1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài viết quảng cáo (ngữ văn 10)

59 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO NGỮ VĂN 10 được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS.. Hiện nay, ngành giáo dục V

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**************

ĐẶNG THANH HIẾU

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO

DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO

(NGỮ VĂN 10)

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**************

ĐẶNG THANH HIẾU

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO

DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO

(NGỮ VĂN 10)

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM KIỀU ANH

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Phạm Kiều Anh, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình em nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới đội ngũ giảng viên trong tổ Phương pháp – Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện để giúp em trong thời gian em học tập và nghiên cứu

Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em mong quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến, phản hồi, tiếp tục xây dựng đề tài để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2019

Sinh viên thực hiện

ĐẶNG THANH HIẾU

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ VĂN 10) được hoàn thành dưới

sự hướng dẫn của TS Phạm Kiều Anh Tôi xin cam đoan bản khóa luận tốt nghiệp này hoàn toàn là sản phẩm nghiên cứu của cá nhân Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2019

Sinh viên thực hiện

ĐẶNG THANH HIẾU

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của khóa luận 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 8

1.1 Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp 8

1.1.1 Thế nào là tích hợp và dạy học tích hợp 8

1.1.2 Các hình thức tích hợp được thiết kế trong chương trình Ngữ văn hiện hành 9

1.1.3 Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn 12

1.2 Cơ sở lý luận về văn bản quảng cáo 14

1.2.1 Khái niệm văn bản quảng cáo 14

1.2.2 Đặc điểm của văn bản quảng cáo 16

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp ở trường THPT 20

1.3.1 Thực trạng dạy học bài Viết quảng cáo ở trường THPT 20

1.3.2 Điều tra, khảo sát thực trạng học bài Viết quảng cáo ở trường THPT 21

1.3.3 Đánh giá chung 21

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ VĂN 10) THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 22

2.1 Mục đích của việc học bài Viết quảng cáo trong chương trình Ngữ văn THPT 22

Trang 7

2.2 Nội dung dạy học bài Viết quảng cáo trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 22

2.3 Những yêu cầu có tính nguyên tắc khi tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp 24

2.3.1 Phù hợp với mục tiêu và thời lượng dạy học 24

2.3.2 Phù hợp với điều kiện thực tế 25

2.3.3 Phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh 25

2.4 Xác định những nội dung có thể tích hợp trong bài Viết quảng cáo 27

2.4.1 Tích hợp với văn bản thuyết minh khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về văn bản Viết quảng cáo 27

2.4.2 Tích hợp với kĩ năng sử dụng ngôn ngữ khi trình bày nội dung quảng cáo 27

2.4.3 Tích hợp mở rộng trong thực tế cuộc sống 28

2.5 Xác định thời điểm tích hợp khi dạy học bài Viết quảng cáo 29

2.5.1 Tích hợp khi tổ chức hoạt động tạo tâm thế 29

2.5.2 Tích hợp khi hướng dẫn học sinh tiếp nhận tri thức về cách viết quảng cáo 29

2.5.3 Tích hợp khi hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng viết quảng cáo 30

2.5.4 Tích hợp khi kiểm tra 30

2.6 Xác định một số phương pháp tích cực sử dụng khi dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp 30

2.6.1 Phương pháp vấn đáp 30

2.6.2 Phương pháp thảo luận nhóm 32

2.6.3 Phương pháp dạy học dự án 33

2.7 Định hướng tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp 33

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 37

3.1 Mục đích thực nghiệm 37

3.2 Đối tượng thực nghiệm 37

Trang 8

3.3 Địa bàn thực nghiệm 38

3.4 Thời gian thực nghiệm 38

3.5 Nội dung thực hiện 38

3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 44

KẾT LUẬN 46

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Là một quan điểm dạy học hiện đại, tích hợp ra đời là sự tất yếu của một nền giáo dục tiên tiến Sau một hành trình không ngắn, cho đến nay, nó vẫn thể hiện rõ được tính ưu việt của mình khi đang là xu thế toàn cầu Một khảo sát của Việt Nam về chương trình giáo dục phổ thông trong khoảng 20 nước ở các châu lục khác nhau và đã thu được kết quả đáng suy ngẫm về việc vận dụng quan điểm này vào xây dựng nền giáo dục tiên tiến, hiện đại của các quốc gia trên thế giới Theo khảo sát đó, có thể nhận thấy có 100% các nước đều xây dựng chương trình giáo dục các cấp theo quan điểm này Có thể kể tới những quốc gia tiêu biểu như Hàn Quốc, Pháp, Hoa Kì, Anh, Canada… Kết quả khảo sát này được nhấn mạnh hơn khi nhiều nhà nhà giáo dục quốc

tế đồng nhất khẳng định: “giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy

kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực (compétence) là khái niệm “cơ sở” của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration)” (Xavier Roegiers Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo

dục và Đào tạo của Liên minh Châu Âu)

Nếu như dạy học tích hợp đã có từ rất lâu trên thế giới, thì ở Việt Nam quan niệm này mới được xuất hiện từ thập niên 90 của thế kỉ XX Nhận thấy tầm quan trọng của quan điểm giáo dục này, việc dạy và học trong các nhà trường ở Việt Nam đã và đang tích cực áp dụng và triển khai thực hiện dạy học tích hợp Và theo đó, giáo dục Việt Nam đang đứng trước thách thức đổi mới từ mục tiêu, nội dung và đặc biệt là phương pháp dạy học (PPDH) ở mọi cấp học Hiện nay, ngành giáo dục Việt Nam - gắn với yêu cầu đổi mới toàn

diện giáo dục cũng nhấn mạnh:“Thay cho việc dạy học đang được thực hiện

theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung

để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường” (Công văn số:

5555/BGDĐT-GDTrH, “hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PPDH

Trang 10

và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học”/trung tâm GDTX qua mạng) Như vậy, có thể nhận thấy quan điểm tích hợp đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và đặc biệt hơn là Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp thị sát quyết liệt Nhiều bài nghiên cứu, nhiều hội thảo khoa học được tổ chức nhằm tìm ra những cách thức vận dụng,

tổ chức vào từng khâu, từng nội dung, từng hoạt động giáo dục trong tất cả các cấp học Không chỉ có vậy, cùng với định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh quan điểm: tích hợp mạnh, sâu hơn các nội dung dạy học, gắn với quá trình phân hóa để đánh giá năng lực người học Có thể nói, tích hợp là quan điểm chỉ đạo quá trình đổi mới giáo dục hiện nay

Ngữ Văn là một trong số những môn học có khả năng tích hợp liên môn liên ngành thể hiện rõ tính ưu việt của quan điểm dạy học tích hợp, chính vì thế mà môn Ngữ Văn đã và đang trở thành tâm điểm của quan điểm dạy học tích hợp Điều đó bộc lộ rõ qua chương trình, sách giáo khoa bậc phổ thông Tính tích hợp được thể hiện ở việc ba phần: đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt và Làm văn được kết hợp với nhau tạo thành chỉnh thể Ngữ văn Trong đó, mỗi phân môn có những đặc trưng riêng song vẫn được hòa trộn vào nhau để tạo nên một môn học có nội dung kiến thức tổng hợp Như vậy, việc dạy học từng phân môn vừa phải đảm bảo đặc trưng của từng phân môn, vừa đảm bảo đúng quan điểm chỉ đạo việc biên soạn sách giáo khoa – quan điểm tích hợp Làm

văn nói chung và bài Viết quảng cáo nói riêng có khả năng tích hợp được rất

nhiều nội dung Theo đó, việc tổ chức dạy học bài này có thể vận dụng quan điểm tích hợp Hơn nữa, việc vận dụng tích hợp vào dạy học bài này giúp cho giáo viên (GV) có thể mở rộng một số kiến thức về kiểu văn bản có tần số sử dụng khá lớn trong đời sống xã hội, và cùng với đó, chủ thể học tập có thể tiếp nhận và tham gia học tập đầy đủ, chính xác để hình thành một số năng lực thiết yếu cho bản thân

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Vận dụng quan

điểm tích hợp vào dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10)

Trang 11

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Được hình thành và xuất hiện ở Liên xô (cũ) vào khoảng cuối thế kỉ thứ XIX, tích hợp được nhắc tới bắt nguồn từ việc giải quyết mâu thuẫn giữa lượng kiến thức vô hạn và thời gian học tập hữu hạn mà nền giáo dục Nga phải mặt Trước những đòi hỏi giảm bớt áp lực học tập mà vẫn thu nhập được nhiều tri thức của nhân loại, các nhà giáo dục Nga đã dành thời gian hệ thống, nghiên cứu các tri thức được dạy trong nhà trường dành cho con em giới quý tộc, và họ đã nhận thấy khả năng kết hợp một số tri thức khoa học trong các môn học khác nhau trên cơ sở mối quan hệ giữa chúng Từ đó, tích hợp ra đời

và dần trở thành một quan điểm giáo dục hiện đại Có thể nói, sự ra đời của

nó thực sự hữu hiệu khi nó giúp cho nhiều quốc gia trên thế giới vừa đáp ứng được mục tiêu giáo dục của quốc gia, vừa thỏa mãn được nhu cầu học ít, biết nhiều từ phía gia đình và chính bản thân chủ thể học tập Cũng vì thế, tích hợp thực sự là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục trong nước và thế giới Có thể điểm lại những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về tích hợp dưới đây:

Vào năm 1968, tại Bun - ga - ri, tổ chức giáo dục thế giới UNESCO đã kết hợp với Hội đồng liên quốc gia tổ chức hội nghị bàn về việc tích hợp việc giảng dạy các khoa học Tại hội nghị này, các nhà giáo dục toàn cầu đã này đặt ra và lí giải các vấn đề mà giáo dục toàn cầu cần chú trọng là: việc phải dạy học tích hợp và thế nào là dạy học theo hướng tích hợp giữa các khoa học Kế thừa những thành quả đã xác định được tại hội nghị đó, đến năm

1972, tổ chức UNESCO tiếp tục họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học tích hợp các khoa học Có thể nói, hai hoạt động có tính toàn cầu này đã thực

sự đánh dấu sự thay đổi và khẳng định vị trí, nhiệm vụ và tác dụng của tích hợp đối với nền giáo dục của tất cả các quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, vào những năm của thập kỉ 1970, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lần đầu nhắc tới tích hợp Tuy nhiên, trong bài viết của mình, Cố Thủ tướng cho rằng nó là một trong những phương pháp dạy học hữu hiệu, có thể giúp GV có thể giáo dục con người HS một cách toàn diện Tuy nhiên, sau đó,

Trang 12

ở Việt Nam, người ta ít chú trọng tới vấn đề này Phải tới 1987, khi các nhà

giáo dục thiết kế môn học “Tìm hiểu tự nhiên – xã hội” để đưa vào giảng dạy

cho HS từ lớp 1 đến lớp 5 thì chương trình giáo dục Việt Nam mới bắt đầu chú ý tới quan điểm giáo dục tiên tiến này Khi chương trình, SGK Ngữ văn

ra đời, việc nghiên cứu về tích hợp ở Việt Nam được chú trọng hơn Khẳng định tính tất yếu trong việc chọn tích hợp là quan điểm chỉ đạo chương trình

giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh: “Lấy quan điểm tích

hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy [2; tr.27] Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [2;

tr 40]

Năm 2002, để lý giải về tên sách giáo khoa được sử dụng khi dạy học Ngữ văn, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa cho môn học để lý giải về tên gọi Ngữ văn

Theo tác giả thì: “Việc lấy tên chung của cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn

thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại mà chúng được xây dựng theo tinh thần tích hợp” [18]

Tiếp nối quan niệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khi đánh giá về tính tích hợp trong dạy học Ngữ văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng trong bài

“Tích hợp trong dạy học Ngữ văn” quan niệm tích hợp là “Phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một môn Ngữ văn” Với cách nhìn nhận đó, tác giả đã nhấn mạnh vai trò của việc vận dụng

quan điểm giáo dục này vào quá trình dạy học Theo đó, vận dụng quan điểm

này sẽ:“giúp HS học tập thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ

năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Harnonie),

Trang 13

hợp lý (Algebra) trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại” [7; tr.15]

Ngay sau đó, năm 2007, tác giả Phan Cảnh Mậu tiếp tục nhấn mạnh:

“Tích hợp trở thành một nguyên lý nhưng cũng cần phải nhấn mạnh đến

nguyên tắc: tích hợp phải thích hợp Thích hợp ở đây là phải chú trọng đến

cơ sở và liều lượng trong nội dung tích hợp, đồng thời sử dụng các phương pháp triển khi hợp lý” [14; tr.11]

Có thể nói, sau một khoảng thời gian ngắn sử dụng chương trình giáo dục phổ thông 2000, các nhà khoa học đã từng bước nêu ra bản chất, đặc điểm cũng như tác dụng của tích hợp đối với chương trình và quá trình dạy học ở phổ thông Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nghiên cứu có tính chất nhỏ lẻ,

chưa khái quát Phải tới năm 2016, sự ra đời của cuốn Dạy học tích hợp phát

triển năng lực học sinh (Quyển 2) mới phần nào bao quát được tích hợp và

việc dạy học theo quan điểm này đối với các môn Khoa học xã hội Theo đó, trong công trình này, các tác giả đã xác định rõ tích hợp, các mức độ và phương diện của tích hợp, những yêu cầu của dạy học tích hợp đối với các môn học thuộc lĩnh vực khoa học này Trên cơ sở đó, công trình cũng đã đánh giá ý nghĩa của việc triển khai và ứng dụng quan điểm này vào thực tế dạy học đối với các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội” [8]

Từ những khảo cứu trên đây, có thể khẳng định, cho đến nay, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về tích hợp song lại chưa có công trình nào tập trung xem xét

việc tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10) theo quan điểm này Đó là gợi

dẫn để chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài này

“3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu ”

Đề tài nghiên cứu nhằm hướng tới một số mục đích xác định được những

cơ sở khoa học và những yêu cầu về kĩ năng cần thiết khi vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Làm văn nói chung và những nội dung tích hợp có

Trang 14

liên quan Trên cơ sở đó, tìm ra những biện pháp, những cách thức lựa chọn

và thiết kế hoạt động dạy học phù hợp để hoạt động này đạt hiệu quả

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành được nội dung đề tài này, chúng tôi xác định phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tổng hợp những tài liệu nghiên cứu để làm cơ sở lí luận khi giải quyết và thực nghiệm đề tài

- Xác định những yêu cầu, nội dung, phương pháp và cách thức tích hợp

khi vận dụng vào bài Viết quảng cáo

- Thiết kế giáo án, đề xuất cách tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo theo

quan điểm tích hợp

- Tổ chức thực nghiệp sư phạm nhằm đánh giá mức độ hiệu quả cho những đề xuất được nêu trong chương 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

“Gắn với tên đề tài, khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là quan điểm tích hợp trong giáo dục và trong dạy học Ngữ văn”

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tương ứng với nội dung đề tài , chúng tôi chọn bài Viết quảng cáo

(Ngữ văn 10) làm phạm vi vận dụng khi triển khai các phương diện khác nhau của vấn đề nghiên cứu nhằm tạo ra tìm ra cách thức là tăng hiệu quả cho giờ học Làm văn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp hệ thống hóa tài liệu

Phương pháp (PP) được sử dụng nhằm hệ thống hóa các kiến thức lý luận

về tích hợp

5.2 Phương pháp khảo sát thực nghiệm

Trang 15

Chúng tôi khảo sát thực tiễn dạy làm văn bằng cách phát phiếu khảo sát thăm dò ý kiến của GV và HS, dự giờ trực tiếp tại các giờ học Làm văn, qua

đó thống kê những số liệu và thông tin cần thiết về tình hình dạy Làm văn nói

chung và dạy bài Viết quảng cáo nói riêng

5.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu

“PP này sẽ được vận dụng để so sánh các ngữ liệu trong quá trình đối chiếu giữa việc dạy làm văn theo phương pháp truyền thống với dạy học theo quan điểm tích hợp để thấy rõ ưu điểm, nhược điểm của các PP Trong thực nghiệm, chúng tôi cũng so sánh kết quả thu được ở lớp thực nghiệm với lớp đối chứng để đánh giá tính khả thi của giáo án thiết kế theo hướng tích hợp”

6 Cấu trúc của khóa luận

Khóa luận có kết cấu gồm ba phần:

Mở đầu: Trình bày những vấn đề một cách khái quát về đề tài nghiên cứu, lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,… Nội dung: Đây là trọng tâm của khóa luận Phần này được triển khai thành ba

chương là:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10) theo quan điểm tích

hợp

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp

Tại Đại hội XII, Đảng chỉ đạo việc đổi mới giáo dục phải theo đúng tinh

thần: “Chương trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, chú trọng đến

mục tiêu phát triển các phẩm chất của học sinh; không chỉ đòi hỏi học sinh nắm vững những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống” Với chủ trương này, có thể nhận thấy, từ việc nghiên cứu

và đánh giá sự vận động biến đổi theo xu hướng toàn cầu hóa, việc đổi mới toàn diện giáo dục sự điều chỉnh cách dạy và học không đơn thuần là bổ sung thêm kiến thức mà chủ yếu phải trang bị cho HS những kiến thức cơ bản, kĩ năng và năng lực đặc thù để biết vận dụng những điều học được vào thực tế cuộc sống Thêm nữa kiến thức giữa các cấp không phải là những mảng kiến thức cô lập mà nó phải là những sự liên kết có logic Từ đó, Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ phải vận dụng quan điểm tích hợp đổi mới giáo dục Như vậy, tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục phải được áp dụng vào quá trình dạy học

ở tất cả các cấp học, bậc học của giáo dục phổ thông

1.1.1 Thế nào là tích hợp và dạy học tích hợp

Tích hợp là thuật ngữ bắt nguồn từ phương Tây Nó được thể hiện bằng

từ gốc Latin (integer) -“integration” với các nét nghĩa được dịch là “whole” (toàn bộ, toàn thể) Theo đó, hiểu một cách đơn giản thì thuật ngữ này có

nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau

nhằm bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động cho hệ thống ấy

Gắn với nét nghĩa gốc này, các tác giả trong cuốn Từ điển Tiếng Việt đưa ra quan niệm về nó như sau: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương

trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [15, tr.92] Theo mục đích

nghiên cứu phục vụ hoạt động giáo dục, Từ điển Giáo dục học lại xác định:

“Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập

Trang 17

của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [16; Tr.233] Như vậy, cùng một vấn đề song có thể nhận thấy, do

mục đích nghiên cứu khác nhau nên mỗi người lại quan niệm khác nhau về

nó Và hiểu một cách đơn giản thì: Tích hợp là “khả năng kết hợp lại có hệ thống ở những mức độ khác nhau có thể ở trong hoặc ngoài bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ đồng nhất về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó” Nhấn mạnh đặc điểm, mục đích và tác dụng của việc triển khai tích hợp vào chương trình, SGK Ngữ văn, GS Nguyễn Khắc Phi khẳng

định: “Tích hợp là một phương pháp hướng tới phối hợp một cách tối ưu các

quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu

cụ thể khác nhau” [17; tr.47] Vừa đảm bảo tính ưu việt, vừa thể hiện được

những nội dung sẽ triển khai trong khóa luận, chúng tôi lựa chọn và sử dụng quan niệm về tích hợp của GS Nguyễn Khắc Phi làm căn cứ để triển khai nội dung nghiên cứu Quan niệm này giúp chúng tôi có sự định hướng rõ ràng về việc lựa chọn và thiết kế cho quan niệm dạy học hiện đại để từ đó liên kết nhiều chuỗi kiến thức trong một khoảng thời gian ngắn mà vẫn đảm bảo mục đích và yêu cầu giáo dục khi dạy học một nội dung cụ thể

1.1.2 Các hình thức tích hợp được thiết kế trong chương trình Ngữ văn hiện hành

Khi triển khai nội dung chương trình môn Ngữ văn, các nhà giáo dục đều khẳng định đây là một môn học rất có lợi thế về vận dụng quan điểm tích hợp Theo đó, việc triển khai quan điểm này vào sách giáo khoa Ngữ văn được thể hiện qua những hình thức cơ bản sau:

Trước tiên là hình thức tích hợp ngang Đây là hình thức liên kết tri thức, kĩ năng giữa ba phân môn Đọc văn – Tiếng việt – Làm văn Nói một cách khác, tích hợp ngang là lấy tri thức tiếng Việt và Làm văn để đọc hiểu

một tác phẩm văn học và ngược lại Chẳng hạn: Khi dạy bài “Phong cách

ngôn ngữ chính luận” (Ngữ văn 11), để giúp HS tìm hiểu thế nào là ngôn ngữ

Trang 18

chính luận và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận Để lấy ngữ liệu phân tích đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận đó là trình bày, đánh giá những sự kiện những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng theo một quan điểm chính trị nhất định GV có thể trích một đoạn của tác phẩm

“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh để tìm hiểu Mục đích của việc lấy

các ngữ liệu từ tác phẩm văn học phù hợp là tạo sự chính xác, phù hợp với nội dung kiến thức của Tiếng Việt để từ đó triển khai các nội dung dạy học Như vậy, gắn với đặc điểm của tích hợp ngang, có thể nhận thấy Đây là cơ sở và cũng là tiền đề để thể hiện tích hợp một cách rõ ràng nhất, cùng với đó là giải quyết các nhiệm vụ học tập trong môn Ngữ văn Việc triển khai hình thức tích hợp này giúp HS có điều kiện rèn luyện tư duy logic, phát triển trí tuệ cho bản thân, trên cơ sở đó, người học có sự thông hiểu tổng hợp về các đơn vị kiến thức có quan hệ với nhau Không chỉ vậy, hình thức này còn cung cấp cho chủ thể học tập có thể hình thành và tích lũy được vốn kinh nghiệm sống ở mức đầy đủ nhất; cung cấp cho các em những công cụ và kỹ năng cần thiết cho việc học tập các môn học khác nhau Với bản chất của hình thức này, có thể khái lược nó thành sơ đồ như sau:

Trang 19

Hình thức thứ 2 là tích hợp dọc Đó là hình thức “tích hợp giữa một đơn

vị kiến thức, kĩ năng mới với những kiến thức, kĩ năng trước đó đã được học theo quy tắc đồng tâm Cụ thể là: Kiến thức của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, cấp học dưới” điều đó có thể được minh họa qua bảng khái quát về hình thức dạy học tích hợp này của TS Ngô Văn Hưng ( Chuyên viên cao cấp - Bộ Giáo dục và Đào tạo) như sau:

Nội dung khoa

+ Môi trường trên trái đất bị tác động bởi công nghệ

+ Các hình thái của năng lượng

+ Mặt trời là nguồn năng lượng cho trái đất

+ Các dạng vật chất như hành tinh, trái đất, nước, không khí

+ Động vật + Hóa thạch và khoáng sản

+ Biến đổi khí hậu

+ Các hoạt động nghiên cứu về thiên văn và vũ trụ

(Trích theo: Tài liệu tập huấn về dạy học tích hợp đối với KHTN – Bộ

Giáo dục và Đào tạo)

Tiếp theo là tích hợp mở rộng, là tích hợp với những môn học khác hoặc những kiến thức bên ngoài đời sống, bên ngoài môn học như lịch sử, địa lí, văn hóa… trong giờ dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạy và sự tiếp

nhận tri thức của HS Ví dụ muốn tiếp nhận được tác phẩm “Tây Tiến” của

nhà thơ Quang Dũng, GV và HS cần huy động kiến thức ở nhiều lĩnh vực để

Trang 20

tìm hiểu thấu đáo của bài thơ này Ở đó người đọc cần tiếp nhận được các mảng lĩnh vực như hội họa, âm nhạc và tính tạo hình Cách Quang Dũng tạo nên tính nhạc bởi những âm hưởng đặc biệt, những thanh trắc tạo cảm giác trúc trắc, khó đọc kết hợp với những thanh bằng làm nhịp thư trầm xuống tạo cảm giác thư thái nhẹ nhàng hay như những hình ảnh mang đậm chất hội họa

đó là những nét vẽ gân guốc giàu tính tạo hình

1.1.3 Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn

1.1.3.1 Phát huy tính tích cực của người học

“Dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy động (mọi) nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân” Theo đó, có thể khẳng định nó là một biện pháp dạy học mới tích cực nhằm tác động tích cực tới người dạy và cả người học Theo đó, GV không phải giảng lại những kiến thức đã được học,

mà thay vào đó, HS sẽ phải tự vận dụng những kiến thức đã được học để giải quyết các nhiệm vụ học tập Điều đó dẫn đến một kết quả mới của quá trình dạy học tích cực hiện nay – đó là HS được hình thành hàng loạt các kĩ năng như: kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng suy nghĩ tư duy phê phán, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin…Vì vậy, khi tiếp cận một tình huống mới tương tự trong cuộc sống, các em có cơ hội đạt thành công cao trong cách xử lí tình huống, giải quyết vấn đề Như vậy với cách học này thì nó hoàn toàn phù hợp với xu thế hiện nay đó là lấy người học làm trung tâm, GV chỉ là người định hướng còn HS sẽ không ngừng tư duy sáng tạo để giải quyết các nhiệm vụ để qua đó hình thành những năng lực Qua các tiết học theo hình thức này, người học cảm thấy hứng thú học tập, bởi khi đó, chủ thể học tập vừa được thể hiện trình độ nhận thức của bản thân, vừa được tăng cường vận dụng các kiến thức để giải quyết các tình huống, tự tìm tòi khám phá để tìm những tri thức khoa học mới Bản chất của quan điểm dạy học này

là một phương pháp dạy học lồng ghép, cụ thể môn Ngữ văn là chỉnh thể được cấu thành bởi kiến thức của ba phân môn Cách triển khai như vậy

Trang 21

hướng tới việc hạn chế sự trùng lặp các nội dung kiến thức khi dạy học, hướng tới nhiệm vụ rèn luyện các năng lực tư duy cho HS

1.1.3.2 Nội dung bài học và kĩ năng được triển khai theo hệ thống

Các đơn vị kiến thức của môn Ngữ văn có liên kết với nhau, nói khác đi là chúng đều có mối quan hệ qua lại với nhau có thể hỗ trợ nhau trong quá trình giảng dạy Đây là điều kiện lí tưởng cho việc thực hiện vận dụng quan điểm tích hợp vào trong dạy và học môn Ngữ văn nói chung Làm văn nói riêng Điều đó được thể hiện rõ trong quá trình dạy học Cụ thể, khi hướng dẫn HS đọc hiểu một tác phẩm văn học, rõ ràng GV phải vận dụng tất cả những kiến thức Tiếng Việt như biện pháp tu từ từ đó nắm bắt được nghệ thuật, nội dung

và cái đích cuối cùng là giải mã được tác phẩm Ngược lại ta lại vận dụng những kĩ năng để tạo lập ra văn bản, trong quá trình dạy tạo lập văn bản thì kiến thức của phần Văn sẽ là nguồn tài liệu phong phú da dạng và rất thực tế cho bài học Chính vì đó hệ thống nội dung kiến thức bài học và các kĩ năng được sắp xếp bài bản, hợp lí và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo ra một hệ thống gần như hoàn hảo Với bản chất của việc thiết kế các nội dung dạy học

có liên quan tới nhau, khi tiến hành dạy học theo quan điểm này, GV thực hiện theo trình tự sau:

Sơ đồ quy trình dạy học chủ đề tích hợp

Thiết

kế các hoạt động

DH

Xây dựng công

cụ đánh giá

Lựa chọn chủ đề/

tình huống

tố khác của quá trình DH

Tổ chức

DH

Đánh giá và điều chỉnh quá trình

DH

Trang 22

1.1.3.3.Giờ học sinh động, linh hoạt bởi việc sử dụng các phương pháp, phương tiện hiện đại

Để có thể phát huy tính tích cực, chủ động của người học, trong quá trình dạy, GV phải sử dụng linh hoạt các PPDH hiện đại Theo đó giờ thực sự giống như một môi trường để chủ thể học tập độc lập thể hiện bản thân

Đây là một yêu cầu thiết yếu đối với quá trình dạy học hiện nay Riêng với môn Ngữ văn, dựa vào đặc trưng của từng phân môn mà người dạy lựa chọn các phương pháp, phương tiện dạy học cho phù hợp Chẳng hạn: với phân môn đọc – hiểu, người dạy có thể cho HS trải nghiệm hình thức phân vai, sân khấu hóa hay áp dụng các chiến thuật đọc hiểu như đọc và ghi chú bên lề, cộng tác ghi chú…; với phân môn Tiếng Việt người dạy có thể tổ chức giờ học theo các phương pháp như: dạy học theo dự án, dạy học tương tác ; đặc biệt với phân môn Làm văn, với đặc thù là sẽ tích hợp nhiều với những kiến thức về làm văn đã học mà ta có thể áp dụng các phương pháp như dạy học theo trạm, dạy học dự án, dạy học hợp đồng và bên cạnh đó là việc sử dụng các kỹ thuật dạy học hỗ trợ

1.2 Cơ sở lý luận về văn bản quảng cáo

1.2.1 Khái niệm văn bản quảng cáo

Ra đời từ nhu cầu phát triển kinh tế, quảng cáo từng bước đã khẳng định

sự tồn tại và tầm quan trọng của mình trong xã hội hiện đại Mới đầu, quảng cáo chỉ được thực hiện nhằm mục đích tạo ra những văn bản có mục đích giới thiệu các sản phẩm, các đồ dùng, vật dụng phục vụ cho cuộc sống thường ngày của con người Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh và mạnh như hiện nay, quảng cáo cũng đã có sự mở rộng phạm vi sử dụng của nó Cũng bởi khả năng thực hiện nhiệm vụ của bản thân trong phạm vi rộng nên khi nghiên cứu về kiểu văn bản này, ở mỗi lĩnh vực khác nhau thì người ta lại đưa

ra một khái niệm khác để phù hợp với mỗi lĩnh vực

Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Quảng cáo là một loại thông tin phải trả

tiền, có tính đơn phương, không dành cho ai, có vận dụng mọi biện pháp và

Trang 23

phương tiện thông tin đại chúng nhằm hỗ trợ cho một sản phẩm, một nhãn hiệu, một xí nghiệp, một mục đích hoặc một tổ chức nào đó… được nêu danh trong quảng cáo” Cũng nghiên cứu về quảng cáo, Hiệp hội Quảng cáo Hoa Kỳ

(AAA) cho rằng: “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ

của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của chủ quảng cáo, trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”

Theo đó, trong Luật Quảng cáo khẳng định: “Quảng cáo là việc sử dụng

các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch

vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân.”

Cho đến nay, quan niệm về hoạt động quảng cáo và văn bản quảng cáo còn nhiều điều chưa đồng nhất, song nhắc tới khái niệm này, các nhà quảng cáo, các tổ chức doanh nghiệp nói tới một kiểu văn bản trong đời sống hàng ngày với một số biểu hiện như sau:

Xuất phát từ mục đích tạo lập, có thể nhận thấy, quảng cáo là thông tin hướng tới khách hàng và thường nhằm mục tiêu lợi nhuận

Gắn với đối thể tiếp nhận, có thể khẳng định kiểu văn bản này quảng cáo không dành riêng cho một cá nhân cụ thể nào mà nó hướng tới số đông, tới toàn xã hội toàn cầu

Hơn nữa, muốn truyền đạt nội dung được quảng bá, kiểu văn bản này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các phương tiện trung gian Đặc điểm này được coi

là một thế mạnh rất lớn của quảng cáo Cũng vì thế, khác với những kiểu văn bản được học khác, ngay từ chính những điều mà các em được nghe, được nhìn thấy trong cuộc sống hàng ngày, HS dễ dàng nhận thấy kiểu văn bản này được truyền đạt với nhiều cách thức qua nhiều các phương tiện , nhờ đó có thể tạo được mọi sự tác động tới nhiều đối tượng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế to lớn

Trang 24

1.2.2 Đặc điểm của văn bản quảng cáo

Từ việc nghiên cứu mục đích tạo lập văn bản quảng cáo có thể nhận thấy đó là một cách thức giao tiếp trong môi trường đặc biệt, nhằm phục vụ nhu cầu của một nhóm người trong xã hội - các doanh nghiệp Cũng vì thế, căn cứ vào mục tiêu marketing của doanh nghiệp mà quảng cáo có những đặc điểm như sau:

Đặc trưng giá trị hóa sản phẩm: Đặc trưng cơ bản nhất của các văn bản

quảng cáo chính là đối tượng được giới thiệu– các mặt hàng, các sản phẩm được quảng bá để kinh doanh Và để thu hút được người tiếp nhận, rõ ràng, việc quảng cáo phải hướng tới các nhiệm vụ: tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn, khẳng định sự uy tín, vị thế và hình ảnh của doanh nghiệp Vì thế, đây chính là đặc điểm cơ bản và quan trọng của hoạt động quảng cáo Ví dụ: Để quảng cáo sản phẩm sữa tươi TH True Milk thì nhà sản xuất, nhà kinh doanh cần phải quảng cáo và muốn sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì việc quảng cáo cần phải hấp dẫn và lôi cuốn bằng cách lập những kênh quảng cáo riêng hoặc cho chạy quảng cáo trên những kênh truyền hình với nội dung ngắn gọn súc tích nhưng phải đảm bảo tính lôi cuốn hấp dẫn thông qua hình ảnh và video

Cung cấp thông tin về sản phẩm: Mục đích của hoạt động quảng cáo

giới thiệu để quảng bá những sản phẩm mới nhằm thu hút người tiếp nhận, từ

đó tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp Có thể nói, quảng cáo là con đường nhanh nhất, tiện nhất và hiệu quả nhất đi đến với một lực lượng tiếp nhận đông đảo nhất Vì thế, nó chính là công cụ hiệu quả nhất

mà các doanh nghiệp luôn suy nghĩ và thực hiện trong chiến lược giới thiệu các thông tin sản phẩm Đối với việc giới bất kì một sản phẩm nào, việc cung cấp các thông tin về nó là điều vô cùng cần thiết Bởi đó chính là cách nhà quảng cáo nêu được giá trị, tính năng, công dụng của đối tượng được quảng

bá, vừa khẳng định và giới thiệu một cách gián tiếp về doanh nghiệp Vì thế trong quá trình tuyên truyền, một trong những nội dung không thể thiếu được chính là việc chia sẻ những hình ảnh, truyền đạt thông tin sản phẩm sẽ nằm trong hoạt động của quảng cáo Mục đích cuối cùng của hoạt động này chính

Trang 25

là tạo dựng niềm tin, thu hút khách hàng nhằm tăng thêm lợi nhuận Chẳng hạn, khi cung cấp thông tin về sản phẩm sữa TH True Milk thì nhà sản xuất

và nhà kinh doanh cung cấp những thông tin: nguồn gốc con giống, quá trình sản xuấ sữa và quá trình bảo quản

Cách thức sử dụng sản phẩm: Một trong những điều không thể thiếu là

khi giới thiệu sản phẩm, người giới thiệu buộc phải chia sẻ cho mọi người nắm được cách thức, công dụng của đối tượng được quảng cáo Đối với những sản phẩm có cách sử dụng tương đối khó hoặc cần phải lưu ý một số động tác kỹ thuật khi sử dụng… thì hoạt động này còn phải đảm bảo nhiệm

vụ là bản hướng dẫn chi tiết để khách hàng hiểu và lựa chọn sản phẩm Đó chính là một “chiêu” để các doanh nghiệp thực hiện nhằm nâng cao uy tín, tăng tính chính xác, đảm bảo, và vị thế của nhà sản xuất kinh doanh với khách hàng tiêu dùng Ví dụ: Cũng với sản phẩm sữa TH True Milk thì khi quảng cáo nhà sản xuất, nhà kinh doanh cần đưa ra được thông tin cách thức sử dụng và công dụng của sản phẩm của mình Sữa tươi TH True Milk sạch chứa gần như đầy đủ các nhóm vi chất thiết yếu cho cơ thể như: protein, carbohydrate, chất béo, vitamin và khoáng chất - đặc biệt là hàm lượng canxi, kẽm, magiê Bên cạnh nguồn dưỡng chất tự nhiên dồi dào sẵn có, “sữa tươi tiệt trùng TH True Milk công thức topkid còn được bổ sung bộ vi chất dinh dưỡng trong công thức topkid Theo đó, các dưỡng chất đều được tính toán khoa học về hàm lượng và thành phần đảm bảo phù hợp với nhu cầu đặc biệt của trẻ Sản phẩm có tác dụng hỗ trợ phát triển trí não của trẻ nhờ bổ sung DHA, axit folic Đây đều là những vi chất quan trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển trí não và thị giác, giúp trẻ phát triển toàn diện về trí lực”

Sữa tươi tiệt trùng TH True Milk kết hợp nguồn lượng canxi có sẵn trong sữa tươi organic và hàm lượng canxi, vitamin D bổ sung thêm Dưỡng chất này giúp trẻ tăng khả năng hấp thu canxi, phát triển chiều cao và củng cố hệ xương chắc khỏe

Mở rộng mạng lưới phân phối: Quảng cáo là hoạt động gần cuối trong

chuỗi tạo và kinh doanh sản phẩm Mục đích của việc thực hiện hoạt động

Trang 26

này chính là đáp ứng nhu cầu của nhà sản xuất, của doanh nghiệp - mục đích làm gia tăng lợi nhuận thông qua tuyên truyền, giới thiệu Nói một cách khác, quảng cáo chính là hoạt động có tính mở, thực hiện phía bên ngoài doanh nghiệp nhưng có vị trí quan trọng, giúp cho các doanh nghiệp thực hiện nhiệm

vụ kinh doanh xúc tiến kinh doanh nhằm triển khai và đẩy mạnh mạng lưới bán hàng, tăng sản phẩm của mình ngoài xã hội Thông qua việc thực hiện hoạt động này, các siêu thị đại lí, các nhà cung cấp sẽ biết đến sản phẩm và từ

đó, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chẳng hạn, nhờ có quảng cáo, công ti bia Heiniken đã thực hiện chiến lược

mở rộng mạng lưới sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng trên toàn quốc Theo đó, vào những dịp lễ tết, nhất là tết Nguyên đán, công ti này đã có những văn bản quảng cáo mới, lạ, hấp dẫn, tác động thẳng vào nhu cầu tiêu thụ dòng sản phẩm này của người dân Việt Nam

1.2.3 Một số yêu cầu của văn bản quảng cáo

Là kiểu văn bản được con người tạo lập nhằm thực hiện những mục đích của bản thân trong cuộc sống hàng ngày, quảng cáo cũng được triển khai theo đúng đặc trưng của văn bản - tính thống nhất về nội dung và trọn vẹn về hình thức Tuy nhiên, do đặc thù tuyên truyền, giới thiệu và quảng bá sản phẩm, nhằm đạt được nhu cầu về lợi nhuận, các văn bản quảng cáo còn phải đảm bảo một số yêu cầu dưới đây:

Là một văn bản được thực hiện nhằm mục đích tuyên truyền, giới thiệu văn bản quảng cáo cần đặc biệt chú trọng tới nội dung thông tin Thông tin trong văn bản quảng cáo bao giờ cũng là làm rõ đối tượng được giới thiệu, thể hiện tính trung thực, sự tôn trọng pháp luật và đảm bảo tính thẩm mĩ, phù hợp với thuần phong mĩ tục của toàn xã hội Gắn với nhiệm vụ truyền thông rộng rãi, đưa đối tượng được quảng bá ra toàn xã hội, thậm chí là toàn thế giới nên mỗi văn bản quảng cáo phải thể hiện rõ đối tượng cần giới thiệu, cần thực hiện theo đúng tôn chỉ pháp luật quy định về cách quảng bá, và đặc biệt, nó phải đảm bảo đúng quy định về thuần phong mĩ tục văn hóa từng quốc gia Cũng vì thế, khi xây dựng hệ thống pháp lí về quảng cáo, tuyên truyền, một

Trang 27

trong những điều luật được chú trọng chính là tính pháp lí của nội dung và hình thức quảng bá

Tính đa dạng, sinh động và hấp dẫn: văn bản quảng cáo được trình bày,

thể hiện trong nhiều không gian, nhiều môi trường khác nhau nên một trong những điều cần đảm bảo chính là sự đa dạng trong hình thức thể hiện Nếu được thực hiện trên các phương tiện công nghệ truyền hình, các văn bản quảng cáo còn được thực hiện theo hướng sân khấu hóa, theo công nghệ hiện đại nhằm tăng tính hấp dẫn, mới lạ và độc đáo cho từng sản phẩm Trong khi

đó, việc quảng cáo được thể hiện trên đài phát thanh thì việc sử dụng văn bản viết kèm theo sự kết hợp của các giọng điệu thể hiện khác nhau để người nghe

có thể nắm được thông tin và cảm nhận cả sự hấp dẫn, thích thú khi được tiếp nhận sản phẩm Nếu việc quảng cáo được trình bày trên báo chí, cùng với văn bản viết là hệ thống hình ảnh minh họa nhằm tăng tính hấp dẫn cho đối tượng được giới thiệu Tuy nhiên, do được thể hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng nên ngôn ngữ súc tích , dễ hiểu được bộc lộ về sắc thái, mang tính khẩu ngữ và phải sinh động hấp dẫn, lôi cuốn và luôn có sự mới mẻ Câu văn của bài viết quảng cáo trước tiên phải ngắn gọn và có thể sử dụng đa dạng các kiểu câu như: câu cầu khiến, câu trần thuật, câu cảm thán và câu hỏi; lời đối đáp

Trang 28

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm

tích hợp ở trường THPT

Là một nội dung kiến thức mới trong chương trình Làm văn THPT, cho đến hiện tại, việc triển khai nội dung này ở trường phổ thông còn nhiều điều đáng suy nghĩ Gắn với mục đích nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu trọng tâm và đánh giá thực trạng dạy bài học này ở một số phương diện:

1.3.1 Thực trạng dạy học bài Viết quảng cáo ở trường THPT

Để đánh giá được thực tế dạy học bài Viết quảng cáo cho HS lớp 10,

chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát việc dạy học bài này tại trường THPT Quỳnh Côi- Thái Bình ở các lớp từ 10A3 đến 10A12

Thông qua việc dự giờ, xem vở học và vở bài tập của HS, “chúng tôi

nhận thấy thực tế dạy học bài Viết quảng cáo phần nhiều vẫn được tiến hành

theo phương pháp truyền thống là GV dạy chủ yếu bằng cách thuyết trình, và còn tự quyết định quy trình dạy học cho” HS Nội dung dạy học vẫn bám sát với sách giáo khoa mà chưa có sự mở rộng hay thay đổi cách thức dạy học,

GV còn ít sử dụng các phương pháp, kĩ thuật hiện đại trong giờ học

Khi dạy học bài Viết quảng cáo, phần nhiều GV tại trường THPT

Quỳnh Côi dạy trong vòng 1 tiết (45 phút) Trong tiết học, GV cung cấp những kiến thức cơ bản theo đúng những nội dung trong sách giáo khoa cho

HS Một số GV đã chú trọng và cũng lấy những ngữ liệu bên ngoài về văn bản quảng cáo để hình thành kiến thức cho chủ thể học tập Tuy nhiên, do thời gian còn hạn chế nên qua một giờ học 45 phút, chúng tôi thấy việc truyền tải kiến thức và thực hành chưa thực sự đảm bảo cho mục tiêu của việc dạy học nội dung này Và theo đó, HS chủ yếu mới chỉ nhận biết và bước đầu hiểu được khái niệm, tác dụng của kiểu văn bản này Kéo theo đó, việc HS độc lập tạo ra những văn bản quảng cáo chưa thực sự hiệu quả Như vậy chất lượng giờ học không cao, chưa đáp ứng được mục tiêu bài học

Trang 29

1.3.2 Điều tra, khảo sát thực trạng học bài Viết quảng cáo ở trường THPT

Qua khảo sát thực trạng học bài Viết quảng cáo ở trường THPT Quỳnh

Côi – Thái Bình (Khối 10, từ lớp 10A2 đến 10A12), chúng tôi thấy phần lớn

HS ngồi lắng nghe GV giảng bài, truyền đạt kiến thức cơ bản và chăm chú ghi chép Điều đó chứng tỏ trong giờ học thì HS chủ yếu bị thụ động về kiến thức Trong quá trình học tập, chủ thể vẫn chưa năng động, sôi nổi và chưa thật sự tích cực và hợp tác với GV để xây dựng và tìm hiểu nội dung của bài Trong giờ chỉ có một số em HS tiêu biểu tham gia vào hoạt động học như phát biểu xây dựng bài, còn lại thì trật tự nhưng mất tập trung không chú ý và phần lớn đều mong hết tiết Hơn nữa, cũng do sự eo hẹp về thời gian học tập nên phần lớn HS hoạt động thụ động, không có thời gian nhiều để suy nghĩ, tìm hiểu, thu thập và xử lí tài liệu liên quan đến bài viết Do vậy kết quả học tập và thực hiện viết quảng cáo của đại đa số HS là chưa cao

1.3.3 Đánh giá chung

Từ việc quan sát, điều tra thực trạng dạy học ở trường phổ thông, có thể

nhận thấy hầu hết việc dạy học bài Viết quảng cáo ở nhiều trường THPT,

trong đó có trường THPT Quỳnh Côi chưa thực sự đạt hiệu quả Các hoạt động dạy học vẫn theo hình thức cũ mà chưa hề đổi mới phù hợp với xu thế đổi mới nội dung , phương pháp giảng dạy theo hướng hình thành năng lực người học Một số tiết giảng chỉ có thuần túy lí thuyết chưa áp dụng vào thực

tế cuộc sống, nếu có thì chưa chưa gắn liền với hoạt động học tập Chính vì vậy dẫn đến tính thực tiễn chưa cao, HS cảm thấy mệt mỏi, khó học khó nhớ gây cảm giác nhàm chán và khó liên hệ vận dụng với kiến thức cuộc sống Vì thế HS chưa chủ động trong học tập và sự hợp tác với GV còn hạn chế Để

khắc phục nhữnng nhược điểm nêu trên, trong giảng dạy bài Viết quảng cáo

chúng tôi đề xuất cách thức vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài này nhằm tạo hứng thú cho chủ thể học tập khi học bài và giúp các em có hứng

thú tham gia vào bài học Viết quảng cáo

Ngày đăng: 23/12/2019, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê A – Nguyễn Quang Ninh – Bùi Minh Toán (2005), Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A – Nguyễn Quang Ninh – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2000, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2000
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[3]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[4]. Trương Dĩnh, Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
[6].Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy và học, Chương trình sách giáo khoa, NXB ĐH Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy và học, Chương trình sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm
Năm: 2006
[7]. Nguyễn Thanh Hùng (2006), Tích hợp trong dạy học Ngữ văn, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học Ngữ văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 2006
[8]. Nguyễn Công Khanh (Chủ biên),Trần Thị Thanh Thủy Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Mạnh Hưởng, Bùi Xuân Anh, Lưu Thị Thu Hà (2016), Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh (Quyển 2), NXB ĐH Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh (Quyển 2)
Tác giả: Nguyễn Công Khanh (Chủ biên),Trần Thị Thanh Thủy Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Mạnh Hưởng, Bùi Xuân Anh, Lưu Thị Thu Hà
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm
Năm: 2016
[9]. Phan Trọng Luận – Tổng Chủ biên, Thiết kế bài học Ngữ văn 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
[10]. Phan Trọng Luận – Tổng Chủ biên (2006), SGK Ngữ văn 10, 11, 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 10, 11, 12
Tác giả: Phan Trọng Luận – Tổng Chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[11]. Phan Trọng Luận – Tổng Chủ biên (2006), SGV Ngữ văn 10, 11, 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn 10, 11, 12
Tác giả: Phan Trọng Luận – Tổng Chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[12]. Phan Trọng Luận – Trần Đình Sử (2006), Tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình SGK lớp 10 THPT môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình SGK lớp 10 THPT môn Ngữ văn
Tác giả: Phan Trọng Luận – Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[13]. Trần Hữu Luyến (2010), Những bình diện Tâm lý ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bình diện Tâm lý ngôn ngữ học
Tác giả: Trần Hữu Luyến
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
[14]. Phan Cảnh Mậu (2007), Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp và tích cực trong trường THPT phân ban, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông theo chương trình và SGK mới , NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp và tích cực trong trường THPT phân ban, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học" Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông theo chương trình và SGK mới
Tác giả: Phan Cảnh Mậu
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2007
[15]. Nhiều tác giả (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
[16]. Nhiều tác giả (2009), Từ điển Giáo dục học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
[17]. Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên) (2002), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Ngữ văn THCS, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Ngữ văn THCS
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[18]. Đỗ Ngọc Thống (2002), Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[19]. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi (2008), Làm văn, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w