Theo như con số thống kê, toàn tỉnh có khoảng trên dưới 70 làng nghề với các nghề và các sản phẩm truyền thống như chạm khảm gỗ, sơn mài, đúc đồng, mây tre đan… Trong số rất nhiều làng n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
TRẦN THỊ LINH LINH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TẠI LÀNG CÂY CẢNH VỊ KHÊ (NAM ĐỊNH)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
TRẦN THỊ LINH LINH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TẠI LÀNG CÂY CẢNH VỊ KHÊ (NAM ĐỊNH)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
ThS DƯƠNG THỊ MỸ HẰNG
Trang 3Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thạc sỹ Dương Thị Mỹ Hằng
- người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn khoa học để em có thể hoàn thành khóa luận này
Sau cùng em xin gửi lời cảm đến tất cả các thầy cô giáo khoa Ngữ văn
đã luôn quan tâm, động viên trong suốt quá trình em làm khóa luận
Một lần nữa xin gửi lời tri ân nhất
Hà Nội, ngày…tháng……năm 2019
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Linh Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của Thạc sỹ Dương Thị Mỹ Hằng Các nội dung nghiên
cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa có công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Ngoài ra trong bài khóa luận này có sử dụng một số khái niệm, nhận xét đánh giá của các giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Hà Nội, ngày…tháng….năm 2019
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Linh Linh
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp của khóa luận 3
6 Lịch sử nghiên cứu 3
7.Kết cấu khóa luận 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 5
1.1.Làng nghề và làng nghề truyền thống 5
1.1.1 Khái niệm làng nghề 5
1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống 5
1.2 Du lịch làng nghề truyền thống 6
1.3 Điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống 7
1.4 Mối quan hệ giữa việc phát triển du lịch và các làng nghề truyền thống 8
1.5 Làng nghề truyền thống Việt Nam 9
Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ CÂY CẢNH VỊ KHÊ 14
2.1 Giới thiệu chung về làng nghề cây cảnh ở Nam Định 14
2.2 Khái quát về làng cây cảnh Vị Khê 15
2.2.1 Vị trí địa lí của làng nghề 15
2.2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại làng nghề 15
2.2.3 Lịch sử phát triển của làng nghề 17
2.3 Tiềm năng phát triển du lịch làng nghề cây cảnh Vị Khê 19
2.3.1 Lễ hội hoa - cây cảnh Vị Khê 19
2.3.2 Cây thế - nghệ thuật hoa cây cảnh Vị Khê 22
Trang 62.4 Thực trạng phát triển du lịch làng nghề cây cảnh Vị Khê 28
2.4.1 Tài nguyên du lịch 28
2.4.2 Số lượng khách du lịch 29
2.4.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 29
2.4.4 Đội ngũ lao động phục vụ trong ngành du lịch 30
2.4.5 Thực trạng môi trường sinh thái 30
Tiểu kết chương 2 31
Chương 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG CÂY CẢNH VỊ KHÊ 33
3.1 Định hướng đề xuất về biện pháp bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề cây cảnh Vị Khê 33
3.2 Định hướng về biện pháp phát triển du lịch tại làng cây cảnh Vị Khê 33
3.2.1 Tăng cường hoạt động quảng bá, quảng cáo và nâng cao các giá trị phi vật thể của du lịch làng nghề truyền thống 33
3.2.2 Đa dạng hóa sản phẩm làng nghề 35
3.3 Xây dựng các cơ sở hạ tầng và cở sở vật chất phục vụ du lịch 36
3.4 Định hướng về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ lao động phục vụ trong ngành du lịch 36
3.5 Xây dựng các chương trình du lịch có điểm đến là làng cây cảnh Vị Khê 37
3.7 Giữ gìn cảnh quan và bảo vệ môi trường 39
Tiểu kết chương 3 39
KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 43
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xu hướng hiện nay trên thế giới là đi du lịch về các làng nghề và đặc biệt là các làng nghề truyền thống Du lịch làng nghề không những đem lại những lợi ích về kinh tế mà loại hình du lịch này còn mang lại những lợi ích lớn về mặt văn hóa - xã hội, góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa đặc trưng của các vùng, miền khác nhau Phát triển du lịch làng nghề sẽ giúp khôi phục
và phát triển được các giá trị văn hóa dân gian, xây dựng môi trường du lịch văn hóa đồng thời giúp cải thiện tốt hơn các cơ sở hạ tầng đi kèm với việc bảo
vệ môi trường tại làng nghề
Nam Định vốn nổi tiếng với rất nhiều làng nghề Theo như con số thống kê, toàn tỉnh có khoảng trên dưới 70 làng nghề với các nghề và các sản phẩm truyền thống như chạm khảm gỗ, sơn mài, đúc đồng, mây tre đan… Trong số rất nhiều làng nghề, có một làng nghề có thể được gọi là ông tổ của nghề trồng hoa cây cảnh của cả nước với lịch sử phát triển và văn hóa lâu đời,
đó là làng nghề cây cảnh Vị Khê Có thể thấy, làng cây cảnh Vị Khê là nguồn tài nguyên lớn cho ngành du lịch Nam Định khai thác
Nhận thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của phát triển du lịch làng nghề, tỉnh Nam Định cũng đã có những định hướng nhằm phát triển làng nghề, làng nghề Nam Định đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Các làng nghề truyền thống cũng đã bắt đầu có ý thức khai thác sự hấp dẫn, độc đáo của sản phẩm mà mình nhằm thu hút khách du lịch, đồng thời cũng đã có sự quan tâm hơn đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch
Tuy nhiên thực thế cho thấy, không phải làng nghề nào cũng đã khai thác phát triển được tiềm năng của mình, mới một số làng nghề đang bắt đầu vào khai thác phục vụ du lịch
Từ những đánh giá trên có thể thấy, trong cuộc đua phát triển du lịch làng nghề của tỉnh Nam Định thì làng cây cảnh Vị Xuyên vẫn chưa phát huy được tiềm năng cũng như thế mạnh của mình Vì vậy, việc đánh giá tiềm năng cũng như thực trạng hoạt động du lịch ở làng nghề cây cảnh ở làng Vị Khê là rất cần thiết Vì phải có nghiên cứu thì mới có cái nhìn chính xác nhất để đưa
Trang 9ra những phương hướng, giải pháp phát triển du lịch tại làng nghề Xuất phát
từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Phát triển du lịch làng nghề truyền
thống tại làng cây cảnh Vị Khê (Nam Định)” làm khóa luận tốt nghiệp Vì khả
năng của tác giả còn hạn chế nên sẽ không tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch làng nghề, xây dựng các tour du
lịch có điểm đến là làng cây cảnh Vị Khê
- Đưa ra một số biện pháp duy trì và phát triển làng nghề nhằm phát
triển du lịch
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật và giá trị của làng cây cảnh Vị Khê, tiềm năng phục vụ du lịch của làng nghề, mối liên hệ giữa làng nghề cây cảnh Vị Khê với các làng nghề khác, các điểm du lịch trong huyện Nam Trực cũng như trong tỉnh Nam Định
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Làng cây cảnh Vị Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp nghiên cứu hệ thống: thống kê sắp xếp các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực tiễn cũng như trên sách báo theo một trình tự logic
Phương pháp điền dã và tổng kết thực tiễn: thực hiện quan sát, phỏng vấn, tìm hiểu và tổng kết trong quá trình điền giã
Phương pháp thu thập tài liệu: áp dụng khi bắt đầu nghiên cứu đề tài Nguồn tư liệu được cập nhật qua Internet và tài liệu, sách báo,tạp chí…
Trang 10Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: thực hiện trên cơ sở nguồn tài liệu đã thu thập, tiến hành xử lý và chọn lọc tài liệu liên quan để phục vụ cho
đề tài: “Phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại làng cây cảnh Vị Khê (Nam Định)”
5 Đóng góp của khóa luận
Đóng góp của khóa luận đối với sự phát triển của du lịch tỉnh Nam Định: Nhận định được tiềm năng to lớn của du lịch làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định từ đưa ra những giải pháp để khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của tỉnh
Đối với làng nghề cây cảnh Vị Khê: Trên những cơ sở thực trạng và tiềm năng của làng cây cảnh Vị Khê, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để tăng sự phong phú, hấp dẫn sản phẩm du lịch làng nghề Cùng với nó để sản phẩm làng nghề được rộng rãi biết đến phải chú trọng công tác tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch của làng nghề
Đối với tác giả: Sau khi nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tác giả đã rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân và trau dồi cho mình những kiến thức về làng nghề và du lịch làng nghề truyền thống Và đây là tài liệu quý giá để phục vụ cho quá trình làm việc sau này của tác giả
6 Lịch sử nghiên cứu
Một số bài viết trên các trang báo mạng đề cấp về làng cây cảnh Vị Khê
như trang “nam định.gov.vn” đã có bài viết nói về lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê với các nghi thức linh thiêng nhằm tri ân công đức của ông Tổ nghề - Tô Trung Tự, đây cũng là không gian triểm lãm hoa cây cảnh Vị Khê Bên cạnh
đó lễ hội thu hút du khách bằng các trò chơi dân gian, cuộc thi tay nghề tạo thế cây cảnh
Hay trên trang báo nam định cũng đã có bài viết về xây dựng làng hoa cây cảnh trở thành địa điểm du lịch sinh thái
Tuy nhiên các bài viết trên chưa có tính nghiên cứu chuyên sau về tiềm năng và thực trạng để phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại làng cây cảnh Vị Khê Chính vì vậy trong đề tài của mình tác giả đã nghiên cứu về
Trang 11tiềm năng, thực trạng và những biện pháp phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại làng cây cảnh Vị Khê (Nam Định)
7 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Làng nghề truyền thống và du lịch làng nghề truyền thống
- Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch làng nghề cây cảnh Vị Khê
- Chương 3: Biện pháp phát triển du lịch làng cây cảnh làng Vị Khê
Trang 12PHẦN NỘI DUNG Chương 1: LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ DU LỊCH
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1.1 Làng nghề và làng nghề truyền thống
1.1.1 Khái niệm làng nghề
Từ ngàn đời xưa ở các vùng nông thôn các nghề thủ công đã sớm ra đời gắn với sự phát triển của nền văn minh lúa nước Làng nghề truyền thống là
đề tài rất thú vị, đã có rất nhiều nhà văn hóa nghiên cứu về đề tài này
Theo Tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt Nam” thì làng nghề được định nghĩa như sau: “làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các
cá biệt của địa phương” [3- tr.9]
Về góc độ kinh tế, trong cuốn: “Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Tiến sĩ Dương Bá
Phượng cho rằng: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ
công tác hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập Thu thập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng” [2-tr.13]
Làng nghề có nhiều ý nghĩa trong phát triển du lịch vì vậy tác giả chỉ đi chuyên sâu tìm hiểu về làng nghề truyền thống Theo thời gian làng nghề truyền thống được chia làm 2 loại đó là: làng nghề truyền thống và làng nghề mới
1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống, làng nghề thủ công nghiệp là một cộng đồng dân cư sống tập trung trên một địa bàn cư trú như: thôn, làng, bản… cùng sản
ít nhất một sản phẩm mang nét đặc trưng độc đáo thu hút nhiều người tham gia sản xuất, mang lại lợi ích kinh tế cao cho cộng đồng dân cư đó
Trang 13Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng trong cuốn “ Ngành nghề truyền thống
Việt Nam và các vị tổ nghề” thì làng nghề là: “Làng nghề là làng ấy, tuy có
trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi (gà, lợn, trâu,…) làm một số nghề phụ khác (thêu, đan lát,…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định sinh ư nghệ, tử ư nghệ, nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô
và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài” [5-tr.12]
Làng nghề truyền thống là làng mà dân cưa ở đó hầu hết tập trung sản xuất một nghề, thường có tính chuyên sâu cao và đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho người dân Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ mang tính kinh tế mà bao gồm cả tính chất văn hóa điểm
du lịch ở Việt Nam
Nói chung, hầu hết các “nghề” trong các làng nghề của Việt Nam ban đầu đều là nghề phụ (làm thêm lúc nông nhàn), về sau mới trở thành nghề chính, mang tính chuyên sâu và tạo nên sự ra đời các làng nghề thủ công truyền thống
Ngày nay với cơ chế thị trường mở cửa, hội nhập, giao lưu văn hóa - kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới thì làng nghề đã trở thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công và đang trở thành một điểm nhấn thu hút đầu tư
và phát triển kinh tế xã hội
1.2 Du lịch làng nghề truyền thống
Du lịch làng nghề truyền thống là loại hình du lịch khá mới mẻ ở nước
ta Ngay nay với những áp lực bộn bề của cuộc sống khiến con người ta muốn tìm về với những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Do đó mà nhu cầu đi du lịch về những miền quê nơi có các làng nghề truyền thống ngày
càng cao Theo Tiến sĩ Trần Nhạn trong: “Du lịch và kinh doanh du lịch” thì:
Trang 14“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tích văn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện… Bao gồm hệ thống đình, chùa, nhà thờ, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giao tiếp,…” [1- tr.15]
Du lịch làng nghề truyền thống là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp đưa du khách tới tham quan các làng nghề truyền thống để khách du lịch tìm hiểu, tham gia sản xuất và mua sắm sản phẩm tại làng nghề
Ngày nay du lịch làng nghề nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều du khách trong và ngoài nước Đến với loại hình du lịch làng nghề truyền thống
du khách sẽ được tìm hiểu và trải nghiệm về các giá trị phi vật thể và vật thể của lòng nghề truyền thống của một dân tộc
1.3 Điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống
Phát triển du lịch làng nghề là vô cùng quan trọng vì nó đem lại rất nhiều lợi ích không chỉ cho các hoạt động du lịch mà còn cho sự phát triển của làng nghề Phát triển du lịch làng nghề mang lại nhiều lợi ích to lớn về cả kinh tế và xã hội cho chính làng nghề đó Bên cạnh đó nó còn ra được công ăn việc làm cho lượng lớn người lao động, giúp họ cải thiện được cả về mặt đời sống vật chất và tinh thần Đồng thời việc phát triển du lịch làng nghề truyền thống và lưu giữ lại những nét đẹp văn hóa đặc sắc của dân tộc
Những điều kiện cần thiết để phát triển du lịch làng nghề truyền thống.Trước hết phải có những điều kiện tồn tại và phát triển làng nghề:
- Điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển và trao đổi buôn bán giữa làng nghề với các vùng khác
- Nguồn nguyên liệu là yếu tố quan trọng cho việc phát triển du lịch làng nghề vì để phát triển làng đó phải có nguồn tài nguyên phong phú đa dạng
- Lực lượng lao động cở sở sản xuất là yếu tố quan trọng
- Sản phẩm làng nghề phải phong phú, đa dạng, độc đáo để thu hút khách du lịch
Trang 15- Vị trí địa lý là một yếu tố quan trọng, gần các địa điểm danh thắng cảnh tạo điều kiện cho sự kết nối các tour du lịch
- Cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng được nhu cầu phát triển du lịch
1.4 Mối quan hệ giữa việc phát triển du lịch và các làng nghề truyền thống
Du lịch mang lại nhiều lợi ích đối với kinh tế - xã hội, góp phần cho việc duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống
Các hoạt động du lịch góp phần tạo sự thu hút và công ăn việc làm không chỉ cho dân cư địa phương mà cả các vùng lân cận, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân
Thông qua việc bán các sản phẩm làng nghề làm quà lưu niệm cho du khách góp phần thúc đây phát triển tăng doanh thu và tăng doanh số đem lại lợi ích kinh tế cao Đây cũng là một hình thức giao thương buôn bán tại cho đem lại lợi nhuận lớn mà tránh được nhiều rủi ro
Du lịch phát triển tạo thêm cơ hội giao lưu buôn bán hàng hóa giữa các làng nghề truyền thống Đây cũng là cơ hội xuất khẩu sản phẩm thủ công truyền thống tại làng nghề ra các nước trong khu vực và trên thế giới, gia tăng nguồn thu nhập ngoại tệ từ các du khách nước ngoài và nhà đầu tư kinh doanh
Là cơ hội giao lưu văn hóa giữa các vùng trên cả nước và giao lưu văn hóa giữa các vùng trên thế giới Góp phần thúc đẩy phát triển quá trình nông thôn mới
Du lịch góp phần thúc đẩy phát triển xây dựng cơ sở vật chất, lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống của làng không bị mai một trong nền kinh tế
mở cửa hội nhập ngày này
Mối quan hệ tác động qua lại giữa du lịch và làng nghề Hoạt động du lịch thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của làng nghề truyền thống theo hướng tích cực bền vững, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Và ngược lại, làng nghề truyền thống cũng có những tác động tích cực đến du lịch Cụ thể là:
Làng nghề truyền thống thường mang những nét văn hóa thuần Việt, không gian văn hóa của nền văn minh nông nghiệp lúa đó là hình anh cây đa
Trang 16bến nước, sân đình, lũy tre,… Trong nhiều các loại hình du lịch thì du khách
có thể chọn du lịch làng nghề truyền thống là điểm đến lí tưởng để tham quan, tìm hiểu các giá trị văn hóa, các phong tục tập quán lễ hội, trải nghiệm quá trình sản xuất sản phẩm của làng nghề và mang về những sản vật thủ công tinh tế, độc đáo làm kỷ niệm
Làng nghề còn là nơi sản xuất ra các sản phẩm độc đáo khi khách khi đến đây có thể mua sắm cho mình hoặc người thân những sản phẩm về làm quà
Làng nghề truyền thống mang trong mình những giá trị văn hóa, sản sẩm độc đáo là nguồn tài nguyên phong phú khai thác phát triển du lịch
1.5 Làng nghề truyền thống Việt Nam
* Quá trình hình thành các làng nghề truyền thống Việt Nam
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam tồn tại và phát triển mạnh mẽ qua những thăng trầm của lịch sử và đã được hình thành từ rất sớm Có thể tóm tắt sơ lược như sau:
Các di chỉ khảo cổ, vết tích của người Vượn ở di chỉ khảo cổ núi Đọ (Thanh Hóa) như: công cụ đồ đá ghè, đẽo, mảnh tước, rìu tay… mà các nhà khảo cổ học tìm thấy đã chứng tỏ có sự chế tác, dùng các công cụ bằng tre như gậy, lao, cung tên, thừng bện… Và cho thấy rằng nghề thủ công đã sớm hình thành và có vai trò nhất định quan trọng từ thời nguyên thủy
Cách đây 4000 đến 3500 người ta đã tìm thấy dấu vết sơ kì thời đại đồ đồng thuộc một nền văn hóa tiền sử, cuối thời đại đồ đá mới đã xuất hiện vào thời văn hóa Phùng Nguyên Các đồ gốm đơn giản, đồ trang sức , khuôn đúc đồng, rìu đá mài nhỏ, vòm đá, đã được cư dân Phùng Nguyên chế tạo tinh vi
để phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt Những cư dân Phùng Nguyên sống định
cư ổn định theo từng cụm dân cư làng xã cùng sinh hoạt và sản xuất thủ công
mỹ nghệ Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy: 1138 chiếc rìu, 59 đục, 3 giáo, 2 mũi nhọn, 7 mũi tên, 1 cưa, 189 bàn mài, 540 vòng tay, 8 khuyên tai, 34 hạt chuỗi, 3 đồ trang sức và hàng chục vạn mảnh gốm được chế tạo từ thời Phùng Nguyên
Trang 17Mũi tên bằng đồng có ngạnh, khuôn đúc đã xuất hiện ở giai đoạn Đồng Đậu (giữ thời đại Đồng Thau)
Rất nhiều công cụ sinh hoạt được đúc thau phát triển vào giai đoạn
Gò Mun (thời kỳ Đồng Thau), và hơn thế trình độ thủ công thủ tinh xảo của thời kỳ dựng nước đã phát triển mạnh mẽ ở thời kỳ Đông Sơn khẳng định thời kỳ này đã có sự phân công lao động, tổ chức lao động thể hiện qua các hoa văn trang trí trên trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịnh (khai quật ở Yên Bái)
Nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật, cung điện, công trình tôn giáo, đến giai đoạn Lý, Trần, Lê thì nghề thủ công đã phát triển rực rỡ cực thịnh với sự phát triển của nghề gốm, sáng tạo ra các loại men gốm đẹp, quý hiếm
có tính giá trị nghệ thuật cao
Thời Lý tập trung nhiều thợ thủ công giỏi với nhiều sáng tạo độc đáo Thời Lý là thời đại phục hưng đất nước, ở thời kỳ này tập trung nhiều thợ thủ công giỏi với sự sáng tạo độc đáo Rất nhiều làng nghề phát triển như làng thêu, làng mộc, làng điêu khắc,… Nhiều vùng đất thông thương, giao lưu với nhau nền kinh tế phát triển Nhờ chế độ công tượng tập trung nên thời Lý chiêu mộ được nhiều nhiều nghệ nhân tài hoa về Thăng Long xây dựng các công trình chùa chiền, cung điện,… Vì vậy mà ở thời kỳ này có nhiều thành tựu về thủ công mỹ nghệ
Tiếp nối văn hóa thời Lý, thời kỳ nhà Trần do chiến tranh triền miên, nghề thủ công không được phát triển do người dân thời kỳ này cuộc sống không ổn định nên không có cơ hội sáng tạo phát triển nghề
Nghề thủ công tiếp tục phát triển mạnh vào thời nhà Lê, các sản phẩm nghề thủ công đã đạt tới độ tinh xảo hơn cả là nghệ thuật điêu khắc chạm lộng
Do chiến tranh liên miên, đời sống nhân dân không được ổn định, các thợ thủ công giỏi không phát huy được tài năng và sự sáng tạo của mình Vì vậy mà thời kỳ nhà Nguyễn nghề thủ công không được phát triển
Từ khi thực dân Pháp xâm lược nghề thủ công một lần nữa tàn lụi, thực dân Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ của chúng Thị trường
Trang 18Việt nam lúc bấy giờ ngập tràn hàng hóa của bọn thực dân Pháp, giá cả rẻ, chất lượng tốt lại nhiều mẫu mã sản phẩm đa dạng nên phần lớn sản phảm nghề thủ công của nước ta không cạnh tranh được Nhiều làng nghề thủ công
đã bị lụi tàn, tuy nhiên bàn tay khéo léo của người nghệ nhân máy móc tư bản không thể thay thế được trong một số nghề như nghề mộc, gốm khảm tri, mây tre, đan thêu…
Ngành thủ công nghiệp nước ta bước sang thời kì mới sau khi hòa bình lập lại từ năm 1954 Nhiều ngành thủ công nghiệp được khôi phục và phát triển mạnh mẽ nhờ các chính sách khuyến khích của nhà nước Các nhóm và hợp tác xã thủ công đã xuất hiện trong thời kỳ này Cũng trong thời kì này đã bắt đầu có sự xuất hiện của các nhóm và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp mới được thành lập Lúc này không chỉ có “làng nghề” nữa mà còn xuất hiện cả
“hợp tác xã nghề thủ công” Ngày mùng 6 tháng 6 năm 1961, trong đại hội đầu tiên của những người thợ thủ công miền Bắc đã thành lập ban chủ nhiện lãnh đạo và ban hành các quy định, từ đó trong nền kinh tế quốc dân ngành tiêu thủ công nghiệp đã có cho mình một vị trí xứng đáng
Ngày nay với thị trường mở của và hội thì làng nghề truyền thống đang đem laị những lợi ích to lớn trong tổng thể phát triển nền kinh tế Các làng nghề thủ công truyền thống càng ngày càng đóng vai trò to lớn trong việc cải thiện đời sống tinh thần và vật chất của người dân, góp vai trò không nhỏ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* Lịch sử hình thành và phát triển
Làng nghề truyền thống, thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng mà dân cư ở đó hầu hết tập trung sản xuất làm một nghề duy nhất mang tính chuyên sâu và đem lại lợi ích kinh tế lớn cho làng nghề
Nền kinh tế trước đây của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nước nhưng không phải lúc nào nghề trồng lúa nước cũng có việc, thông thường người nông dân thường bận rộn vất vả vào những khi đầu vụ và cuối vụ, còn lại thời gian nông nhàn rất nhiều ít có việc để làm Để cải tiện bữa ăn hàng ngày và những nhu cầu trong sinh hoạt nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm công việc phụ làm trong những thời gian rảnh rỗi
Trang 19Nhiều nghề phụ theo thời gian đã cho thấy vai trò to lớn nguồn lợi ích thiết thực phục vụ cuộc sống sinh hoạt của con người Người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa nhưng từ khi tìm ra các nghề phụ cuộc sống được nâng lên, từ một nghề chỉ làm trong lúc rảnh rỗi phục vụ nhu cầu cá nhân đã trở thành hàng hóa để trao đổi buôn bán đem lại nguồn lợi kinh tế cao
Trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa từ chính những lợi ích khác nhau mà làng nghề đem lại Những nghề đem lại nguồn lợi kinh tế lớn thì ngày càng được chú trọng phát triển, còn những nghề không đem lại lợi ích kinh tế hoặc đem lại lợi ích kinh tế ít thì bị mai một, lụi tàn Các làng nghề mang tính chất chuyên sâu như làng gốm, làng làm chiếu, làm lúa… bắt đầu hình thành từ đó
Các vùng châu thổ lớn như châu thổ sông Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định là nơi tập chung chủ yếu của các làng nghề
đã được các nhà khảo cổ chứng mình ra đời từ hàng ngàn năm trước
Tiểu kết chương 1
Làng nghề là nơi diễn ra hoạt động sản xuất các nghề tiểu thủ công nghiệp hoặc ngành nghề truyền thống Làng nghề truyền thống hình thành từ lâu đời, sản phẩm có đặc trưng mang tính chất riêng biệt của từng nghề, từng vùng Đây là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá phục vụ cho phát triển du lịch, quảng bá giới thiệu văn hóa con người Việt Nam đến với bạn bè trên thế giới và đây cũng là một nhân tố hấp dẫn thu hút, kích thích sự tìm hiểu, khám phá của du khách
Du lịch làng nghề truyền thống là một loại hình du lịch văn hóa tổng hợp hấp dẫn, góp phần làm cho sản phẩm du lịch thêm phong phú Đến với loại hình du lịch này du khách trải nghiệm trong không gian thư thái yên bình của vùng nông thôn, được tìm hiểu và tham gia sản xuất và mua sắm tại làng nghề Du lịch làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông thôn
Các làng nghề truyền thống có tác động tích cực tới các hoạt động du lịch, các giá trị văn hóa tại các làng nghề truyền thống là tài nguyên vô giá
Trang 20phục vụ khai thác phát triển du lịch Du lịch làng nghề truyền thống sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu đi du lịch của
du khách trong và ngoài nước Phải có những chính sách, kế hoạch khai thác tài nguyên đi đôi với bảo tồn để phát triển du lịch bền vững tại làng nghề
Trang 21Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG
NGHỀ CÂY CẢNH VỊ KHÊ
2.1 Giới thiệu chung về làng nghề cây cảnh ở Nam Định
Hiện nay, Nam Định sở hữu gần 4.000 di tích lịch sử văn hóa, là vùng đất học, giàu văn hóa truyền thống dân tộc Ở đây nổi tiếng với các điểm du lịch như: Phủ Dầy, chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện, cầu Ngói, chùa Lương, cột cờ Nam Định và các điểm di tích văn hóa lịch sử như: Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Trạng lường Lương Thế Vinh, nhà thơ Tú Xương, nhà lưu niệm Nguyễn Bính, khu lưu niệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh… Bên cạnh các di tích lịch sử đó, Nam Định còn có trên 70 làng nghề với các ngành nghề và sản phẩm truyền thống Trong đó tiêu biểu là làng nghề cây cảnh tập trung chủ yếu ở hai khu vực: xã Nam Điền - huyện Nghĩa Hưng và xã Điền
Xá - huyện Nam Trực Sự đa dạng về các thể loại hoa cây cảnh truyền thống
và hiện đại cùng với đó là các hình thù, hình dáng đẹp mắt độc đáo do bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nơi đây tạo nên ẩn trong đó các triết lý nhân sinh sâu sắc thu hút khách du lịch trong và ngoài nước
“Phong trào sinh vật cảnh (SVC) trên địa bàn tỉnh có thời điểm phát triển mạnh, trở thành ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao Năm 2006, toàn tỉnh có 1.680 ha trồng hoa, cây cảnh có giá trị khoảng 400 tỷ đồng, đến năm
2011 diện tích trồng hoa, cây cảnh là trên 3.000ha, đạt giá trị trên 1.000 tỷ đồng Riêng thôn Vị Khê, xã Điền Xá (Nam Trực) nổi tiếng về trồng hoa, cây cảnh trong cả nước có khoảng 600 hộ trồng với tổng diện tích khoảng 150ha
và cả 7 thôn của xã Điền Xá có 3.500 hộ trồng hoa, cây cảnh với diện tích 450ha Trung bình 1ha trồng hoa, cây cảnh ở xã Điền Xá cho thu nhập 140 triệu đồng Nhờ phát triển SVC, cuộc sống của nhiều gia đình được cải thiện, đời sống vật chất đầy đủ sung túc” [7]
“Trước những lợi ích của phòng trao SVC mang lại, từ năm 2004, UBND tỉnh và Tổng cục Du lịch (Bộ VH, TT và DL) đã tổ chức hội thảo phát triển du lịch làng nghề, trong đó có phát triển du lịch SVC UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch xây dựng xã Điền Xá trở thành làng du lịch sinh thái UBND
Trang 22xã Điền Xá đã phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành trong và ngoài tỉnh tổ chức nhiều tour du lịch tham quan làng nghề, với những tác phẩm cây cảnh, cây thế độc đáo do bàn tay tài hoa của các nghệ nhân tạo ra Lễ hội truyền thống hoa cây cảnh Vị Khê - Hội chợ xuân xã Điền Xá năm 2013 đã trưng bày các cây cảnh độc đáo với các thế bonsai nhiều cỡ, nhiều dáng cùng các chậu địa lan quý hiếm của làng nghề và của các tỉnh, thành phía Bắc” [7]
Ngoài làng nghề trồng hoa, cây cảnh đã được lan rộng ra nhiều xã trong tỉnh như: xã Hải Sơn (Hải Hậu), xã Yên Cường (Ý Yên), xã Nghĩa Phong (Nghĩa Hưng), MỸ Tân, Mỹ Thắng đây đều là những cơ sở nền tảng để phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Nam Định
Trong giai đoạn thị trường cây cảnh bão hòa hiện nay thì xây dựng các làng nghề SVC trở thành các điểm du lịch lịch sinh thái là một hướng đi đúng đắn vừa giúp các làng nghề có thể duy trì và phát triển, vừa khai thác thế mạnh SVC phục vụ phát triển du lịch của tỉnh
2.2 Khái quát về làng cây cảnh Vị Khê
2.2.1 Vị trí địa lí của làng nghề
Làng nghề cây cảnh Vị Khê thuộc xã Điền Xá, huyện Nam Trực Làng
Vị Khê nằm bên bờ sông Hồng cách thành phố Nam Định khoảng 5 km về phía Đông Nam
2.2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại làng nghề
* Điều kiện tự nhiên
Làng Vị Khê nằm trên vùng đồng bằng châu thổ thấp trũng ven sông Hồng, địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ do sự bồi đắp phù sa của sông Hồng
Khí hậu mang đầy đủ đặc điểm khí hậu của khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mưa nhiều Đây là điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật phát triển
Trang 23trong làng ngày càng được nâng cao, tổng thu nhập một hộ trên 100 triệu đồng/ năm, thu nhập bình quân đầu người tùy từng năm từ 20-30 triệu đồng/ năm
Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường thì làng Vị Khê có mô hình sản xuất rất phong phú, đa dạng Có các loại mô hình tiêu biểu như trồng cây mini loại cây này thường có kích cỡ nhỏ, giá trị kinh tế thấp đáp ứng nhu cầu trang trí bình dân của đại chúng; các sản phẩm cung cấp cho các khu sinh thái, khách sạn, công viên… thường được trồng theo mô hình trồng cây trang trí, cây bóng mát
Truyền thống trồng cây cảnh đã có từ lâu đời ở làng Vị Khê, tuy nhiên phần lớn đất đai người dân vẫn phục vụ cho việc trồng lúa nước nên quy mô vẫn còn nhỏ Cây cảnh phát triển trở thành một loại hàng hóa thương mại, mang các giá trị tinh thần được người tiêu dùng chấp nhận, đem lại lợi nhuận kinh tế cao Sản phẩm của làng nghề có đầu ra từ 2 nguồn: Thứ nhất là cung cấp cho các công trình như công viên, đường giao thông, khu vui chơi giải trí… Thứ hai là buôn bán cho người tiêu dùng, xuất khẩu sang các nước Nhật Bản, Ấn Độ, Hà Lan, Lào, Sigapore, Hàn Quốc… theo đường tiểu ngạch
Trải qua quá trình hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài trong lịch sử, các sản phẩm của làng hoa cây cảnh Vị Khê đã được người mua trong và ngoài nước yêu thích Bằng đôi tay tài hoa cùng lòng yêu nghề sâu sắc những nghệ nhân của làng Vị Khê đã tạo nên những tuyệt tác làm đẹp cho đời, làm giàu cho gia đình, cho quê hương và đất nước Họ đã đóng góp những tài sản
vô giá góp phần làm giàu kho tàng văn hoá làng nghề trong thời đại hội nhập
và toàn cầu hoá hiện nay
Cây cảnh Vị Khê đã mang lại cho người dân nơi đây một cuộc sống ấm
no, đầy đủ Làng Vị Khê đang thay da đổi thịt hàng ngày Những nghệ nhân của làng vẫn đang ngày ngày cần mẫn tạo nên những tác phẩm nghệ thuật nối tiếp gìn giữ và dựng xây cho làng Vị Khê
Không những phát triển trong địa phương mà cây cảnh Vị Khê đã phát triển ra khắp cả nước và thậm trí đã xuất khẩu ra nước ngoài Hàng Vạn Tuế
và 2 cây Nguyệt Quế của làng vịnh dự trược chọn trồng bên Lăng Chủ tịch
Hồ Chí Minh Sản phẩm của làng nghề được trồng ở nhiều nơi quan trọng
Trang 24như: Văn phòng Chính phủ, Quảng trường Ba Đình… Mỗi sản phẩm của làng
Vị Khê chứa đựng trong đó bao nhiêu tâm huyết, tài hoa của nghệ nhân nơi đây vì vậy mà họ luôn tự hào khi nhiều cây đoạt các giải vàng, giải bạc trong các cuộc thi, triển lãm
Thời gian trở lại đây, mỗi năm làng nghề cây cảnh Vị Khê đón tiếp hàng chục lượt khách đến từ các nước Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản… đến tham quan và mua sản phẩm làng nghề Cây cảnh làng Vị Khê ngày càng phát triển mạnh vươn ra cả thị trường quốc tế Trong sâu thẳm tâm hồn các nghệ nhân làng Vị Khê luôn giáo dục cho lớp con cháu thấu hiểu tình người mới là bông hoa đẹp nhất của đất trời, có lẽ chính điều đó đã hấp dẫn du khách đến đây để thêm yêu vẻ đẹp của làng nghề
2.2.3 Lịch sử phát triển của làng nghề
Làng cây cảnh Vị Khê có tuổi đời hơn 800 năm, được mệnh danh là đất
tổ của nghề trồng hoa cây cảnh ở Việt Nam Là làng nghề truyền thống nổi tiếng với cây thế, cây cảnh, cây bonsai…được chăm sóc công phu đầy nghệ thuật nằm bên bờ sông Hồng
Làng Vị Khê gồm 5 xóm, dân số 2600 người là thôn lớn của xã Điền Xá Làng Vị Khê được hình thành cách đây hơn 800 năm, vào thời Ngô Quyền đánh quân Nam Hán Ông tướng của thời Ngô Quyền là Nguyễn Công Thành khi về dẹp giặc phía Đông bảo vệ phòng thủ bờ biển phía đông, lúc bấy giờ tỉnh Nam Đỉnh được gọi là Chấn Sơn Nam Hạ Sau khi chiến thắng Bạch Đằng, ông đưa gia đình từ Châu Thạch Ro (Cao Bằng ngày nay) về đây tụ dân lập áp chấn thủ nơi đây, ông họ Nguyễn nên lấy tên là Nguyễn gia trang, làng
Vị Khê tiền thân là Nguyễn gia trang (trang ấp của những nhà họ Nguyễn) Dân bắt đầu hình thành quần cư ở đây từ năm 938, còn lưu lại trong sử ký của Thiên Trường - Nam Định ghi lại và tư liệu Hán - Nôm của đình làng còn bài thơ của ông còn truyền lại, khẳng định rằng ông đến làng này từ thuở ấy:
“Việc tốt xưa nay kế đó hay Sớm hôm làng biển chăm cấy cày Lòng vàng biển ngọc tranh giàu có Mấy kẻ về già được thế may”
Trang 25Đến thời Lý (1211), ông Tô Trung Từ - Thái úy phủ chính của triều Lý
về đây phụ trách vùng Chấn Sơn Nam Hạ xây dựng tòa thành bảo vệ biển Đông, làng Vị Khê lúc bấy giờ được gọi là Bảo Bình Giáp Tô Trung Từ cũng
là một nhà kiến trúc sư, một nhà thiết kế giỏi về hoa cây cảnh, ông đã truyền lại nghề hoa cây cảnh cho dân làng Trong sử cũng có ghi lại việc dạy dân làm nghề của ông: Năm 1610, ông quan Phạm Nguyên Lễ người huyện Ngư Thiên (huyện Hưng Hà - Thái Bình) khi đi kinh lý qua đây đẫ để lại đôi câu đối:
“Dục chủ tài hoa Tô tướng thủy Nguyễn trang Vị xá hiệu tri tiên”
Có nghĩa là:
“Trồng hoa ươm cây do tướng họ Tô khơi dậy trước
Ấp tên Trang Nguyễn vốn là thôn Vị buổi ban đầu”
Làng cây cảnh Vị Khê có điều kiện phát triển mạnh mẽ phục vụ cho cung đình khi cung Tức Mặc được xây dựng thành Trung tâm chính trị - văn hóa lớn thứ hai sau Thăng Long vào thời nhà Trần năm 1225 và tiếp tục đà phát triển vào thế kỷ XV
Vào những năm 1990 khi đất nước đang trong thời kỳ đổi mới thì cây thế và cây cảnh Vi Khê đã trở nên nổi tiếng và trở thành “đặc sản” Ngày nay, nghề trồng hoa cây cảnh Vị Khê đã phát triển trở thành thương hiệu riêng của làng
Để tưởng nhớ công lao của ông Nguyễn Công Thành và ông Tôn Trung Tự, dân làng đã lập đền thờ ở đình làng Vị Khê
Có thể nói, Vị Khê là quê hương của nhiều loài hoa như: bạch đào, địa lan, phong lan, đỗ quyên , hải đường… Các làng hoa trên cả nước phần lớn đều có nguồn gốc từ làng hoa cây cảnh Vị Khê như làng hoa Hạ Lũng - Hải Phòng trồng hoa lay ơn, làng hoa Ngọc Hà - Hà Nội, làng hoa Vĩ Dạ trong Huế đều do người dân Vị Khê di dân ra gây dựng cũng chính vì vậy mà làng hoa cây cảnh Vị Khê được mệnh danh là làng hoa cổ của Việt Nam
Đến với làng Vị Khê du khách sẽ bị thu hút bởi màu xanh ngút ngàn của các nhà vườn với các loại cây như sanh, si, tùng la hán, vạn tuế, cau vua được
Trang 26các nghệ nhân ở đây tỉa canh, uốn dáng một cách tỉ mỉ công phu Các khách sạn, tòa nhà lớn trong cả nước phần lớn sử dụng sản phẩm của làng Vị Khê để trưng bày trang trí
Ngoài văn tự, bia đá, trong làng còn lưu “của gia môn” của cụ Nguyễn Việt Lã ở UBND xã Điền Xá, đã đạt giải cao trong kỳ thi Hội hoa xuân tại Huế đó là bộ sanh thế trực 15 tán khoảng 300 tuổi
2.3 Tiềm năng phát triển du lịch làng nghề cây cảnh Vị Khê
Lễ hội hoa cây cảnh làng Vị Khê có những nét đặc sắc phục vụ phát triển
du lịch dưới đây là một số phân tích để thấy được tiềm năng phát triển du lịch
lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê
2.3.1 Lễ hội hoa - cây cảnh Vị Khê
* Nguồn gốc và thời gian, địa điểm tổ chức
Cứ đến ngày 12 đến 16 tháng Giêng âm lịch hàng năm, để tri ân công đức của ông Tổ làng nghề người đã sáng tạo và dạy nghề cho người dân thì lễ hội hoa cây cảnh được tổ chức tại đình làng Vị Khê Lễ hội hoa làng Vị Khê thu hút hàng ngàn người dân địa phương tham gia các nghệ nhân trau dồi, giao lưu các kinh nghiệm trong nghề
Lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê là một không gian mở Đến với làng nghề
du khách như lạc vào “vườn thượng uyển”, hòa mình trong không khí tươi mát của các nhà vườn Khách du lịch sẽ được chiêm ngưỡng những cây thế
cổ, những cây đại thế, vườn địa làn, các vườn tùng la hán tại các khu nhà vườn trong làng Vị Khê mỗi loại cây toát lên những vẻ đẹp riêng của mình
Thời gian lễ hội diễn ra nằm trong khoảng thời gian trước và sau lễ hội Chợ Viềng, Khai ấn đền Trần, cùng với vị trí thuận tiện giữa các điểm đến, vì vậy có thể xây dựng các tour du lịch giữa các cụm đền, đình trên
* Quy trình tổ chức lễ hội có sự đặc sắc từ các nghi lễ đến phần hội tạo nên sự độc đáo để phát triển du lịch:
Lễ hội Hoa cây cảnh Vị Khê đặc sắc, độc đáo với 2 phần là phần lễ và phần hội
Trang 27Phần lễ gồm các nghi lễ: Tế Nam Quan, Tế Nữ Quan, rước hoa cây cảnh về đình làng dâng hương Ông Tổ làng nghề Các nghi lễ được tiến hành trong không gian trang nghiêm mang đậm màu sắc lễ hội, 5 cây cảnh đặc biệt nhất của 5 xóm trong làng được lựa chọn làm lễ vật linh thiêng dâng lên đức thành hoàng làng và ông tổ nghề trồng hoa cây - cây cảnh Ngô Trung Tự
“Rước hoa cây cảnh là nghi thức đặc biệt quan trọng không thể thiếu trong lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê, được tổ chức trong không khí trang nghiêm có
sự tham gia của hàng nghìn người từ khắp nơi về dự lễ hội và không thể thiếu những người từ các làng nghề trồng hoa cây cảnh ở mọi vùng quê, tỉnh thành hay dù bất kỳ đâu thì cứ đến ngày 12 thánh Giêng âm lịch đều về với làng” [6]
Lễ vật bao gồm: lợn quay, xôi, hoa quả đặc biệt là cây cảnh - lễ vật mang tính đặc trưng của làng nghề hoa cây cảnh Vị Khê Phải trải qua một quá trình tuyển chọn kỹ lưỡng theo các quy định và luật lệ của làng thì các cây cảnh mới được trở thành lễ vật dâng lên ông Tổ nghề và Thành hoàng làng
Dân làng và du khách thập phương về tề tựu đông đủ vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch Lễ hội diễn ra trong nghi thức thiêng liêng, nghi lễ rước bắt đầu từ đình làng Vị Khê đi đầu là đoàn rước 2 con rồng, tiếp sau tứ linh được trang trí sắc màu rực rỡ uốn lượn uyển chuyển theo nhịp trống, tiếp theo nữa là đội múa lân, đội cờ, đội bát âm,… tiếp theo là “lễ vật” quan trọng của
lễ hội đó là 5 cây cảnh được chọn lọc kỹ lưỡng của 5 xóm được 8 đến 16 người khiêng Đoàn rước có sự tham gia của hàng nghìn người trong trang phục truyền thống dài khoảng 500m đi theo đê sông Hồng xuôi về phía hạ lưu trong tiết trời se se lạnh, mưa bụi lất phất của mùa xuân bao trùm lên các nhà vườn với màu xanh ngút ngàn của cây cối tạo nên một bức tranh thơ mộng huyền ảo
Với màu sắc rực cờ hoa, võng lọng, trang phục sặc sỡ, khí thế của lễ hội hòa quyện trong không gian xanh ngút ngàn của hàng nghìn nhà vườn, hòa trong tiết trời ngày xuân đã tạo nên một bức tranh sinh động hấp dẫn người xem từ thiên nhiên và từ chính người dân Vị Khê Đây là dấu ấn khó quên đối với mỗi du khách đến tham gia lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê, là nhân
tố phục vụ phát triển du lịch tại làng nghề
Trang 28Phần hội của lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê bao gồm các hoạt động như: trưng bày những loài hoa quý, những cây cảnh độc đáo, biểu diễn văn nghệ và các trò chơi dân gian như: cờ người, cờ tướng, tổ tôm điếm, chọi gà, kéo co…
Lễ hội làng hoa cây cảnh Vị Khê còn thu hút du khách bởi cuộc thi tay nghề tạo thế cây cảnh với mục đích nhằm tìm ra những tác phẩm đẹp nhất để trao thưởng đây là nét riêng biệt của lễ hội Cuộc triển lãm hoa cây cảnh trong lễ hội của Làng Vị Khê không những mang đầy đủ các yếu tố của cuộc triển lãm mà
nó còn có những nét riêng biệt, các cây tham gia triển lãm được trưng bày trên mảnh đất “thiêng” nơi phụng thờ ông Tổ của nghề trồng hoa cây cảnh
Như vậy với những nét độc đáo đặc, đặc sắc mang dấu ấn riêng của lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê trong cả phần lễ và phần hội là yếu tố thu hút khách
du lịch khi đến với làng nghề
* Ý nghĩa lễ hội
Lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê là một sợi chỉ đỏ, một gạch nối giữa quá khứ và hiện tại cùng với các nghi thức tế lễ, “tục” rước hoa cây cảnh, “lệ” thi , trở thành nơi trao truyền, tôn vinh các giá trị bí quyết nghề, mạch sống khởi nguồn cho sự sáng tạo của người dân Vị Khê bao đời nay
“Từ Nguyễn Gia Trang xưa - ngôi làng nhỏ bên bờ sông Hồng đỏ lặng phù sa đến làng Vị Khê rộng lớn với hàng nghìn hộ dân ngày nay; nghề trồng hoa, cây cảnh được lan toả ra khắp 20 xã, thị trấn của huyện Nam Trực; các huyện, tỉnh thành phố từ Bắc tới Nam Và với bề dày lịch sử 800 năm hình thành và phát triển từ thời nhà Lý cùng với sự phát triển rực rỡ từ thời nhà Trần trở thành nơi hưởng thụ của các Vương công Quý tộc của các triều đại phong kiến” [6]
Được coi là tiềm năng thúc đẩy phát triển kinh tế xẫ hội của huyện, làng Vị Khê cũng như lễ hội Vị Khê được các cấp ủy Đảng chính quyền quan tâm chỉ đạo, đầu tư phát triển nơi đây trở thành một điểm du lịch tâm linh –
du lịch làng nghề - du lịch sinh thái
* Khả năng kết hợp lễ hội với phát triển du lịch
Lễ hội hoa cây cảnh làng Vị Khê từ ngày 12 đến ngày 16 tháng Giêng
Trang 29là hai sự kiện lớn thu hút du khách ở mọi nơi về với Nam Định Vì vậy có thể xây dựng tour du lịch giữa các cụm đình - đền chùa trên
Lễ hội diễn ra nhằm tôn vinh công lao to lớn của ông tổ nghề trồng hoa cây cảnh nên thu hút rất nhiều người về tham gia không chỉ người dân trong làng, các vùng lân cận mà còn thu hút tất nhiều nghệ nhân nhà vườn trên cả
về tham gia mang những sản phẩm đặc sắc của mình về trưng bày trong lễ hội Tại lễ hội còn tổ chức cuộc thi tay nghề tạo thế cây cảnh, khách du lịch sẽ được tận mắt chứng kiến cách tạo ra thế cây cảnh đẹp từ chính những bàn tay tài ba của người nghệ nhân làng Vị Khê Vì vậy mà du khách đến với làng Vị Khê vào thời điểm lễ hội diễn ra không chỉ tham quan các nhà vườn mà còn được chiêm ngưỡng những tác phẩm cây cảnh đặc sắc của nhiều nhà vườn trên cả nước mang về đây
Lễ hội hoa cây cảnh Vị Khê còn thể hiện nét đẹp văn hóa, phong tục tập quán tín ngưỡng của người dân Đây cũng là một nhân tố hấp dẫn khách
du lịch, họ đi du lịch không chỉ vì quang cảnh đẹp ở địa điểm đó mà họ còn đến để khám phá tìm hiểu lịch sự phát triển và các phong tục tập quán nơi đó
Như vậy lễ hội không những thể hiện nét đẹp văn hóa của người dân Vị Khê mà nó còn là tiềm năng thúc đấy phát triển du lịch ở làng nghề hoa cây cảnh Vị Khê nói riêng, phát triển du lịch tâm linh – du lịch sinh thái- du lịch làng nghề của tỉnh Nam Định nói chung
2.3.2 Cây thế - nghệ thuật hoa cây cảnh Vị Khê
Nghệ thuật tạo cây cảnh chủ yếu là cây thế trở thành tiềm năng phát triển du lịch làng nghề truyền thống ở làng hoa cây cảnh Vị Khê
* Khái niệm cây
Cây thế từ quốc tế gọi là bonsai có hai dạng: bonsai tiếng Trung Quốc trong tiếng Hán cổ được gọi là “bồn tài” tức là cây trồng trong chậu Sau khi
có sự giao lưu phát triển loại hình cây thế với các nước, khi sang đến Nhật Bản thì ở đây do thiên tai, động đất núi lửa, gốc gác của người Nhật là chế tác sáng tạo để tránh sự vi phạm bản quyền của Trung Quốc thì người ta thiết kế theo kiểu khác gọi là fullsai nhưng sau từ ấy trong Hán tự không đẹp nên người ta gọi là bonsai không gọi là bồn tài như của Trung Quốc
Trang 30Cây cảnh Việt Nam thuộc Châu Á nên có sự giống nhau giữa các nước trong khu vực vì vậy trên thế giới sử dụng từ bonsai để gọi chung Còn đối với người Việt xưa thì gọi là cây thế, cây mang đúng 5 yếu tố mới gọi là cây thế: mỹ thuật - nghệ thuật - tâm linh - giáo dục - nhân cách Cây thế là một lối chơi chữ của người Việt cổ như lối viết câu đối ví dụ như cây thế long: có 5 bông tượng hình là con rồng, mà rồng thuộc tứ linh thần vũ trụ thờ các bậc cao linh và cứu dân độ thế, nó còn ẩn chứa âm dương ngũ hành đấy là về mặt tâm linh Về mặt giáo dục nó mang ý nghĩa phú - quý - thọ - khang - ninh, trong cây long có thiết kế râu rồng là ba cùng với 5 bông mang ý nghĩa tam cương, ngũ thường Cây trực là thế cây thể hiện rất rõ lối viết câu đối, nội dung câu đối có thể là 3, 5,7 hoặc 9: 3 là tam đa, 5 là ngũ phúc, 7 là thất hiền,
9 là cửu phẩm
Trong cây thế của người Việt Nam có hai loại, từ Nam đèo Hải Vân trở vào quan niệm khác, Bắc đèo Hải Vân trở ra thì quan niệm khác: Người miền Trung và người miền Bắc luôn coi trọng sinh - lão - bệnh - tử còn người miền Nam thì không kiêng Đối với người miền Nam số 4 được tượng trưng cho: công - dung - ngôn - hạnh còn người miền Bắc quan niệm là sinh - lão - bệnh-
tử, đành rằng là cái tử không ai thoái chết thế nhưng mà cũng không ai muốn chơi cái chết chính vì vậy mà cây thế của miền Bắc là không có con số 4, còn trong miền Nam số 4 là phổ biến vì vậy các nghệ nhân làng Vị Khê khi nhập cây ở miền Nam về phải cắt bỏ số 4 đi để ba hoặc nuôi thêm thành năm đấy là quan niệm về tín ngưỡng
Trong cây cảnh người ta kiêng kỵ những cây gãy ngọn, gãy cành, xuyên tâm Trong tìm hiểu về cây thế có những cái trở thành văn bản từ thời phong kiến như cốt cách, còn văn hóa về hoa cây cảnh đó là văn hóa truyền khẩu Văn hóa truyền khẩu mang tính chính xác không cao nhưng chính sự thất truyền của văn hóa truyền khẩu tạo ra sự sáng tạo đa dạng, nó mà mang tính bác học tròn, vuông, tam giác… như các nước châu Âu thì không có gì là sáng tạo cho nên là
về mặt cốt cách thì như nhau nhưng có những người họ sáng tạo bỏ đi một vài chi tiết hay thêm vào một vài chi tiết hợp lý thì trở thành một nghệ thuật, cây cảnh vừa mang tính triết lý vừa mang tính nghệ thuật
Trang 31* Sự đa dạng của cây thế tạo sự thỏa mãn về nhu cầu của khách du lịch
Ai đã từng đến làng Vị Khê có lẽ cũng đều muốn sống trong không khí của làng làm cây cảnh, màu xanh biếc của làng cây làm tan biến những lo toan Màu xanh ấy đang từng ngày cùng với người nông dân vùng chiêm chũng tạo ra những sản phẩm tinh tế mang đậm nét văn hóa của làng nghề
Sự phong phú về màu, về chủng loại các loài hoa có thể hút khách du lịch thông qua việc chiêm ngưỡng và mua sắp, đặc biệt giá cả ở đây rất rẻ là
cơ hội các nhà kinh doanh đi du lịch kết hợp các mối làm ăn, khách du lịch thập phương mua về làm kỷ niệm, tặng anh em người thân Bởi Vị Khê được mệnh danh là quê hương của nhiều loài hoa như đồng tiền, lay ơn…
Làng cây cảnh Vị Khê còn có sự phong phú về các thế cây như: thế trực, thế long, lập hạc, phụ tử… Bên cạnh đó còn đa dạng chủng loại các loài cây như: đa, sung, lộc vừng, sanh, si, cau vua, tùng la hán…
Để tạo ra một cây cảnh đẹp người nghệ nhân phải mất vài năm cho một cây đơn giản và phải mất hàng chục năm với các cây có thế dáng phức tạp Đối với nghệ nhân trồng cây thì việc chăm sóc cây cảnh cũng là niềm vui của
họ cũng chính vì vậy mà để làm ra một cây thế đẹp thì người nghệ nhân luôn dành hết tâm huyết, sức lực, óc sáng tạo của mình Và để làm ra được một thế cây cảnh đẹp trước hết người nghệ nhân phải triết cây, trải qua khoảng 3 tháng thì hạ xuống đất, sau khoảng 4 tháng cây bắt đầu tốt lên mới bắt tay vào uốn thế rồi tỉa cành Trải qua ít nhất 4-5 năm thì mới tạo được một cây dáng tương đối hoàn thiện
Làm cây cảnh phải đạt được các mục đích: thời gian, không gian và sự kết hợp gia cảnh, từ bốn dáng cơ bản: đứng – ngang - thẳng - khúc khuỷu mà người Việt đã tạo ra 150 thế Cũng như một thế cây long nhưng mà người ta tạo ra dáng một ông lão: cái ông lão ấy hiếm hoi mới sinh được người con thì được gọi là lão mai sinh quý tử, ông lão ấy cõng cháu đi chơi chữ tử bố trí ở trên lưng người ta gọi là lão mai trườn cán cách (ông già cõng cháu đi chơi), cũng thế lão ấy nhưng ông già thế con nhà võ đứng ở tư thế giữ nước, giữ nhà được gọi là phương lão mai Cho nên chữ Hán - Nôm ngày xưa ẩn chứa hàm lượng văn hóa, nó gắn kết dân tộc thời đại nhân sinh hòa quyện với nhau,