1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng việt

58 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 820,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, vị từ dời chuyển trong tiếng Việt có được các nhà ngôn ngữ đề cập đến trong công trình nghiên cứu tổng hợp về vị từ ba diễn tố, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ THANH

PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ DỜI CHUYỂN

TRONG TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ THANH

PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ DỜI CHUYỂN

TRONG TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS Đỗ Thị Hiên

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Đỗ Thị Hiên đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, học tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này một cách tốt nhất

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt thời gian và nguồn tài liệu tham khảo để tôi hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

NGUYỄN THỊ THANH

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài Phát ngôn có vị từ dời

chuyển trong tiếng Việt là đề tài nghiên cứu riêng của tôi dưới sự hướng dẫn

của TS Đỗ Thị Hiên

Phần ngữ liệu nêu trong khóa luận hoàn toàn là xác thực có căn cứ rõ ràng Kết quả của khóa luận này không giống với bất cứ kết quả nghiên cứu của các tác giả nào khác Nếu trùng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

NGUYỄN THỊ THANH

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của khóa luận 5

8 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 7

Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu 7

1.1.1 Bình diện kết học 7

1.1.1.1 Thành phần câu 7

1.1.1.2 Cấu tạo ngữ pháp của câu 9

1.1.2 Bình diện nghĩa học 11

1.1.2.1 Nghĩa biểu hiện của câu 11

1.1.2.2 Nghĩa tình thái 15

1.1.3 Bình diện dụng học 15

1.1.3.1 Cấu trúc đề - thuyết 16

1.1.3.2 Cấu trúc thông tin 17

1.2 Câu và phát ngôn 18

1.3 Tiểu kết 19

Trang 6

Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ VỊ TỪ DỜI CHUYỂN VÀ PHÁT NGÔN CÓ

VỊ TỪ DỜI CHUYỂN TRONG TIẾNG VIỆT 20

2.1 Khái quát về vị từ dời chuyển 20

2.1.1 Khái niệm 20

2.1.2 Đặc trưng 20

2.1.3 Phân loại 23

2.2 Khái quát về phát ngôn có vị từ dời chuyển 24

2.2.1 Khái niệm 24

2.2.2 Cấu trúc ngữ pháp 25

2.2.3 Cấu trúc ngữ nghĩa 29

2.2.3.1 Cấu trúc ngữ nghĩa cơ sở của phát ngôn có vị từ dời chuyển 29

2.2.3.2 Vai nghĩa của các diễn tố 30

2.3 Tiểu kết 31

Chương 3: SỰ HIỆN THỰC HÓA CẤU TRÚC NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA VỊ TỪ DỜI CHUYỂN TRONG PHÁT NGÔN TIẾNG VIỆT 33

3.1 Khả năng hiện diện của các thành tố 34

3.1.1 Khả năng hiện diện đầy đủ 34

3.1.2 Khả năng hiện diện không đầy đủ 35

3.1.2.1 Vắng diễn tố 1 35

3.1.2.2 Vắng diễn tố 2 38

3.1.2.3 Vắng diễn tố 3 39

3.2 Khả năng hiện thực hóa của các thành tố trong vai trò chức vụ cú pháp 41 3.2.1 Chu tố 41

3.2.2 Diễn tố 43

3.2.2.1 Diễn tố 1 43

Trang 7

3.2.2.2 Diễn tố 2 44

3.2.2.3 Diễn tố 3 45

3.2.3 Vị từ trung tâm 46

3.3 Tiểu kết 47

KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu ra đời đã đem đến cho các

nhà nghiên cứu ngôn ngữ một cách tiếp cận, xem xét, nghiên cứu câu mới hơn toàn diện hơn Vì vậy, từ những năm cuối thế kỉ XIX cho đến nay, khi nghiên cứu về ngôn ngữ người ta nhìn nhận các đơn vị của ngôn ngữ ở cả ba phương diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Để bắt kịp sự thay đổi đó chúng tôi nghiên cứu phát ngôn có vị từ dời chuyển cũng xem xét đầy đủ ở cả ba bình diện trên

Vị từ dời chuyển là vị từ xuất hiện nhiều trong giao tiếp hằng ngày, đây là một trong những vị từ có ba diễn tố đi kèm Các vị từ ba diễn tố thì đều phức tạp bởi chúng có nhiều yếu tố xoay quanh Do vậy, khi đi vào phát ngôn chúng có sự biến đổi phức tạp do sự tác động của các yếu tố ngữ dụng

Trước đây, trong quá trình nghiên cứu phát ngôn có vị từ dời chuyển, các nhà ngôn ngữ thường chỉ quan tâm nghiên cứu ở góc độ từ và đặc điểm ngữ pháp của câu Chưa hề có công trình nghiên cứu nào về câu có chứa

vị từ dời chuyển trên ba bình diện Cho nên, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt là một vấn đề sẽ mang đến nhiều điều hay và bổ ích

Với những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: Phát ngôn có vị từ

dời chuyển trong tiếng Việt làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận này

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu câu trên ba bình diện

Như ta biết, câu là một trong những đơn vị cơ bản và vô cùng quan trọng của ngôn ngữ Vì vậy, có thể thấy từ khi ngôn ngữ phát triển thành một hệ thống thì đã có nhiều công trình nghiên cứu về nó với những cách thức

và khuynh hướng khác nhau Người đặt nền móng đầu tiên là Aristotle với các công trình nghiên cứu cách thời đại chúng ta 2000 năm về trước Đặc biệt,

từ những năm cuối của thế kỉ XX đến nay, có nhiều sự thay đổi trong lĩnh vực

Trang 9

nghiên cứu câu với những cách nhìn nhận khác nhau Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mang đầy đủ ba phương diện của ngôn ngữ đó là: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Đồng thời câu cũng có một vị trí quan trọng trong đời sống giao tiếp của con người Khi đó, nó không chỉ được quan tâm ở phương diện ngữ pháp (hình thức) như truyền thống mà nó cần được xem xét kĩ ở cả phương diện ngữ nghĩa (nội dung) và thực tế sử dụng câu trong đời sống hằng ngày (ngữ dụng)

2.2 Lịch sử nghiên cứu vị từ

* Lịch sử nghiên cứu vị từ trên thế giới

Người đầu tiên quan niệm cấu trúc câu bao gồm vị từ và các diễn

tố là L.Tesniere Ông là người mở đầu cho ngữ nghĩa cú pháp học với cuốn

sách “Các yếu tố của cấu trúc cú pháp (1969)” Quan điểm của ông thì vị từ

là yếu tố trung tâm còn các diễn tố (bao gồm cả chủ ngữ - thành phần được coi là nòng cốt của câu) làm bổ ngữ

Người thứ hai nghiên cứu mối quan hệ giữa vị từ và tham tố trong

cấu trúc câu là nhà ngôn ngữ học C.J.Fillmore Với bài viết “Tác dụng của

cách (1968)”, C.J.Fillmore cho rằng vị từ và các tham thể đi kèm của nó sẽ

biểu hiện cốt lõi của sự tình Vị từ là cốt lõi trung tâm còn các tham thể sẽ xoay quanh làm rõ sự tình của câu Ông chỉ ra các vai nghĩa mà các tham tố

có thể đảm nhiệm gồm: tác thể, đối thể, công cụ…Về sau này thì các nhà ngôn ngữ học cũng dần hoàn thiện danh sách vai nghĩa mà ông đã khởi xướng

Sau L.Tesniere và C.J.Fillmore thì nhà ngôn ngữ học S.C.Dik cũng đưa ra quan điểm của mình về vai trò trung tâm của vị từ trong cấu trúc của câu Trong cấu trúc cú pháp thì vị từ là trung tâm còn chủ ngữ và bổ ngữ

là những vai nghĩa được gán cho các tham thể của vị từ Về cấu trúc ngữ nghĩa thì gồm có kết cấu vị ngữ mở rộng và kết cấu vị ngữ hạt nhân Kết cấu

vị ngữ hạt nhân là nòng cốt của câu Còn kết cấu vị ngữ mở rộng được cấu tạo

từ kết cấu vị ngữ hạt nhân cộng thêm các chu tố đi kèm

Một tiêu biểu nữa về nghiên cứu vị từ là nhà ngôn ngữ học

M.A.K.Halliday Với cuối sách “Dẫn luận ngữ pháp chức năng”, ông có

Trang 10

quan niệm câu biểu thị là một quá trình đang diễn ra Trong mỗi quá trình gồm có ba thành phần chính, đó là: thành phần quá trình, các tham thể của quá trình và các chu cảnh liên quan đến quá trình; tương đương với vị từ, tham thể, chu tố trong đó thì vị từ đóng vai trò trung tâm

* Lịch sử nghiên cứu vị từ ở Việt Nam

Tại Việt Nam vị từ được xem xét theo hai quan điểm: vị từ thuộc phạm trù từ loại và vị từ thuộc phạm trù chức năng

Đại diện cho quan điểm coi vị từ thuộc phạm trù từ loại là Nguyễn Kim Thản và Lê Văn Lý Họ cho rằng vị từ bao gồm động từ và tính từ, bởi động từ và tính từ có nhiều đặc điểm giống nhau và phân biệt với danh từ

Tiêu biểu cho quan điểm cho rằng vị từ thuộc phạm trù chức năng là Cao Xuân Hạo và Nguyễn Thị Quy, họ xem xét vị từ dưới phương diện chức năng, đó là chức năng tự mình làm thành một vị ngữ hoặc làm trung tâm ngữ pháp

2.3 Lịch sử nghiên cứu vị từ dời chuyển

Vị từ dời chuyển là một trong số những nhóm từ vựng cơ bản và phổ biến của tiếng Việt Chúng thuộc vào nhóm vị từ có ba diễn tố đi kèm để thể hiện rõ sự tình diễn ra Nhóm vị từ dời chuyển có số lượng tương đối lớn trong tiếng Việt

Vị từ dời chuyển đã xuất hiện trong một số công trình nghiên cứu chung về nhóm vị từ ba diễn tố của các tác giả: Hoàng Trọng Phiến, Trần Văn Thư, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thị Quy, Cao Xuân

Hạo… Mới đây, trong luận án TS.Đỗ Thị Hiên, với công trình “Phát ngôn có

vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt” đã tìm hiểu và đưa ra 8 loại vị từ trong tiếng

Việt và vị từ dời chuyển nằm trong một số nhóm vị từ đó

Nhìn chung, vị từ dời chuyển trong tiếng Việt có được các nhà ngôn ngữ đề cập đến trong công trình nghiên cứu tổng hợp về vị từ ba diễn tố, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về tiểu loại

vị từ dời chuyển và đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu về Phát

ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa

Trang 11

học và dụng học Cũng giống như các công trình nghiên cứu khoa học khác,

đề tài của chúng tôi cũng cần dựa vào các tiền đề lí thuyết của các nhà nghiên cứu đi trước Các công trình được công bố trước đã giúp chúng tôi rất nhiều

về mặt lí thuyết để chúng tôi có thể hoàn thành được đề tài: Phát ngôn có vị

từ dời chuyển trong tiếng Việt

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu Phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt, chúng tôi

hướng đến mục đích là làm rõ những đặc điểm của chúng trên ba phương diện của ngôn ngữ là: hình thức (bình diện kết học), nội dung (bình diện nghĩa học) và cách sử dụng (bình diện dụng học) Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn,

cụ thể hơn về lí thuyết ba bình diện trên câu

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là Phát ngôn có chứa vị từ

dời chuyển trong tiếng Việt

4.2 Phạm vi

Để tìm ra các ngữ liệu, các dẫn chứng nhằm giải quyết vấn đề được đặt ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên phạm vi tư liệu thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, bút kí Việt Nam hiện đại của các tác gia giai đoạn 1930-1975 Những tác phẩm này sẽ cho khóa luận nguồn dẫn chứng phong phú để chứng minh vấn đề

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt,

chúng tôi phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu (kết học, nghĩa học và dụng học) và lí thuyết về câu và phát ngôn để làm cơ sở lí luận cho đề tài

- Nghiên cứu lí thuyết về các vị từ dời chuyển và phát ngôn có vị

từ dời chuyển để xác định và hiểu rõ hơn về đối tượng nghiên cứu

Trang 12

- Nghiên cứu sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của

vị từ dời chuyển trong phát ngôn tiếng Việt

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp phân tích - miêu tả: phương pháp này được sử dụng để phân tích những ngữ liệu đã được thống kê để có thể hiểu hơn về vấn

đề được nghiên cứu, sau đó tổng hợp chỉ ra các đặc trưng của phát ngôn có vị

từ dời chuyển trong tiếng Việt

- Phương pháp phân tích cú pháp: dùng để phân tích ngữ liệu

- Thủ pháp thống kê, phân loại: thông kê cụ thể các phát ngôn có vị

từ dời chuyển trong tiếng Việt dựa theo mục đích nghiên cứu và phân loại chúng theo những tiêu chí nhất định

- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các phát ngôn có đầy đủ thành tố và không đầy đủ thành tố

7 Đóng góp của khóa luận

Kết quả của việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng:

- Về mặt lí luận: đề tài này đã làm rõ được các lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu, lí thuyết về câu và phát ngôn; lí thuyết về vị từ dời chuyển và phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt Bên cạch đó đề tài còn chỉ ra được khả năng xuất hiện của các thành tố và khả năng hiện thực hoá của các thành tố trong vai trò chức vụ cú pháp

- Về thực tiễn: hiểu sắc đáng và cụ thể hơn về phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt; có thể vận dụng chúng trong cuộc sống hàng ngày; cung cấp ngữ liệu để dạy về nghĩa của câu ở trường phổ thông

8 Bố cục của khóa luận

Bố cục nội dung của khóa luận được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Trang 13

Chương đầu tiên của khóa luận chúng tôi trình bày lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu (kết học, nghĩa học và dụng học), và lí thuyết khái quát về câu và phát ngôn

Chương 2: Khái quát về vị từ dời chuyển và phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt

Chương 2, chúng tôi trình bày lí thuyết về vị từ dời chuyển và phát ngôn có vị từ dời chuyển một cách khái quát nhất, giúp người đọc có thể nắm được sơ lược về vị từ dời chuyển và phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt Về vị từ dời chuyển chúng tôi trình bày khái niệm, đặc trưng và cách phân loại Về phát ngôn có vị từ dời chuyển, chúng tôi trình bày khái niệm, cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa

Chương 3: Sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của vị

từ dời chuyển trong tiếng Việt

Ở chương này dựa trên cơ sở của chương 1 và chương 2 chúng tôi

đi vào phân tích những dẫn chứng, những ngữ liệu cụ thể, sau đó sẽ khái quát khả năng hiện diện đầy đủ hay không đầy đủ các thành tố Tiếp theo chúng tôi trình bày khả năng hiện thực hóa của các thành tố trong vai trò chúc vụ ngữ pháp (chu tố, diễn tố, vị từ trung tâm) Trên cơ sở đó chúng tôi sẽ đưa ra những kết luận hoàn toàn có căn cứ về vấn đề này

Ngoài những nội dung chính trên thì khóa luận còn có phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 14

NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu

Đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp hình thức là phương diện hình thức bao gồm tất cả các mặt hình thức của các đơn vị ngôn ngữ trong đó

có câu Câu trong ngữ pháp giúp con người trao đổi thông tin với nhau nhưng

nó không chỉ dừng lại ở mặt lí thuyết mà nó còn được sử dụng hằng ngày trong cuộc sống Đó cũng là một trong những hạn chế nhất định của ngữ pháp hình thức, vì vậy mà ngữ pháp chức năng ra đời đã quan tâm nghiên cứu câu trên cả ba bình diện đó là phương diện hình thức, phương diện ngữ nghĩa, và đặc biệt là phương diện thực tế sử dụng

Khi nghiên cứu tín hiệu, Charles Morri đã phân xuất ba chiều hay

ba bình diện:

- Bình diện kết học: là quan hệ hình thức giữa tín hiệu và tín hiệu

- Bình diện nghĩa học: là quan hệ giữa tín hiệu và sự vật mà tín hiệu biểu hiện

- Bình diện dụng học: là quan hệ giữa tín hiệu và người sử dụng

1.1.1 Bình diện kết học

1.1.1.1 Thành phần câu

Việc phân tích thành phần câu (nêu tên, khái niệm, tiêu chí phân loại) được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau đến nay vẫn chưa có sự nhất quán

Theo quan niệm truyền thồng, các thành phần trong câu được chia ra làm ba loại: các thành phần chính (gồm có chủ ngữ và vị ngữ), các thành phần phụ, thứ yếu (bao gồm: trạng ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, định ngữ) và các thành phần biệt lập (chú ngữ, hô ngữ, tình tháu ngữ, cảm thán ngữ)

Tuy nhiên, có quan niệm chia thành phần câu thành bốn loại, đây là loại phổ biến được nhiều người đồng tình và sử dụng để phân tích câu Trong

Trang 15

khóa luận này thì chúng tôi đồng tình với quan niệm này để phân tích câu trong các ví dụ cụ thể Thành phần câu được chia thành bốn loại như sau:

- Thành phần chính của câu (thành phần nòng cốt câu): đây là những thành phần bắt buộc phải có mặt trong câu, nếu thiếu chúng thì câu không được hoàn chỉnh cả về nội dung ý nghĩa và hình thức cấu tạo câu Thành phần chính của câu gồm: chủ ngữ và vị ngữ

Ví dụ (1): Tôi xin lỗi bác [5-tr.160]

Ví dụ này gồm chủ ngữ là tôi và vị ngữ là xin lỗi bác

- Thành phần phụ của câu: thành phần này chỉ làm bổ ngữ cho câu (có thể thiếu vắng trong câu mà câu vẫn trọn vẹn về cả nội dung và hình thức) bao gồm: trạng ngữ, vị ngữ phụ và khởi ngữ

Ví dụ (2): Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của

trong làng [5-tr.26]

Ví dụ (2) có trạng ngữ chỉ thời gian hai mươi năm về trước là thành

phần phụ của câu, bổ sung ý nghĩa về mặt thời gian

- Thành phần phụ của từ là thành phần bổ sung ý nghĩ cho các từ (danh

từ, động từ, tính từ) bao gồm bổ ngữ và định ngữ

Ví dụ:

(3) Nó hí hửng khoe với tôi món tiền, rồi vừa xếp quần áo vào khăn

gói, vừa pha trò [3-tr.353]

Trong ví dụ này hí hửng là thành phần phụ của từ khoe, nó bổ sung ý nghĩa cho động từ khoe

- Thành phần biệt lập là thành phần không tham gia vào việc diễn đạt nghĩa sự việc của câu gồm có: hô ngữ, liên ngữ, tình thái từ, phụ chú ngữ

Ví dụ (4): Ồ! Thế thì Văn Minh tôi xin ký cả hai tay [5-tr.250]

Thành phần biết lập ở ví dụ (4) là tình thái từ ồ!

Trang 16

1.1.1.2 Cấu tạo ngữ pháp của câu

Cấu trúc ngữ pháp của câu cũng là một trong những đối tượng nghiên cứu của bình diện kết học Dựa vào số lượng các cụm chủ - vị (C – V), số lượng kết cấu C – V mà các nhà ngôn ngữ học phân thành ba loại câu là: câu

đơn, câu ghép và câu phức

Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ-vị Trong câu đơn thì có 2 tiểu loại

là câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt

Ví dụ:

(5) Người tài xế xuống mở cửa xe [5-tr.263]

Ví dụ (5) là câu đơn bình thường có chủ ngữ là người tài xế và vị ngữ

là xuống mở cửa xe

(6) Ối giời ơi anh Viên!

Ví dụ (6) là câu đơn đặc biệt dùng để bài tỏ cảm xúc

Câu ghép là câu có ít nhất hai cụm chủ - vị (có thể nhiều hơn 2), trong

đó thì các cấu trúc chủ - vị tương đối độc lập với nhau, chúng không phải là thành tố cấu tạo nên nhau, mặc dù chúng vẫn có ý nghĩa với nhau Trong câu ghép thì có các tiểu loại là câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ

Ví dụ:

(7) Lúc ấy, thằng nhỏ nhà ấy đang lúi húi thắp nắm hương, tao cúi

ngay xuống, nhặt lên, bỏ tọt vào túi [3-tr.108]

Ví dụ (7) là câu ghép đẳng lập với 2 cụm C – V:

Cụm C – V 1: Thằng nhỏ nhà ấy đang lúi húi thắp nắm hương

Cụm C – V 2: tao cúi xuống nhặt lên, bỏ tọt vào túi

(8) Con vẫn lướt mướt khóc, chó vẫn ý ẳng kêu, chị nhất định giả câm

giả điếc mong cho chóng đến nhà cụ Nghị [6-tr.117]

Ví dụ (8) là câu ghép đẳng lập với 3 cụm chủ vị:

Cụm C – V 1: Con vẫn lướt mướt khóc

Cụm C – V 2: chó vẫn ý ẳng kêu

Trang 17

Cụm C – V 3: chị nhất định giả câm giả điếc mong cho chóng đến nhà

Ví dụ:

(10) Một thiếu niên nhỏ, mặt hốc hác như những nhà thi sĩ có tên tuổi,

đôi mắt lờ đờ, cái thân thể ốm o lẩn trong bộ Âu phục quần chân voi, cứ đăm đăm chiêu chiêu nhìn cô Tuyết [5-tr.341]

Ví dụ (10) là câu phức thành phần vị ngữ vì vị ngữ của câu được cấu tạo từ nhiều cụm chủ - vị:

Cụm C – V 1: mặt hốc hác như những nhà thi sĩ có tên tuổi

Cụm C – V 2: đôi mắt lờ đờ

Cụm C – V 3: cái thân thể ốm o lẩn trong bộ Âu phục quần chân voi (11): Con chó cái nằm ở gậm phản bỗng chốc vẫy đuôi rối rít, tỏ ra

dáng bộ vui mừng [6-tr.102]

Ví dụ (11) là câu phức thành phần chủ ngữ vì chủ ngữ của câu được

cấu tạo bởi một cụm C – V: Con chó cái nằm ở gậm phản, vị ngữ của câu là (bỗng chốc) vẫy đuôi rối rít, tỏ ra dáng bộ vui mừng

Tóm lại, bình diện kết học của câu nghiên cứu về mặt hình thức trừu tượng của câu (thành phần câu và cấu tạo ngữ pháp của câu) nên nó mang tính khuôn mẫu, có cấu trúc tổng quát Còn sự phân chia các kiểu cấu trúc cú pháp

Trang 18

của câu trên đây chỉ là kiểu phân chia của đông đảo các nhà ngôn ngữ học chấp nhận, chứ chưa phải kiểu mẫu, kiểu kết luận

1.1.2 Bình diện nghĩa học

Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) tập trung xem xét ý nghĩa của câu,

vì vậy đối tượng nghiên cứu của bình diện này là câu và cái biểu đạt của câu Trong đó có hai phương diện chính là: nghĩa biểu hiện của câu và nghĩa tình

thái của câu

1.1.2.1 Nghĩa biểu hiện của câu

Nghĩa biểu hiện (hay là nghĩa miêu tả, nghĩa kinh nghiệm, nghĩa sự việc, nghĩa mệnh đề) của câu là phần nghĩa phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng trong thực tế đời sống qua cái nhìn chủ quan của người nói, người viết

Nghĩa biểu hiện của được thể hiện bởi hai thành tố, đó là: vị từ và các tham thể, trong đó vị từ thể hiện cốt lõi của sự tình, còn tham thể tham gia

bổ sung cho vị từ làm hoàn chỉnh nghĩa sự việc của câu Cấu trúc nghĩa được thể hiện qua cấu trúc vị từ - tham thể

Do đó, phân tích tìm hiểu nghĩa biểu hiện của câu là tìm hiểu:

- Các loại vị từ và các loại tham thể

- Mối quan hệ giữa các cấu trúc vị từ - tham thể với cấu trúc ngữ pháp của câu - cũng tức là mối quan hệ giữa các vai nghĩa với các thành phần câu: chủ ngữ, vị ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ

Ví dụ:

(12) Thằng xe lại chạy ra vườn [5-tr.119] (vị từ là động từ)

(13) Cái áo dài vải thâm ngắn cẫng, đỏ kệch, may từ năm lên mười

Trang 19

câu hỏi như: hành động của đối tượng được phản ánh là gì? Có trạng thái như thế nào? Có tính chất gì? Có quan hệ như thế nào với đối tượng có liên quan? Phương tiện ngôn ngữ được dùng để thể hiện vị từ là động từ, tính từ, các từ chỉ quan hệ đôi khi cả danh từ

Trong các ví dụ đã dẫn, phương tiện ngôn ngữ được sử dụng là động từ

“chạy” ở (12), tính từ “ngắn cẫng, đỏ kệch” ở (13) và từ quan hệ “là” ở

(14)

Thành phần thứ hai là các tham tố (tham thể), tham thể là các thực thể tham gia vào cấu trúc vị từ - tham thể của sự tình Phương tiện ngôn ngữ được

sử dụng để thể hiện các tham thể thường là danh từ, cụm danh từ Ở ví dụ

(12), (13), (14) có các tham thể sau: thằng xe (chủ thể dời chuyển), vườn (đích đến), cái áo dài (thể mang tính chất)…

Như đã nói ở trên, vị từ và tham thể có quan hệ chi phối nhau trong cấu trúc của câu, vị từ là trung tâm nên nó sẽ quyết định số lượng và vai trò về nghĩa của các tham thể đi kèm với nó Tham thể trong cấu trúc vị từ - tham thể thì có hai loại: tham thể bắt buộc (diễn tố) và tham thể mở rộng (chu tố)

Tham thể bắt buộc là tham thể phải có mặt trong cấu trúc để làm rõ sự tình được phản ánh, nếu thiếu tham thể bắt buộc thì sự tình không được hoàn chỉnh Dựa vào sự chi phối của vị từ đối với các tham thể thì tham thể bắt buộc thì vị từ được chia ra làm các loại sau:

- Loại vị từ đòi hỏi một tham thể bắt buộc biểu thị nghĩa về trạng thái tâm lí, trạng thái sinh lí, chỉ đặc điểm, tính chất…

Trang 20

(17) Gió hiu hiu [3-tr.438]

(hiu hiu: vị từ chỉ trạng thái tính chất; gió: thể mang tính chất, trạng thái: hiu hiu)

- Loại vị từ yêu cầu hai tham thể bắt buộc đi kèm: đó là các vị từ tác động làm vật dời chuyển, làm thay đổi trạng thái vật lí của vật, làm vật

bị biến hóa, hủy diệt, các vị từ tạo tác, vị từ cảm nghĩ

Ví dụ:

(18) Ông ta nhìn vào quyển sổ, rồi nói nhỏ với người lính… [6-tr.262]

Ở ví dụ (18) có hai tham thể đi kèm vị từ nhìn là Ông ta: chủ thể hành động, quyển sổ: đối tượng của hành động

(19) Bà đoán ràng họ khoảnh ăn [1-tr.161]

Ví dụ (19) vị từ cảm nghĩ đoán có hai tham thể đi kèm là bà: chủ thể cảm nghĩ, họ khoảnh ăn: đối tượng cảm nghĩ

- Loại vị từ phải có ba tham thể bắt buộc đi kèm:

+ Vị từ trao nhận đòi hỏi: chủ thể thực hiện hành động, tiếp thể chỉ người nhận, đối thể chỉ vật được trao nhận

(20) Cụ đưa luôn cho anh đầy tớ năm đồng [1-tr.37]

Ví dụ (20) vị từ trao nhận đưa có ba tham thể đi kèm là Cụ: chủ thể hành động, anh đầy tớ: đối tượng trao nhận, năm đồng: vật trao nhận

+ Vị từ cầu khiến đòi hỏi: chủ thể cầu khiến, đối thể chỉ người được cầu khiến và nội dung cầu khiến

(21) Người ta mời Thư uống nước [1-tr.161]

Ở ví dụ (21) vị từ cầu khiến mời có ba tham thể đi kèm là người ta: chủ thể cầu khiến, Thư: đối tượng cầu khiến, uống nước: nội dung cầu khiến

+ Vị từ dời chuyển vật tới một vị trí khác đòi hỏi ba tham thể: chủ thể dời chuyển, đối thể được di chuyển, đích/nguồn chuyển tới

(22) Bước đến sàn điếm, Lý trưởng quăng tạch cuốn sổ xuống bàn, giơ

tay chỉ vào mắt mấy tên đàn em [6-tr.96]

Trang 21

Vị từ dời chuyển quăng ở ví dụ (22) có ba tham thể đi kèm Lý trưởng: chủ thể dời chuyển, cuốn sổ: vật dời chuyển, bàn: đích chuyển tới

Một số vị từ không đòi hỏi tham thể đi kèm, đó là trường hợp của một

số câu đặc biệt Ví dụ:

(23) Thôi! Đúng chết rồi… [1-tr.114]

(24) Mẹ khiếp! [1-tr.137]

Tham thể mở rộng hay còn gọi là chu tố, chúng xuất hiện nhằm bổ sung

thêm một phương diện nghĩa nào đó cho cấu trúc nghĩa vị từ - tham thể Chúng không do vị từ quy định mà do các yếu tố ngoài sự tình quy định, chúng có thể có mặt ở nhiều (hay tất cả) các loại vị từ (sự tình) Tham thể mở rộng thường bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc đặc trưng – tham thể về các phương diện sau: không gian, địa điểm, thời gian, cách thức, mục đích, phương tiện, nguyên nhân

Ví dụ:

(25) Bên ngoài, ánh nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa, có mấy tiếng gà

trưa cất lên eo óc [4-tr.216] (tham thể chỉ nơi chốn)

(26) Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy [4-tr.221] (tham thể

chỉ thời gian)

(27) Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: vì có ai nấu cho ăn đâu? [1-tr.53]

(tham thể chỉ nguyên nhân)

Tham thể mở rộng không chịu sự chi phối của vị từ nhưng không có nghĩa là nó không liên quan đến vị từ Các tham thể mở rộng (chu tố) khi tham gia vào sự tình phải có sự phù hợp về mặt ý nghĩa với vị từ

Giữa tham thể bắt buộc và tham thể mở rộng có sự khác biệt là ở sự chi phối hoặc không chi phối của vị từ đối với các tham thể Từ đó quyết định chức vụ cú pháp mà các tham thể có thể đảm nhiệm Nếu tham thể bắt buộc thường làm chủ ngữ, bổ ngữ thì tham thể mở rộng thường đóng vai trò làm trạng ngữ, khởi ngữ, đề ngữ, vị ngữ phụ Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, ở những trường hợp cụ thể, cùng là một tham thể đó nhưng khi đi với vị từ này

Trang 22

thì là tham thể bắt buộc còn đi với vị từ khác thì lại là tham thể mở rộng Điều này chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn ở chương 3 của khóa luận

1.1.2.2 Nghĩa tình thái

Nghĩa tình thái là một phần nghĩa không thể thiếu của câu, tuy nhiên so với nghĩa miêu tả thì nghĩa tình thái của câu rộng, phức tạp, tinh tế và trừu tượng hơn nên nó khó nắm bắt Hiểu khái quát có thể hiểu rằng, nghĩa tình thái là một bộ phận nghĩa của câu thể hiện thái độ hay quan hệ giữa người nói với người nghe, giữa người nói với hiện thực (sự tình) được phản ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan

Nghĩa tình thái phong phú, đa dạng, các nét nghĩa lại đan xen lẫn nhau nên khó phân loại rõ ràng, rành mạch Sau đây, chúng tôi xin đưa ra các loại hình thái dễ nhận biết và hay được sử dụng:

- Tình thái của hành động phát ngôn như: kể, hỏi, cầu khiến, cảm than… nhằm chỉ mục đích của phát ngôn, nó sẽ tương ứng với các kiểu câu: câu trần thuật, câu cảm thán, câu cầu khiến, câu nghi vấn

- Tình thái liên cá nhân thể hiện thái độ, tình cảm, quan hệ giữa người nói với người nghe Nó thường được thể hiện qua cách dùng các đại từ nhân xưng, cách dùng các động từ, thán từ hô gọi, cách dùng các tiểu từ tình thái

- Tình thái chủ quan thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc nêu ở trong câu

- Tình thái khách quan nêu nhận xét, đánh giá về sự việc được phản ánh trong câu nhưng ở góc độ khách quan, dùng để kiểm tra tính đúng/sai của sự đánh giá

Trên đây là sự trình bày của chúng tôi về hai vấn đề là nghĩa biểu hiện

và nghĩa tình thái của bình diện ngữ nghĩa Chúng sẽ có nhiều ảnh hưởng tới kết quả của khóa luận này

1.1.3 Bình diện dụng học

Bình diện dụng học (ngữ dụng) nghiên cứu của mối quan hệ của câu với các nhân tố như: với các nhân vật giao tiếp, với ngữ cảnh, với mục đích

Trang 23

giao tiếp, nhiệm vụ và hệ quả giao tiếp… Ở bình diện này, câu không chỉ được xem xét ở trạng thái tĩnh như ở bình diện kết học và bình diện nghĩa học

mà nó được nhìn nhận ở trạng thái động bởi nó gắn liền với thực tế sự dụng

Bình diện dụng học nghiên cứu nhiều khía cạnh của câu như: cấu trúc

đề - thuyết, cấu trúc lập luận, cấu trúc thông tin, các thành phần ngữ dụng của câu, các hiện tượng tiêu điểm hóa, sự hiện thực hóa cấu trúc cú pháp của câu trong phát ngôn… Nhưng ở khóa luận này chúng tôi chỉ trình bày cấu trúc đề

- thuyết và cấu trúc thông tin vì đó là những cơ sở lý thuyết giúp chúng tôi đưa ra những kết luận ở chương 3 của khóa luận này

Phần đề là những sự vật, hiện tượng đã được nhắc đến trong câu cũng

có nghĩa là người đọc người nghe đã nắm bắt được thông tin Phần đề có thể lược bỏ trong câu

Phần thuyết là sự diễn giải, phát triển của phần đề, nó thường là một nội dung thông báo mới Một câu hoàn chỉnh không thể không có phần thuyết

Phần khung đề thường biếu thị thời gian, ngữ cảnh, thường đứng ở đầu câu, tương tự như thành phần trạng ngữ trong cấu trúc chủ - vị

Phần minh xác ngữ thường ứng với vị ngữ phụ trong cấu trúc chủ - vị,

nó bổ sung ý nghĩa cho các sự kiện ở nòng cốt câu

Để xác định thành phần đề - thuyết thì chúng ta có thể dựa vào các tiêu chí sau đây:

Trang 24

- Về phương tiện ngôn ngữ: có xuất hiện các từ “thì, là, mà”, trước các

từ đó là phần đề, sau là phần thuyết

- Về nội dung: phần đề nêu ra đối tượng, phần thuyết nêu ra nội dung của đối tượng đó

- Về vị trí: phần đề đứng trước phần thuyết

- Về từ loại: phần đề thường được cấu tạo từ danh từ, cụm danh từ, đại

từ, còn phần thuyết thường được cấu tạo từ động từ/cụm động từ, tính từ/cụm tính từ

- Về khả năng lược bỏ: phần đề có khả năng lược bỏ, phần thuyết thì không thể lược bỏ

1.1.3.2 Cấu trúc thông tin

Ngoài cấu trúc đề - thuyết ở bình diện ngữ dụng câu còn có cấu trúc tin Khác với cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩ, cấu trúc thông tin luôn luôn phải gắn với hoàn cảnh giao tiếp Phải đặt câu trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể thì ta mới xác định được cấu trúc thông tin của câu Cấu trúc thông tin của mỗi câu thường gồm hai phần: phần tin cũ và phần tin mới hay ngắn gọn hơn

là tin cũ - tin mới

Tin cũ là cái có sẵn mà những người tham gia giao tiếp đều đã biết trong quá trình giao tiếp Nó là phần tin mà trước khi câu đó được nói ra, người nói lẫn người nghe đều có thể liên tưởng, suy ra từ những tin đã được nhắc đến Tuy nhiên, tin cũ có thể được lược bỏ vì nó không phải là nòng cốt của thông tin

Tin mới là phần tin chưa được nhắc đến cả người nói và người nghe đều không được biết trước khi câu nói đó xuất hiện, câu nói đó là lần đầu tiên được đưa vào trong giao tiếp Đây là phần trung tâm không thể lược bỏ được như tin cũ

Muốn xác định được cấu trúc tin ta cần phải căn cứ vào tình huống giao tiếp hoặc vị trí của câu và quan hệ của câu đó đối với các câu khác, nhất là câu đi trước

Trang 25

Về phương tiện ngôn ngữ thì tin cũ thường được biểu hiện bằng đại từ

thay thế (nó, chúng nó, hắn…), các từ lặp lại… còn tin mới thường được thể hiện bằng nhấn giọng khi nói, hoặc hư từ đánh dấu: chính, đích, cả, ngay… có

thể phối hợp cả hai phương tiện đó

Ví dụ:

(28): Thì ra cậu Vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi, ông giáo ạ [1-tr.186]

Ví dụ (28) thì tin cũ là cậu ấy (đại từ thay thế); ăn khỏe hơn cả tôi là tin

mới

(29): Chí Phèo đấy hở? Lè bè vừa thôi chứ, tôi không phải cái kho

[1-tr.59]

Ví dụ (29) có tin cũ là Chí Phèo; tin mới là tôi không phải cái kho

Như vậy, với bình diện ngữ dụng thì câu được quan tâm sử dụng thực

tế trong hoạt động giao tiếp với các thông tin chứa đựng những nội dung giao tiếp để đạt hiệu quả trong quá tình giao tiếp Do đó mà bình diện ngữ dụng quan tâm nhiều đến cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin

1.2 Câu và phát ngôn

Câu là đơn vị cơ bản trong hệ thông ngôn ngữ và nó có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động giao tiếp của con người Trước khi lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu ra đời, các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu câu chỉ quan tâm đến cấu trúc trừu tượng, quan tâm đến các mối quan hệ và chức năng ngữ pháp của câu mà xem nhẹ vấn đề thực tế sử dụng của câu Tuy nhiên từ những năm cuối thế kỉ XX cho đến nay, nghiên cứu ngôn ngữ đã xem xét câu trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học Đặc biệt là vấn đề dụng học của câu được quan tâm và xem xét kĩ lưỡng Mà nói đến bình diện dụng học là nói đến việc câu được sử dụng như thế nào trong thực tiễn cuộc sống Câu đi vào thực tế cuộc sống sẽ có những biến thể trong lời nói thì đó được gọi là phát ngôn Nói cách khác, phát ngôn là sự hiện thực hóa của câu trong thực tế sử dụng

Câu và phát ngôn có cùng cấp độ với nhau nhưng chúng được nhìn nhận từ các phương diện khác nhau Nếu câu được nhìn nhận từ phương diện

Trang 26

cấu trúc ngữ pháp thì phát ngôn được nhìn từ góc độ thực tế sử dụng Từ đó

mà ta thấy câu mang tính trừu tượng khái quát còn phát ngôn ngoài cấu trúc trừu tượng, còn có:

- Hình thức cụ thể: từ ngữ, ngữ điệu, dấu hiệu văn tự…

- Nội dung ý nghĩa cụ thể gồm có: nghĩa biểu hiện, nghĩa tình thái, nghĩa nảy sinh…

- Mục đích giao tiếp và hành động ngôn ngữ cụ thể gián tiếp/trực tiếp

- Nghĩa tường mình và nghĩa hàm ẩn: Nghĩa tường mình là nét nghĩa đen thể hiện qua các chữ trong câu Nghĩa hàm ẩn được suy ra từ nghĩa tường mình và hoàn cảnh giao tiếp

- Sự phân bố nội dung tin cũ – tin mới thích hợp với từng tình huống giao tiếp

Như vậy, ta thấy câu và phát ngôn luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Câu chính là nền tảng để tạo nên phát ngôn, ngược lại phát ngôn là

sự hiện thực hóa của câu trong thực tế sử dụng

1.3 Tiểu kết

Ở chương 1 này, chúng tôi cung cấp các lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu đó là: bình diện kết học, bình diện nghĩa học, và bình diện dụng học

Bình diện kết học thì chúng tôi xem xét về thành phần câu và cấu tạo ngữ pháp của câu Bình diện nghĩa học thì xem xét hai vấn đề chính là nghĩa biểu hiện và nghĩa tình thái của câu Bình diện dụng học thì xem xét câu trên hai cấu trúc là cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin

Ngoài lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu thì chúng tôi còn cung cấp những lí thuyết về câu và phát ngôn

Đây sẽ là phần cơ sở lí thuyết để chúng tôi dựa vào để có kết quả nghiên cứu ở hai chương sau

Trang 27

Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ VỊ TỪ DỜI CHUYỂN VÀ PHÁT NGÔN

CÓ VỊ TỪ DỜI CHUYỂN TRONG TIẾNG VIỆT 2.1 Khái quát về vị từ dời chuyển

Vị từ dời chuyển thuộc nhóm vị từ ba diễn tố, đòi hỏi tham thể đi kèm

để thể hiện đầy đủ sự tình dời chuyển, đó là: chủ thể dời chuyển, vật dời chuyển và đích/nguồn

2.1.1 Khái niệm

Về khái niệm vị từ dời chuyển thì chưa có tác giả nào đưa ra khái niệm một cách hệ thống Tuy nhiên, dựa theo đặc trưng hành động và ý nghĩa của tiểu loại vị từ này, chúng tôi đưa ra cách xác định vị từ dời chuyển như sau:

Vị từ dời chuyển là những vị từ biểu thị hoạt động tác động của chủ thể lên

một đối thể làm thay đổi vị trí của đối thể đó

Lưu ý, chúng ta cần phân biệt rõ vị từ dời chuyển khác với vị từ tác động Vị từ tác động là vị từ hai diễn tố, còn vị từ dời chuyển là vị từ ba diễn

tố Ví dụ:

(30) Nó lễ mễ xách cái túi

Vị từ tác động xách có hai diễn tố đi kèm nó (chủ thể tác động) và cái

túi (vật bị tác động)

(31) Nó xách cái túi để lên bàn

Xách trong ví dụ (31) là vị từ dời chuyển với ba diễn tố đi kèm là nó

(chủ thể dời chuyển), cái túi (vật dời chuyển) và bàn (đích dời chuyển)

Nói tóm lại, vị từ dời chuyển là vị từ ba diễn tố gồm có chủ thể dời chuyển tác động một lực lên đối thể làm đối thể đó thay đổi vị trí ban đầu

2.1.2 Đặc trưng

Vị từ dời chuyển thuộc nhóm vị từ hành động nên chúng tôi xin dựa vào các đặc trưng của vị từ hành động mà S.C.Dik (1981) đã đề ra để xác định đặc trưng của vị từ dời chuyển, đó là đặc trưng [± Động] và [±Chủ ý]

Trang 28

Trong đặc trưng [Động] thì có sự tình [+ Động] và sự tình [- Động] Sự tình [+ Động] là sự tình biểu thì sự thay đổi của đối tượng trong hoạt động giao tiếp Sự tình [- Động] là sự tình biểu thị sự không thay đổi (sự tình tĩnh) trong cả quá trình sự tình đó diễn ra Dựa vào các quy tác ngữ pháp thì chúng

ta có thể nhận biết được hai đặc trưng này Qua đó ta có thể nhận thấy rằng vị

từ dời chuyển có mang đặc trưng [+ Động]

- Vị từ dời chuyển biểu thị hoạt động làm thay đổi vị trí của đối tượng

cho nên nó có thể kết hợp với các phụ từ chỉ hướng di chuyển: lên,

xuống, ra, vào, trên, dưới…

Ví dụ:

(32) Chị vừa lẩm bẩm, vừa dập lửa rồi bắc cái nồi ở trên bếp xuống,

lấy một cái vỏ trai múc vào mấy cái bát sành sứt mẻ tứ tung, đặt ngay trên mặt đất [1-tr.6]

(33) Dung treo cái bị lên bức vách, rồi lật đật xuống núi [4-tr.291] (34) Lão ta đặt mâm xuống giường, khập khiễng bước ra ngoài bực

cửa [4-tr.323]

- Vị từ dời chuyển biểu thị hoạt động nên nó có kết hợp với các từ chỉ

thái độ của người thực hiện hành động đó là: vui vẻ, căm tức, buồn bã, hí

- Vị từ dời chuyển biểu thị sự dịch chuyển nên nó có thể đi với các từ

chỉ tốc độ: bỗng, bèn, nhanh nhảu, thoăn thắt, ì ạch…

Ví dụ:

(37) Thằng chồng ì ạch khênh cái thùng vào nhà [3-tr.107]

Trang 29

(38) Mẹ Mới ở phía sau đình lếch thếch ôm mấy chiếc chiếu đặt lên

sân đình [6-tr.97]

Vị từ dời chuyển còn có đặc trưng [± Tác động], bởi bản thân vị từ dời chuyển nhằm biểu thị sự di chuyển của đối tượng nên đương nhiên nó có đặc trưng [±Tác động] Đặc trưng [± Tác động] của vị từ dời chuyển được thể hiện ở chỗ nó làm thay đổi vị trí của đối tượng bị tác động bởi một chủ thể hành động

(39) Dứt lời, ông ném phịch xác con gà quí báu xuống đất, đoạn vỗ tay

phủi bụi, thong thả đi lên nhà trên, cất tiếng gọi: [4-tr.96]

Ví dụ (39) có chủ thể hành động là ông; đối tượng bị tác động là xác

con gà

Sự tác động của vị từ dời chuyển được thể hiện theo các mức độ tăng

dần khác nhau: mang, cầm, ném, quăng, trút, vứt, liệng…

Ngoài các đặc trưng [± Động] và [±Tác động], vị từ dời chuyển còn mang đặc trưng [± Chủ ý] Đặc trưng này dựa vào nội dung và ý nghĩa của vị

từ, đó là chủ thể thực hiện hành động một cách có chủ ý chứ không phải ngẫu nhiên hay vô tình Đặc trưng này tiêu biểu cho con người, phân biệt với hành động của con người với các động vật khác, nó gắn liều với ý thức, thái độ và trách nhiệm khi hành động Dời chuyển là một hành động mang tính chủ ý cao

(40) Thị bốc trộm gạo sống cho vào túi để ăn dần [1-tr.247]

Ví dụ (40) hành động bốc trộm gạo sống cho vào túi để ăn dần là có sự tính toán có chủ ý hành động của Thị

Ngoài ra còn một số đặc điểm nữa để khẳng định vị từ dời chuyển mang đậm đặc trưng [±Chủ ý] đó là:

- Vị từ dời chuyển đòi hỏi ít nhất một diễn tố đi kèm, diễn tố chỉ chủ thể của hành động, chủ thể mang chủ ý Vị từ dời chuyển không chỉ có diễn tố chủ thể mà còn có hai diễn tố đi kèm đó là đối tượng bị tác động dời chuyển, hai là nguồn/đích dời chuyển của đối tượng

Ngày đăng: 23/12/2019, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w