục TQ đang nỗ lực phát triển giáo dục cao trung, để thoả mãn nguyện vọng đi học của đông đảo học sinh

6 2 Về giáo dục đại học và cao đẳng:

Đối với nhiệm vụ đào tạo sau đại học, ngay từ khi bắt đầu thực hiện côngcuộc cải cách và mở cửa Trung Quốc đã có sự quan tâm thích đáng Trong thời

Trang 9

gian qua, ngành giáo dục đại học và cao đẳng ở Trung Quốc phát triển mạnh,quy mô lớn, xây dựng và phát huy nhiều trường Đại học chất lượng cao Năm 1996Trung Quốc có 1238 trường đại học; đến năm 2002 có 2003 trường đại học cácloại; bình quân mỗi năm số sinh viên học tập tại trường tăng 9,9% Năm 2012,Trung Quốc có một hệ thống giáo dục đại học lớn nhất thế giới với 27 triệu sinhviên trong những trường đại học khác nhau khá nhiều, trong đó có một bộ phậntrường tư Hệ thống giáo dục phi công lập phát triển manh, phát triển hài hòa với giáodục công lập Lĩnh vực hợp tác giáo dục với nước ngoài, được mở rộng cửa, trao đổi tạo điều kiện cho học sinh đi du học, xây dựng thương hiệu giáo dục Trung Quốc.

6.3 Về giáo dục nghề nghiệp:

Phát triển nhiều loại hình ra khắp nơi trên lãnh thổ để cung cấp lực lượng công nhân cho các nhà sản xuất Có vai trò quan trọng cho sự phát triển của công nghiệp Trung Quốc, một thị trường lớn ở trong khu vực và trên thế giới với hệ thống nhà máy sản xuất phát triển mạnh.

6.4 Những thành tựu trong công tác đào tạo giáo viên

Cùng với thành công của công của công cuộc cải cách và mở cửa, quá trìnhthực hiện chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” đã dẫn đến những thay đổi tíchcực trong quan niệm giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân Địa vị của giáo dục

đã được nâng cao, được sự quan tâm của các cấp chính quyền, có nhiều biệnpháp nhằm cải thiện điều kiện làm việc và sinh hoạt của giáo viên như: đào tạo,bồi dưỡng; tăng lương, phụ cấp Đến năm 2003, Trung Quốc có hơn 11.4 triệugiáo viên với gần 9 triệu giáo viên tiểu học và trung học phổ thông đáp ứng cho

sự phát triển của giáo dục phổ thông

6.5 Giáo dục ở dân tộc thiểu số

Số học sinh là người dân tộc thiểu số tại các trường, các cấp học ngày càngnâng cao Năm 1994, ngành học phổ thông trên toàn quốc, có 15 triệu học sinh

là người dân tộc thiểu số; đến năm 1997 con số này đã lên tới hơn 18 triệu Giáo dục cao đẳng ở vùng dân tộc thiểu số cũng phát triển nhanh Từ sau khithành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tại các địa phương ở các khu tựtrị đã lần lượt thành lập 105 học viện, trường chuyên nghiệp và trường đại học.Trên toàn Trung Quốc có 12 học viện dân tộc dành riêng cho con em người dântộc thiểu số

Trong công cuộc cải cách mở cửa, Đảng cộng sản Trung Quốc đã xác địnhphát triển kinh tế mới là nhiệm vụ hàng đầu, chính vì thế, đã sớm lựa chọn xây dựng nền kinh tế thị trường Đồng thời xác định lấy giáo dục để chấn hưng đất nước dựa trên nền tảng giáo dục hướng ra thế giới, hướng tới hiện đại hóa và hướng tới tương lai Giáo dục được coi là lực lượng sản xuất thứ nhất trong chiến lược phát triểnkinh tế xã hội Những thắng lợi đã đạt được về kinh tế, chính trị, khoa học - kĩ thuật,

an ninh – quốc phòng …của Cộng hòa nhân dân Trung Quốc có sự đóng góp to lớn của nền giáo dục Trung Quốc.

7 Những khó khăn và thách thức của nền giáo dục Trung Quốc

Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, nền giáo dục Trung Quốc hiện nay cũng đang còn tồn tại những khó khăn và thách thức cần phải giải quyết:

- Việc phổ cập giáo dục nghĩa vụ 9 năm chưa được thực hiện đồng đều ởcác địa phương, các khu vực Khu vực chậm phát triển như miền Tây chưa thựchiện được, chủ yếu là do chính quyền địa phương chưa tạo được cơ hội giáo dục

cơ bản cho người dân, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt cũng ảnh hưởng phần nàođến việc phát triển giáo dục ở khu vực này

- Khoảng cách về trình độ giáo dục ở thành thị và nông thôn Trung Quốcđang ngày càng gia tăng, khiến cho nhiều người Trung Quốc không có cơ hội

Trang 10

học tập và phát triển Chỉ 1/5 sinh viên của các trường đại học hàng đầu TrungQuốc đến từ các vùng nông thôn, theo Viện Nghiên cứu Giáo dục thế kỉ 21.

- Do sức ép về nhu cầu mở rộng quy mô nâng cao chất lượng giáo dục đạihọc cộng với nhu cầu đầu tư cho các lĩnh khác, về mặt đầu tư cho giáo dục củaTrung Quốc mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đạt mức 3,3 % GDP,còn thấp so với một số nước trên thế giới (Đầu tư cho giáo dục của Mỹ chiếmkhoảng 7% GDP)

- Ngoài ra số học sinh trong độ tuổi phổ thông bỏ học vẫn còn, nhất là ởvùng nông thôn Năm 1998, số học sinh sơ trung ở nông thôn bỏ học lên tới4.2%, cao gần 1% so với mức bình quân của cả nước

- Theo báo cáo của tổ chức UNESCO, năm 2011 số lượng người trưởngkhông biết đọc biết viết ở Trung Quốc đứng thứ 8 trong những quốc gia có sốlương người mù chữ cao nhất

Chất lượng đội ngũ nhân tài mà Trung Quốc đào tạo ra là chưa cao.Nguyên nhân là do Trung Quốc đang thiếu hụt nhân tài bậc cao trong khi loạinhân tài này đang lão hoá nghiêm trọng Trung Quốc đào tạo nguồn nhân lựcvừa thừa lại vừa thiếu Theo Tân Hoa Xã, tới đầu thế kỷ XXI Trung Quốc đãđào tạo được 1.600.000 kĩ sư nhưng chỉ có 160.000 trong số này có đủ khả nănglàm việc với các công ty đa quốc gia

Ở Trung Quốc hiện nay, tình trạng “chảy máu chất xám” diễn ra rấtnghiêm trọng Theo thống kê của Bộ giáo dục Trung Quốc từ 1978-2003, sốngười đi du học của Trung Quốc là 700.200 người, trong đó chỉ có 172.000người trở về nước, phần lớn ở lại các nước phát triển Những công trình nghiêncứu đã chỉ ra rằng “Trong giai đoạn cất cánh của nền kinh tế ở các quốc giađang phát triển cần giữ tỉ lệ 2/3 số lưu học sinh trở về nước làm việc, 1/3 ở lạinước ngoài làm việc và có mối liên hệ với trong nước; tỷ lệ trở về và ở lại đảmbảo ở mức 2/1 là hợp lí và có lợi”, thì ở Trung Quốc đang diễn ra theo tỷ lệ 1/3.Đây chính là một vấn đề nan giải mà chính phủ Trung Quốc cần phải tìm ra giảipháp khắc phục

Trong công tác tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng còn nhiềuhạn chế, kì thi tuyển sinh đại học hàng năm (gaocao) là một áp lực lớn cho họcsinh và gia đình

Tình trạng “học vẹt”, “học gạo” chỉ chú trọng năng lực nhớ và thực hành kỹnăng vẫn còn khá phổ biến

"Hầu hết phụ huynh hiểu rằng cho trẻ học thêm quá nhiều sẽ giảm thời gian chơi

và thư giãn của trẻ nhưng họ vẫnlàm vì lo con mình tụt hậu so với bạn bè" Hong lí giải

-III NHỮNG KINH NGHIỆM THAM KHẢO CHO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY

1 So sánh giữa giáo dục Trung Quốc và giáo dục Việt Nam

-Cả hai nước đều xác định đúng đắn vị trí chiến lược của giáo dục trong

sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội Đảng và nhà nước ta đã xác định: “giáodục đào tạo cùng với khoa học- công nghệ là quốc sách hàng đầu”’, TrungQuốc đề ra phương châm “khoa học và giáo dục chấn hưng đất nước” với ýnghĩa đề cao vai trò của giáo dục trong sự nghiệp cải cách và mở cửa Nhậnthức được tầm quan trọng của giáo dục trong chiến lược phát triển kinh tế- xã

Trang 11

hội nên trong thời gian qua cả hai nước đã thi hành nhiều biện pháp nhằm cảicách và phát triển giáo dục.

- Cả hai nước đều đề ra mục tiêu phấn đấu nâng số học sinh trung học cơ

sở và trung học phổ thông lên trong những năm tới

-Cả hai nước đều chú ý tăng cường đầu tư cho giáo dục, mục tiêu là nâng

tỉ lệ chi cho giáo dục trong ngân sách nhà nước, phấn đấu huy động nhữngnguồn lực tài chính khác nhau để đẩy mạnh đầu tư cho giáo dục, nhằm nâng tỷ

lệ đầu tư cho giáo dục so với GDP

-Cả hai nước đều đang đứng trước những khó khăn giống nhau : Nguồnkinh phí để đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, đội ngũ giáo viên và sách giáokhoa còn chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đạihoá đất nước và yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức, hệ thống quản lý giáodục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng đang cần phải được tiếp tục đisâu vào cải cách

Tuy nhiên, do hoàn cảnh đặc thù của từng nước nên vấn đề giáo dục giữahai nước Việt Nam và Trung Quốc cũng có những điểm khác nhau:

- Trung Quốc là một nước lớn, lãnh thổ rộng, kinh tế-xã hội và văn hoá,điều kiện giữa các vùng rất khác nhau Hơn nữa, sau 30 năm cải cách và mởcửa, sự chênh lệch phát triển giữa các vùng cũng rất lớn Vì vậy, việc thu hẹpkhoảng cách của sự phát triển giáo dục giữa các vùng, nhất là trong việc thựchiện phổ cập giáo dục còn tương đối khó khăn.Trong khi đó, Việt Nam là mộtnước có dân số không đông, lãnh thổ không rộng, sự chênh lệch phát triển giữacác vùng đã xuất hiện nhưng không lớn bằng Trung Quốc.Vì vậy, điều kiệnphát triển của giáo dục Việt Nam có phần thuận lợi hơn sự phát triển của giáodục Trung Quốc

- Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc, nhiều phương ngữ, chữ Hán lạikhó đọc, khó viết, khó nhớ nên việc phổ cập giáo dục sẽ rất khó khăn hơnnhiều Việt Nam tuy là một quốc gia đa dân tộc nhưng ít phương ngữ hơn TrungQuốc nên việc phổ cập giáo dục sẽ thuận lợi hơn nhiều

2 Những bài học kinh nghiệm

Từ những kinh nghiệm thành công cũng như những hạn chế và thiếu sótcủa giáo dục Trung Quốc trong cải cách có thể rút ra cho giáo dục nước tanhững gợi ý rất quan trọng:

-Phát triển giáo dục phải phục vụ sự nghiệp hiện đại hoá đất nước Lấychính sách phổ cập giáo dục để xây dựng nền tảng tri thức cho nhân dân tiếp thukhoa học- kĩ thuật, ra sức phát triển giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp, gắn đào tạovới giải quyết việc làm, đẩy mạnh giáo dục cao đẳng (Đào tạo chuyên khoa) đểphát triển nhanh dội ngũ cán bộ chuyên môn trình độ cao cho các nghành kĩthuật- kinh tế, hướng hoạt động khoa học trong các trường đại học vào lĩnh vựcnghiên cứu ứng dụng và khai thác kĩ thuật để phát triển nhanh công nghệ vàứng dụng những công nghệ mới vào sản xuất Đó chính là đướng lối phát triểngiáo dục phục vụ kinh tế và hiện đại hoá đất nước

-Phương châm gắn liền giáo dục với xã hội, thực hiện xã hội hoá giáodục Trong điều kiện còn nhiều khó khăn của nền kinh tế Trung Quốc thì xã hộihoá giáo dục là một biện pháp rất tích cực Đây cũng là một kinh nghiệm chocác nước đang phát triển như Việt Nam Thực hiện xã hội hoá giáo dục là huyđộng mọi lực lượng tham gia làm giáo dục, hình thành một mô hình giáo dụctrong đó nhà nước là chủ thể của tổ chức giáo dục còn các lực lượng xã hộikhác là thành phần tham gia Đây là một cách làm đúng, phù hợp nhất là đối vớimột nước nghèo và đông dân

Trang 12

-Coi trọng giáo dục hướng nghiệp.Trung Quốc đã thực hiện phân luồnghọc sinh phổ thông hướng sang giáo dục kĩ thuật- nghề nghiệp, đảm bảo tỉ lệ 1:1giữa học sinh trung học phổ thông và học sinh trung học kĩ thuật nghề nghiệp,làm cho giáo dục nghề nghiệp trở thành chủ đạo của hệ thống giáo dục kĩ thuậtnghề nghiệp Đồng thời, đưa những yếu tố kĩ thuật và nghề nghiệp nhất định vàonội dung của giáo dục phổ thông Đây là cách làm nhằm tạo ra một số lượng lớnnhững người thợ có kĩ thuật trong một thời gian ngắn.

-Mở rộng quyền quản lý tới tận các địa phương, thực hiện phân cấp quản

lý giáo dục

Trung Quốc đã thực hiện cải cách thể chế quản lý giáo dục theo hướng địaphương hoá, phân cấp mạnh xuống tới tận cơ sở Bộ giáo dục Trung Quốc đãgiao việc quản lý giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp cho các địa phương, tạo thế chủđộng cho địa phương phát huy mọi tiềm năng tại chổ để làm giáo dục, gắn giáodục phổ thông và giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp với việc xây dựng và phát triểnkinh tế ở các địa phương, mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học, cả vềchuyên môn, tài chính, nhân sự….tạo điều kiện cho các trường phát triển với sứcsống tự nhiên của một chủ thể đào tạo, khuyến khích trường đại học liên kếtngang với các xí nghiệp, với các cơ quan, trường học, hình thành mối liên kết

“nghiên cứu- đào tạo-sản xuất”, tạo chủ thể phát triển gắn bó, đồng bộ và cóhiệu quả cao

Mặt khác, việc thực hiện địa phương hoá quản lý và phân cấp mạnh xuốngtận cơ sở sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý nhà nước tập trung tăngcường quản lý ở tầm vĩ mô, tập trung vào việc hoạch định chính sách, chiếnlược, pháp chế, thanh tra, đánh giá, điều chỉnh… làm cho hệ thống giáo dục pháttriển liên tục, hài hoà, thích ứng với tình hình kinh tế- xã hội của địa phương,vùng và toàn quốc Đây cũng là kinh nghiệm mà các nước đang phát triển cũng

áp dụng cho nền giáo dục nước mình

-Cải cách chế độ tuyển sinh và phân công sinh viên tốt nghiệp theohướng giảm sự khống chế của nhà nước

Biện pháp này nhằm hình thành từng bước cơ chế tự điều tiết của thịtrường lao động, làm cho đào tạo ngày càng gắn với việc làm, thúc đẩy ngườihọc tự định hướng, tự điều chỉnh và thích nghi….Đó là con đường hợp quyluật trong điều kiện nền kinh tế thị trường Nhà nước không còn giữ địa viquyết định

trong công tác tuyển sinh và phân phối sinh viên tốt nghiệp nữa mà thay vàođó

là sự chủ động và linh hoạt của từng trường đại học, từng địa phương để đápứng tốt hơn cho nhu cầu của địa phương mình Tuy nhiên, cần phải cẩn trọng,nhà nước cần phải quản lý ở tầm vĩ mô, khống chế để không cho phát triểntràn lan, thiếu quy hoạch dẫn đến việc các trường, các địa phương chạy theo sốlượng mà không quan tâm đến chất lượng giáo dục

Những bài học trên đây thể hiện hướng đi của giáo dục là đúng, đangtừng bước thực hiện và phát huy hiệu quả rõ rệt Các nước đang phát triển trênthế giới hiện nay cũng đã học tập được rất nhiều điều từ những thành công và

cả những nhạn chế của Trung Quốc trong vấn đề phát triển giáo dục

Từ việc phân tích những thành công cũng như những hạn chế của giáodục Trung Quốc từ 1978 đến nay và những bài học lớn đã được rút ra cùng vớinhững điểm tương đồng của giáo dục 2 nước Em cho rằng Việt Nam có thể

Trang 13

tham khảo một số kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc cải cách giáo dụcnhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệphiện đại hoá đất nước hiện nay.

-Kinh nghiệm về bồi dưỡng nhân tài thông qua giáo dục toàn diện, pháttriển mô hình trường THPT tổng hợp Mô hình trường giáo dục hướng nghiệpcho học sinh có thể tự do lựa chọn nghề nghiệp trong cơ chế thị trường cạnhtranh hoặc tiếp tục học lên cao đẳng đại học theo sở thích của mình Ưu điểmcủa trường này là học sinh sau khi ra trường vừa có học vấn trình độ phổ thông(được cấp bằng THPT) vừa có trình độ kĩ năng nghề nghiệp (được cấp chứngchỉ nghề) để tham gia vào thị trường lao động Có thể thấy mô hình trường nàythích hợp với tình hình Việt Nam khi chúng ta đang cố gắng đào tạo, phát huythế mạnh về nguồn nhân lực

-Chú trọng phát triển hệ thống trường dân lập song song với hệ thốngtrường công lập song vẫn đảm bảo đầu tư tốt Đây là một biện pháp khả thitrong hoàn cảnh nước ta còn nhiều khó khăn, để có thể đại chúng hoá giáo dục,biến gánh nặng dân số đông thành nguồn nhân lực dồi dào trình dộ cao TrungQuốc khẳng định giáo dục đại học là nồng cốt quan trọng trong công cuộc hiệnđại hoá Một số trường đại học được nâng cấp thành trường đại học quốc tế, sẽtrở thành

nơi đào tạo các chuyên gia trình độ cao trên nhiều lĩnh vực Ngoài ra, họ cònchủ

75

Trang 14

trương phát triển nhiều hình thức trường đại học đào tạo không chính quy:đại học qua truyền hình, đại học nông dân, đại học viên chức, học viện quản

lý cán bộ, đại học tự học có hướng dẫn Đây là những trường đại học kiểumới, hình thành trên cơ sở kết hợp 3 yếu tố: cá nhân tự học- xã hội trợ giúp

và nhà nước chỉ đạo Đây là một kinh nghiệm phát triển giáo dục của TrungQuốc có khá nhiều ưu điểm mà hiện nay nước ta cũng áp dụng, mở ra cơhội học tập cho nhiều người, góp phần thực hiện nâng cao dân trí, đào tạonhân lực và bồi dưỡng nhân

tài

Trang 16

KẾT LUẬN

Như vậy, xem xét quá trình cải cách của giáo dục Trung Quốc từ 1978 đếnnay, chúng ta thấy Trung Quốc rất quan tâm tới việc xây dựng một nền giáo dục theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm đào tạo cho đất nước những con người phát triển

cả về trí, đức, thể, mĩ, có văn hoá, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, đủ sức đưa TrungQuốc vươn lên thành một trong những quốc gia hùng mạnh của thế

giới

Hơn 30 năm cải cách và mở cửa, sự nghiệp giáo dục của Trung Quốc xuấtphát từ chỗ thấp kém, lạc hậu đã phát triển lên thành một nền giáo dục có quy môlớn của thế giới với nhiều điểm tiến bộ và đạt được những thành tựu to lớn, góp phầnvào công cuộc cải cách và hiện đại hoá đất nước Giáo dục Trung Quốc đã khôiphục, thoát khỏi tình trạng bế tắc và lạc hậu sau Cách mạng văn hoá, bước đầu xâydựng được một hệ thống giáo dục cơ bản có quy mô thích hợp với nhu cầu xây dựng

và hiện đại hoá đất nước Hệ thống này bao gồm nhiều cấp học từ tiểu học đến đạihọc với cơ cấu gồm nhiều loại hình khác nhau Về mặt cấp học đã có sự phân chia rõràng: Cấp mầm non, cấp tiểu học, giáo dục trung học với 2 cấp: sơ trung và cao trungvới cơ cấu chia làm 2 luồng chính là giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp,giáo dục đại học và sau đại học Hệ thống giáo dục này đang được áp dụng khôngnhững ở Trung Quốc mà còn ở nhiều nước khác là một hệ thống giáo dục khá bàibản, có quy mô thích hợp với nhu cầu xây dựng và hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa ởTrung Quốc

Giáo dục Trung Quốc từ 1978 đến nay đã phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cảicách và mở cửa.Với mục tiêu xây dựng nền giáo dục là phục vụ cho sự nghiệp đổimới, nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục Trung Quốc là phải nhanh chóng nâng cao trình

độ của dân tộc, tập trung mọi nỗ lực để phát triển sức sản xuất xã hội, đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế, văn hoá, quốc phòng… Mặc dù thực hiện cuộc cải cách giáodục trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn nhưng

giáo dục Trung Quốc đã căn bản thực hiện được những yêu cầu mà đất nước đòi hỏi Quá trình phát triển của giáo dục Trung Quốc từ 1978 đến nay đã minh

chứng cho điều đó

Xuất phát từ thực trạng không đồng đều về sự phát triển giáo dục giữa thànhthị và nông thôn, những người làm công tác giáo dục Trung Quốc đã đề nghị côngtác phục hồi và phát triển giáo dục phải được bắt đầu ở nông thôn., phổ cập giáo dục

ở nông thôn thì sẽ làm tốt công tác phổ cập trên toàn quốc

Điều này góp phần làm giảm sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giảm dần

sự chênh lệch giữa lao động chân tay và lao động trí óc

Năm 1978, Trung Quốc bước vào công cuộc cải cách, mở cửa Cũng giống như

1

Trang 17

cải cách thể chế kinh tế, cải cách thể chế chính trị, công cuộc cải cách giáo dục ởTrung Quốc là sự mở đầu toàn diện, không có mô hình nhất định để sao chép, cũngkhông có nhiều kinh nghiệm để học theo Những bước đi ban đầu của giai đoạn này

đã được người Trung Quốc mô tả bằng hình ảnh “dò đá qua sông” với hàm ý là cảicách, mở cửa, đòi hỏi phải kiên trì, phải coi trọng thực tế, cần phải ổn định và hiệuquả Mỗi bước đi cần phải “dò” cho kĩ, nhìn cho chuẩn, phải đúc kết kinh nghiệm vàhình dung được bước tiếp theo mới bước tiếp Chính vì thế, cải cách giáo dục ởTrung Quốc được tiến hành theo phương hướng : kiên trì thực nghiệm điển hình đểtìm ra một phương hướng và biện pháp hợp lý và từng bước mở rộng từ điểm tớidiện, giải quyết tốt tình trạng không đồng đều về giáo dục Bởi thế, trong cuộc cảicách giáo dục từ 1978 đến nay, công tác thực nghiệm, thí điểm ở các địa phương hếtsức được coi trọng Thực nghiệm thành công sẽ mở rộng mô hình ra toàn quốc Đâycũng là một biện pháp tích cực trong điều kiện “dò đá qua sông” của Trung Quốc

Cùng với những thành tích to lơn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhoá…trong 30 năm qua, những thành tích của giáo dục Trung Quốc cũng rất đángghi nhận Tuy nhiên, do những nguyên nhân lịch sử cũng như những đặc điểm riêngcủa tình hình giáo dục trong thời kỳ xây dựng đất nước, ngành giáo dục Trung Quốccũng đang tồn tại những khó khăn và hạn chế nhất định Ví dụ , như do yêu cầu bứcthiết phải phát triển nhanh để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp hiện đại hoá mà xuấthiện xu thế quá thiên về bề rộng mà chưa chú ý đến chiều

sâu , nghĩa là chất lượng giáo dục vẫn chưa được quan tâm đúng đắn….nên chất

lượng học tập phổ thông ở vùng nông thôn, vùng sâu, nhất là miền núi cao tương đốithấp Đội ngũ giáo viên là những người có vai trò quyết định sự thành bại của chấtlượng giáo dục dù đã được chú ý quan tâm nhiều nhưng vẫn còn hạn chế :

Điều kiện học tập còn hạn chế, trình độ giáo viên còn thấp, số giáo viên đủ chuẩncòn ít nên phần nào ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục Tình trạng giáo viên khôngđạt yêu cầu cũng như cơ chế quản lý giáo dục còn nhiều lạc hậu không chỉ ở cáctrường phổ thông mà còn ở bậc đại học….Tuy vậy, với sự lãnh đạo của

Đảng cộng sản Trung Quốc, sự tham gia tích cực của nhân dân, nỗ lực của đội ngũgiáo viên và những nhà quản lý giáo dục, nền giáo dục Trung Quốc chắc chắn sẽ cónhững đổi mới thực sự đi đúng hướng và từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu pháttriển kinh tế- xã hội, tạo ra những nhân tố mới cho sự phát triển,

đưa Trung Quốc tiến lên vững chắc trong thời gian tới

2

Trang 18

Chuẩn bị ban hành bộ luật giáo dục suốt đời.

2.2 Đa dạng hoá giáo dục: phương thức hiệu quả để giải bài toán công bằng xã hộiGiáo dục cho mọi người luôn là mục tiêu hướng tới của các cải cách liên quan đếngiáo dục Bình đẳng về tiếp cận có vai trũ quan trọng trong duy trì ổn định xã hội cũngnhư tăng cường đoàn kết dân tộc Trung Quốc lại gặp phải vấn đề về chênh lệch giàunghèo giữa các tầng lớp dân cư và đặc biệt là giữa các vùng miền của đất nước Do sựkhác biệt về kinh tế của các khu vực trực tiếp ảnh hưởng đến đầu tư giáo dục, cộngthêm với tác dụng thu hút nguồn trí lực của các khu vực kinh tế phát triển, sự khôngđồng đều về giáo dục giữa các khu vực sẽ khiến cho khoảng cách chênh lệch về giáodục giữa các khu vực mở rộng, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của khu vực lạchậu, hơn nữa cũn ảnh hưởng tới việc nâng cao tố chất của toàn thể quốc dân Nhận rừđiều đó, nên đảm bảo sự phát triển giáo dục hài hoà giữa các khu vực là một trong cáctrọng điểm chiến lược phát triển giáo dục Trung Quốc

Mục tiêu cho đến 2010 là giải quyết có hiệu quả vấn đề đầu tư giáo dục của các vùng,khiến cho giáo dục ở các vùng lạc hậu có thể đi trước trình độ phát triển kinh tế của

3

Trang 19

địa phương đó, đặt nền móng cho sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế sau này,đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển cân đối, hài hũa kinh tế trên toàn quốc

3 Đa dạng hoá giáo dục: nền giáo dục hướng nhân bản

Nhấn mạnh đến một xu hướng chung trong nội dung của các mục tiêu chiếnlược giáo dục các nước, đó là giáo dục hướng về con người Giáo dục nhằm phục vụcác mục đích phát triển kinh tế không có nghĩa là tạo ra những công dân cứng nhắc,rập khuôn theo các yêu cầu về khoa học kỹ thuật Trong thời đại mới khi yếu tố conngười càng ngày càng nắm vai trò chủ chốt quyết định thành công thì các nước cũngnhận thức rằng giáo dục phải nhằm tạo ra những con người toàn diện, phát triển mọimặt và được tôn trọng Trên cơ sở đó, giáo dục và nuôi dưỡng tài năng là một trongnhững mục tiêu chung của các quốc gia, nhất là các quốc gia châu Á

Trong chiến lược giáo dục của Trung Quốc, việc nâng cao tố chất của conngười sẽ trở thành mô thức chủ đạo của giáo dục từ nay về sau Điều này cũng cónghĩa là, việc đào tạo nhân tài theo mô hình phức hợp, biết sinh tồn, giỏi học tập, dámsáng tạo với mục tiêu nâng cao tố chất của toàn thể công dân sẽ trở thành hướng đi cơbản của chiến lược này mục tiêu đào tạo học sinh sẽ là giáo dục toàn diện Người họcsinh được đào tạo ra sẽ là những thanh niên có sức khỏe tốt, dồi dào tinh thần, ổn địnhtâm lý, có năng lực hợp tác và năng lực học tập nhất định Giáo dục tố chất nhấn mạnhhơn đến tính toàn diện và hài hòa của sự phát triển cơ thể Giáo dục tố chất không phải

là giáo dục tuyển chọn, nhưng nó không phản đối giáo dục tài năng, mà còn tích cựctạo điều kiện để cho những người có khả năng trở thành người tài đều có thể xuất hiện.Giáo dục tố chất lấy sự phát triển tự thân của cá thể làm điểm xuất phát và làm cơ sởcủa việc giáo dục Mục tiêu phát triển của giáo dục không phải là tiêu diệt sự khácbiệt, tiêu diệt cá tính, mà ngược lại thừa nhận sự khác biệt và khuyến khích phát triển

cá tính Chính vì vậy, trong nền giáo dục Trung Quốc đó và đang nảy sinh một cuộccải cách, đó là sự chuyển dịch trọng tâm từ “giáo dục khoa cử” chuyển sang “ giáo dục

tố chất”, là sự chuyển biến từ “ giáo dục sách vở” sang “giáo dục nhân bản”; là bướcchuyển từ chỗ “mọi người đều có thể thất bại” sang “mọi người đều có thể thànhcông”

Nhận thức được tầm quan trọng của phân quyền trong giáo dục, Trung Quốc đótiến hành một số cải cách quan trọng liên quan đến quản lý, tài chính và chương trình.Chương trình về Cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc năm 1993 khẳng địnhrằng “hệ thống để vận hành các trường sẽ chứng kiến sự thay đổi lớn lao với sự độcquyền của chính phủ sẽ thay đổi Trong khi mà trọng tâm vẫn còn là những trường họccông thì bên cạnh đó các trường học được tài trợ từ cộng đồng đang dần dần đượckhuyến khích thành lập Giáo dục cơ bản (basic education) đạt được chủ yếu thôngqua những trường của chính phủ ở địa phương”

Trên thực tế, về tài chính, chính quyền TW đó bắt đầu giảm sự bao cấp cho cáctrường ở địa phương, các nhân viên giáo dục tại các Tỉnh thành, thị trấn, làng mạc đótheo đuổi các nguồn khác ngoài kinh phí rót từ trung ương để tài trợ cho giáo dục cơbản Các nguồn khác đến từ đóng góp từ các tổ chức công nghiệp và xã hội; quỹ đượctài trợ từ các tổ chức cộng đồng và các cá nhân; học phí từ học viên; và thu nhập từcác xí nghiệp vận hành trường

Sự phân quyền về tài chánh và quản lý cũng làm xuất hiện khu vực phi chínhphủ trong giáo dục đào tạo Các loại trường trung học phi chính phủ hoặc bán công

4

Ngày đăng: 16/09/2013, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w