Truyện cổ tích với cốt truyện, xung đột và nhân vật đặc sắc đằng sau đó là cả một bài học triết lý giáo dục con người một cách sâu sắc, kiểu truyện người con riêng đã thu hút sự quan tâm
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2019
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thị Ngọc Lan
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Ngọc Lan và các thầy cô trong Tổ bộ môn Văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Xin cảm ơn những người bạn đã luôn đồng hành cùng em trong suốt quãng thời gian nghiên cứu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
kho tàng cổ tích Việt Nam từ góc nhìn thi pháp” là công trình nghiên cứu
độc lập của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Ngọc Lan Các trích dẫn và nội dung tham khảo có nguồn gốc rõ ràng, trung thực Nếu vi phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Lưu Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp 6
7 Cấu trúc khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: THI PHÁP NHÂN VẬT TRONG KIỂU TRUYỆN NGƯỜI CON RIÊNG 7
1.1 Hệ thống nhân vật 7
1.1.1 Nhân vật chính 8
1.1.2 Nhân vật đối thủ 10
1.1.3 Nhân vật trợ thủ 11
1.2 Đặc điểm nhân vật 14
1.3 Phương thức xây dựng nhân vật 17
Tiểu kết chương 1 19
CHƯƠNG 2: THI PHÁP LỰA CHỌN VÀ MIÊU TẢ XUNG ĐỘT TRONG KIỂU TRUYỆN NGƯỜI CON RIÊNG 20
2.1 Xung đột mẹ kế - con chồng 21
2.1.1 Người con riêng bị hành hạ ngược đãi 22
2.1.2 Người con riêng bị bức hại 27
2.1.3 Người con riêng báo thù 30
2.2 Xung đột chị em gái 37
2.3 Xung đột anh em trai 41
Tiểu kết chương 2 42
CHƯƠNG 3: THI PHÁP THỜI GIAN, KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG KIỂU TRUYỆN NGƯỜI CON RIÊNG 44
3.1 Thời gian nghệ thuật 44
3.1.1 Khái niệm 44
Trang 63.1.2 Biểu hiện của yếu tố thời gian trong kiểu truyện người con riêng 45 3.2 Không gian nghệ thuật 48 3.2.1 Khái niệm 48 3.2.2 Biểu hiện của yếu tố không gian trong kiểu truyện người con riêng 50 Tiểu kết chương 3 51 KẾT LUẬN 53 DANH MỤC 25 TRUYỆN KHÓA LUẬN KHẢO SÁT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ở lĩnh vực nghiên cứu khoa học, truyện cổ tích được coi là một bộ phận chiếm vị trí đặc biệt trong nền văn học dân tộc Truyện cổ tích hội tụ nhiều kiểu truyện: người mồ côi, người em út, người lao động giỏi, người đội lốt đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong tư duy nghệ thuật của người xưa, góp phần tạo nên diện mạo của truyện cổ tích Việt Nam còn có sự góp mặt không nhỏ của kiểu truyện người con riêng Truyện cổ tích với cốt truyện, xung đột và nhân vật đặc sắc đằng sau đó là cả một bài học triết lý giáo dục con người một cách sâu sắc, kiểu truyện người con riêng đã thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian Sự quan tâm được thể hiện qua các công trình, giáo trình Đại học và Cao đẳng
Tuy nhiên, việc tìm tòi đánh giá kiểu truyện này từ góc nhìn thi pháp còn ở mức khái quát chưa sâu, chưa cụ thể Chính vì vậy, vấn đề người con riêng vẫn là vấn đề cần khai thác Do đó, chúng tôi muốn đóng góp thêm cái nhìn cụ thể và chi tiết thấu đáo hơn về vấn đề này, chúng tôi chọn lựa đề tài:
“Tiếp cận kiểu truyện người con riêng trong kho tàng cổ tích Việt Nam từ góc nhìn thi pháp”
1.2 Truyện cổ tích - thể loại lớn được đưa vào nhà trường ở các cấp học khác nhau, từ Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Cao đẳng
và Đại học để giảng dạy Việc đưa vào chương trình như vậy là bởi chức năng của truyện cổ tích là chức năng giáo dục với giá trị đạo đức sâu sắc Còn với kiểu truyện người con riêng: hình tượng nhân vật người con hiền thảo tốt bụng, người dì ghẻ tham lam độc ác sẽ đem lại cho trẻ nhỏ những xúc cảm nghệ thuật một cách sâu sắc, rồi từ đó các em có những nhận thức thiết thực
về cái thiện, cái ác, cái xấu và ước mơ về lẽ công bằng trong xã hội Bằng lối kết thúc có hậu với sự ban thưởng hậu hĩnh cho nhân vật lương thiện và sự trừng trị thích đáng với nhân vật xấu xa phi nghĩa, truyện cổ tích đã làm yên lòng trẻ thơ và niềm tin cho các em vào một cuộc sống bình đẳng tốt đẹp của thế giới con người
Trang 8Tuy vậy, việc tiếp nhận của học sinh hiện nay, đôi khi chưa đúng với bản chất của truyện cổ tích như việc các em vẫn cho rằng Tấm ác, tác giả dân gian trừng phạt mẹ con Cám quá dã man Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà sư phạm cần quan tâm đặc biệt tới tâm lý tiếp nhận của học sinh trong quá trình giảng dạy và giúp các em hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống
1.3 Còn có lý do khác để chúng tôi lựa chọn đề tài này xuất phát từ
chính sự yêu thích của bản thân với truyện cổ tích Chính vì vậy, “Tiếp cận kiểu truyện người con riêng trong kho tàng cổ tích Việt Nam từ góc nhìn thi pháp” mang một vẻ đẹp hấp dẫn không chỉ trẻ em mà còn đem đến cho
người lớn tuổi những rung cảm sâu lắng, đưa tâm hồn mình đến một thế giới
khác hẳn, một thế giới trong đó “sự giản dị đẹp đẽ, sự dốt nát kì diệu của
người thời cổ được bảo quản tươi nguyên như hoa với cả hương thơm”
(A-phơ-răng-xơ) [10] Truyện cổ tích đã khơi sâu trong con người những dòng suối cảm xúc, những khát khao và hi vọng hạnh phúc với thực tại trần trụi, ganh ghét Truyện cổ tích nuôi dưỡng tâm hồn, những giá trị tinh thần làm cho con người xích lại gần hơn với cuộc sống bộn bề, vất vả Nó như nốt trầm hòa vào bản nhạc trầm bổng để con người cảm nhận, nghiền ngẫm và thanh lọc tâm hồn mình Từ đấy, con người biết sống, hành động và ước mơ đến một cuộc sống tốt đẹp hơn
Chính vì sự hấp dẫn của truyện cổ tích nói chung và của kiểu truyện người con riêng nói riêng, đã tạo hấp dẫn và hứng thú đặc biệt cho chúng tôi tiếp cận đề tài này
2 Lịch sử vấn đề
Đặt kiểu truyện người con riêng trong tương quan với các kiểu truyện khác, nó đã mang đến cho kho tàng cổ tích Việt Nam một sức hấp dẫn, lôi cuốn Chính vì thế trong vài thập kỷ trước đến nay, đã có khá nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu bình phẩm về kiểu truyện người con riêng trong các công trình nghiên cứu của mình
Trong cuốn Tìm hiểu tiến trình Văn học dân gian Việt Nam của Cao
Huy Đỉnh, xuất bản năm 1976, ở phần phân loại văn học dân gian cổ truyền, tác giả đã nhận định được những xung đột trong nội bộ gia đình phụ quyền, lý
Trang 9tưởng hoá những nhân vật bất hạnh và chỉ ra đề tài và cốt truyện trong thời kỳ
đầu của xã hội có giai cấp xoay quanh: “số phận của những con người mồ côi
(Sọ Dừa), người em út (Cây khế) và người con riêng của chồng (Tấm Cám)
và ước mơ hạnh phúc của họ Đó là những con người bị gạt ra khỏi gia đình phụ quyền bị ngược đãi khổ sở, gặp nhiều tai hoạ và chịu nhiều thử thách gay
go, nhưng cũng là những con người hiền lành, đẹp đẽ, tài giỏi, siêng năng, kiên trì và quả cảm, được nhân dân yêu quý, giúp đỡ, che chở và cuối cùng được hạnh phúc” Ở công trình này, tác giả mới chỉ bàn đến số phận người
con riêng mà chưa xem xét vấn đề kiểu truyện một cách cụ thể, toàn diện và thấu đáo
Năm 1982, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi ở
phần: Đặc điểm truyện cổ tích Việt Nam cuối tập 5 cũng cho rằng: “Đối
tượng mà truyện cổ tích ra sức bênh vực là những nhân vật nghèo khổ, bất hạnh, những kẻ bị áp bức, bóc lột, những người xấu số là đối tượng của xung khắc gia đình: con côi, em út, con vợ trước, ngốc nghếch” Rõ ràng, tác giả
cũng chỉ mới đề cập đến kiểu nhân vật “con vợ trước” (người con riêng) mà chưa xem xét kiểu truyện người con riêng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam một cách thấu đáo
Giáo trình văn học dân gian Việt Nam của tác giả Trần Gia Linh, xuất
bản năm 1991, khi giới thuyết và phân loại truyện cổ tích cũng đã đề cập đến
nguồn gốc ra đời của truyện cổ tích cũng như kiểu truyện:“Truyện xuất hiện
rất xưa nhưng chủ yếu phát triển ở thời kỳ đã phân chia giai cấp Chế độ tư hữu tài sản và gia đình riêng đã tạo nên những xung đột gay gắt đe dọa số phận con người Những nhân vật bất hạnh trong xã hội như những người đi
ở, con riêng, em út, mồ côi đã trở thành những nhân vật được quan tâm biểu hiện đặc biệt” Kiểu truyện người con riêng còn được thể hiện qua phần
nội dung của truyện, có ví dụ minh hoạ về nội dung và nhân vật song còn
riêng lẻ và chưa cụ thể: “Nội dung của truyện hướng về những con người
bình thường, bất hạnh để nêu bật số phận bi thảm của những con người thấp
cổ bé họng Đó là những con người mồ côi, bơ vơ, không nơi nương tựa bị hất ra lề đường kiểu Thạch Sanh mình trần khố có một manh nơi gốc đa Đó
là những người con riêng bị đày đọa, chết đi sống lại nhiều lần mà vẫn chưa
Trang 10hết khổ kiểu cô Tấm Đó là những người em bị tước đoạt mọi quyền lợi như chàng trai truyện Cây khế ”
Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường của tác giả
Nguyễn Xuân Lạc, xuất bản năm 1998, tác giả đã có nhận xét sâu sắc về vai trò, chức năng của truyện cổ tích, đồng thời cũng có những nhận định khái quát chung nhất về các kiểu truyện, kiểu nhân vật và motif nghệ thuật Ớ đây,
khi xác định về kiểu truyện tác giả nêu: “Tập hợp những truyện có cùng chủ
đề và cốt truyện tương tự nhau được gọi là kiểu truyện và lấy ví dụ: “kiểu truyện Tấm Cám ở Việt Nam gồm có các truyện Tấm Cám của người Việt, truyện Tuagia - Tuanhi của người Tày tác giả gọi kiểu truyện bằng tên truyện chứ không phân biệt thành kiểu truyện người con riêng, mà chỉ có những kiểu nhân vật bất hạnh (người em út, người mồ côi, người con riêng, người xấu xí, người đi ở ).”
Cùng năm 1998, cuốn Văn học tập 2, giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu
học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm do tác giả Đỗ Bình Trị và Trần Đình Sử (chủ biên) cũng chỉ ra một vài khía cạnh cơ bản có liên quan đến kiểu truyện người con riêng trong mục xung đột trong truyện cổ tích thần kỳ Theo hai tác
giả: “Nhân vật trung tâm của truyện kể được gọi là “Tự sự xã hội” này (tức
truyện cổ tích) là nhân vật bất hạnh - loại nhân vật xuất hiện lần đầu trong truyện kể dân gian Xung đột xã hội trong truyện cổ tích đặc biệt trong truyện
cổ tích thần kỳ, thường diễn ra trong phạm vi nhiều quan hệ gia đình Ta hiểu
vì sao nhân vật bất hạnh lại luôn luôn là những thành viên lép vế nhất trong gia đình gia trưởng ngày xưa: người em út, người con riêng Mỗi một quan
điểm đều có hàm nghĩa riêng nhất định, dù có tính chất điển hình, sơ lược, khái quát, nhưng quan điểm của Đỗ Bình Trị và Trần Đình Sử đã cung cấp cho chúng tôi cách nhìn ban đầu, sơ khai về nhân vật trung tâm của kiểu truyện người con riêng
Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam - Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nxb Giáo Dục năm 2002, tác giả đặt vấn đề nguồn gốc ra đời của truyện cổ
tích thông qua khái quát vấn đề mâu thuẫn trong truyện cổ tích: “Khi chế độ
cộng sản nguyên thuỷ tan rã và xã hội chuyển sang chế độ có giai cấp, thì công xã thị tộc cũng tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ Nếu
Trang 11những mâu thuẫn trong xã hội được truyện cổ tích phản ánh qua cuộc đấu tranh giữa chủ nô và nô lệ, giữa địa chủ và nông dân thì những mâu thuẫn trong gia đình được truyện cổ tích phản ánh qua cuộc đấu tranh giữa mẹ ghẻ
và con chồng, anh cả và em út, vợ cả và vợ lẽ” Tuy nhiên, nguồn gốc ra đời
của truyện cổ tích thông qua các mâu thuẫn chưa được cụ thể hoá mà mới chỉ dừng ở mức độ khái quát
Trong luận án Tiến sĩ Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đường Tiểu
Thi đã đi “so sánh kiểu truyện “Cô lọ lem” của một số dân tộc miền Nam
Trung Quốc với kiểu truyện “Tấm Cám” của Việt Nam.” Ở luận văn này, ta
có cái nhìn sâu sắc hơn về motif, type truyện “Cô lọ lem” ở miền Nam Trung
Quốc và Việt Nam Bước đầu có sự so sánh đánh giá nhưng lại chưa đánh giá hết kiểu truyện người con riêng của các dân tộc thiểu số của Việt Nam mà chỉ dừng lại ở truyện “Tấm Cám”
Tóm lại, vấn đề kiểu truyện người con riêng luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm nhưng chưa thực sự được coi là vấn đề lớn cần giải quyết một cách cụ thể, chi tiết và triệt để Mỗi tác giả nghiên cứu kiểu truyện người con riêng lại ở mức nông sâu khác nhau Nhưng những thành quả này đã giúp cho chúng tôi có nhiều ý tưởng khi đi sâu nghiên cứu khóa luận một cách tốt hơn
“Tiếp cận kiểu truyện người con riêng trong kho tàng cổ tích Việt Nam từ góc nhìn thi pháp” với mục đích kế thừa, phát triển ý kiến của tác giả đi trước và cố gắng nghiên cứu một cách cụ thể hơn để tìm ra những nét độc đáo
và hấp dẫn của kiểu truyện người con riêng này
3 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ vấn đề kiểu truyện người con riêng từ góc nhìn thi pháp học qua việc khảo sát đặc điểm nhân vật, xung đột giữa các thành viên trong gia đình phụ quyền thời cổ và yếu tố không gian, thời gian nghệ thuật của kiểu truyện này
- Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát chúng ta sẽ thấy rõ hơn về nhân vật, xung đột, thế giới nghệ thuật góp phần lý giải sức hấp dẫn riêng của kiểu truyện người con riêng so với những kiểu truyện khác trong kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam Ngoài ra, còn nâng cao năng lực nghiên cứu, tập làm khoa học và phục vụ giảng dạy cho bản thân
Trang 124 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- Tư liệu: Chúng tôi khảo sát 12 tập truyện cổ tích Việt Nam và tập hợp được 25 truyện thuộc kiểu truyện người con riêng Đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi có thể nghiên cứu về kiểu truyện này một cách cụ thể và rõ ràng
5 Phương pháp nghiên cứu
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Thi pháp nhân vật trong kiểu truyện người con riêng
Chương 2: Thi pháp lựa chọn và miêu tả xung đột trong kiểu truyện người con riêng
Chương 3: Thi pháp thời gian, không gian nghệ thuật trong kiểu truyện người con riêng
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: THI PHÁP NHÂN VẬT TRONG KIỂU TRUYỆN
NGƯỜI CON RIÊNG
1.1 Hệ thống nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) định nghĩa: “Nhân vật văn học là
con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha) cũng có thể không có tên như thằng bán tơ, một mụ nào đó trong Truyện Kiều Trong truyện cổ tích, ngụ ngôn, đồng thoại, thần được đưa ra để nói chuyện con người Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ là một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với một con người có thật trong đời sống” [7-tr.193]
Trong cuốn Lí luận văn học của Phương Lựu, Trần Đình Sử lại định
nghĩa như sau: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả,
thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, Thúy Kiều Đó là những nhân vật không có tên như thằng bán tơ trong truyện Kiều, những kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu thường thấy trong kịch Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người ”[16-tr.114] Khái niệm nhân vật có khi còn được sử dụng
theo lối ẩn dụ, không chỉ một con người nào cụ thể mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ,
có những dấu hiệu, công thức chung để ta nhận biết
Như vậy, các nhà nghiên cứu lí luận văn học, bằng cách diễn đạt này hay khác khi đề cập về nhân vật văn học vẫn gặp gỡ ở điểm không thể thiếu khái niệm nhân vật văn học Từ đó, ta có thể nhận thấy rằng tính cách là hạt nhân tạo nên nhân vật Trong tác phẩm văn học, có nhân vật được miêu tả tính cách nhiều, có nhân vật được miêu tả tính cách ít nhưng cũng có nhân vật không được khắc họa tính cách mà tiêu biểu là các nhân vật trong các tác phẩm văn học dân gian đặc biệt là truyện cổ tích thần kì
Trang 14Nếu như ở xã hội loài người có người thiện - kẻ ác, người tốt - kẻ xấu
và xã hội thần linh, các nhân vật thần kì trong truyện cổ tích cũng được chia thành 3 tuyến nhân vật đó là nhân vật chính (đại diện cho cái thiện), nhân vật đối thủ (đại diện cho cái ác) và nhân vật trợ thủ (giúp đỡ cho cái thiện) Cuộc đấu tranh vô cùng ác liệt nhưng luôn theo quy luật thiện luôn thắng ác
1.1.1 Nhân vật chính
Nhân vật trong truyện cổ tích thần kì thường phức tạp, đa dạng phong phú và mang tính hiện thực rõ hơn nhân vật trong thần thoại, truyền thuyết Nhân vật chính trong truyện cổ tích thần kì dân gian Việt Nam thường là những con người nhỏ bé nhưng lại có số phận bất hạnh và đóng vai trò quan trọng xuất hiện từ đầu cho đến cuối tác phẩm Nhân vật chính theo PGS
Nguyễn Bích Hà nhận định: “nhân vật chính của truyện cổ tích là con người
trong mối quan hệ xã hội Lần đầu tiên các nhân vật nhỏ bé tầm thường trở thành nhân vật trung tâm của văn học dân gian, hơn nữa họ còn là đại diện cho cái đẹp, cái thiện cái cao cả, thánh thiện theo quan điểm của người dân Nhân vật trong truyện cổ tích mang diện mạo của cá nhân là những người bình thường nhỏ bé chưa có cá tính mà chỉ mang tính đại diện Họ đại diện cho một kiểu người, một lối sống phát ngôn cho một quan niệm đạo đức nhân sinh nhất định Vì vậy, họ không có tính cách và phát triển tính cách, họ phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh nào nhưng những con người ngoài đời sống hoặc như những nhân vật văn học sau này.”[6-tr.103] Nhân vật chính trong truyện
cổ tích thần kì là người con riêng - những con người khốn khổ, chịu đau khổ mọi bề Họ bị ghẻ lạnh, áp bức và ngược đãi vật chất lẫn tinh thần, bị tước đoạt quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc Người con riêng ngoan hiền, chăm chỉ, tốt bụng, vị tha song luôn bị thiệt thòi và bất hạnh Sự bất hạnh đó được thể hiện ngay trong cách đối xử cả người dì ghẻ với người con riêng Nếu như mụ dì ghẻ và con riêng của mụ dư thừa, no đủ về vật chất, được ăn ngon mặc đẹp, được nhàn hạ không phải làm việc gì thì người con riêng lại đối nghịch hoàn toàn, phải làm việc quần quật suốt ngày, cơm không đủ no áo lành không đủ mặc, Vua mở hội cũng không được đi trẩy hội
Người con riêng trong “Tấm Cám” (dân tộc Việt), “Con côi dì ghẻ” (dân tộc Mường), “Ò Ché và Hùm tinh” (dân tộc Nùng), “Tuagia - Tuanhi” (dân tộc Tày) là minh chứng tiêu biểu Họ bị đẩy vào cuộc sống éo le không
Trang 15vật chất, không chốn nương tựa, địa vị thấp hèn trong xã hội và bị ức hiếp đến mức thảm hại Họ đại diện cho những con người trong xã hội bị bạc đãi, thấp
cổ bé họng không kêu đến tận mây xanh về lẽ công bằng trong xã hội Điển hình trong truyện “Tấm Cám” (dân tộc Việt), cô Tấm - một cô gái xinh đẹp, hiền dịu, nết na nhưng lại mồ côi cả cha lẫn mẹ phải ở với dì ghẻ, từ đây cuộc sống của nàng như địa ngục giữa trần gian Cô Tấm bị mụ dì ghẻ hãm hại hết lần này đến lần khác, chết đi sống lại nhiều lần nhưng cô vẫn ánh ngời vẻ đẹp của sự lương thiện, lấy cái thiện để trừng trị cái ác Cuộc sống nghèo khổ đã khiến con người vất vả nhưng bất hạnh hơn khi mồ côi cha mẹ, phải gồng mình lên lo toan mọi việc Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, nhân vật người con riêng vẫn sáng lên vẻ đẹp nhân cách: hiền lành, thật thà và chân chất
Người Việt đã xây dựng thành công người con riêng là Tấm (Tấm Cám), Văn Linh (Người dì ghẻ ác nghiệt hay là sự tích con dế) Tấm và Văn Linh đều mồ
côi cha mẹ và luôn bị người mẹ kế hãm hại, ức hiếp nếu như Tấm được Bụt giúp đỡ khi gặp khó khăn thì nhân vật Văn Linh lại nhận được sự giúp đỡ của người mẹ cùng cha khác mẹ và được người mẹ hóa thân thành chim che chở, chăm sóc Kết truyện là hình ảnh cô Tấm xinh đẹp hơn xưa hạnh phúc bên nhà vua còn Văn Linh hạnh phúc bên vợ hiền và chàng thi đỗ tiến sĩ trở về làng với niềm vui vỡ òa Hay trong truyện “Ò Ché và Hùm Tinh” (dân tộc
Nùng), Ò Ché cũng là cô gái “ngoan ngoãn, ôn hòa, vui tính” nhưng lại bất
hạnh bị mụ dì ghẻ độc ác bắt phải làm việc quần quật suốt ngày đêm vì sự ghen ghét đố kị Hay nàng Biooc Rồm xinh đẹp tài năng nhưng nàng bị dì ghẻ đầy đọa và còn bị giết chết nhưng nhờ con chó nên nàng thoát chết, Biooc Rồm gặp Hoàng tử trong rừng đi săn và hạnh phúc bên nhau Mâu thuẫn sâu sắc nhất chúng tôi nhận thấy là mâu thuẫn về vật chất và tinh thần, mâu thuẫn
về sắc đẹp, tài năng và phẩm chất đạo đức Những cô Tuagia, cô Tấm, Văn Linh, Ò Ché, Sao Gia những hình tượng tiêu biểu và đặc trưng của đứa trẻ
mồ côi bị dì ghẻ áp bức, ngược đãi
Trong 25 truyện chúng tôi tìm hiểu, nhân vật người con riêng luôn xuất hiện ở tuyến trung tâm xuyên suốt câu chuyện khắc họa rõ nét mâu thuẫn xung đột dì ghẻ - con chồng từ đơn giản đến phức tạp Để làm nổi bật phẩm chất, tính cách, số phận của người con riêng tác giả dân gian luôn đặt nhân vật của mình vào hoàn cảnh là người không có hạnh phúc của gia đình bình
Trang 16thường luôn bị bạc đãi, áp bức bóc lột sức lao động hơn nữa còn bị giết hại nhưng ở người con riêng vẫn ánh lên những phẩm chất tốt đẹp và được hưởng hạnh phúc bên những người mà họ yêu thương Những truyện cổ tích về người con riêng đã đề cập đến vấn đề quan trọng và gây nhức nhối của gia đình phụ quyền Trong xã hội cũ, trong gia đình cũ, người con riêng là một trong những kẻ đau khổ bất hạnh nhất Nhân dân lao động đã lí tưởng hóa nhân vật của mình và ngầm truyền tải thông điệp, một sứ mệnh đặc biệt dành cho những đứa trẻ mồ côi đó là lẽ công bằng, khát vọng, ước mơ của con người khi thời kì cộng đồng bộ tộc đã qua, mượn nhân vật người con riêng để thể hiện quan niệm “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”
1.1.2 Nhân vật đối thủ
Nếu như nhân vật chính là người lương thiện, xinh đẹp và tài năng thì nhân vật đối thủ là những kẻ chuyên đi gây hấn, gieo rắc những bất hạnh cho người khác Nói cách khác, đây là những con người ức hiếp bạc đãi người con riêng trong truyện cổ tích thần kì: mụ dì ghẻ, cha dượng Dân gian có câu:
“Bao giờ bánh đúc có xương/ Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng” Ngược dòng lịch sử, chúng tôi đi nghiên cứu truyện cổ tích thần kì của Việt Nam không có loại nhân vật đối thủ là phù thủy như truyện cổ tích của nhiều quốc gia trên thế giới Nhân vật đối thủ là người đặc biệt là người có tính cách độc
ác, ức hiếp người khác Khi công xã nguyên thủy tan rã, xã hội có sự phân chia giai cấp giàu nghèo sâu sắc, con người đối xử với nhau cũng hoàn toàn khác Họ tranh giành ganh ghét nhau nhằm thu lợi ích về mình Và một gia đình phụ quyền trong xã hội phân chia giai cấp như vậy cũng không nằm ngoài quy luật đó Bà cả mất, bà hai - mụ dì ghẻ tác oai tác quái hành hạ đánh đập con riêng, hay cha đẻ mất cha dượng thay thế chăm sóc con riêng nhưng đây chỉ là hình thức trá hình bên ngoài mà thực chất bên trong là cả một thế giới của sự ngược đãi, người con riêng bị hành hạ bóc lột áp bức để phục vụ cho nhu cầu của cha dượng, dì ghẻ Dưới quan điểm của dân gian, những người mẹ ghẻ thường đối xử bất công với con chồng còn bao điều tốt đẹp thì dành hết cho con đẻ của mình Dì ghẻ là người có quyền lực trong gia đình hơn nữa lại tham lam, độc ác, danh mãnh đứng trước người con riêng nghèo khổ bất hạnh thì mụ dì ghẻ càng căm phẫn, dã tâm làm hại bằng được cho hả
dạ mưu đồ của mình
Trang 17Trong truyện “Sao Gia Sao Nhi” (dân tộc Tày) cha Sao Gia là người lấy gáo nước đánh vào gáy vợ để rồi Sao Gia phải mồ côi Sao Gia nhỏ người
gầy yếu, dì ghẻ luôn “hay kiếm cớ đánh đập Sao Gia, mong muốn Sao Gia
ngày càng gầy yếu thêm và chết non” Hay trong truyện “Sự tích chim đa đa”
(dân tộc Hà Nhì) là mối mâu thuẫn giữa bố ghẻ với con riêng của vợ Bố ghẻ tìm mọi cách giết hại con riêng của vợ hết lần này đến lần khác cuối cùng người con riêng chết hóa thành chim đa đa Rồi “Sự tích Chim quốc” (dân tộc Kinh) thì lại là mối quan hệ mâu thuẫn giữa người mẹ với con chung, con chồng Mẹ ghẻ coi con chồng như kẻ thù nên tìm cách làm cho chết đi nhưng không ngờ lại hại chính đứa con đẻ của mình chết, hóa thành chim đỗ quyên
kêu “Khổ quá, khổ quá! Mẹ đồ chín vừng làm hại con” Kết cục của truyện là
người con riêng hay chính con đẻ của mình bị chết biến thành chim Người bố dượng hoặc mẹ ghẻ hại con riêng của vợ hoặc của chồng đều phải chết mất xác. Truyện vềhai người con trai Cốc và Nhì, sự độc ác của mụ dì ghẻ được thể hiện ở chỗ bắt Cốc (anh cả) con vợ cả làm việc suốt ngày đêm không cho
ăn uống do vậy mà Cốc thành thạo mọi công việc, chịu khó Nhì - con mụ chiều chuộng sinh ra lười nhác chẳng biết làm việc gì cả Truyện “Người dì
ghẻ ác nghiệt hay sự tích con dế” (dân tộc Kinh) lấy bản chất độc ác của mụ
dì ghẻ làm nhan đề cho câu chuyện góp thêm tiếng nói phê phán tố cáo tội ác của hạng người độc ác trong xã hội một cách gay gắt, quyết liệt Văn Linh là đứa con của vợ cả nhưng dì ghẻ coi anh như kẻ thù ngày ngày chỉ mong Văn Linh chết đi để chiếm lấy hết tài sản nhưng kết cục không những không hại được con riêng mà chính mụ ta lại tự đưa mình đến cái chết
Qua 25 truyện chúng tôi khảo sát, chúng tôi thấy rằng nhân vật đối thủ chủ yếu là mụ dì ghẻ chiếm 96% , cha dượng, bố ghẻ chỉ chiếm 4% bởi xã hội
có sự phân chia giai cấp mà gia đình chủ yếu thời phong kiến bấy giờ là gia đình phụ quyền nên mâu thuẫn sâu sắc nhất vẫn xoay quanh mối quan hệ giữa
dì ghẻ và con chồng, còn quan hệ giữa cha dượng và con riêng thì ít được đề cập hơn trong truyện
Trang 18Nam” của PGS TS Nguyễn Bích Hà có viết “lực lượng kì ảo” (thần kì) hay
còn gọi là yếu tố kì ảo (thần kì) là “kết quả của những hư cấu dưới ánh sáng
của trí tưởng tượng kì ảo và bay bổng của nhân dân Trong truyện cổ tích, lực lượng kì ảo bao gồm một số loại: nhân vật kì ảo, đồ vật hoặc vật thể kì ảo, động thực vật kì ảo những biến hóa kì ảo” Nhân vật trợ giúp thần kì và yếu
tố thần kì là loại nhân vật không thể thiếu trong truyện cổ tích thần kì Sự xuất hiện của nhân vật trợ thủ thỏa mãn nhu cầu tâm lý của con người thời xưa Nhân vật trợ thủ xuất hiện chịu ảnh hưởng tác động của tôn giáo, tín ngưỡng nơi mà các bản truyện kể tồn tại và truyền miệng từ đời này qua đời khác Trong truyện cổ tích “Tấm Cám” (dân tộc Việt) nhân vật trợ thủ quen thuộc là ông Bụt hiền từ đức độ, mỗi khi Tấm khóc là Bụt lại hiện lên giúp đỡ Do vậy
mà Tấm vượt qua khó khăn, thử thách mà mụ dì ghẻ dành riêng cho Tấm Truyện về người con riêng ở các dân tộc thiểu số, nhân vật trợ thủ thường xuất hiện với các dạng thức đặc biệt Dạng một là người mẹ đã chết hiện về
và các hình thức hóa thân khác nhau của người mẹ (10/25 truyện: 40%), dạng hai: nhân vật trợ thủ là loài vật cụ thể là trâu, hổ, con quạ, con cá chép (4/25 truyện: 16%), dạng ba nhân vật trợ thủ là Bụt, bà Tiên, Trời, Sét chiếm số lượng ít (2/25 truyện: 8%), còn lại 36% không xuất hiện nhân vật trợ thủ Chúng ta thấy dạng thức nhân vật trợ thủ ở dạng một liên quan đến người mẹ
đã chết chiếm tỉ lệ lớn nhất Đó là người mẹ hiện về trong những hình dáng một bà lão, người đàn bà hoặc hóa thân vào một số loài vật như hổ, trâu Trong truyện “Sao Gia Sao Nhi” (dân tộc Tày), Sao Gia được sự giúp đỡ của
mẹ, mẹ của Sao Gia hóa thân thành bà cụ có vết sẹo trên đầu “rẽ nước dẫn
con gái về Thủy phủ, bà cho con gái ăn đủ các thứ của ngon vật lạ” để có
thêm sức sống rồi giúp Sao Gia có quần áo đẹp và đôi hài cườm đến gặp Hoàng tử Với đặc điểm này, ta có thể lí giải từ phương diện xã hội học Sự hình thành gia đình phụ quyền, người đàn ông có thể lấy nhiều vợ, lấy vợ lẽ khi vợ cả mất Vị trí vợ cả bị hạ thấp, đứa con của người vợ cả cũng bị rẻ rúng khinh miệt, phải sống chung với dì ghẻ, chịu đựng sự ghẻ lạnh và sự ganh tị của những chị, em cùng cha khác mẹ Bởi vậy, các tác giả dân gian muốn thể hiện sự thương xót, cảm thương và khẳng định sức sống mãnh liệt, tinh thần đấu tranh của những người mẹ, người vợ bất hạnh bằng cách để nhân vật trợ
Trang 19thủ người mẹ trở lại trực tiếp hoặc gián tiếp trợ giúp đứa con côi của mình
Đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ chết đi sẽ trở nên linh thiêng
và thường tìm cách phù trợ cho con cháu
Trong các loài vật mà người mẹ hóa thân cũng đáng chú ý nhất là hình ảnh con hổ và con trâu Trong truyện “Ò Ché và Hùm Tinh” (dân tộc Nùng)
thấy con mình phải làm việc cả ngày lẫn đêm “ ngày đêm Ò Ché một mình ra
lều trên nương trông nom của cải, ban ngày em vừa thả đàn bò, đàn dê đi ăn
cỏ vừa chăn gà, vừa phải xua đuổi lợn rừng hươu, nai đến phá lúa” mẹ Ò
Ché chết hóa thành Hùm Tinh để chăm sóc cho con mình Hàng ngày mang thịt lợn, hươu hai mẹ con cùng ăn Ò Ché được mẹ giúp đỡ không phải vất vả như những năm xưa nữa: được mẹ giúp trồng bông, kéo sợi, dệt vải Ò Ché đã
có nhiều quần áo lành lặn Truyện “Ú và Cao” (dân tộc Hơ rê), người mẹ chết
đi rồi lại quay trở về giúp đỡ đứa con mặc dù không được kể rõ về hình dạng nhưng ta có thể thấy rằng đó là những thuộc tính của loài cá Rồi truyện
“Nàng Nảo và Sì Năng” (dân tộc H’mông) mẹ biến thành trâu để nàng Nảo có gạo ăn và có quần áo đẹp đi chơi xuân Truyện “Gầu Nà” (dân tộc H’mông) con bò là sự hóa thân của người mẹ luôn theo sát bên con
Sự lặp đi lặp lại hình ảnh con hổ với loài vật gần gũi khác là con trâu và con bò hay con chó trong truyện “Nàng Biooc Rồm” (dân tộc Tày) phản ánh dấu ấn cuộc sống nông nghiệp gắn liền với đồi núi, ruộng nương Bên cạnh
đó, tín ngưỡng thờ cúng những con vật linh thiêng nhằm phù trợ người tốt, trừng phạt kẻ ác
Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng, nhân vật trợ thủ là thứ ngôn ngữ không lời mang đậm dấu ấn văn hóa của mỗi dân tộc Nhân vật trợ thủ là một yếu tố không thể thiếu trong truyện cổ tích thần kì như một thứ gia vị thêm phần hấp dẫn, li kì và đó cũng là một phao cứu trợ kịp thời cho người con riêng khi bị mụ dì ghẻ đày đọa, áp bức Truyện cổ tích có thể li kì hay huyền ảo có thể thơ mộng và đầy hấp dẫn đối với người nghe, có thể phản ánh sinh động khát vọng, ước mơ của con người là nhờ vào nhân vật trợ thủ Nhân vật trợ thủ là cánh tay đắc lực cho nhân vật chính thể hiện lẽ công bằng trong
xã hội phong kiến lúc bấy giờ: cái thiện luôn chiến thắng cái ác, cái ác sẽ bị trừng trị thích đáng
Trang 20Người con riêng thường được tác giả khắc họa không rõ tính cách: tất
cả những nhân vật mồ côi đều có phẩm chất giống nhau, tính cách hao hao
giống nhau chỉ khác nhau ở tình huống, hành động nhân vật: Tấm là cô gái
hiền lành, xinh đẹp chịu thương chịu khó, Ò Ché hiền lành ngoan ngoãn, ôn hòa, vui tính, Sao Gia xinh gái, hiền lành, ngoan ngoãn, Sằn Nhì càng lớn càng đẹp trai khỏe mạnh, Vùi hiền dịu, duyên dáng Nhân vật ác cũng tuân
theo motif, khuôn mẫu đã định sẵn: ức hiếp, ngược đãi con riêng, cưng chiều con ruột hành hạ tước đoạt mọi quyền lợi của con riêng để dành cho con đẻ Thậm chí, mụ dì ghẻ còn giết hại con riêng để con của mình được lên làm
hoàng hậu (Tấm Cám) Luật nhân quả luôn có trong cuộc sống, cuối cùng thì
con đẻ chết mụ dì ghẻ cũng phải chịu hậu quả chết mất xác hay phải cung
phụng con riêng cả đời (Người dì ghẻ độc ác) Kết thúc truyện số phận của
các nhân vật thần kì cũng có sự gặp gỡ: người tốt bụng hiền lành được hưởng giàu sang phú quý, hạnh phúc, được làm hoàng hậu, làm vua làm quan và lấy được chồng tốt, vợ đẹp; kẻ xấu, độc ác bị trừng trị mất hết tài sản, cung phụng người con riêng hoặc là chết
Người con riêng trong truyện cổ tích thần kì là nhân vật giới thiệu, trình bày cho một đặc điểm tính cách, một nét tính cách của phe thiện hoặc phe ác
mà phe thiện là những cô gái chàng trai có hoàn cảnh bất hạnh, số phận bất hạnh về sau được hưởng hạnh phúc còn phe ác đại diện là mụ dì ghẻ, cha dượng với nét tính cách độc ác, tàn nhẫn, ngược đãi con riêng
Nhân vật chính không được tác giả quan tâm đến việc miêu tả ngoại hình và tâm trạng nhân vật Chúng tôi khảo sát 25 truyện hầu như không có câu văn nào viết về ngoại hình, nước da, dáng người hay đôi bàn chân, mà chỉ chú ý đến miêu tả hành động nhân vật Bởi thị hiếu của người nghe chỉ hứng
Trang 21thú đến hành động của các nhân vật ra sao, kết quả như nào: người tốt, người lương thiện thì được đền đáp, còn kẻ xấu thì bị trừng trị Nhân vật chính là nhân vật chức năng, nhân vật thuyết minh trình bày đạo đức chứ không phải
là nhân vật cá nhân, nhân vật cá tính như trong truyện hiện đại ngày nay
Chính vì đặc điểm này mà V.Ia Prôp đã kết luận rằng: “Cổ tích vấn đề quan
trọng không phải hành động do ai thực hiện mà nó được thực hiện như thế nào?” Người con riêng trong truyện “Sao Gia Sao Nhi” (dân tộc H’mông),
“Ò Ché và Hùm Tinh” (dân tộc Nùng), “Người dì ghẻ độc ác” (dân tộc Dao)
về chức năng và tính cách không khác gì nhau, họ đều hiền lành ngoan ngoãn
và không tham lam, không đố kị Rồi “Tấm Cám” (dân tộc Việt) Tấm khổ đau khi bị Cám cướp mất giổ tép, yếm đỏ mỗi lần như thế chỉ thấy Tấm khóc Tác giả dân gian không hề miêu tả những tủi nhục, khổ đau trong tâm hồn nàng Vậy nét tính cách hay chức năng thuyết minh của loại nhân vật này là không tham lam, không đố kị để đối lập với loại nhân vật mụ dì ghẻ tham lam
đố kị và xấu xa Có thể thấy rằng, nhân vật thần kì là nhân vật chức năng, Nguyễn Xuân Đức cho rằng nhân vật trước hết hành động theo mạch cốt
truyện còn V.Ia Prôp trong “Folklore và hiện tại” lại nhận định rằng: “Trong
truyện cổ tích thần kì, nhân vật tự mình không có sức mạnh, nhưng khi nhân vật không biết đường đi, anh ra bỗng gặp một bà già hay một mụ phù thủy (cổ tích thần kì Việt Nam là tiên, bụt, hay các loài động vật) sẽ chỉ cho anh ta cần
đi đâu và giúp đỡ anh ta” Hành động của nhân vật sẽ thể hiện nhân cách cái
mà được quy định sẵn từ cốt truyện: Tấm ngờ nghệch tin vào lời mụ dì ghẻ, Sao Gia tin vào lời của bà vợ lẽ, Ò Ché cũng vậy Sau hành động đó là hành vi
có chức năng mang bản sắc riêng của nhân vật: tốt vẫn tốt, xấu thì vẫn hoàn xấu Như vậy, nhân vật làm việc gì hành vi ra sao không phải là sự thôi thúc của tính cách của chính bản thân mà bị chi phối bởi cốt truyện có chức năng, bởi ý đồ của tác giả dân gian là xây dựng mẫu người nhất định với nét tính cách chức năng nổi trội như Tấm hiền lành nết na, Nọng nghĩa tình, hiếu thảo, mụ dì ghẻ ác độc, Cám mưu mô, Ò Sáy tham lam muốn xinh hơn Ò Ché
Nhân vật đối thủ cũng là nhân vật chức năng đại diện cho cái xấu cái ác trong xã hội Tác giả khi khắc họa kiểu nhân vật này thường trang bị cho họ những đức tính xấu nhất: cay nghiệt, độc ác, ác nghiệt Khảo sát 25 truyện
cổ tích về người con riêng thì có 2/25 truyện (chiếm 8%) có nhan đề đã nói
Trang 22lên bản tính của mụ dì ghẻ Nhân vật chính càng hiền lành tốt bụng bao nhiêu thì mụ dì ghẻ càng độc ác, nham hiểm bấy nhiêu Có lẽ, tác giả dân gian ngụ ý xây dựng hai tuyến nhân vật như vậy để làm rõ xung đột trong gia đình phụ quyền thời cổ Ở đó, người con riêng bị chà đạp, mụ dì ghẻ thẳng tay đàn áp
và giết hại Trong số 25 truyện cổ tích duy nhất có một truyện, người dì ghẻ hiền lành đại diện cho lòng vị tha, đức hi sinh của người phụ nữa dành cho con mà ở đó không phải là con mình mà là con riêng “Người mẹ kế và hai con trai” (dân tộc Kinh) còn lại 24 truyện (chiếm 92%) mụ dì ghẻ đại diện tiêu biểu cho cái xấu xa, độc ác nhất trong xã hội Mụ dì ghẻ ghen tức nhan sắc với người con riêng có thể thấy trong 10 truyện (chiếm 40%) như: “Tấm Cám” (dân tộc Kinh), “Sằn Nhì” (dân tộc Dao), “Ò Ché và Hùm Tinh” (dân tộc Nùng), “Tuagia Tuanhi” (dân tộc Tày), “Hai chị em Vùi và Lu” (dân tộc
Lô Lô), ghen tức về địa vị (chị trở thành hoàng hậu, vợ của vua anh được truyền ngôi, làm quan) gồm 12 truyện (chiếm 48%) như: “Sao Gia Sao Nhi” (dân tộc Tày), “Gầu Nà” (dân tộc H’mông), “Tấm Cám” (dân tộc Kinh),
“Nàng Nảo và Sì Năng” (dân tộc H’mông) ghen tức về tài sản, của cải gồm
4 truyện (chiếm 16%) như: “Tua Pèng Tua Sẻn” (dân tộc Nùng), “Nàng Màng Ji” (dân tộc H’mông), “Noọng và Eng” (dân tộc Tày), “Mẹ kế con chồng” (dân tộc Tày Nùng)
Cuối cùng, là nhân vật trợ thủ đây là kiểu nhân vật không được tác giả dân gian khắc họa về tính cách, ngoại hình hay lời nói mà chủ yếu được thể hiện qua hành động Theo Nguyễn Xuân Đức trong cuốn “Thi pháp truyện cổ
tích thần kì người Việt” nhận định rằng: “Nhân vật trung gian không bao giờ
giữ vai trò chính hoặc vai trò trung tâm trong truyện, nó chỉ là nhân vật phụ
có tác dụng phân tuyến các nhân vật trung tâm”[4-tr.42] Nhân vật trợ thủ
thường đại diện cho lẽ công bằng, cái lương thiện, cái tốt trong xã hội Nhân vật trợ thủ là nhân vật luôn giúp đỡ nhân vật chính, mỗi lần nhân vật chính gặp khó khăn đều có sự ra tay giúp đỡ của nhân vật trợ thủ Tấm khóc vì mất giổ tép, không được đi dự hội là lại một lần Bụt hiện lên, Sao Gia khổ quá mẹ biến thành bà cụ có vết sẹo về giúp đỡ con và xoa dịu nỗi đau thiếu thốn tình
mẹ, Ò Ché được Hùm Tinh giúp trông ngô, ngày nào cũng được ăn thịt và có quần áo đẹp đi chơi hội Nhân vật trợ thủ là nhân vật thực thi cái lẽ công
Trang 23bằng không còn trên sách vở nữa mà được thực hiện bằng hành động Họ là những người tốt, yêu sự công bằng, ước mơ của nhân vật chính
1.3 Phương thức xây dựng nhân vật
Nhân vật có đặc biệt thì câu chuyện mới hấp dẫn, kích thích trí tò mò của người nghe Để nhân vật độc đáo như vậy là sự góp mặt của các yếu tố trong đó yếu tố quan trọng nhất là phương thức xây dựng nhân vật Nhân vật thần kì cũng như những nhân vật trong truyện hiện đại ngày nay đều được xây dựng với những phương thức nghệ thuật khác nhau Ở truyện cổ tích thần kì, nhân vật chủ yếu được khắc họa dựa trên những phương diện: xung đột, hành động, chi tiết nghệ thuật
Có thể thấy, trong kiểu truyện người con riêng, xung đột nổi cộm nhất
là xung đột gia đình, đó là xung đột giữa dì ghẻ - con chồng, cha dượng - con riêng Đây được coi là một phương thức xây dựng nhân vật quen thuộc của tác giả dân gian khi hình thành 2 tuyến nhân vật thiện - ác Qua đó tác giả dân gian ngầm đưa ra quan niệm về cải tạo thực tế cuộc sống của con người sống công bằng, không tham lam, đố kị
Bên cạnh đó, nhân vật cổ tích thần kì chủ yếu được xây dựng dựa trên hành động nhưng chưa có ý thức nội tâm hoặc nội tâm chưa phát triển, không thống nhất Tâm lí nhân vật cổ tích thường đơn giản do vậy hành động gây hấn hay trả thù thực hiện cũng chóng vánh và dễ dàng có thể đoán được Tấm
dễ dàng cho mẹ con Cám chặt cây cau, Sằn Nhì dễ dàng bị mụ dì ghẻ lừa leo lên cây đào sau nhà hái quả để cúng mẹ, Ò Ché không dám cãi lời mụ dì ghẻ một mình ra lều trên nương trông nom của cải, Vùi vâng lời mẹ trèo lên cây hái quả nhưng khi bị áp bức ngược đãi nhân vật người con riêng vẫn nhẫn nhịn cam chịu làm việc chỉ khi đến đỉnh điểm người con riêng mới vùng lên
từ thế bị động chuyển sang thế chủ động đòi lại lẽ công bằng Cám bị Tấm dội
nước sôi, mụ dì ghẻ ăn mắm của con rồi cũng chết (Tấm Cám)
Thông thường, khi miêu tả hành động của nhân vật, tác giả dân gian thường kết hợp với những biểu hiện của nội tâm Tác giả dân gian đưa ra một
mã chung cho hành động của 2 tuyến nhân vật: thiện và ác Đằng sau hành động đó là một động cơ được tác giả ấn định riêng cho từng nhân vật Người tốt làm tròn bổn phận, trách nhiệm lời hứa của mình: Tấm, Ò Ché, Sằn Nhì, Sao Gia, Tuagia là những người con riêng mang sứ mệnh cải tạo xã hội
Trang 24Trong gia đình phụ quyền, mụ dì ghẻ có độc ác đến mấy thì người con riêng cũng phải được hưởng hạnh phúc, đối xử công bằng Còn kẻ ác là kẻ phá hoại
lẽ công bằng, kẻ cướp công cướp địa vị của người khác bằng bất cứ thủ đoạn nào Do vậy, đặc thù hành động của nhân vật trong truyện cổ tích thần kì về người con riêng sẽ xoay quanh 2 vấn đề chính đó là ban thưởng và trừng phạt Chưa xong việc ban thưởng và trừng phạt thì hành động của 2 truyến nhân vật chưa kết thúc Đặc biệt là sự biến hóa, vòng đời của nhân vật chính: người con riêng Người con riêng mỗi lần thay đổi hình dạng của mình là một lần nữa bị bàn tay độc ác của mụ dì ghẻ hãm hại Dưới đây, chúng tôi phác sơ đồ biến hóa của con riêng:
- Truyện “Sao Gia Sao Nhi”:
Sao Gia trèo lên cây trám bị giết chim yểng bị giết cây trúc bị chặt sào màn bị đốt quả trứng Sao Gia
-Truyện “Mùi Mụi Mùi Nái”:
Mùi Mụi trèo cây bị giết con chim bị thịt khóm tre chặt giường bị đốt quả trứng Mùi Mụi
-Truyện “Ú và Cao”:
Ú trèo cau bị giết thành chim bị thịt cây cà bị ăn cây cam Ú
Chỉ điểm qua một số truyện tiêu biểu trong kiểu truyện cổ tích về người con riêng chúng tôi nhận thấy rằng: sự biến hóa của nhân vật chính đa dạng, phong phú song cuối cùng họ vẫn trở về với hình dạng cũ là cô gái xinh đẹp, hiền lành, tốt bụng và có thêm phần rắn rỏi, mạnh mẽ và vững bền hơn Chi tiết kì ảo đóng góp không nhỏ vào sự biến hóa của nhân vật Sự biến hóa theo vòng tuần hoàn như vậy chúng ta có thể lí giải dựa trên triết lí của nhà Phật con người hồi sinh hết kiếp này đến kiếp khác Chi tiết kì ảo dưới góc nhìn thi pháp học là ước mơ,khát vọng, ủng hộ cái tốt, đồng cảm với con người có số phận bất hạnh trong gia đình phụ quyền thời cổ Chi tiết
kì ảo làm tăng thêm vẻ đẹp sức mạnh của nhân vật thiện, nhân vật thiện đẹp khi vượt qua cái ác, cái xấu xa Chi tiết kì ảo rất quan trọng trong truyện cổ tích về người con riêng
Trang 25Tiểu kết chương 1
Như vậy, khi đi tìm hiểu về nhân vật trong truyện cổ tích và người con riêng chúng tôi nhận thấy rằng: truyện cổ tích về người riêng được tác giả xây dựng với hai truyến nhân vật đối lập: nhân vật chính và nhân vật đối thủ Ngoài ra, còn có thêm tuyến nhân vật trung gian, hỗ trợ cho nhân vật chính là nhân vật trợ thủ Với phương thức xây dựng chủ yếu dựa trên phương diện: xung đột, hành động, và chi tiết nghệ thuật làm cho nhân vật hiện lên một cách chân thực, rõ nét và không bị pha lẫn Nhân vật chính - người con riêng luôn phải chịu cảnh đàn áp, hành hạ của dì ghẻ những vẫn ánh ngời lên vẻ đẹp dịu dàng, nết na hay lam hay làm dù chịu số phận bất hạnh của đứa trẻ mồ côi, dù dì ghẻ không yêu thương, trân trọng nhưng đến cuối truyện người con riêng vẫn được hưởng hạnh phúc bên người mà họ yêu thương còn mụ dì ghẻ đại diện cho ác gian ác, xấu xa thì phải trả giá bị trừng phạt thích đáng bị chết,
bị giết hay tự vẫn Nhân vật phù trợ là người chuyên trở ước mơ của nhân dân về ước mơ, lẽ công bằng trong xã hội còn nhiều bất công Họ là cánh tay đắc lực của nhân vật chính, không có họ thì nhân vật chính rơi vào thế bị động bế tắc và không được hưởng hạnh phúc hay giàu sang Nhân vật trong truyện cổ tích thần kì không quá nhiều cũng không quá ít nhưng đủ cho chúng tôi nhận ra được xung đột chủ yếu là xung đột giữa những người trong gia đình phụ quyền thời cổ
Trang 26
CHƯƠNG 2:
THI PHÁP LỰA CHỌN VÀ MIÊU TẢ XUNG ĐỘT
TRONG KIỂU TRUYỆN NGƯỜI CON RIÊNG
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Thuật ngữ “xung đột” thường
được dùng khi nói đến loại văn văn kịch và loại văn học tự sự, đến sân khấu
và điện ảnh, tức là các loại hình nghệ thuật mang tính năng động và tạo hình
Là cơ sở và lực thúc đẩy của hành động, xung đột quy định các giai đoạn chính của sự phát triển cốt truyện: sự nảy sinh xung đột, sự gay gắt cao độ của xung đột, sự giải quyết xung đột Các xung đột thường hiện diện dưới dạng những va chạm, tức là những đụng độ và chống đối trực tiếp giữa các thế lực hoạt động được miêu tả trong tác phẩm: giữa tính cách và hoàn cảnh, giữa các tính cách khác nhau, giữa những mặt khác nhau của một tính cách”[7-tr.368-369]
Theo Từ điển Tiếng Việt: “xung đột” (nói một cách khái quát) là
“đánh nhau giữa những lực lượng đối địch”
Có nhiều cách để định nghĩa về “xung đột” nhưng khi áp dụng khái niệm “xung đột” vào truyện cổ tích thì “xung đột” được hiểu là những mâu thuẫn giữa 2 thế lực thiện và ác là mẫu thuẫn giữa con người với con người hay đó còn là giữa con người với những trở lực của thiên nhiên Truyện cổ tích nói chung đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa vừa rộng lớn, vừa sâu xa
về nhân sinh xã hội Riêng truyện cổ tích thần kì khi miêu tả xung đột thì về
cơ bản chính là sự giới thiệu, mô tả đạo đức, tài năng của nhân vật lí tưởng để thực hiện mơ ước của nhân dân Mĩ học Folkore trong truyện cổ tích thần kì là
mĩ học của tâm hồn và đạo đức Nhân dân lí giải mâu thuẫn xã hội dưới góc
độ luân lí, đạo đức là chủ yếu, chưa thấy rõ được rằng nguồn gốc của những mâu thuân ấy là sự đối kháng giai cấp cực kì gay gắt trên mọi lĩnh vực cuộc sống Xung đột trong truyện cổ tích thần kì là xung đột giữa sự tốt bụng và thói tham lam, sự hiền lành chất phác tốt bụng và sự gian ngoan xảo quyệt tàn bạo, lòng chung thủy và sự phản bội, trí thông minh và sự ngu ngốc Với phẩm chất tốt đẹp của mình, nhân vật lí tưởng đem lại cho người nghe sự đồng cảm và cảm phục, niềm tin vào con người, tương lai, công lí
Trang 27Truyện cổ tích thần kì nổi lên 2 loại xung đột: xung đột xã hội và xung đột giữa con người với những lực lượng của thiên nhiên Nếu vấn đề quan hệ của con người (thời cổ) với thiên nhiên là đề tài chính của thần thoại và sử thi thì xung đột xã hội là đề tài chính của truyện cổ tích Xung đột xã hội trong truyện cổ tích thần kì thường diễn ra trong phạm vi gia đình với những mối quan hệ phức tạp Xung đột giữa hai tuyến nhân vật vận động diễn ra trong thế phát triển Nhân vật bất hạnh luôn là những thành viên lép vế nhất trong gia đình phụ quyền ngày xưa: người con riêng Kẻ thù đối kháng tìm cách gây hại, chiếm đoạt những thành quả mà người con riêng tạo nên Để có cái nhìn
rõ hơn về xung đột trong truyện cổ tích thần kì chúng tôi đi khảo sát trên 3
xung đột chính: xung đột mẹ kế - con chồng, xung đột chị em gái, xung đột anh em trai
2.1 Xung đột mẹ kế - con chồng
Khi công xã nguyên thủy tan rã thì cùng với đó là sự phân chia giai cấp trong xã hội loài người là sự xuất hiện trong gia đình nhỏ - gia đình phụ quyền với chế độ tư hữu là nhân tố, tế bào của xã hội phong kiến, với sự phân biệt giàu nghèo, tầng lớp với việc người bị bóc lột, áp bức Hiện tượng người bóc lột người là hiện thực chủ yếu của xã hội phong kiến và cũng là hiện thực của gia đình phong kiến thời cổ Những mâu thuẫn trong gia đình phản ánh một cách trực tiếp những mâu thuẫn xã hội dưới một hình thức khác, một khuôn khổ khác
Kiểu truyện người con riêng cũng được hình thành từ cơ sở xã hội và kinh tế Chế độ phụ quyền được xác lập thay thế cho chế độ mẫu quyền, xã hội có giai cấp thay thế cho xã hội cộng sản nguyên thủy đã tạo ra nhiều xung đột Xung đột dì ghẻ - con chồng là một hiện tượng đặc trưng và tiêu biểu của chế độ đó, của xã hội đó Khi mẹ đẻ mất đi, người cha lấy vợ lẽ, người cha hoặc thương con, hoặc nhu nhược hoặc qua đời thì người dì ghẻ giữ quyền quyết định trong gia đình Khảo sát 25 truyện cổ tích mà chúng tôi tìm được thì có 19/25 truyện (76%) đều xuất hiện hình ảnh mụ dì ghẻ độc ác, nham hiểm, tìm mọi cách đầy đọa áp bức người con riêng bất hạnh xấu số của chồng, hòng cướp mọi quyền lợi, mọi quyền hành của người con riêng Bên cạnh đó, cũng có1/25 truyện (4%) người mẹ kế đối xử rất tốt với người con
Trang 28riêng thà để mình và con riêng chết chứ không để con riêng phải chết đó là truyện “Người mẹ kế và hai con trai” (dân tộc Kinh)
Trong kiểu truyện người con riêng, việc mẹ con dì ghẻ ghen tức về nhan sắc với người con riêng có thể thấy trong 10 truyện (chiếm 40%) như:
“Tấm Cám” (dân tộc Việt), “Sằn Nhì” (dân tộc Dao), “Ò Ché và Hùm Tinh” (dân tộc Nùng), “Tuagia Tuanhi” (dân tộc Tày), “Hai chị em Vùi và Lu” (dân tộc Lô Lô) ghen tức về địa vị (chị trở thành hoàng hậu, vợ của vua anh được truyền ngôi, làm quan) gồm 12 truyện (chiếm 48%) như: “Sao Gia Sao
Nhi” (dân tộc Tày), “Gầu Nà” (dân tộc H’mông), “Tấm Cám” (dân tộc Việt),
“Nàng Nảo và Sì Năng” (dân tộc H’mông) ghen tức về tài sản, của cải gồm
4 truyện (chiếm 16%) như: “Tua Pèng Tua Sẻn” (dân tộc Nùng), “Nàng Màng Ji” (dân tộc H’mông), “Noọng và Eng” (dân tộc Tày), “Mẹ kế con
chồng” (dân tộc Tày Nùng)
Trong mỗi truyện, xung đột giữa dì ghẻ và con chồng có những biểu hiện khác nhau, mỗi khía cạnh khác nhau: nhan sắc, địa vị hay tài sản những cũng có thể là ở cả ba khía cạnh: nhan sắc, địa vị, tài sản Chính vì mâu thuẫn giữa quyền lợi và địa vị đã khiến cho dì ghẻ thẳng tay hạnh hạ áp bức con riêng nhằm thỏa mãn mục đích của mình Khảo sát kiểu truyện người con riêng, chúng tôi đã tìm thấy những biểu hiện rõ nét cho xung đột giữa dì ghẻ
và con chồng
2.1.1 Người con riêng bị hành hạ ngược đãi
Người con riêng hiền lành, chăm chỉ làm lụng, tốt bụng song luôn chịu thiệt thòi và bất hạnh Sự bất hạnh đó được thể hiện trong cách đối xử phân biệt của người dì ghẻ với con riêng Nếu như dì ghẻ và con của dì ghẻ
dư thừa, no đủ về vật chất, được ăn ngon mặc đẹp, được nhàn hạ rảnh rỗi tìm cách hãm hại mồ côi thì người con riêng lại trái ngược hoàn toàn, phải làm
việc quần quật suốt ngày, “ăn uống lại toàn cơm thừa canh cặn, mà cũng
không được ăn no ”, phải “ăn rau đắng sau vườn”, “ngủ dưới gầm nhà sàn, chỗ trâu bò ở” (Truyện Tuagia Tuanhi) "Vùi không những không được chiều chuộng mà còn phải làm lụng rất khổ cực Bao nhiêu công việc trong nhà, từ bếp núc củi lửa đến chăm nom lợn, gà, cũng như những công việc đồng áng như trồng ngô, chăn bò, kiếm củi, lấy nước, đều trút lên đôi vai bé Vùi mồ côi mẹ” (Hai chị em Vùi và Lu) Những cô Tuagia, Cô Vùi, cô Mùi Mụi là
Trang 29những hình ảnh tiêu biểu của đứa trẻ mồ côi bị dì ghẻ độc ác bức hại Những truyện cổ tích về kiểu truyện người con riêng đã nhấn mạnh vào một vấn đề quan trọng và chưa hề được giải quyết của gia đình ngày xưa Trong xã hội
cũ, trong gia đình cũ, đứa trẻ mồi côi, con riêng là một trong những kẻ đau khổ nhất Có lẽ người xưa cảm thấy rằng nếu số mệnh của con người chìm nổi khó lường thì số mệnh của đứa con riêng cũng đầy sóng gió, lại càng mờ mịt Tác phẩm văn học của nhân dân muốn đặt ra số mệnh đứa con riêng và giải quyết nó theo quan điểm của nhân dân Vì vậy, đề tài dì ghẻ - con chồng là
đề tài chính và motif người con riêng bị hành hạ bạc đãi là một môtíp đặc trưng
Dì ghẻ là người có quyền lực trong gia đình, hơn nữa lại tham lam, độc
ác và xảo quyệt, đứng trước người con riêng xinh đẹp, hiền dịu hơn con mình được nhiều người yêu qúy thì mụ dì ghẻ căm phẫn và quyết tâm làm hại bằng
được để hả dạ, để thực hiện được mưu đồ của mình “Thấy Tuagia đẹp hơn
con mình, mụ ghét cay ghét đắng và bắt Tuagia làm việc suốt ngày Ngoài ra,
mụ còn tìm mọi cớ để hành hạ Tuagia cho hả dạ”
“Tuagia đẹp đẽ hiền hậu nên nhiều người đến hỏi nàng làm vợ Nhưng
mụ dì ghẻ không nhận lời một ai, vì mụ không muốn Tuagia lấy chồng trước Tuanhi” (truyện Tuagia Tuanhi); “Còn Gơ Liu thì vừa đẹp người lại vừa đẹp nết làng trên bản dưới ai cũng yêu mến” (truyện Gơ Liu Gơ Lát) Hành hạ
về thể xác, bắt làm lụng vất vả, cực nhọc để cho xấu đi hoặc ốm yếu mà chết non đó là mưu đồ của mụ dì ghẻ Qua 25 truyện khảo sát, có 18/25 truyện người con riêng bị hành hạ bạc đãi về mặt thể chất (chiếm 72%), chiếm số lượng lớn Điều này thể hiện được nỗi nhọc nhằn, cay cực của người con riêng, đồng thời thấy được bản tính xấu xa, tàn ác của dì ghẻ
Bên cạnh đó, có một số truyện dì ghẻ tuy chưa trực tiếp hành hạ, dày vò
về thể xác song thể hiện thái độ ghen ghét ngấm ngầm và dã tâm đẩy người con riêng vào rừng sâu hoặc khiến con riêng phải tự bỏ nhà ra đi, sau đó bằng những hành động tàn bạo chiếm đoạt cuộc sống của họ, cuộc sống vốn có mà
họ được hưởng Không dừng lại nỗi khổ bị đày đoạ về thể chất, bị biến thành
kẻ hầu người hạ cung phụng cho mẹ con dì ghẻ, mà người con riêng còn bị hành hạ, bị rơi vào hố sâu của nỗi đau đớn về tinh thần Những đứa trẻ với tâm hồn ngây thơ, mỏng manh, yếu đuối sớm phải lìa xa người mẹ, mất đi chỗ
Trang 30dựa về tinh thần, mất đi vòng tay ấm áp chở che, yêu thương của mẹ, tưởng rằng sẽ có được hạnh phúc mới, sự bao bọc mới bên người bố và mẹ kế Song không phải vậy, người bố hoặc thương con hoặc nhu nhược nghe vợ lẽ hoặc độc ác, ruồng rẫy, hành hạ thậm chí còn tiếp tay cho dì ghẻ giết chết đứa con của mình Vì thế người con riêng côi cút ngay chính giữa mái ấm gia đình của mình, sống mà như không được sống như một con người
Người con riêng lớn lên xinh đẹp, đảm đang, tháo vát được nhiều người yêu mến, những tưởng hạnh phúc từ đây sẽ được xây đắp, hi vọng song vì lòng ganh tị, ghen tức dì ghẻ cũng không để yên, không cho người con riêng hưởng hạnh phúc chính đáng Đó là số phận của Vùi trong truyện “Hai chị em
Vùi và Lu”: “Thấy Vùi càng ngày càng xinh đẹp, bà dì ghẻ lại ghen với sắc
đẹp của Vùi Bà sợ rằng Vùi đẹp hơn con bà , nếu ai đến hỏi vợ có khi chỉ lấy Vùi chứ chắc gì đã lấy con bà Cứ để nó như vậy con bà sẽ khó mà lấy được chồng ” Là cô Inh trong “Inh và Ính” (dân tộc Pu péo), mặc dù ăn mặc bình
dị song hiện lên với gương mặt cân đối, đôi mắt dịu dàng đã thu hút sự chú ý
của người nhà Trời và được họ chọn làm vợ, điều đó khiến “nhìn sắc đẹp của
Inh mụ dì ghẻ càng lồng lộn ghen tuông” Chính vì thua kém về sắc đẹp, tài
năng và phẩm chất đạo đức so với người con riêng mà mẹ con dì ghẻ dã tâm tước đoạt đi hạnh phúc chính đáng của người con riêng, hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình Người con riêng nhỏ bé, yếu thế chấp nhận an phận trong cuộc sống gia đình, bất lực trước sự áp bức của mụ dì ghẻ và luôn giải toả nỗi đau đớn bằng nước mắt Với trí tưởng tượng phong phú, sự sáng tạo độc đáo, tác giả dân gian đã không để người con riêng cô đơn, lạc lõng bằng cách tạo
ra những người bạn tinh thần như: con cá bống (Truyện Tấm Cám), Hùm
Tinh trong truyện “Ò Ché và Hùm Tinh” (dân tộc Nùng); con gà trong truyện
“Sao Gia Sao Nhi” (dân tộc Tày), “Tuagia Tuanhi” (dân tộc Tày); con bò
trong truyện Gầu Nà (con bò là sự hoá thân của người mẹ), con chó trong
truyện “Nàng Biooc Rồm” (dân tộc Tày) Những con vật này như người bạn tâm tình, giúp người con riêng vượt qua nỗi đau về tinh thần Thế nhưng với tâm địa độc ác, mẹ con dì ghẻ lại tiếp tục chiếm nốt hạnh phúc giản đơn nhỏ
bé của con riêng Trước sự áp bức của mẹ con dì ghẻ, tác giả dân gian thể hiện sự xót xa, đau đớn về tinh thần của người con riêng Dường như, dân gian đang rơi vào sự bế tắc, không lối thoát nào khác bằng sự chịu đựng
Trang 31Những điều tưởng chừng, dường như ấy lại không phải vậy, ẩn sau vẻ chịu đựng, sự im lặng trong tâm hồn người con riêng còn sáng lên niềm tin hi vọng, khát khao về cuộc sống tốt đẹp, một cuộc sống của tình yêu và hạnh phúc Mùa xuân ở nước ta, nhất là tháng giêng, là mùa hội hè linh đình Hội mùa xuân trai gái gặp gỡ vui chơi tự do, lễ giáo của chế độ phong kiến dẫu khắc nghiệt cũng không thể đi ngược lại phong tục tập quán của nhân dân Là một con người, nhất là một người bị đày đoạ, hành hạ, bạc đãi, sống trong sự thiếu thốn tình thương, người con riêng cũng cảm nhận được cái rộn rã, náo nức vui say của ngày hội, cũng khao khát được hoà mình trong niềm vui, hạnh phúc ngày hội Tác giả dân gian đã diễn tả cái náo nức của cảnh vật
cũng như háo hức của lòng người: “Năm cũ qua đi, xuân mới đã về Hội xuân
náo nức lòng người xóm bản Ai cũng mặc quần áo đẹp nhất đi dự hội Năm nào ngày hội cũng như vườn hoa tươi thắm vì trang phục lộng lẫy của các thiếu nữ Năm ấy, hội còn vui hơn vì có tin trời sẽ xuống chơi hội với người mặt đất ”(Truyện Inh và Ính) Ngày hội không chỉ mang đến tinh thần nhẹ
nhõm, thoải mái mà còn là nơi se lên những nhịp cầu giao duyên, nhịp cầu hạnh phúc Người con riêng cũng giống bao người khác mong muốn có được hạnh phúc thực sự, hạnh phúc chân chính trong cuộc đời mình Song dì ghẻ lại tiếp tục tước đi khát khao, hi vọng ấy Bằng hành động gian xảo mụ đã tạo
ra lí do để bắt người con riêng phải ở nhà Ở truyện “Tuagia Tuanhi” (dân tộc
Tày): “Mụ liền đem trộn liền hai thúng vừng và gạo với nhau, bắt Tuagia
chọn hai thứ đó riêng ra, xong rồi mới được đi dự hội” Với truyện “Gầu Nà”
(dân tộc H’mông) “Mụ để ở nhà cho Gầu Nà một thùng đậu lẫn với gạo, bắt
Nà phải nhặt hết mới được đi” “Riêng Mùi Mụi phải ở nhà nhặt hạt kê đen trộn lẫn với đậu, với tro mà mụ mẹ kế đã đổ nháo nhào với nhau ”(Truyện
Mùi Mụi Mùi Nái) Đối với nàng Sao Gia, để bắt con riêng ở nhà mụ dì ghẻ
lần thứ nhất bắt “lên núi cắt một gánh cỏ non về nhà cho trâu ăn rồi mới đi
hội”, lần thứ hai “Mụ trộn gạo với vừng rồi bảo Sao gia nhặt riêng gạo, riêng vừng xong mới được đi” (Truyện Saogia Saonhỉ) Truyện “Tấm Cám”(dân tộc
Việt): “Đến ngày hội, mẹ Cám lấy một đấu thóc trộn lẫn vào thúng gạo bắt
Tấm nhặt xong rồi mới được đi”
Qua khảo sát “kiểu truyện người con riêng” qua người con riêng bị
hành hạ ngược đãi đã cho thấy sự độc ác, xấu xa của mụ dì ghẻ Không chỉ