1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáo trúc và sự hiện diện của nó trong văn học (khảo sát qua một số tác giả ở chương trình phổ thông)

67 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời kỳ này đã phát triển văn học chữ Hán với nhiều thể loại như: chiếu, biểu, hịch, cáo, phú, truyện truyền kỳ,thơ đường luật,…và văn học bằng chữ Nôm chủ yếu là thơ, ít văn xuôi,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

LÊ NGỌC HIỀN

SÁO TRÚC VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA NÓ TRONG VĂN HỌC ( KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ Ở CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN PHỔ THÔNG)

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Cử nhân Việt Nam học

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

LÊ NGỌC HIỀN

SÁO TRÚC VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA NÓ TRONG VĂN HỌC ( KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ Ở CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN PHỔ THÔNG)

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Cử nhân Việt Nam học

Người hướng dẫn:

TS Nguyễn Thị Tính

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ 6

4 Đối tượng và phạm vi 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Những đóng góp chính của đề tài 7

7 Bố cục của khoá luận 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY SÁO TRÚC VIỆT NAM 8

1.1 Nguồn gốc và vị trí của cây sáo trong âm nhạc truyền thống 8

1.2 Giới thiệu sáo ở Việt Nam 12

1.2.1 Hình thức và cấu tạo của sáo trúc 13

1.2.2 Một số loại sáo thường dùng 14

1.2.3 Các nốt trên sáo trúc và âm vực 16

1.2.4 Sự ra đời của cây sáo trúc mười lỗ cải tiến 16

1.3 Các loại sáo ở Việt Nam 18

1.3.1 Sáo H’Mông – sáo Mèo 18

1.3.2 Sáo Bầu 19

1.4 Vai trò của sáo trúc trong âm nhạc dân tộc Việt Nam 20

Tiểu kết chương 1 22

CHƯƠNG 2 HÌNH ẢNH SÁO TRÚC TRONG TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ CÓ TÊN TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG 24

2.1 Các tác giả văn học thời trung đại 24

2.1.1 Thống kê hình ảnh sáo trúc trong tác phẩm của các tác giả 24

2.1.2 Giá trị và ý nghĩa hình ảnh sáo trúc trong tác phẩm 25

Trang 4

2.2 Các tác giả văn học thời hiện đại 29

2.2.1 Thống kê hình ảnh sáo trúc trong các tác phẩm 29

2.2.2 Giá trị và ý nghĩa của hình ảnh sáo trúc trong các tác phẩm 32

KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn các bậc Giáo sư – Tiến sĩ – Thạc sĩ, các nhà nghiên cứu, các nhà phê bình lý luận đã để lại những công trình có giá trị đối với tôi

Cảm ơn cô giáo đã hết lòng dạy dỗ, dìu dắt vạch ra đường lối cho tôi là Tiến sĩ Nguyễn Thị Tính

Cảm ơn gia đình và những người bạn đã đã ở bên động viên và giúp đỡ tôi

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Lê Ngọc Hiền

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Tính Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những phân tích, nhận xét, đánh giá được tôi thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong khoá luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khoá luận của mình

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Lê Ngọc Hiền

Trang 7

là sáo trúc Ở thời kỳ đổi mới, trong hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII cũng chỉ rõ nhiệm vụ của chúng ta là “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Bất cứ nền văn hoá âm nhạc nào trên thế giới cũng đều bắt nguồn từ âm nhạc dân gian và âm nhạc Việt Nam cũng không ngoài quy luật đó Sự hình thành và phát triển sáo trúc ở Việt Nam là một chặng đường gian nan vất vả bởi nó gắn liền với diễn trình của lịch sử dân tộc Nhạc khí truyền thống Việt Nam được xây dựng trên cơ sở âm nhạc truyền thống lâu đời của các dân tộc kết hợp với sự du nhập của âm nhạc Thế giới Sự xuất hiện sáo trúc ở Việt Nam đã mang đậm bản sắc dân tộc, nó thể hiện mối quan hệ giữa quốc gia và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại

Sáo trúc Việt Nam là một loại nhạc cụ truyền thống có từ rất lâu đời Sáo xuất hiện thường xuyên trong đời sống thường nhật và đi sâu vào cả sinh hoạt văn hoá cung đình Từ xa xưa, loại nhạc cụ này đã có mặt trong các dàn nhạc cung đình dưới những triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn nhằm phục vụ cho việc cầu cúng, tế lễ cũng như các buổi thiết triều của nhà vua và những nhu cầu giải trí khác trong triều đình Có thể khẳng định rằng trong thời kỳ này sáo trúc là loại nhạc cụ không thể thiếu trong kho tàng âm nhạc Việt Nam Mặc dù trong những thập kỷ gần đây, khi âm nhạc thế giới có nhiều biến động, kèm theo đó là sự ra đời của những nhạc cụ mới thì cây sáo truyền

Trang 8

2

thống của dân tộc Việt Nam vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống

âm nhạc của công chúng nước ta Tại Việt Nam, trong nền âm nhạc cách mạng, sáo trúc vẫn liên tục phát triển để bắt kịp với hơi thở của thời đại mới

Trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng là một thành

tố của văn hoá Như chúng ta biết, nghệ thuật được ra đời từ cuộc sống lao động, từ sinh hoạt thường ngày của con người Đối với văn học, xét về nguồn gốc thì văn học đã xuất hiện từ nhiều thế kỉ trước từ buổi đầu sơ khai của lịch

sử xã hội loài người, nó được diễn tả bằng giọng nói và chữ viết Văn học viết Việt Nam được chia thành hai giai đoạn tuỳ thuộc và thời gian ra đời và đặc điểm sáng tác đó là: văn học trung đại và văn học hiện đại Văn học trung đại hình thành từ thế kỷ X đến thế kỉ XIX và phát triển trong hoàn cảnh văn hoá, văn học vùng Đông Nam Á, Đông Á, có quan hệ giao lưu với nhiều nền văn hoá khu vực, đặc biệt là văn học Trung Quốc Trong thời kỳ này đã phát triển văn học chữ Hán với nhiều thể loại như: chiếu, biểu, hịch, cáo, phú, truyện truyền kỳ,thơ đường luật,…và văn học bằng chữ Nôm chủ yếu là thơ, ít văn xuôi, một số thể loại tiếp thu từ Trung Quốc các thể loại như phú, văn tế, thơ Đường luật, còn phần lớn là các thể loại văn học dân tộc như ngâm khúc (viết theo thể song thất lục bát), truyện thơ (lục bát), hát nói (viết theo thể thơ tự do kết hợp với âm nhạc), hoặc thể loại văn học Trung Quốc đã được Việt hóa như thơ Đường luật thất ngôn xen lục ngôn” Lúc này xuất hiện rất nhiều bậc

kì tài trong văn học văn Việt Nam như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm,… trong đó phải nhắc đến một vị vua anh minh của dân tộc Việt là Trần Nhân Tông và đại thi hào Nguyễn Du là hai tác giả

sử dụng thành công các thủ pháp nghệ thuật trong thơ ca và đặc biệt là họ để lại những thành tựu nghệ thuật to lớn trong việc đưa hình ảnh cây sáo trúc vào trong các tác phẩm văn học, để lại ấn tượng trong lòng người đọc Tiếp thu thành tựu của những bậc cao nhân đi trước, văn học Việt Nam thời kì hiện đại cũng đã tạo nên một phong trào sử dụng hình ảnh cây sáo, tiếng sáo làm cảm

Trang 9

“Là một người được học tập và giáo dục trong môi trường sư phạm, được làm việc và tiếp xúc với lĩnh vực văn hoá nên tôi rất tò mò và đam mê tìm hiểu về các nhạc cụ truyền thống và trong đó có sáo trúc Việt Nam – một trong những loại hình nghệ thuật được lưu giữ, bảo tồn và phát huy trong hầu hết các loại hình nghệ thuật hiện nay.”

Chính những yếu tố trên là lý do để tôi chọn và nghiên cứu đề tài này

- Lê Huy – Huy Trân (1984), “Nhạc khí dân tộc Việt Nam”, Nhà xuất

bản Văn hoá Hà nội

- Trần Văn Khê (1962) “Luận văn âm nhạc truyền thống Việt

Nam-France-Paris”

- Lê Văn Phổ - Luận văn Thạc sỹ (2000) “ Một số vấn đề về nâng cao

chất lượng đào tạo sáo Trúc tại Nhạc Viện Hà Nội”

Trang 10

4

- Đức Tuỳ (1973), “Sách tự học sáo”, Nhà xuất bản Văn hoá

- Nguyễn Hồng Thái, “Sáo trúc 6 lỗ căn bản và nâng cao”, Nhà xuất

bản Âm nhạc

- Nguyễn Hồng Thái, “Sáo trúc 10 lỗ căn cản và nâng cao”, Nhà xuất

bản Âm Nhạc

- A Buys – ne (A Buchner) (1992) “Bách khoa toàn thư các nhạc cụ”,

Nhà xuất bản Grand Paris, Bản dịch của Tô Vũ

- V.Staudo (W stauder): “Các nhạc khí” Nhà xuất bản Payo

Theo tư liệu cung đình Việt Nam của Giáo sư Ngọc Thanh cho biết:

“ Các nhà nghiên cứu âm nhạc đều cho rằng âm nhạc cung đình của Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam đều có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình Trung Hoa Tuy nhiên, khi du nhập vào mỗi nước thì con đường tiếp thu và tiến hoá của Nhã nhạc cung đình Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc lại có những nét đặc thù riêng.”[13-tr.8]

Theo chỉ dẫn của Giáo sư Trần Văn Khê, “vào đời nhà Lý (thế kỷ XI), trên mấy tảng đá dưới chân chùa Phật Tích tỉnh Bắc Ninh, có chạm 10 nhạc công đang dùng nhiều nhạc khí gốc Trung Quốc và Ấn Độ như đàn Tranh, đàn Hồ, đàn Tỳ, đàn ba dây có thùng trong như đàn Nguyệt, sáo Ngang, ống Tiêu, Phách và trống Phong yêu cổ Dàn nhạc này là dàn nhạc cung đình thời nhà Lý (1010 – 1225) được sinh ra nhằm mục đích phục vụ cho việc tế lễ Phật giáo.” [6-tr.9]

Theo luận văn Thạc sỹ nghệ thuật học Tác giả Lê Phổ cho biết: “Cuốn

tự điển bách khoa về nhạc cụ (The new Grove Dictionary of Musical Íntruments) của tác giả James Galway trong cuốn “Flute” (Yehudi Menuhin Music Guides – tài liệu tiếng Anh) giới thiệu các loại sáo của hầu khắp các lục

địa như”: thời nhà Hán có sáo Di – ti 6 lỗ và có màng rung, thời nhà Đường xuất hiện sáo 7 lỗ và không có màng rung Tại Nhật Bản có sáo dọc cổ Hichiriki 9 lỗ bấm, sáo ngang 7 lỗ bấm và một loại sáo độc đáo nữa tên Nô

Trang 11

5

Ngoài ra các nước Hàn Quốc, Triều Tiên,… cũng có những loại sáo riêng của mình

Thạc sĩ Trịnh Hoài Thu “Ảnh hưởng của âm nhạc dân gian trong tác

phẩm khí nhạc mới Việt Nam thế kỉ XX”: đã nghiên cứu về quá trình hình

thành và phát triển của khí nhạc mới Việt Nam thế kỷ XX trong bối cảnh diễn trình lịch sử văn hoá quốc gia Việt Nam, nghiên cứu về vai trò của chất liệu

âm nhạc dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới thế kỷ XX, đó là âm nhạc thính phòng – giao hưởng trong giai đoạn 1954 – 2000

Triệu Tiến Vượng “Phong cách âm nhạc truyền thống trong giảng dạy

sáo Trúc tại nhạc viện Hà Nội” khẳng định: “Qua những bằng chứng cụ thể

của các tài liệu âm nhạc cũng như khẳng định của các tác giả nêu trên chúng tôi đi đến một kết luận: Cây sáo Trúc hiện nay chúng ta đang dùng có nguồn gốc từ Trung Hoa” Công trình đề cập về mối quan hệ của sáo trúc Việt Nam với sáo của khu vực Đông Nam Á Luận án nghiên cứu về phong cách

âm nhạc truyền thống trong giảng dạy sáo trúc tại Nhạc viện Hà Nội

[17-tr.13]

Thạc sĩ Sầm Thị Ngọc Ánh “Sách học sáo trúc”: “ Sáo là một loại

nhạc cụ rất phổ biến trên thế giới, tất cả các vùng văn hoá, các dân tộc trên thế giới đều có sáo và là nhạc khí cổ nhất thế giới Sáo bằng xương (còi bằng xương) được phát hiện tại Chiết Giang, Trung Quốc có 7000 năm lịch sử và hình dáng thì tương tự sáo xương Peru thời đồ đá, vì vậy rất khó để khẳng định Sáo có nguồn gốc từ đâu” Bên cạnh đó, sách còn giới thiệu một số kiến thức âm nhạc mà người thổi sáo cần biết như: các bậc cơ bản trong âm nhạc,

ký hiệu trường độ hay dung, dấu hoá, dấu chấm dôi, dấu miễn nhịp và các loại nhạo thường dùng [1-tr.4]

Phạm Lê Hoà với luận văn tốt ngiệp đại học 5 năm “Một số tìm hiểu

bước đầu về sáng tác khí nhạc của nhạc sĩ Đàm Linh” Đây là một đề tài

nghiên cứu kỹ về chân dung tác phẩm, tác giả, cụ thể là cuộc đời và sự nghiệp

Trang 12

6

của nhạc sĩ Linh Đàm Trong luận văn có đề cập đến những yếu tố biều hiện của nghệ thuật âm nhạc dân gian qua một số tác phẩm của nhạc sĩ Đàm Linh Tuy nhiên, đó chỉ là một vấn đề nghiên cứu trong phân tích tổng hợp cuộc đời

và tác phẩm của nhạc sĩ Đàm Linh [2-tr.10]

Qua nghiên cứu tôi thấy: Hầu như trong các công trình của những tác giả đều có nghiên cứu, liệt kê, phân tích khá đầy đủ về sáo trúc Nhưng dường như chưa có công trình nào nghiên cứu đến hình ảnh sáo trúc và sự hiện diện của nó trong văn học của một số tác giả thời kỳ trung đại và hiện đại Do vậy, trong công trình này, với sự tích luỹ và tìm hiểu nhất định của mình, tôi xin trình bày khái quát về sự phát triển của cây sáo cũng sự hiện diện của nó trong văn chương

3 Mục đích và nhiệm vụ

- Mục đích nghiên cứu:

Hiểu về sáo trúc trong đời sống và trong văn hoá nghệ thuật, từ đó góp phần chỉ rõ cái hay, cái độc đáo và vai trò của cây sáo trong đời sống xã hội nói chung và trong văn chương nói riêng

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Tìm hiểu nguồn gốc, cấu tạo của sáo trúc

+ Ảnh hưởng của sáo trúc trong một số tác phẩm văn học của một số tác giả có tên trong chương trình phổ thông

4 Đối tượng và phạm vi

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tìm hiều sáo ngang cổ truyền, sáo trúc 6 lỗ và sáo trúc 10 lỗ

- Tập trung phân tích hình ảnh sáo trúc trong các tác phẩm của những tác giả thời trung đại và hiện đại

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Sáo ngang cổ truyền, sáo trúc 6 lỗ và sáo trúc 10 lỗ ở trong nước

Trang 13

7

- Tác phẩm của một số tác giả có tên trong chương trình phổ thông: Trần Nhân Tông, Nguyễn Du, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Tô Hoài

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Với công trình này, tôi không có tham vọng đi sâu vào phân tích tất cả

và bài bản về sáo trúc, mà chỉ phân tích một số cây sáo tiêu biểu và trình bày những tác phẩm khi sử dụng cây sáo làm chất liệu trong thơ ca đã mang lại giá trị đặc biệt

7 Bố cục của khoá luận

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: Khái quát về cây sáo trúc tại Việt Nam

CHƯƠNG 2: Hình ảnh cây sáo trúc trong tác phẩm của một số tác giả có tên trong chương trình phổ thông

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 14

8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

CỦA CÂY SÁO TRÚC VIỆT NAM

1.1 Nguồn gốc và vị trí của cây sáo trong âm nhạc truyền thống

Đã có rất nhiều tác giả tìm hiểu, trả lời câu hỏi: Sáo trúc có từ bao giờ?

Ở đâu? Có thể kể đến:

- Đức Tuỳ (1973), “Sách tự học sáo tập 1”, Nhà xuất bản Văn hoá

- Nguyễn Thuỵ Loan (1993) “ Lược sử âm nhạc Việt Nam”, Nhà xuất

bản Âm nhạc,Viện âm nhạc Hà Nội

- Tô Ngọc Thanh (1999) “Âm nhạc cung đình Việt Nam”,Nhà xuất bản

Âm nhạc, Viện âm nhạc Hà Nội

- Hồng Thái (2000) “Sáo trúc 6 lỗ căn bản và nâng cao”, Nhà xuất bản

Âm nhạc

- Lê Văn Phổ (2000) - Luận văn Thạc sỹ “ Một số vấn đề về nâng cao

chất lượng đào tạo sáo Trúc tại Nhạc Viện Hà Nội”

- Triệu Tiến Vượng (2007), “Phong cách âm nhạc truyền thống trong

giảng dạy sáo trúc tại nhạc viện Hà Nội”

- Phan Huy Chú, “Lịch triều hiến chương loại chí ”

có sáo Sáo bằng xương được phát hiện tại Trung Quốc có hàng ngàn năm lịch sử và hình dáng thì tương tự sáo xương Peru thời đồ đá, vì vậy rất khó để khẳng định sáo có nguồn gốc từ đâu (Hình 1.1; hình 1.2)

Trang 15

9

Theo luận văn, tác giả Lê Phổ cho biết: Cuốn tự điển bách khoa về nhạc cụ của tác giả James Galway trong cuốn “Flute” giới thiệu các loại sáo của hầu khắp các lục địa như:

“ Di – Ti là một loại sáo thời nhà Hán, có 6 lỗ bấm và không có màng rung Đời nhà Đường xuất hiện sáo có 7 lỗ bấm ở phía trên cũng không có màng rung, được sử dụng trong cung đình Các triều đại sau nhà Đường, âm nhạc Trung Hoa có sự biến đổi Sáo ngang đang từ 6 lỗ được khoét thêm 1 lỗ nữa vào khoảng cách giữa lỗ thổi và lỗ thứ 6 Lỗ này được dán bởi 1 màng mỏng gọi là “mạng”, nó được sử dụng trong dàn nhạc và cho kịch hát” [8-tr.15] (Hình 1.3)

Tại Nhật Bản:

- “Có 2 loại sáo, một loại sáo dọc cổ Hichiriki Sáo có 9 lỗ bấm và một sáo ngang có 7 lỗ bấm được trình tấu trong dàn nhạc cung đình có tên gọi gagacu, một loại nhạc lịch sự Một loại sáo rất độc đáo nữa là sáo “Nô”, loại nhạc cụ này chỉ dung trong kịch Nô (theo tư liệu âm nhạc Nhật Bản)”.[8-tr15]

- Theo tư liệu cung đình Việt Nam của GS – TS Ngọc Thanh cho biết:

“ Các nhà nghiên cứu âm nhạc đều cho rằng âm nhạc cung đình của Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam đều có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình Trung Hoa Tuy nhiên, khi du nhập vào mỗi nước thì con đường tiếp thu và tiến hoá của Nhã nhạc cung đình Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc lại có những nét đặc thù riêng” [13-tr.8]

Tại Trung Hoa:

- “Khoảng 1154-1176 trước công nguyên đã có những nhạc cụ: Khánh

đá, chuông đồng, các loại sáo bằng xương động vật” (Hình 1.4)

- Theo tư liệu đời Tống có: “chuông đồng, các loại trống mõ, các loại đàn dây – nhạc cụ hơi có sáo dọc, sáo ngang và các nhạc cụ màng rung” (Hình 1.5)

Trang 16

10

Tại Triều Tiên:

- “Khoảng những năm (938 – 1392) trong dàn nhạc cung đình gồm: chuông đồng, khánh đá, các nhạc cụ hơi như: sáo ngang, sáo dọc, sáo Pan” (Hình 1.7)

Tại Việt Nam:

Theo chỉ dẫn của Giáo sư Trần Văn Khê, “vào đời nhà Lý ( thế kỷ XI), trên mấy tảng đá dưới chân chùa Phật Tích tỉnh Bắc Ninh, có chạm 10 nhạc công đang dùng nhiều nhạc khí gốc Trung Quốc và Ấn Độ như đàn tranh, đàn

hồ, đàn tỳ, đàn ba dây có thùng trong như đàn nguyệt, sáo ngang, ống tiêu, phách và trống phong yêu cổ Dàn nhạc này là dàn nhạc cung đình thời nhà

Lý (1010 – 1225) được sinh ra nhằm mục đích phục vụ cho việc tế lễ Phật giáo.” [6-tr.9] (Hình 1.8)

- Thời nhà Trần (1225 – 1400):

“Đã sinh ra 2 dàn nhạc là: Đại nhạc và Tiểu nhạc Dàn đại nhạc chủ yếu là những nhạc cụ: cái tất lật (kèn dăm kép), tiểu quản (kèn dăm đơn), tiểu bạt (chum choẹ), phản cổ ba (trống cơm) Dàn tiểu nhạc gồm: đàn cầm, đàn tranh, tỳ bà, thất huyền, song huyền, sáo ngang, tiêu, trống cơm, phách, tiểu bạt”

- Thời Nhà Lê (1427 – 1488)

Theo luận án của Triệu Tiến Vượng thì: “Lương Đăng xây dựng lên 2 dàn nhạc mang tên: Đường thượng chi nhạc và Đường hạ chi nhạc Thời kỳ này âm nhạc cung đình đã có nhiều loại nhạc như: Nhạc tế giao, nhạc tế miếu, nhạc đại yến, nhạc trong cung Dàn nhạc Đường thượng chi nhạc gồm: trống treo lớn, khánh chum, chuông chum, đàn cầm, đàn sắt, sinh (khèn), dung (chuông lớn), quản ( sáo đôi), thược (sáo nhỏ), chức, ngữ (nhạc cụ làm bằng gỗ), huân, trì ( sáo nguyên thuỷ) Dàn nhạc Đường hạ chi nhạc gồm: tỳ bà, trống, sáo, không hầu, quản Trong dàn nhã nhạc triều Lê gồm các nhạc cụ: kèn, sáo ngang, trống bản nhỏ, đàn nhị huyền” [17-tr.15] (Hình 1.10)

Trang 17

11

- Thời nhà Nguyễn (1802 – 1945)

Căn cứ vào công trình của Giáo sư Trần Văn Khê thì biên chế âm nhạc cung đình triều Nguyễn bao gồm: “Dàn nhã nhạc: tỳ bà, đàn nguyệt, đàn nhị, trống mảnh, sáo, xênh tiền Dàn nhạc Huyền: 20 trống, 1 chuông, 1 khánh đá, 12 chuông nhỏ, 12 khánh đá nhỏ, 1 nhạc cụ bằng da, 1 cái chức, 1 cái trống, 2 đàn cầm, 2 đàn sắt, 2 tiêu, 1 sáo dọc, 2 tù và ốc biển, 2 khèn, 2 huân, 2 sáo ngang, 2 phách Tế nhạc: trống bộc, trống cơm, đại cổ, phách, sinh tiền, tranh huyền, nguyệt cầm, tỳ bà, tam huyền, nhị huyền, sáo ngang Dàn nhạc lễ ngoài Bắc (phường bát âm): trống bộc, thiếu cảnh, sáo ngang, đàn tỳ bà, đàn tam, đàn nguyệt, đàn tranh, đàn nhị Dàn nhạc lễ miền Nam: sáo ngang, trống cơm, đàn cò gáo tre, đàn cò chi Dàn nhã nhạc: trống mảnh,

tỳ bà, đàn nguyệt, sáo, xênh tiền, đàn nhị, tam âm la” [ 6-tr.21]

Nói tóm lại, khi nghiên cứu về nguồn gốc của cây sáo tôi thấy:

Trong luận văn Thạc sỹ nghệ thuật học, tác giả Lê Văn Phổ đã khẳng định trong chương I trang 11 dòng thứ 3: “ Sáo đã có mặt ở Việt Nam từ rất lâu trước khi có bia chùa Phật Tích Điều này cũng dễ hiểu bởi lẽ người Phương Bắc đã có mặt ở nước ta từ nhiều năm trước và cũng như Triều Tiên, Nhật Bản, không loại trừ khả năng sáo đã được du nhập từ Trung Hoa” [8-tr.11]

Trong luận án của GS-TS Trần Văn Khê, chương II trang 22 ông có viết: “ Theo M Courant Nhà lý luận người Pháp cho rằng: Cây Ti rất có thể

là một nhạc cụ nhập từ nước ngoài vào” [6-tr.22]

GS-TS Trần Văn Khê đã khẳng định: “Hình ảnh cây sáo được khắc trên

bệ đá chùa Phật Tích có nguồn gốc từ Trung Hoa” [6-tr.22]

Theo ông Triệu Tiến Vượng: “Sự hiện diện của cây sáo có màng rung trong các dàn nhạc cung đình sau thời nhà Đường đã minh chứng rằng chỉ có Trung Hoa mới có sáo màng rung Loại nhạc cụ này đã lan toả đi một số nước trong khu vực, đầu tiên đến Nhật Bản, sau là Hàn Quốc và cuối cùng là tới

Trang 18

12

Việt Nam Sau khi nhạc cụ này đến mỗi nước thì sự tiến hoá của nó có những đặc thù riêng” Ví dụ như:

Sáo Việt Nam: có màng rung và 6 lỗ bấm Cây sáo có màng rung này đã

có mặt trong dàn nhạc cung đình thời nhà Lý, Trần, Lê và có tên là ống Địch

Cuối thế kỷ XIX đầu XX, trong dàn nhạc Chèo cổ, không thấy nhắc đến ống Địch nữa mà thay vào đó với một cái tên khác là sáo trúc Loại sáo này không có màng rung

Sáo Hàn Quốc: có màng rung, 6 lỗ, khác sáo Trung Hoa về thang âm Sáo Nhật Bản: có màng rung và khác sáo Trung Hoa: có thêm một lỗ trầm nữa Thang âm gần giống Trung Hoa

Như vậy, hầu hết các tài liệu đều khẳng định sáo bắt nguồn từ Trung Hoa Từ Trung Hoa, sáo đi đến các nước trong khu vực châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên,… và trong đó có Việt Nam

1.2 Giới thiệu sáo ở Việt Nam

Theo truyền thuyết từ thời xưa, “Trong vườn của anh nông dân nghèo

nọ có trồng một khóm trúc Một đêm mùa hè, anh nông dân nghe thấy những

âm thanh vi vu, réo rắt phát ra từ bụi trúc sau nhà, lúc thì cao vút, lúc lại trầm trầm dìu dặt Ngỡ có nàng tiên nào giáng trần đang hát trong vườn nhà mình, anh nông dân tò mò vạch từng khóm trúc để tìm Tiên đâu không thấy mà chỉ thấy những âm thanh kỳ diệu đó được phát ra từ một ống trúc khô đã bị mối xông một lỗ tròn Mỗi khi có gió thổi mạnh thì từ các lỗ tròn nhỏ đó phát ra

âm thanh cao vút, khi gió nhẹ thì chính từ những lỗ thủng đó lại tạo ra những

âm thanh trầm trầm, dìu dặt Thấy hay, anh nông dân bèn chặt ngay đoạn trúc

đó đem về và tập thổi hơi của mình vào đó Anh liền khoét thêm từng lỗ cho các ngón tay để mở ra, đóng vào tạo ra nhiều âm thanh khác nhau” Cây sáo

trúc ra đời từ đó (trích: “Giới thiệu cây sáo trúc” của NSƯT – Ngọc Phan; tài

liệu nội bộ, Đài tiếng nói Việt Nam 1995) [9-tr.12]

Trang 19

13

Sáo là một nhạc cụ rất quen thuộc trong âm nhạc truyền thống của dân tộc Việt Nam Khi những giai điệu sáo cất lên, ta nghe như trong đó có tình cảm, nỗi nhớ quê hương sâu sắc, có lời ru của mẹ âu yếm vỗ về đưa ta vào giấc ngủ êm đềm Âm thanh của sáo trúc luôn lắng đọng trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam Hình ảnh làng quê mộc mạc với cây đa, giếng nước, sân

đình luôn gắn bó với âm hưởng của tiếng sáo mênh mang

1.2.1 Hình thức và cấu tạo của sáo trúc

Vào thời kỳ ban đầu nhạc cụ sáo chỉ có 1 ống rỗng và một lỗ thổi, khi

có không khí đi qua tạo ra âm thanh, sau này trải qua nhiều quá trình biến đổi được cắt, gọt, tạo thêm lỗ thông không khí và trở thành nhạc cụ có thể trình tấu như ngày nay

Sáo ngang Việt Nam (sáo trúc) được làm bằng trúc, nứa, gỗ, kim loại, nhựa Trong đó vật liệu phổ thông nhất là trúc, nứa “sáo trúc” Sáo trúc có tên tiếng anh là bamboo flute Vậy dựa vào nguyên liệu thì có các loại sáo trúc, sáo nứa, gỗ,

Sáo trúc có độ dài từ 40 – 45 cm, có đường kính khoảng 1cm, một đầu được bịt kín bằng nút bấc hoặc chính mấu của nó Ngay canh đầu bịt được khoét một lỗ (gọi là lỗ định âm) Theo quy luật vật lý khi thổi một hơi vào lỗ thổi, ta được một âm thanh cơ bản trầm nhất phát ra Âm thanh cơ bản này có tính quyết định tên gọi của sáo Từ âm thanh cơ bản đục thêm sáu lỗ nữa tạo thành một hàng dọc trên cây sáo Khi bịt 5 lỗ lại, chỉ mở một lỗ thứ sáu, thổi một hơi mạnh hơn hơi ban đầu sẽ được một âm thanh cao hơn âm thanh cơ bản một quãng tám Như vậy, sáu lỗ bấm tương ứng với một thang 7 âm từ Đô1 đến Đô2 (Hình 1.11)

Loại sáo trúc 6 lỗ như tôi vừa trình bày ở trên được khoét theo hệ thống

7 âm Căn cứ vào âm trầm nhất của sáo (âm cơ bản) mà thạc sĩ Triệu Tiến Vượng đặt tên cho sáo như: Fa trầm, Son trầm, La, Sib, Đô, Rê, Mi, Fa cao, Son cao Và chia 9 sáo này thành 3 loại:

Trang 20

14

- Loại sáo trầm gồm có: fa trầm, son trầm và la

- Loại sáo trung gồm: sib, đô, rê

- Loại sáo cao gồm: mi, fa cao và son cao

Theo tìm hiểu tôi thấy mầu âm của 3 loại sáo là khác nhau

- Loại sáo trầm: mang âm hưởng ấm áp, nhẹ nhàng đượm buồn, hay dùng trong những bản nhạc buồn, gợi thương, gợi nhớ, nhất là trong những bản

nhạc cổ Cải lương, Huế như: “Trường Tương Tư”, “Tứ Đại Oán”,… hoặc

trong ngâm thơ

- Loại sáo trung: có chất trữ tình, bay bổng, du dương Sáo trung được dùng nhiều trong độc tấu, hoà tấu, trong những bản nhạc mang tính chất trữ tình, những bản nhạc cổ Chèo, Huế, Cải lương (Hơi Bắc)

- Loại sáo cao: vui tươi, nhí nhảnh, vang xa Loại này chỉ dùng trong độc tấu, hoà tấu và trong những đoạn nhạc hào hứng, rộn ràng tươi vui

1.2.2 Một số loại sáo thường dùng

1.2.2.1 Sáo đô

Loại sáo này hay được sử dụng nhiều nhất trong các loại sáo Nốt trầm nhất của sáo đô là nốt đô (nốt có một dòng kẻ phụ ở phía dưới khuông nhạc mang khoá sol)

Số đo tương đối của sáo đô

Độ dày của thân ống khoảng 0.2cm

Trang 21

15

Đường kính ống sáo trên đầu trên 1.25cm, đầu dưới 1.2cm

Các lỗ thổi trên thân sáo ( trừ lỗ thổi) đều có kích thước 0.8cm

(Hình 1.12)

1.2.2.2 Sáo rê

Là loại sáo có nốt thấp nhất là nốt rê Nếu mở ngón lần lượt từ dưới đi lên thì các nốt ở sáo rê đều cao hơn các nốt sáo đô 1 bậc (1 cung) Loại sáo này hay được sử dụng trong nhạc Chèo

Toàn bộ âm thanh của sáo rê đều cao hơn sáo đô nên kích thước chiều dài, độ dày và đường kính đều bé hơn cỡ ống sáo đô

Chiều dài của sáo rê khoảng 35cm

1.2.2.4 Sáo pha

Sáo Pha ít khi được sử dụng, có thể dùng trong hoà tấu dàn nhạc khi cần thiết Âm thanh của sáo Pha cao hơn sáo Đô, Rê, Mi

1.2.2.5 Sáo son nhỏ

Loại sáo này có kích thước nhỏ với âm thanh cao vút Có một số tác

phẩm sáo trúc được các nhạc sĩ viết riêng cho sáo này như: “Cánh chim

tự do” (Tiến Vượng)… Ngoài ra, sáo này còn được nhạc công sử dụng

hoà tấu trong dàn nhạc dân tộc

Số đo tương đối của sáo son

Trang 22

16

Độ dày của than ống nứa khoảng 0.2cm

Đường kính ống sáo đầu trên khoảng 1.15cm, đầu dưới khoảng 1.0cm Các lỗ thổi trên thân sáo ( trừ lỗ thổi) đều có kích thước khoảng 0.8cm

1.2.3 Các nốt trên sáo trúc và âm vực

Ký hiệu viết tắt các nốt trong hệ thống âm nhạc:

Tên nốt Đồ Rê Mi Fa Sol La Si Si Giáng

Ký hiệu C D E F G A H B

Sơ đồ các ngón tay bấm trên sáo trúc

1 Lỗ thổi 2 Ngón trỏ trái 3 Ngón giữa trái 4 Ngón nhẫn trái 5 Ngón

tỏ phải 6 Ngón giữa phải 7 Ngón nhẫn phải 8 Lỗ định âm

(Hình 2.3) Khi bịt cả 6 lỗ và thổi lượng hơi vừa phải, ta sẽ có âm đồ Mở dần từng

lỗ từ dưới lên, ta có các âm tiếp theo: rề, mi, fa, sol, la, si Nếu thổi mạnh một lượng hơi nhất định tương ứng với các lỗ thổi từ dưới lên ta sẽ có các âm thanh cao hơn các âm cũ một quãng tám Như vậy, khi thổi sáo, mỗi lỗ sáo và một thế bấm có thể tạo ra các âm thanh ở các quãng tám khác nhau

1.2.4 Sự ra đời của cây sáo trúc mười lỗ cải tiến

Trang 23

17

Theo thạc sĩ Triệu Tiến Vượng “Năm 1961, nhà nước có chủ trương thành lập dàn nhạc giao hưởng dân tộc gồm các nhạc cụ dân tộc kết hợp với các nhạc cụ phương Tây để hoà nhập được với âm nhạc trong khu vực Đông Nam Á và thế giới, gồm các nhạc cụ như sau: Nhạc cụ hơi có sáo đô và sáo son cao, đàn dây gõ có 36 dây, đàn gảy: tứ cao, tứ trung, tứ trầm, đàn kéo gồm: Nhị 1, Nhị 2, hồ đại, hồ trung, các nhạc cụ phương Tây như: fagott, oboe, Cỏ anglais Đây là sự kết hợp giữa nhạc cụ dân tộc và nhạc cụ phương Tây Dàn nhạc giao hưởng Dân tộc ra đời với mục đích: Luyện tập và biểu

diễn những tác phẩm của phương tây như: “Carmen” (Bizet), “Múa kiếm”

(A.Khatchaturian), “Hằng Nga ngủ trong rừng”, “Phiên chợ Ba Tư”… Các

tác phẩm trên đều là những tác phẩm của các nhạc sỹ châu Âu nổi tiếng Do vậy, trong tác phẩm có rất nhiều dấu hoá bất thường và tốc độ nhanh, mà khi

đó sáo trúc chỉ có 6 lỗ thì không thể diễn tấu được Để giải quyết những dấu hoá bất thường, những nhạc công thổi sáo đã phải dùng ngón tay của mình bấm mở các nốt thăng giáng bằng nửa lỗ sáo Từ thực tế trên, các nghệ sĩ sáo trúc của đoàn Ca nhạc trung ương như: Nguyễn Đức, Xuân Thu và một số nghệ sĩ khác là những người có công cải tiến cây sáo trúc từ 6 lỗ thành 10 lỗ đầu tiên ở Việt Nam”

Cấu tạo của cây sáo 10 lỗ gần giống sáo trúc 6 lỗ, nó có 6 lỗ âm tự nhiên và thêm 4 lỗ âm thăng giáng Đối với những người thổi sáo thì khi thổi phải chú ý đến kỹ thuật cầm sáo và cách bấm các lỗ định âm (hình )

Trang 24

18

1.3 Các loại sáo ở Việt Nam

1.3.1 Sáo H’Mông – sáo Mèo

Sáo H'Mông hay sáo Mèo tộc là nhạc cụ của người H’Mông ở miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc Nó thường được sử dụng để giải trí sau giờ phút lao động mệt nhọc Tuy nhiên nó còn là phương tiện giao duyên hữu hiệu của các chàng trai đối với con gái trong bản làng

“Sáo H’Mông có khả năng diễn tả ngôn ngữ của người H’Mông, thay

họ nói lên tình cảm trong lòng Ngày xưa sáo H’Mông chỉ là nhạc cụ độc tấu cho số lượng người nghe hạn chế Ngày nay nhiều nghệ nhân đã tăng cung bậc, âm vực và độ vang của nhạc cụ này để giúp nó có khả năng hòa tấu với những nhạc cụ khác hay độc tấu có dàn nhạc đệm”

“Sáo H’Mông cổ truyền làm bằng ống nứa dày hoặc trúc, dài khoảng

20 cm và có đường kính khoảng 0,7 cm Trên 1 đầu ống có lưỡi gà đồng, còn trên thân ống có từ 2 đến 4 lỗ bấm nằm cùng hàng Lưỡi gà đồng còn được gọi là lam, hình tam giác cân được khía ra trên 1 miếng đồng mỏng hình chữ nhật Người ta cài miếng đồng này vào 1 đầu sáo và dùng sáp ép lại cho khỏi

xê dịch Người diễn ngậm cả đầu ống có lưỡi gà vào 1 bên miệng để thổi Ở phía dưới có một lỗ bấm nằm giữa lỗ bấm đầu và lỗ bấm thứ hai phía trên”

“Loại sáo H’Mông cải tiến có thân ống to hơn, đường kính khoảng

2 cm và dài đến 45 cm Nó được khoét tổng cộng 8 lỗ bấm, người thổi chỉ cần

áp vào phần thân ống có lưỡi gà vào miệng rồi dùng đôi môi bịt quanh lưỡi gà

để thổi Khi những lỗ bấm được bịt hoặc mở chúng sẽ phát ra âm thanh cao thấp khác nhau lúc thổi”

“Sáo H’Mông dân gian có âm vực chưa đủ 1 quãng tám nhưng ở loại cải tiến có thêm 1 âm trầm nữa, thấp hơn âm trầm nhất 1 quãng tám Âm sắc của sáo H’Mông trong trẻo, mượt mà, tuy nhiên còn có cả âm rè Nếu người thổi không tạo ra được âm sắc cổ truyền của người H’Mông thì đồng bào

Trang 25

“Sáo Bầu có tên gọi khác là sáo Bầu tơ, đây là loại sáo có nguồn gốc

lâu đời từ trước trung nguyên của dân tộc thiểu số , có hình dạng giống như một quả bầu hồ lô với phần đầu dùng để thổi, phần đáy được cắm liền với 3 cây sáo 1 dài và 2 ngắn tương ứng với 1 cây thổi chính và 2 cây dùng để bè, kèm theo 3 cây đó là 3 miếng lưỡi gà giống như lam đồng trong sáo mèo vậy Thân quả bầu đóng vai trò như hộp âm của cây sáo, bên ngoài của sáo có thể được vẽ,hay khắc trang trí hoa văn hoặc không Được làm bằng nhiều loại chất liệu đa dạng khác nhau”.”

“Cây sáo khoét 7 lỗ dùng để bấm 6 lỗ phía trước dùng để bấm các nốt với thang âm giống như thang âm trong tông 1 của sáo trúc, ngoài ra còn có một lỗ phía sau dành cho tay thuận sử dụng”.“

“Về âm vực thì tương tự sáo mèo nhưng khác ở chỗ sáo mèo thổi ngang thì sáo Bầu lại thổi dọc.”

“Hai ống sáo phụ dùng để hòa âm chỉ sử dụng cho chầu văn hoặc biểu diễn chuyên sâu.”

“Phần thân sáo có hình như một quả bầu hồ lô, chính là hộp âm tạo nên

âm sắc trầm ấm kỳ lạ của loại nhạc cụ này Phần đầu thổi đa phần là bọc giả ngọc để người chơi ngậm cả miệng vào thổi.”

“Đuôi sáo có hai đến ba lỗ định âm với tác dụng định âm cho cây sáo, một công dụng nữa là để treo dây trang trí , giúp cây sáo trông đẹp , sang trọng và đậm chất tàu hơn.”

“Về âm vực, sáo sẽ có đầy đủ các tông như các loại sáo khác, tùy vào mỗi bài mà chúng ta chọn một cây có tông phù hợp với bản nhạc đó.”

Trang 26

20

“Khi xét về chất liệu thì chúng ta có thể chia thành một số loại cơ bản

như sáo Bầu thật, giả gỗ, giả ngọc,…

Do âm vực của nó giống sáo mèo hệ tàu nên sáo Bầu thường được dùng để chơi một số bài nhạc tàu ví dụ như thần thoại , tinh nguyệt thần thoại

Ngoài ra, chúng ta sẽ sử dụng để chơi các bài mang đậm chất dân tộc như xuân về trên bản mèo, hẹn hò, đi học…

Sáo Bầu là một nhạc cụ không thể thiếu trong hát văn, được các nghệ sĩ

sử dụng cả trong hát xẩm, ca trù,…

Trong hát văn thì hát ở tông nào thì dùng tông đó là thuận ngón nhất ,

ví dụ : nếu hát tông la thì dùng sáo là tông la và khi cô đồng múa song đăng thì lên 1 tông, khi đó ta dùng sáo tông si là thuận ngón

Đối với loại sáo Bầu hát văn này, các nghệ nhân phải chế thêm nốt để

mở rộng quãng cho nó (hình 1.15)”

1.4 Vai trò của sáo trúc trong âm nhạc dân tộc Việt Nam

Không chỉ gắn bó với mỗi đời sống của mỗi người dân, sáo trúc còn có vai trò rất quan trọng trong đời sống âm nhạc dân tộc Việt Nam Sáo trúc giữ vai trò là một âm chính trong dàn Bát âm truyền thống và nó được sử dụng rất nhiều trong sinh hoạt văn hoá dân gian, trong các làn điệu dân ca, ghi lễ phong tục tín ngưỡng, hát giao duyên, các điệu hò

Ở miền Bắc có một số làn điệu như: hát quan họ, hát nhà tơ, hát đò đưa,… những làn điệu ấy mang âm hường dí dỏm, vui tươi, trữ tình, lãng mạn thì sáo được sử dụng để đệm và nối cho câu hát Đặc biệt, Chèo xuất hiện ở miền Bắc với lối diễn phân cảnh, màn và thường kết hợp giữa múa và hát thì nhạc cụ sáo trúc có vai trò quan trọng, sáo gợi lại làn điệu cho người hát nhằm giúp người hát bắt đầu vào bài hát không bị lạc hơi, lạc giọng

Ở miền Trung, ca Huế là một thể loại trong âm nhạc thuộc loại thính phòng, gồm đàn và hát với quy mô nhỏ, ít người Ca Huế vừa mang tính bác

Trang 28

22

Tiểu kết chương 1

Những tư liệu lịch sử đã cho thấy sáo là một loại nhạc cụ có từ rất lâu đời và được du nhập từ Trung Hoa vào Dưới triều đại nhà Lý, đến nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn cây sáo đều có mặt trong các dàn tiểu nhạc và đại nhạc của cung đình Đồng thời trong dân gian sáo đã xuất hiện trong những di vật khảo cổ tại Bắc Ninh, bên cạnh đó nó cũng có mặt trong các ban nhạc lễ tại miền Bắc và miền Nam Từ đó có thể khẳng định rằng sáo vào Việt Nam từ rất sớm và theo tiến trình của lịch sử nó đã được phát triển vượt bậc và mang đậm màu sắc dân tộc Việt

Sáo trúc có hình thức và cấu tạo khá đặc biệt, nó được làm chủ yếu bằng tre, trúc hoặc nứa Có độ dài khoảng 40 – 45cm, bán kính khoảng 0,5cm Căn cứ vào thanh âm cơ bản mà sáo được gọi tên như: fa trầm, son trầm, la, sib, đô, rê, mi, fa cao, son cao Âm thanh của sáo trúc có khi ấm áp, nhẹ nhàng đượm buồn, gợi thương gợi nhớ; có khi khoẻ mạnh, vui tươi, nhí nhảnh, vang xa Nó thể hiện được nhiều cung bậc cảm xúc Những sáo được dùng phổ biến như sáo đô, sáo son, sáo fa,… Và sự ra đời của sáo trúc 10 lỗ cũng đánh dấu sự phát triển vượt bậc của âm nhạc Việt Nam và giờ đây âm thanh tiếng sáo có thể thể hiện được các bản nhạc mang tầm cỡ quốc tế Sáo trúc còn đóng vai trò quan trọng trong dàn nhạc của các làn điệu dân ca từng vùng miền như: Tuồng, Chèo, Cải lương, Quan họ,… ở Việt Nam

Cùng với sáo trúc, tôi còn giới thiệu 2 loại sáo được sử dụng phổ biến

là sáo Bầu và sáo Mèo là những cây sáo ấn tượng làm nên màu sắc âm nhạc Việt Nam đa dạng Chúng được làm từ nhiều chất liệu khác nhau, với màu sắc

và kiểu dáng khiến người nhìn rất rễ phân biệt (đã trình bày ở trên) Sáo Bầu, sáo Mèo là một nhạc cụ không thể thiếu trong hát văn, được các nghệ sĩ sử dụng cả trong hát xẩm, ca trù,…

Như vậy, trong chương 1, tôi đã giới thiệu nguồn gốc và vị trí của cây sáo, hình thức và cấu tạo cơ bản của sáo Trúc 6 lỗ, các loại sáo được sử dụng

Trang 29

23

phổ biến, sự ra đời của cây sáo trúc 10 lỗ và tôi còn giới thiệu thêm hai cây sáo được dụng phổ biến ở Việt Nam là sáo Bầu và sáo Mèo để từ đó ta thấy được vai trò quan trọng của sáo trúc đối với âm nhạc dân gian, ta thấy được

sự phong phú và đang dạng của các loại sáo dân tộc, chính nó đã làm nên bản sắc truyền thống riêng của nước ta

Trang 30

24

CHƯƠNG 2 HÌNH ẢNH SÁO TRÚC TRONG TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ Ở TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG 2.1 Các tác giả văn học thời trung đại

2.1.1 Thống kê hình ảnh sáo trúc trong tác phẩm của các tác giả

2.1.1.1 Hình ảnh sáo trúc trong tác phẩm “Thiên trường vãn vọng” của tác giả Trần Thánh Tông

Nguyên văn:

“Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô, bán hữu tịch dương biên Mục đồng địch lý ngưu quy tận Bạch lộ song song phi hạ điền”

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng”

2.1.1.2 Hình ảnh sáo trúc trong tác phẩm “Thái Bình thành hạ văn suy địch – tập Bắc hành tạp lục” của tác giả Nguyễn Du

Nguyên văn:

“Thái Bình thành ngoại tây phong khởi Xuy trừu Ninh Minh nhất giang thuỷ Giang thuỷ trừu hề giang nguyệt hàn

Trang 31

Nhà ai tiếng sáo não lòng chơi vơi Quay đầu hăm bẩy con người Ngàn non cách trở xa vời quê hương.”

2.1.2 Giá trị và ý nghĩa hình ảnh sáo trúc trong tác phẩm

2.1.2.1 Giá trị và ý nghĩa của hình ảnh sáo trúc trong tác phẩm “Thiên trường vãn vọng”của tác giả Trần Nhân Tông

Dưới trều đại nhà Trần xuất hiện một nhà thơ, một nhà tư tưởng lớn là Trần Nhân Tông Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, ông cũng là một vị vua hết lòng vì dân Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên và cũng là chủ nhân của tác phẩm

“Thiên trường vãn vọng” Bài thơ thể hiện hồn thơ thắm thiết tình quê của vị

vua anh minh, tài đức Trần Nhân Tông – vị vua thi sĩ có tâm hồn gắn bó máu thịt với cuộc sống bình dị

Hai câu thơ đầu gợi ra cảnh làng quê vùng thiên trường trong ánh chiều tàn Bốn chữ "thôn hậu thôn tiền " và "bán vô bán hữu" liên kết đôi, tạo nên

sự cân xứng hài hòa về ngôn ngữ đã gợi lên cảnh thôn xóm gần xa, đông đúc, trù phú Trong bóng chiều nhạt nhòa, thôn xóm "trước xóm sau thôn" phủ mờ khói như càng trở nên mơ màng, mênh mang Khói của sương chiều Khói lam chiều vấn vương, nhẹ bay trên những mái nhà tranh sau lũy tre làng

Chỉ bằng 3 nét vẽ rất chọn lọc, lối tả ít mà gợi nhiều của thi pháp cổ, thi

sĩ đã làm hiện lên một không gian nghệ thuật về cảnh sắc làng quê một buổi

Trang 32

26

chiều tàn phủ mờ sương khói và ánh tà dương nơi yên bình, êm đềm, nên thơ Nét vẽ thanh nhẹ, cảnh vật bao la, tĩnh lặng Ngoại cảnh và tâm cảnh đồng hiện Tưởng như thi sĩ đang thả hổn mình vào cảnh vật, lặng ngắm thôn xóm quê hương gần xa không chán So sánh "đạm tự yên " (mờ nhạt như không là một hình tượng đầy thi vị Cả một hồn quê man mác gợi cảm):

“ Mục đồng sáo vẳng trâu về hết

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng ”

Trong bức tranh đồng quê nhạt nhoà và rộng lớn bên ánh tà dương đã hiện lên điểm nhấn là hình ảnh những chú mục đồng thổi sáo và đàn trâu về khuất dần trong ngõ xóm “Đây là bức tranh cảnh sắc chiều tà ở một miền quê thanh bình, thuần phác và đầy sức sống, đàn trâu thong thả về chuồng trong tiếng sáo dặt dìu của mục đồng, hồn nhiên và từng đôi cò trắng ung dung liệng xuống đồng lúc xanh”

“Tiếng sáo là hiện thân của cuộc sống mục đồng, âm điệu của nó gợi lên sự trở về với trạng thái hồn nhiên, thanh thản Còn biểu tượng của con trâu là biểu tượng của chân tâm hồn thuần.”

Tiếng sáo của mục đồng tượng trưng cho âm thanh hướng con người trở về với “bản lai diện mục”, biểu trưng cho cái tâm bình lặng, không bị vẩn đục với những mê kiến, vọng kiến

Bài thơ có sự kết hợp tiểu đối và điệp ngữ một cách sáng tạo Nhịp thơ

êm ái hài hòa, giọng điệu tha thiết thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng Sử dụng ngôn ngữ miêu tả đậm chất hội họa Đó là bức tranh phong cảnh làng quê quen thuộc ở bất cứ vùng đất nào của nước ta, chỉ bằng vài ba nét phác họa nhưng cho thấy một bức tranh thật thanh bình, yên ả

Sử dụng lớp ngôn ngữ giàu chất biểu cảm và hội họa tác giả đã vẽ lên bức tranh làng quê trầm lặng mà không quạnh vắng Bức tranh thiên nhiên, cuộc sống thật đẹp đẽ, hài hòa, nên thơ Qua bài thơ còn cho thấy tình yêu quê hương sâu nặng của tác giả

Trang 33

“Ngoài thành Thái Bình gió tây thổi lên Làm cho nước sông Ninh Minh gợn sóng Nước sông gợn sóng, trăng sông lạnh

Có người nào tựa lan can thôi sáo”

Bài thơ được sáng tác lúc Nguyễn Du đi sứ ở Trung Quốc Vì vậy mạch thơ được bao trùm xuyên suốt bởi cảm hứng nhớ về quê hương nước Việt Không gian và thời gian trong bài được gợi lên với vẻ tĩnh lặng, khuya vắng Cảnh đêm và sông nước vốn là cảnh quen thuộc trong thơ văn cổ, nhưng với bài thơ này, Nguyễn Du không chỉ đưa được đêm, sông, trăng, vào thơ mà Nguyễn Du quan trọng hơn đã đưa vào thơ âm thanh tiếng sáo Tiếng sáo trong bài thơ là một chi tiết nghệ thuật rất đặc sắc Nó gợi lên không gian và thời gian nơi sứ người mà tác giả đang trải qua

Trước tiên tiếng sáo gợi lên thời gian của thế giới nghệ thuật Đây là thời điểm đêm khuya vắng, là lúc mà con người rất dễ rơi vào hoàn cảnh cô liêu, yếu đuối Chính vì yếu đuối mới khiến con người ta rung động trước một tiếng sáo du dương, trầm mặc Đặc biệt, tiếng sáo này không phải lại âm thanh trong trẻo cao vút mà là một tiếng sáo “não lòng” Tiếng sáo ấy không

Ngày đăng: 23/12/2019, 16:04

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w