Từ những tư tưởng tiến bộ của Nho giáo, Lê Thánh Tông đã ban hành nhiều chính sách để hoàn thiện bộ máy nhà nước, củng cố trật tự xã hội với những điều luật trong bộ luật Hồng Đức, các c
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ sự chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của TS Nguyễn Thị Thanh Vân - người đã giúp đỡ
tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô chuyên ngành Hán Nôm, Tổ Văn Học Việt Nam, Khoa Ngữ văn đã quan tâm, khích lệ nhiệt tình giảng dạy; cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa, Ban Giám hiệu nhà trường, Thư viện và các phòng ban liên quan của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả khóa luận
Nguyễn Minh Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đay là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thanh Vân Khóa luận với đề tài “Nho giáo với tư tưởng trị nước trong thơ văn Lê Thánh Tông” chưa từng được công
bố trong bất kì nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai phạm, tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm theo đúng quy định trong nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả khóa luận
Nguyễn Minh Hằng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 7
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Bố cục khóa luận 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHO GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 9
1.1 Khái quát chung về Nho giáo 9
1.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển Nho giáo ở Trung Quốc 9
1.1.2 Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo 13
1.2 Truyền bá và ảnh hưởng của Nho giáo đến văn học trung đại Việt Nam 16
1.2.1 Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam và những ảnh hưởng của Nho giáo đến xã hội phong kiến 16
1.2.2 Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến văn học trung đại Việt Nam 22
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 NHO GIÁO VỚI TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC TRONG THƠ VĂN LÊ THÁNH TÔNG 27
2.1 Lê Thánh Tông – một nhà chính trị, một nhà thơ 27
2.1.1 Lê Thánh Tông – Hoàng đế Nho gia trong bối cảnh độc tôn của Nho giáo 27
2.1.2 Lê Thánh Tông với văn chương thời Hồng Đức 29
2.2 Tư tưởng Đức trị của Nho giáo trong thơ văn Lê Thánh Tông 32
Trang 62.2.1 Quan niệm về “Tu thân” của người “Quân tử” 33
2.2.2 Thái độ trân trọng người hiền tài 41
2.2.3 Tư tưởng thân dân, thương dân của Lê Thánh Tông 45
2.3 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong bút pháp nghệ thuật sáng tác 53
2.3.1 Bút pháp vịnh 53
2.3.2 Thời gian nghệ thuật 56
Tiểu kết chương 2 61
KẾT LUẬN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lê Thánh Tông - 黎聖宗 (1442-1497), vị vua thứ năm của triều Lê Sơ nước Đại Việt Ông là một vị vua vừa có tài trị quốc vừa có tài văn thơ Thời đại Hồng Đức được coi là giai đoạn đất nước phát triển nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam Trong dân gian ta đã lưu truyền câu ca dao:
“Đời vua Thái Tổ, Thái Tông, Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.”
Câu ca dao đã thể hiện được sự tự hào của nhân dân về đất nước trong cảnh thái bình, thịnh trị và thể hiện sự biết ơn với sự chăm lo của vua quan nhà Lê tới đời sống của nhân dân Kế thừa và phát huy đường lối trị nước của cha ông, trong suốt 38 năm trị quốc, Lê Thánh Tông đã đưa đất nước vào thời
kì thịnh trị nhất trong lịch sử
Những thành tựu của Đại Việt đã và đang được giới nghiên cứu tìm hiểu và đã có những nhận xét rất đúng đắn về nó Những nghiên cứu và đánh giá được nhìn nhận từ nhiều góc độ, từ những nghiên cứu của giới lịch sử đến các nhà nghiên cứu triết học tư tưởng, các nhà xã hội học, giới nghiên cứu văn học Các công trình nghiên cứu về nhiều vấn đề của thời Lê Sơ như kinh tế,
xã hội, tư tưởng, giáo dục khoa cử Từ những nghiên cứu đó ta thấy được sự phát triển tương đối toàn diện của xã hội thời Lê Sơ Và thời kỳ được các nhà nghiên cứu chú ý và tốn nhiều tâm huyết tìm hiểu nhất là thời kỳ Hồng Đức– một thời kỳ vàng của xã hội phong kiến
Lê Thánh Tông là người sùng Nho, khuyến khích Nho học, lấy lí thuyết chính trị của nho gia để xây dựng và truyền bá ý thức hệ tư tưởng giai cấp phong kiến Từ những tư tưởng tiến bộ của Nho giáo, Lê Thánh Tông đã ban hành nhiều chính sách để hoàn thiện bộ máy nhà nước, củng cố trật tự xã hội với những điều luật trong bộ luật Hồng Đức, các chính sách về giáo dục, thi
cử, y tế, văn hóa Tác giả Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng đã từng đưa ra nhận xét
về sự đóng góp của Lê Thánh Tông như sau: “là ông vua ở ngôi gần như lâu nhất trong lịch sử Việt Nam (38 năm) Nhưng điều đáng nhớ không phải vì ông ở ngôi lâu mà vì những đóng góp của triều vua này vào đời sống mọi mặt
Trang 8của quốc gia Đại Việt cường thịnh thời đó.” Nói như vậy để tác giả nhấn
mạnh những đóng góp tích cực cho Đại Việt của Lê Thánh Tông và lịch sử đã
có những dẫn chứng thuyết phục cho nhận xét đó
Và người ta đánh giá ông không chỉ với tư cách một nhà vua tài năng anh minh trong việc trị nước mà còn với tư cách là một nhà thơ lớn của dân tộc Ông là một nhà Nho, người đã đưa Nho giáo lên thành quốc giáo, và người đã thành công trong việc trị nước với tư tưởng học thuyết của Nho giáo Với sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, Lê Thánh Tông đã có những sáng tác mới mang dấu ấn đậm nét của Nho giáo Lê Thánh Tông là chủ soái của Hội Tao Đàn – một hội sáng tác thơ văn cung đình dưới sự chỉ đạo của nhà vua Ông đã tuyển chọn ra hai mươi tám vị quan thần có tài thơ
văn nhất trong triều để cùng sáng tác họa thơ với mình Hồng Đức quốc âm thi tập(洪德國音詩) là tập thơ ghi chép lại những bài thơ Nôm do nhà vua sáng tác và những bài thơ Nôm do quan thần họa lại Ngoài ra còn có các tác phẩm chữ Hán của ông như các bài thơ trong chín tập thơ được chép vào
Thiên nam dư hạ tập(天南餘暇集), một bài phú – Lam Sơn Lương Thủy, tập
truyện chữ Nôm – Thánh tông di thảo Tất cả các sáng tác của ông đều thể
hiện được sự đức độ anh minh của một nhà vua và một nhà thơ tài năng có tâm hồn nhạy cảm với cuộc sống
Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về cả phương diện nội dung và nghệ thuật của thơ văn Lê Thánh Tông Điểm đặc trưng nổi bật của thơ văn Lê Thánh tông nói riêng và văn học Hồng Đức nói chung đó chính là những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu bén rễ vào tư tưởng con người thời Hồng Đức Không khó để nhận ra những dấu ấn của Nho giáo trong các sáng tác văn học thời đó Ngoài những tư tưởng triết
lý cuộc sống, những cảm xúc tươi đẹp trước thiên nhiên, thì trong thơ Lê Thánh Tông còn có sự chi phối của tư tưởng chính trị Với cương vị là người
đứng đầu nhà nước, một người chủ trương dùng “đức trị-德治” để trị nước, ông đã tích cực dùng thơ văn với quan điểm “văn dĩ tải đạo- 文以载道” để
thể hiện tư tưởng chính trị của mình Nghiên cứu thơ văn Lê Thánh Tông, các bài nghiên cứu thường tìm hiểu về các tư tưởng Nho giáo đươc thể hiện trong
Trang 9các sáng tác của ông, như thuyết “Thiên mệnh- 天命”, quan niệm “Đạo người”, các chữ “Nhân- 仁”, “Hiếu- 孝”, về “tam cương ngũ thường- 三纲
五常”, Và thường được nghiên cứu trên phạm vi một tập thơ Nôm như Hồng Đức quốc âm thi tập hay trong tập truyện Thánh Tông di thảo, hay trong tập thơ chữ Hán Cổ tâm bách vịnh Nhưng chưa có nghiên cứu chuyên
sâu nào về tư tưởng trị nước trong phạm vi tất cả các sáng tác thơ văn của ông Điều đó chính là gợi ý cho chúng tôi khi muốn đi vào tìm hiểu sâu hơn về vấn
đề này
Từ những do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nho giáo với tư tưởng trị nước trong thơ văn Lê Thánh Tông” Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên
cứu của mình sẽ làm phong phú hơn về cách tiếp cận và tìm hiểu về văn thơ
Lê Thánh Tông, giúp bạn đọc có được cái nhìn và đánh giá toàn diện hơn về các tác phẩm của ông
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay nghiên cứu thơ văn Lê Thánh Tông thường được
nghiên cứu những đặc điểm khái quát văn thơ của ông Trong cuốn Văn học Việt Nam ( từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII) do Đinh Gia Khánh chủ biên,
Mai Cao Chương đã đưa ra lời nhận xét khái quát về văn học thời Hồng Đức:
“Văn học nửa thứ hai của thế kỉ XV tuy bị chi phối bởi quan điểm văn nghệ cung đình, nhưng vẫn còn có nội dung yêu nước Diện mạo văn học thời kỳ này cũng khá đa dạng, có văn học cung đình của nhà vua và các triều thần (trong hội Tao Đàn), cũng có văn học thoát ly ảnh hưởng cung đình của các nhà thơ có thi tập riêng; có văn học ca tụng chế độ phong kiến, cũng có văn học ca tụng cuộc sống của nhân dân Phong cách nghệ thuật cũng có sự đa dạng nhất định Có phong cách thơ cung đình thiên về từ chương, cũng có phong cách điền viên chú trọng tính cụ thể sinh động, lại cũng có phong cách thơ triết lý” [14-tr.319] Và trong cuốn sách này nhóm tác giả cũng có đưa ra lời nhận xét về Thánh tông di thảo của Lê Thánh Tông khi nghiên cứu về văn xuôi tự sự, truyện thế kỉ XV: “Những truyện trong Thánh Tông di thảo có thể được coi như một bước tiến từ Lĩnh Nam chích quái sang Truyền kì mạn
Trang 10lục, nếu xem xét sự phát triển của thế loại tự sự từ những sự tích cũ phóng tác
ra truyện mới.” [14- tr.352]
Tiếp tục những nghiên cứu về Thánh Tông di thảo, trong Văn xuôi tự
sự Việt Nam thời trung đại (tập1), nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đánh giá nhận xét tác phẩm bên cạnh Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ: “Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đã phóng tác thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật: văn học lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh”
[18-tr.24] Nhà nghiên cứu đã chú ý đến khía cạnh phản ánh của tác phẩm,
đánh giá cao giá trị nội dung của Thánh Tông di thảo
Tiếp đến là những công trình nghiên cứu về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập Trong Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XX, theo Nguyễn Phạm Hùng: “Lê Thánh Tông thành công hơn cả ở thơ Nôm Tác phẩm nổi tiếng của ông là tập Hồng Đức quốc âm thi tập Tập thơ thể hiện tâm trạng hào sảng của một vị vua thời thịnh mang niềm tự hào trước lịch sử dân tộc, trước non song gấm vóc, ca tụng vương quyền, ca tụng cuộc sống thái bình, bày tỏ lòng quan tâm với đời sống muôn dân Nghệ thuật thơ trau chuốt điêu luyện, có tính dân tộc, giàu sắc thái dân dã Song nhiều khi thơ ông quá cầu
kì, quá đơn điệu, sáo rỗng Song dù sao, đây vẫn là một tập thơ lớn đánh dấu trình độ phát triển cao của nghệ thuật tiếng Việt, trong việc phô diễn không chỉ đời sống thô tục, mà cả đời sống tao nhã, sang quý bên trên” [10- tr.72]
Tác giả đã đưa ra những nhận xét tập thơ về nội dung và nghệ thuật, nhưng vẫn chưa có những đánh giá sự chi phối của tư tưởng Nho giáo đối với tập thơ Nhưng những đánh giá này là gợi ý để chúng tôi lựa chọn đề tài này
Các tác giả đã đưa ra nhận xét về nội dung Nho giáo của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam (tập 1), do Nguyễn Đăng Na chủ biên như sau: “đồng thời mở rộng nội dung Nho giáo, khẳng định đề cao vương triều phong kiến” [17, tr.157] Tuy nhiên đấy chỉ là
nhận xét khái quát, chưa có những phân tích cụ thể Vấn đề khẳng định đề cao vương triều phong kiến chính là nằm trong tư tưởng chính trị của Nho giáo, mục đích của học thuyết Nho giáo là củng cố quyền lực của nhà vua và triều đình phong kiến Ý nhận xét của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Na đã gợi
ý cho chúng tôi tìm hiểu về đề tài này
Trang 11Bên cạnh đó cũng có những luận văn tiêu biểu nghiên cứu về giá trị nội
dung và nghệ thuật thơ văn Lê Thánh Tông như đề tài nghiên cứu “Đặc điểm nội dung và nghệ thuật tập thơ Cổ tâm bách vịnh” năm 2011 của Phan Thị
Mỹ Ly, trường Đại học Cần Thơ Luận văn đã khát quát được giá trị riêng về nội dung và nghệ thuật của tập thơ, đặc điểm thể loại vịnh sử và sự ảnh hưởng của thể vịnh trong nền văn học trung đại Nhưng chưa đặt mục đích nghiên cứu chỉ ra sự chi phối của Nho giáo đến tập thơ Ngoài ra còn các đề tài
nghiên cứu nội dung nghệ thuật trong Thánh Tông di thảo, nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo trong tập Hồng Đức quốc âm thi tập (洪德國音詩集)
Từ đó đã gợi ý cho chúng tôi đi vào nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo trong phạm vi tất cả các tác phẩm của Lê Thánh Tông
Trong luận án tiến sĩ “Quá trình vận động tới sự điểm phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt Nam từ Trần Nhân Tông qua Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông” năm 2014 của tác giả Đỗ Thu Hiền, Đại học Quốc gia Hà Nội,
trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, đã nghiên cứu với mục đích:
“chỉ ra vị trí các sáng tác văn chương của ba nhà văn này trong quá trình vận động và phát triển của văn học nhà Nho [9-tr.3] để làm sáng tỏ những vấn đề không chỉ bản thân văn học nhà Nho mà cả của văn học Thiền và nhiều vấn
đề liên quan đến lịch sử.” [9- tr.3] Tác giả đã có những nghiên cứu phân tích
những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật mang tính điển phạm trong các sáng tác của Lê Thánh Tông Trong luận án có nhắc đến những nội dung sáng tác trong thơ văn của Lê Thánh Tông, nhưng chưa đi sâu vào tư tưởng trị nước của ông trong các sáng tác Điều này đã gợi ý chúng tôi đi vào tìm hiểu
đề tài này, bổ sung thêm các vấn đề mà đề tài trên chưa nói tới
Trong bài nghiên cứu “Khảo sát về văn hiến Đại Việt qua Lê Thánh Tông” của Trần Trọng Dương trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, kỳ 1, tác giả đã nhận xét về Lê Thánh Tông: “Những hành xử của Lê Thánh Tông cả trước và sau khi lên ngôi không những tỏ rõ “khí lượng thiên tử” mà còn cho thấy ông đã được đào tạo một cách bài bản như thế nào về quan niệm chính trị theo tiêu chuẩn Nho giáo.” [5- tr.1] Đến kỳ 2, Trần Trọng Dương đã trình bày các sáng tác của Lê Thánh Tông và đưa ra đánh giá: “Nằm trong hoạt động kiến tạo văn hiến, Lê Thánh Tông là một trong những vị vua có
Trang 12nhiều trước thuật có giá trị, ông đã sai Nho thần biên soạn nhiều bộ sách mang tính học thuật, có ý nghĩa thiết lập những giá trị mới có khuynh hướng Nho hóa về nhiều phương diện như lịch sử, chế độ, pháp luật, dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa, văn học ” [5- tr.5] Tác giả đặt Lê Thánh Tông vào bối cảnh
văn hiến lúc đó để nghiên cứu và chỉ dừng lại ở việc đưa ra những nhận xét và liệt kê các sáng tác của Lê Thánh Tông
Ngoài ra có các công trình nghiên cứu những đóng góp của Lê Thánh Tông trong việc vận dụng và phát triển Nho giáo thành hệ thống tư tưởng
chính trị như trong cuốn “Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ
Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh” của Nguyễn Hoài Văn Tư tưởng chính trị
của Nho giáo ở đây được nghiên cứu không đi sâu vào lĩnh vực văn học của
Lê Thánh Tông Hay trong cuốn Hoàng đế Lê Thánh Tông nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn, Nguyễn Huệ Chi đã có những nghiên
cứu để đánh giá công lao của Lê Thánh Tông trong nhiều lĩnh vực
Những tác phẩm của Lê Thánh Tông được Phan Huy Chú trong phần
“Văn tịch” của Lịch triều hiến chương loại chí, đánh giá rằng: “Lời phóng khoáng, câu xinh đẹp, so với tác phẩm của các đế vương từ xưa chưa ai có thể theo kịp.” [3- tr.443] Những giá trị về nội dung và nghệ thuật những tác
phẩm của Lê Thánh Tông không chỉ thể hiện tài năng của một nhà thơ, mà còn thể hiện rõ ràng tư tưởng của một hoàng đề Nho gia Tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Lê Thánh Tông và vấn đề tư tưởng Nho giáo của ông Mỗi nghiên cứu đều có thế mạnh của mình và có giá trị to lớn vào việc nghiên cứu văn học Nhưng để đi sâu vào tìm hiểu nét đặc biệt trong thơ văn
của Lê Thánh Tông từ góc độ của một nhà vua với tư tưởng “đức trị- 德治”
của ông và với những gợi ý từ những công trình nghiên cứu đó, chúng tôi lựa chọn đề tài này, với hy vọng sẽ góp thêm cái nhìn toàn diện về các sáng tác của Lê Thánh Tông và sự ảnh hưởng của Nho giáo đến văn học Hồng Đức, đến văn học trung đại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 13Khi làm đề tài “Nho giáo với tư tưởng trị nước trong thơ văn Lê Thánh Tông” chúng tôi khóa luận hướng tới mục đích góp phần tìm hiểu sâu
hơn về sự ảnh hưởng của học thuyết chính trị Nho giáo đến Lê Thánh Tông
và tư tưởng trị nước của ông đã được thể hiện trong các sáng tác văn chương của mình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề cơ bản của Nho giáo và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn học trung đại Việt Nam
- Tìm hiểu giá trị những vấn đề về tác giả, nội dung và nghệ thuật các sáng tác của Lê Thánh Tông
- Nghiên cứu sâu vào sự ảnh hưởng của Nho giáo trong tư tưởng trị nước của Lê Thánh Tông được thể hiện trong các sáng tác của ông
4 Đối tượng nghiên cứu
Khi triển khai đề tài “Nho giáo và tư tưởng trị nước trong thơ văn Lê Thánh Tông” chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là những ảnh hưởng
của Nho giáo và tư tưởng trị nước của Lê Thánh Tông được biểu hiện trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật trong thơ văn của ông
5 Phạm vi nghiên cứu
Ở đề tài này, chúng tôi khảo sát các sáng tác chữ Hán và chữ Nôm hiện
còn của Lê Thánh Tông Bao gồm 19 truyện trong Thánh Tông di thảo, những bài thơ của Lê Thánh Tông trong tập Hồng Đức quốc âm thi tập (洪德國音詩集), và các bài thơ chữ Hán hiện còn của các tập Chinh tây kỉ hành (征西紀行), Minh lương cẩm tú(明良錦繡), Quỳnh uyển cửu ca (瓊苑九歌),
Văn minh cổ xúy(文明鼓吹), Châu cơ thắng thưởng (珠璣勝賞), Cổ tâm bách vịnh (古心百詠) của Lê Thánh Tông
6 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chính sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
Trang 14Đây là phương pháp được tiến hành đầu tiên nhằm thống kê, phân loại những công trình nghiên cứu về Lê Thánh Tông và các sáng tác của ông một cách hệ thống
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phân tích các công trình đã nghiên cứu về Lê Thánh Tông và các sáng tác của ông để tổng hợp những đóng góp và hạn chế của những công trình đó
Từ đó, chúng tôi tìm ra những khoảng trống, những khía cạnh trong thơ văn
Lê Thánh Tông chưa được nghiên cứu
- Phương pháp đối chiếu so sánh
So sánh là phương pháp cần thiết để xử lí đề tài Để làm rõ những đặc điểm nội dung sự ảnh hưởng của Nho giáo và tư tưởng “đức trị- 法治” của Lê Thánh Tông được thể hiện trong thơ văn của ông, chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để thấy sự tương đồng hay nổi bật hơn của Lê Thánh Tông
-Phương pháp văn học sử
Phương pháp này được vận dụng để nghiên cứu những ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học trung đại Việt Nam, và văn học trung đại gắn với quá trình sáng tác của Lê Thánh Tông
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHO GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA
NHO GIÁO ĐẾN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về Nho giáo
1.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển Nho giáo ở Trung Quốc
Phương Đông là chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại và Trung Quốc là trung tâm văn hóa triết học cổ xưa rực rỡ, có nội dung phong phú với những hệ thống triết học đồ sộ và sâu sắc nhất của nền văn minh ấy
Một trong những tư tưởng triết học Phương Đông được hình thành từ thời cổ đại mà vẫn còn có giá trị đến tận ngày nay, đó là Nho giáo (儒教 ) Khổng học- 孔教 được các đại phu đề xướng và tôn sùng, được các vương triều phong kiến tin dùng và đề cao trong mọi lĩnh vực, mọi giai tầng xã hội
Từ lâu Nho giáo đã vượt qua biên giới dân tộc Hán và trở thành cơ sở văn hóa tín ngưỡng và tập tính của dân tộc Trung Quốc Những vấn đề luân lí, đạo đức, chính trị - xã hội của Nho giáo vẫn có những ý nghĩa đối với xã hội ngày nay của Trung Quốc và các nước chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo Khổng
Nho giáo xuất hiện vào thời Xuân Thu (TKXI-TKV TCN) do Khổng
Tử (孔子) sáng lập Những tư tưởng triết lí, luân lí đạo đức và thể chế cai trị vốn đã có từ thời Tây Chu, và sau này được Khổng Tử (551-479TCN) và các
đệ tử của mình là Mạnh Tử (孟子) (372-289TCN) và Tuân Tử (荀子)
(313-238TCN) hệ thống hóa và san định lại trong hai bộ kinh điển là Tứ Thư- 四书
và Ngũ Kinh- 五经 Tứ Thư bộ sách do các học trò của Khổng Tử đã tập hợp
những lời giảng của thầy soạn ra gồm: Luận ngữ- 论语, Đại học-大学, Trung Dung-中庸 và Mạnh Tử- 孟子 Ngũ Kinh phần lớn có nội dung từ trước, được Khổng tử tập hợp, hiệu đính giải thích và phát triển tư tưởng của Chu Công
gồm : Kinh Thi-诗经, Kinh Thư- 经书, Kinh Dịch- 易经, Kinh Lễ- 仪礼, Kinh
Xuân Thu- 春秋
Trang 16Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử được coi là giai đoạn hình thành hay còn gọi là thời Nho giáo Nguyên thủy- 原始儒教 Người sáng lập ra Nho giáo- Khổng Tử luôn nhận được những đánh giá tích cực với những đóng góp của ông với nhân loại Hơn 2000 năm trước, đại học sử gia Tư Mã Thiên- (司
马天) đã từng cảm khái viết: “Khổng Tử áo vải, truyền hơn 10 đời, được các học trò coi là tổng sư, từ thiên tử, vương hầu đến thứ dân đều coi ông là bậc chí thánh” Khổng Tử hoặc Khổng Phu Tử (孔夫子),tự Trọng Ni (仲尼) là
người thôn Xương Bình nước Lỗ, cuối thời Xuân Thu Đây là thời kì lịch sử
xã hội có sự thay đổi và biến động lớn Từ lâu, nhà Chu đã mất hết uy quyền, quyền lực thực tế rơi vào tay các vua chư hầu, xã hội biến chuyển thay đổi, người trong xã hội đó tự chọn cho mình những thái độ sống khác nhau Trong
xã hội chiến tranh loạn lạc, các quan hệ xã hội cơ bản ngay trong gia đình bị đảo lộn, Khổng Tử luôn muốn ổn định và thiết lập một xã hội đại đồng lí tưởng Vốn là người học bác uyên thâm, thông kim bác cổ và nhân hậu một lòng vì dân vì nước, ông từng làm quan và sau đó mở trường dạy học giảng giải và truyền bá tư tưởng của mình Vì không nhận được sự trọng dụng của vua nhà Lỗ, từ năm 34 tuổi ông đã cùng các đệ tử của mình đi qua nhiều nước trong vùng để truyền bá và tìm người tin dùng tư tưởng của mình Nhưng sau
14 năm chu du các nước, ông lại trở về nước Lỗ Mãi đến năm ông 51 tuổi mới được vua Lỗ mời ra làm quan, vài năm sau đó tư tưởng của ông mới được tin dùng Ông là người đã đặt ra luật lệ, phép tắc của những người nghèo khổ, chỉnh đốn kỉ cương trong nước, dạy dân những điều lễ nghĩa Từ đó dân không còn nhiễu loạn mà ngày một trở nên tốt hơn, nước Lỗ trở nên an bình thịnh trị
Thời Xuân Thu, Khổng Tử lấy “Nhân- 仁”, “Lễ- 礼” làm hạt nhân
của học thuyết Ông chủ trương lấy lòng nhân ái để giải quyết các vấn đề của con người trong xã hội Trong phương diện chính trị, Khổng Tử đề cao chữ
“Đức- 德”và chữ “Lễ- 礼”, chủ trương “đức trị- 德治”, yêu thương dân, phản đối nền chính trị hà khắc và hình sát Ông đề cao “khắc kỉ phục lễ vi nhân- 克己复礼为仁” (cúi mình theo lễ là nhân) Đến thời Chiến Quốc, học
trò của ông là Mạnh Tử tiếp tục phát triển tư tưởng của Nho giáo nhưng lại
Trang 17đứng trên lập trường của giai cấp địa chủ mới và đồng thời cũng nhấn mạnh đến quyền lợi của giai cấp tiểu nông Ông chủ trương nền chính trị nhân từ, tư
tưởng “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh- 民为贵社稷次之君为轻” (dân là quý nhất, kế đến là đất nước, thứ ba mới tới vua), tuyên dương “lao tâm giả trị nhân, lao lực giả trị vu nhân- 劳心者治人劳力者治于人” chia
tách nghiêm ngặt địa vị giai cấp của k thống trị với người bị thống trị) Tuy nhiên với chủ chương nền chính trị ôn hòa của Mạnh Tử không thích hợp với yêu cầu chấm dứt chế độ cát cứ và thống nhất đất nước lúc đó Tư tưởng Nho giáo thời kì này mang đậm màu sắc lí tưởng hóa, vẫn chưa có được lí luận cơ bản nghiêm mật, đa phần là tư tưởng tu dưỡng trên phương diện phạm vi đạo đức, lí tưởng chính trị của các nguyên tắc trị quốc Tuy rằng tư tưởng về nền chính trị nhân từ, trọng dân của Mạnh Tử đã có sự tương kết hợp với chính trị, nhưng vì vẫn xa rời hiện thực chính trị nên chưa nhận được sự coi trọng của giai cấp địa chủ mới
Nho giáo Nguyên thủy chưa vì chế độ thống trị trung ương tập quyền phục vụ Năm 221 TCN Tần Thủy Hoàng (秦始皇) thống nhất Trung Quốc
Trong thời kì “bách gia tranh minh- 百家争鸣” để áp chế những ảnh hưởng
của các thế lực chính trị còn lưu lại của thời cát cứ và những tư tưởng học phái, Tần Thủy Hoàng đã áp dụng cai trị bằng pháp luật độc đoán nghiệt ngã,
thực hiện chính sách “đốt sách chôn Nho- 焚书坑儒”
Đến thời Hán, khi Hán Vũ Đế (汉武帝) lên ngôi (140-87TCN), đã thực hiện chính sách quan trọng là khôi phục và đưa Nho giáo lên địa vị Quốc giáo (国教) Đổng Trọng Thư (董仲舒) (178-104TCN) đã thành công trong việc cải tạo Nho giáo, vẫn lấy tư tưởng Nho giáo làm căn bản để phát triển lên học thuyết Nho học mới Nho giáo thời này là sự kết hợp của Nho gia (儒家), Pháp gia (法家) và Đạo gia (道家), tôn giáo hóa Nho giáo, kinh học hóa và chế độ chính trị hóa Nho giáo Tư tưởng triết học của Đổng Trọng Thư thuộc chủ nghĩa duy tâm khách quan và mang nhiều yếu tố thần học Ông chú trọng
đến thuyết “thiên nhân cảm ứng- 天人感应”, “quân quyền thần thụ- 君权神
授” Nho giáo thời này với tư tưởng “nội Pháp ngoại Nho- 外儒内法”, đề
Trang 18cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử (天子) là con trời, dùng "lễ trị- 礼治” để che đậy "pháp trị- 法治” thích hợp với yêu cầu củng cố tập
trung quyền lực trung ương của giai cấp thống trị Cũng vì vậy, từ thời Hán, Nho giáo đã trở thánh hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hóa, làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ phong kiến Trung quốc hàng nghìn năm
Vào thời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Nho giáo đã tiếp thu tư tưởng
của Phật giáo (佛教) (các yếu tố tâm linh) và Đạo giáo (các yếu tố siêu hình) hình thành nên Nho giáo mới phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị Tống Nho (宋儒) không câu nệ cựu kinh, lấy giải thích ý nghĩa làm chính,
xưng là Lí học (理学), cũng còn gọi là Đạo học (道学) “Tồn thiên lí, diệt nhân dục- 存天理灭人欲”, cho rằng dục vọng của con người là căn nguyên
của những tội lỗi, Tống Nho cấm đoán, bóp nghẹt mọi nhu cầu sống tự nhiên của con người Thực chất chủ nghĩa duy tâm khách quan của Tống Nho chỉ biện hộ cho chế độ đẳng cấp phong kiến Vương Dương Minh 王阳明) thời Minh đã lập ra tư tưởng chủ nghĩa duy tâm chủ quan đối lập với chủ nghĩa
duy tâm khách quan Ông cũng chủ trương “Tâm ngoại vô vật, tâm ngoại vô
sự, tâm ngoại vô lí- 心外无物,心外无事,心外无理” (mọi thứ đều ở cả nơi chữ tâm) Lí học Tống Minh đã tạo ra thời kì Nho giáo mới và là biểu
tượng cho sự phát triển thời kì thứ hai của Nho giáo mới Nho giáo thời Minh Thanh đã kế thừa nhiều quan niệm tư tưởng của Tống Minh Lí học và một mặt cũng tỏ ra bất mãn với những điều cũ kĩ hủ bại đã có những đề xướng
mới về xu hướng canh tân, “pháp trị-法治”, phản đối chế độ chuyên chế độc tài, phản đối “nhân trị- 仁治”
Không thể có một thứ Nho giáo chung, nhất thành và bất biến qua các thời đại, do vậy hệ thống tư tưởng của Nho giáo được hoàn thiện qua từng thời kì Qua hàng nghìn năm phát triển và biến đổi, từ Tam đức của Khổng Tử,
từ đoan của Mạnh Tử, “tam cương ngũ thường” ở Hán Nho (汉儒), “Thiên nhân hợp nhất- 天人合一” của Đổng Trọng Thư, đến “Thái cực đồ thuyết-
太极图说” của Chu Đôn Di (周郭颐), đều xuất phát từ một gốc Tấm áo
Trang 19Nho học được dệt lên bởi các tư tưởng có khi thống nhất nhưng cũng có những trái chiều Nhưng về cơ bản, học thuyết Nho giáo xoay quanh các vấn
đề về đạo làm người, về nhân nghĩa và mục đích là ổn định xã hội, phục vụ cho giai cấp thống trị
1.1.2 Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo
Xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, xã hội đầy biến động, rối loạn bởi những mâu thuẫn và xung đột giai cấp, lí tưởng của Khổng tử là thiết lập một xã hội lí tưởng Là một hệ tư tưởng của giai cấp
thống trị Nho giáo mong ước đó là một “xã hội đại đồng- 大同社会”, xã hội
có trật tự, ổn định, thái bình, hòa mục và bình đẳng Một xã hội mà ở đó có vua thánh, tôi hiền, có cha làm gương cho con, con lấy kính trọng mà phụng
dưỡng cha,vợ theo chồng, anh em hòa thuận Các nhà Nho đã tìm ra “cha không ra cha, con không ra con” là một nguyên nhân gây nên xã hội loạn lạc
Do đó, muốn tổ chức ổn định một xã hội thì trước hết gia đình phải có trật tự,
kỷ cương Tiếp sau đó mới đến các quan hệ xã hội khác Như mối quan hệ giữa người với người, quan hệ giữa người trên người dưới, quan hệ vua tôi
Để có được một xã hội như vậy, Nho giáo đã chủ trương đưa con người vào các phép tắc, lễ nghi để tu thân, lập thân
Nho giáo đặt các mối quan hệ xã hội của con người vào ba mối quan hệ
cơ bản là “tam cương” 三纲 “Tam cương” bao gồm quan hệ Quân Thần- 君
臣 (vua – tôi), Phụ Tử - 父子 (cha – con), Phụ Phu - 夫妇 (chồng vợ) Mỗi mối quan hệ đều có những chuẩn mực yêu cầu con người phải đạt đến Trong mối quan hệ vua – tôi, thì vua phải là người thưởng phạt công minh, là người
có “Đức- 德” biết trọng người tài Còn bậc quần thần bề tôi phải là người
trung thành một dạ với vua, biết phân phải trái Trong mối quan hệ cha – con,
cha hiền con hiếu, cha có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, con phải lấy chữ “Hiếu-
孝” mà phụng dưỡng khi cha về già Con cái khi phụng dưỡng cha mẹ phải lấy lòng thành kính làm cốt lõi, vì “đời này hế thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là có hiếu Nhưng loài thú vật như chó, ngựa người ta cũng nuôi được vậy Cho nên nuôi cha mẹ mà chẳng thành kính thì khác gì nuôi thú vật đâu” “Phu xướng phụ tùy-夫唱妇随” là sợi dây giàng buộc người vợ, vợ
Trang 20phải chung thủy tuyệt đối với người chồng, xã hội đề cao chữ “Trinh-贞” của
người phụ nữ Người chồng phải yêu thương và có trách nhiệm với gia đình
Nho giáo tỏ thái độ rất rõ ràng với sự phân biệt giữa nam và nữ Do đó,
“tam cương- 三纲” và “ngũ thường- 五常” là lẽ mà nam giới phải theo Và
“tam tòng tứ đức” 三从四德 là lẽ đạo đức mà người nữ phải theo Trong đó,
“ngũ thường” là năm điều hằng có ở đời là: “Nhân- 仁, Nghĩa- 仪, Lễ-礼,
Trí- 智, Tín- 信” “Nhân” là lòng yêu thương với muôn loài muôn vật
“Nghĩa” là cư xử với mọi người công bình và theo lẽ phải “Lễ” là sự tôn trọng, hòa nhã cư xử trong các mối quan hệ “Trí- 智” là sự thông biết lí lẽ,
biết phân biệt thiện ác, đúng sai Và “Tín” là việc giữ đúng lời hứa và có được lòng tin của mọi người Với nữ giới, “tam tòng” là ba điều phải theo gồm: “ Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử- 在家从父,出嫁
从夫, 夫死从子” Và “tứ đức” là những bản tính nết tốt của người phụ nữ cần có là: “Công- 功, Dung- 容, Ngôn- 言, Hạnh- 行” Đó là việc người phụ
nữ phải khéo léo trong công việc, hòa nhã trong sắc diện, mềm mại trong lời nói và nhu mì trong tính nết Theo Khổng Tử, nếu con người làm được những điều trên thì xã hội sẽ an bình
Với quan niệm “trọng nam khinh nữ- 重男轻女”, khi đề cao nam giới
đồng thời Nho giáo cũng đặt cho họ những trọng trách nặng hơn “Tề gia trị quốc bình thiên hạ- 齐家治国平天下”, lập công lập danh trở thành mục tiêu
cuộc đời của nam nhi Những cai trị kiểu mẫu – người lí tưởng được gọi
“Quân tử- 君子” “Quân tử” là những người có địa vị xã hội, những người cao thượng có những phẩm chất tốt đẹp Gọi những người “Quân tử” để phân biệt với những k “Tiểu nhân- 小人” thiếu đạo đức trong xã hội Để có thể
làm được những điều đó họ phải biết tu thân và hành đạo Quá trình tu thân
phải đạt được ba điều, là đạt “Đạo”, đạt “Đức”, biết “Thi, Thư, Lễ, Nhạc”
“Đạo” và “Đức” chính là “tam cương” và “ngũ thường” Ngoài tiêu chuẩn
“Đạo” và “Đức” thì người “Quân tử” phải là người có vốn hiểu biết về văn hóa toàn diện Sau khi tu thân, người “Quân tử” phải hành đạo, đó là ra làm quan làm chính trị Công thức “Tề gia trị quốc bình thiên hạ” chính là những
Trang 21công việc hành đạo của người “Quân tử” Họ phải hoàn thành những công
việc nhỏ là gia đình, cho đến việc lớn là trị quốc và cuối cùng là bình thiên hạ
Kim chỉ nam cho việc cai trị của người “Quân tử” là “Chính danh- 正名” và
“Nhân trị- 人治” “Chính danh” là mỗi sự vật phải được gọi đúng với tên của nó và mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình “Danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành” Theo Khổng Tử xã hội rối loạn là do “Danh – Thực” bất minh, do vậy mỗi người
phải làm việc cho ngay thẳng, trên dưới, vua tôi cha con trật tự phải phân
minh “Nhân trị” là cách cai trị bằng tình người, là yêu thương và coi người như bản thân mình “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - 己所不欲勿施于人” điều gì mình không thích thì đừng nên làm cho người khác), “Người không
có nhân thì Lễ mà làm gì? Người không có nhân thì Nhạc mà làm gì?”
“Nhân-仁” được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, là căn bản gốc rễ của đạo làm người Tuy rằng khi giảng chữ “Nhân” cho học trò, Khổng Tử mỗi lúc có các cách nói khác nhau, nhưng cốt tủy của chữ “Nhân” đó chính là lòng yêu thương con người Một người “Quân tử” với lòng yêu thương con
người là điều không thể thiếu
Tất cả những điều trên, tựu chung lại chính là đạo làm người trong
quan niệm của Nho giáo Từ “tam cương, ngũ thường”, đến “Đạo-道” và
“Đức-德”, suy đến cùng xã hội muốn yên bình phải có những người cai trị tốt,
mà muốn cai trị tốt thiên hạ thì họ phải biết làm người, và đạo làm người ấy
bao gồm hai chữ “Nhân Nghĩa” “Nhân-仁” là lòng người và “Nghĩa-义” là
lẽ phải, đường ngay, việc đúng
Trên thực tế, Nho giáo là hình thái ý thức của giai cấp thống trị trong
xã hội phong kiến, phục vụ cho mục đích cai trị của Thiên Tử Vì vậy, Nho giáo khi bàn đến vấn đề tính người thiện ác đã đặt con người vào những mối
quan hệ, những nguyên tắc “tam cương ngũ thường” Chúng ta không thể
phủ nhận những gò bó trong những quan niệm của Nho giáo Và vì hệ tư tưởng này có thể đào tạo ra những người hoàn toàn thích hợp để ổn định trật
tự xã hội trong xã hội lúc bấy giờ, nên Nho giáo không ngừng được tin dùng, truyền bá và phát huy thế mạnh của mình Nho giáo quan tâm đến đời sống
Trang 22con người, nó không trốn tránh cuộc đời như Phật giáo hay bi quan trước cuộc đời như Lão giáo Nho giáo hướng con người đến hành động, hành đạo Tuy rằng có sự phân tầng giai cấp nặng nề, trọng nam khinh nữ, nguyên lí hà khắc nhưng Nho giáo vẫn có những mặt tích cực cho con người Cũng vì vậy mà Nho giáo có thể chiếm ưu thế hơn so với các tôn giáo khác và giữ được vị trí độc tôn trong xã hội trong suốt thời gian dài của lịch sử
1.2 Truyền bá và ảnh hưởng của Nho giáo đến văn học trung đại Việt Nam
1.2.1 Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam và những ảnh hưởng của Nho giáo đến xã hội phong kiến
Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm lý luận hướng dẫn tư duy
và hành động cho dân tộc mình là một sự khách quan của thời đại, của các dân tộc Thực tế này có căn cứ từ việc phát triển không đồng đều giữa các dân tộc Trong cùng một thời đại ta có thể thấy có dân tộc phát triển nhanh và mạnh hơn so với các dân tộc khác Học tập và tiếp thu những ảnh hưởng tích cực và cần thiết cho dân tộc mình là một điều tất yếu trong quá trình phát triển của một dân tộc Vì vậy, với lý do lịch sử, do sự phát triển của nhà nước phong kiến Việt Nam nên nước ta đã tiếp thu tư tưởng và văn hóa Trung Quốc, vận dụng nó vào đời sống xã hội ở nước ta
Nho giáo là hệ tư tưởng lâu bền và có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến Việt Nam trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán từng đưa vào nước ta Trong khi Phật giáo dần rút lui vào chùa chiền, Lão giáo (老教) cũng dần biến thành một thứ mê tín dị đoan, thì Nho giáo lại là tư tưởng trị vì và học thuật phát triển suốt hàng nghìn năm Sau khi nước ta giành lại độc lập tự chủ, những yêu cầu đặt ra lúc này là ổn định và xây dựng nhà nước phong kiến Trong đó Nho giáo lại là hệ tư tưởng thỏa mãn được các vấn đề như quan tâm đến con người đến cuộc đời, đến xã hội, đến vận mệnh dân tộc, là một hệ ý thức tích cực nhất trong ba hệ ý thức phong kiến đương thời Do đó việc ông cha ta đã chọn Nho giáo làm kim chỉ nam trong xã hội là một điều tất yếu
Ban đầu, Nho giáo được đưa vào Việt Nam với mục đích không tích cực Nho giáo bị triều đình phương Bắc đặt lên nhân dân ta với ý định gây
Trang 23cảnh “đồng văn” (同文) để dễ “đồng hóa” (同化) Nhưng sau khi giành được độc lập, nhân dân ta đã tự nguyện tiếp thu những tư tưởng của Nho giáo
để làm nền tảng lý luận chỉ đạo tư duy và hành động của mình Thế là từ chỗ
bị ép học, từ chỗ được sử dụng với mục đích không thân thiện từ quân xâm lược, Nho giáo đã được nhân dân ta tiếp thu và vận dụng nó vào thực tế xã hội
để xây dựng đất nước Những người Việt đầu tiên được giữ chức trọng như Thái thú, Thứ sử dưới thời Bắc thuộc đều là những người học thông kinh truyện, xuất thân từ khoa bảng như Lí Tiến, Lí Cầm Ngay sau khi Ngô Quyền đánh bại quan Nam Hán, giành độc lập đã chịu ảnh hưởng tinh thần tôn ti đẳng cấp của Nho giáo khi xây dựng thể chế quốc gia với những nghi lễ phẩm phục Niên hiệu, tôn hiệu của các vị hoàng đế, của nước ta cũng đã thể
hiện sự tin tưởng màu sắc lí thuyết mệnh trời như “Ứng Thiên” (应天),
“Thuận Thiên” (顺天) , “Phụng Thiên” (奉天) Khi xây dựng nhà nước phong kiến của mình, giai cấp phong kiến Việt Nam đã tiếp thu những kinh nghiệm và nguyên tắc tổ chức của nhà nước phong kiến tập quyền phương Bắc cùng với hệ tư tưởng Nho giáo Và cũng chỉ có Nho giáo mới có thể giải đáp được những vấn đề cần thiết lúc bấy giờ như củng cố nhà nước, quy định chương lễ chế và cơ cấu hình thành từ trung ương đến địa phương, Trong khi Phật giáo và Lão giáo với toàn bộ hệ thống lý thuyết của mình không thể giúp cho các giai cấp phong kiến Việt Nam có được sự giải đáp thỏa đáng Cho nên từ thế kỉ XV trở đi, Nho giáo ngày càng nhận được sự trọng dụng của các triều đình phong kiến Việt Nam Thời Lý, Trần, Nho giáo đã bắt đầu được vận dụng một cách rõ rệt vào hoạt động thực tiễn nhằm củng cố chính quyền nhà nước phong kiến tập quyền
Dưới các thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nho giáo chưa có điều kiện dựa vào triều đình để duy trì và phát triển ảnh hưởng của mình Một mặt là do công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ở thời kỳ đầu mới giành được độc lập diễn
ra vô cùng khó khăn, phức tạp Cùng với đó là triều đại này đều tồn tại trong thời gian không dài, chưa có đủ thời gian để xây dựng trật tự, kỷ cương chặt chẽ, thể chế chính trị, tổ chức nhà nước
Sang đến thời Lý, Nho giáo với chủ trương tôn quân, đề cao việc tề gia, trị quốc có tôn ty, trật tự đã tỏ ra thích hợp với thực tiễn lịch sử trên các lĩnh
Trang 24vực chính trị, văn hóa, tư tưởng Bằng một hệ thống lý thuyết chặt chẽ và những bài học kinh nghiệm về đạo trị nước của người xưa, Nho giáo giúp cho giai cấp phong kiến Việt Nam bước đầu xây dựng và củng cố trật tự xã hội, đã tạo ra một nền giáo dục có hệ thống và thúc đẩy các ngành văn hóa, học thuật
phát triển Trong bài Chiếu dời đô (遷都詔) , Lý Thái Tổ đã khéo léo vận
dụng tư tưởng Mệnh trời của Nho giáo vơi tư tưởng “kính vâng mệnh trời”,
rồi học các gương sáng nhà Thương, nhà Chu Mùa thu năm 1070, nhà Lý cho xây Văn Miếu, tạc tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối (Nhan Tử, Tăng
Tử, Tử Tư, Mạnh Tử) và vẽ hình bảy mươi hai hiền nhân để bốn mùa cúng tế [12] Vào mùa Xuân năm Ất Mão 1075), Lê Văn Thịnh đã đỗ đầu kì thi Nho học đầu tiên do Lý Nhân Tông xuống chiếu mở để tuyển chọn người tài Sau năm đó, năm 1076, vua Lý tiếp tục cho lập Quốc Tử Giám và lựa chọn những người khoa bảng vào đây để dạy học Cùng với việc sử dụng Nho giáo vào việc tổ chức xã hội thì nhà Lý còn tôn sùng và dùng đạo Phật và Đạo giáo vào giải quyết các vấn đề họa và phúc, đức và tội, vấn đề nghiệp báo luân hồi Mặc dù tam giáo đồng hành đã bổ sung cho nhau trong việc đáp ứng nhu cầu chính trị, tư tưởng và đời sống tâm linh của giới cầm quyền cũng như các tầng lớp xã hội Song nó cũng là nguyên nhân cho việc ảnh hưởng của Nho giáo đến xã hội Việt Nam vẫn diễn ra chậm chạp
Sau khi quyền lực được chuyển từ nhà Lý sang nhà Trần, để đáp ứng việc củng cố đất nước và chống quân Nguyên Mông, thì các vấn đề đạo lý cương thường, nghĩa quân thần, trật tự trên dưới chặt chẽ càng được đề cao Nhà Trần rất coi trọng việc học tập và thi cử chọn người tài Các Nho sĩ càng được coi trọng, họ thi đỗ ra làm quan tham gia vào bộ máy nhà nước và hoạt động trên nhiều lĩnh vực Từ cuối thời Trần Nho giáo đã phát triển mạnh hơn vượt lên Phật giáo, Nho sĩ cũng trở thành một lực lượng xã hội đáng kể Bằng
sự tích cực trong việc truyền bá và cả phê phán Phật giáo, các nhà Nho đã mở đường cho Nho giáo tiến lên chiếm địa vị độc tôn dưới triều Lê Sự phát triển của Nho giáo cũng đã thể hiện sự biến đổi trong cơ cấu giai cấp – xã hội nước
ta thời đó Đặc điểm dễ nhận thấy ở đây, từ thế kỉ XIII, nước ta đã hình thành
và phát triển một tầng lớp địa chủ mới có nguồn gốc từ thứ dân chứ không phải từ giai cấp quý tộc phong kiến Việc chú trọng mở trường học, thi cử
Trang 25Nho giáo đã khiến cho tầng lớp Nho sĩ ngày càng đông thêm Cùng với đó thì thế lực của Nho sĩ và Nho giáo ngày càng được nâng lên và ngày càng có sực ảnh hưởng trong việc tổ chức bộ máy nhà nước và việc cai trị của giai cấp phong kiến
Từ cuối thời Trần, những mâu thuẫn xã hội đã bộc lộ khá gay gắt, sự phản kháng của giai cấp nông dân với sự cai quản hà khắc của chế độ phong kiến cùng với sự tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn thống trị đã khiến cho nhà nước suy yếu nghiêm trọng Trước tình hình đó, giai cấp phong kiến Việt
Nam không thể không tìm đến Nho giáo với đạo “tu, tề, trị”, lý thuyết “Chính danh” định phận của Nho giáo để củng cố chính quyền và lập lại kỉ cương xã
hội Vì vậy Hồ Quý Ly rất coi trọng và đã khuyến khích phát triển mạnh mẽ Nho giáo Vào thời kì này, trường dạy học được mở đến tận châu, huyện, nhà nước cấp ruộng để nuôi thầy, cấp tiền để mở lớp
Đến thời Lê Sơ, Nho giáo bước vào giai đoạn chiếm vị trí độc tôn trong đời sống chính trị - xã hội ở nước ta Lúc này, sự ảnh hưởng của Nho giáo không chỉ thể hiện trên lĩnh vực học tập, thi cử theo khuôn mẫu Nho học Mà trên cả lĩnh vực văn học, nghệ thuật cũng mang những nội dung của Nho học Nổi bật trong thời kì này là vua Lê Thánh Tông Ông là người am hiểu và tôn sùng Nho học Bằng việc đưa hệ tư tưởng Nho giáo quán triệt trong nhiều chủ trương và chính sách của nhà nước phong kiến và việc cho xây lại Văn Miếu
và lập nhà Thái học, quy định thể lệ thi cử, khuyến khích học hành và thi cử theo Nho học, Lê Thánh Tông đã đưa Nho giáo lên địa vị cao nhất Khi Nho giáo đã thấm vào mọi lĩnh vực văn hóa, đạo đức của xã hội đã làm thay đổi cách ứng xử, giao tiếp và những hình thức nghi lễ chặt chẽ phức tạp trong cộng đồng làng xã Nhưng đến cuối thời Lê Sơ, chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng Sự tranh giành quyền lực kéo dài giữa Lê – Mạc đã kéo theo sự sa sút của triều đình, làm lòng dân rệu rã và kéo theo sự
đi xuống của Nho giáo Việc thi cử Nho học tuy vẫn được duy trì nhưng về mục đích chỉ nhằm mục đích cầu danh, cầu lợi mà quên đi đạo lí, cương thường Do đó, khi đại phá quân Thanh lập ra triều Tây Sơn, vua Quang Trung đã khôi phục vị trí quốc giáo của Nho gia Triều Tây Sơn tuy tồn tại rất ngắn ngủi song cũng đã tạo nên được không khí Nho học sôi nổi
Trang 26Nhà Nguyễn được Nguyễn Ánh lập nên do sự giúp sức của nước ngoài, nên triều đình nhà Nguyễn càng ra sức cũng cố quyền lực của mình Nho giáo vẫn là lựa chọn của triều đình nhà Nguyễn Các vua nhà Nguyễn đã ra sức phục
hồi và phát triển Nho giáo Các nội dung “Mệnh trời”, “tam cương” , “ngũ thường” của Nho giáo được nhà Nguyễn đề cao theo hướng duy tâm và khắc nghiệt hơn Các vị vua như Gia Long, Minh Mạng, đã ban hành bộ luật Hoàng triều luật lệ và mười huấn dụ “Thập điều”, cốt yếu để bảo vệ các tư tưởng của
Nho gia và khuyên răn người dân quy thuận với triều đình Tuy rằng từ năm
1885, triều đình nhà Nguyễn để chịu sự thao túng của thực dân Pháp nhưng Nho giáo vẫn tiếp tục tồn tại và các kì thi Nho học vẫn được duy trì ở nước ta cho đến đầu thế kỉ XX Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam Và triều Nguyễn cũng là triều đại phong kiến cuối cùng khẳng định địa vị quốc giáo của Nho giáo ở Việt Nam Nho giáo đã cùng đồng hành trong suốt 10 thế kỉ tồn tại và phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam Nho giáo đã thể hiện được những ưu thế của mình trong việc xây dựng đất nước, thiết lập trật tự xã hội trong thời kì đó Và cho đến triều đại phong kiến cuối cùng cùng, Nho giáo vẫn đứng ở vị trí cao nhất trong các tôn giáo khác
Như đã biết, quá trình phát triển của Nho giáo ở Việt Nam đi liền với quá trình phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam Nho giáo ở Việt Nam có thể chiếm được vị trí độc tôn và thịnh đạt nhất vào thời Lê Sơ không phải là một điều ngẫu nhiên Bởi vì, tư tưởng của nó liên quan đến các nhu cầu của xã hội nước ta lúc bấy giờ Và Nho giáo đã có những ảnh hưởng tích cực đến xã hội phong kiến Việt Nam đương thời Ở vị thế là quốc giáo, Nho giáo đã góp phần lớn trong tư tưởng lí luận để củng cố và phát triển chế độ quân chủ và những kinh nghiệm mẫu mực cho việc chấn chỉnh và mở rộng nhà nước phong kiến tập quyền Xã hội Việt Nam lúc này có sự phân hóa sâu sắc thành hai chủ thể văn hóa, một bên là tầng lớp Nho sĩ, giai cấp quý tộc, quan lại hình mẫu theo kiểu Nho giáo, một bên là tầng lớp nông dân, thợ thủ công, thương nhân Tư tưởng của Nho giáo cũng tác động đến quan niệm về trách nhiệm xã hội của mỗi tầng lớp Tầng lớp Nho sĩ, quan lại có trách nhiệm kinh bang, tế thế, trị quốc an dân, biết cách ứng xử cho hợp thời Các tầng lớp dưới có trách nhiệm phải đảm bảo nhu cầu vật chất cho tầng lớp trên và bản
Trang 27thân mình Trên phương diện văn hóa tinh thần, Nho giáo kết hợp với văn hóa Hán đã tạo nên chế độ gia đình phụ hệ với nam quyền cực đoan trong xã hội phong kiến Việt Nam Nho giáo là cơ sở hình thành tổ chức nhà nước Đại Việt trên tất cả các phương diện như hệ thống chính trị, tổ chức quân sự, quan chế, lương bổng, Nho giáo cũng giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt nam trên các bình diện sản xuất và củng cố quốc phòng Quá trình đi lên của Nho giáo Việt nam luôn đi cùng với yêu cầu phát triển nền kinh tế tiểu nông gia trưởng dựa trên quyền sử hữu của giai cấp địa chủ và một bộ phận nông dân trực tiếp tự canh Vì vậy, Nho giáo cũng xúc tiến sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hóa Trên phương diện văn hóa tinh thần, Nho giáo cũng đem lại một bước tiến căn bản trong xã hội phong kiến nước ta Nổi bật
ở đây là sự phát triển mạnh mẽ của nền giáo dục dưới triều Lê Thánh Tông thế kỉ XV Đội ngũ tri thức được đào tạo và tuyển chọn qua chế độ giáo dục thi cử đó đã thúc đẩy cho khoa học và văn học nghệ thuật phát triển Nho giáo
đã hướng mọi người vào việc tìm hiểu những quan hệ xã hội, những vấn đề của thực tiễn, chính trị, pháp luật và đạo đức Từ đó nâng cao nhận thức của dân tộc ta về những vấn đề ấy Bằng những học thuyết Nho gia, nhà vua và Nho sĩ đã có thể giải thích và lập luận những vấn đề trong xã hội với lí lẽ đầy
đủ hơn
Tuy nhiên, Nho giáo vẫn là một hệ tư tưởng gắn liền với giai cấp thống trị và công cụ để cai trị của giai cấp này Cho nên, Nho giáo với tư cách là vũ khí của giai cấp thống trị Việt Nam vẫn có những ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội nước ta Nho giáo đã làm cho chủ nghĩa giáo điều và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư tưởng và giáo dục khoa học Các Nho sĩ luôn lấy thánh kinh, hiền truyện làm khuôn vàng thước ngọc cho tư tưởng và hành vi của mình Họ luôn lấy xã hội Nghiêu Thuấn làm khuôn mẫu cho một xã hội lí tưởng, lấy những điều phạm trong kinh thư làm tiêu chuẩn để bình giá Nho giáo khi được đưa lên làm quốc giáo, thì nó chỉ chú trọng đến những quan hệ chính trị đạo đức thực tế Vì vậy, Nho giáo trở nên bất lực khi vấn đề số phận
và yêu cầu giải phóng của con người được đặt ra trong xã hội phong kiến rối
loạn Ngoài ra, trong khi Nho giáo khuyến khích nam nhi tu thân để “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” thì đồng thời cũng làm cho những người này xa rời
Trang 28sinh hoạt kinh tế và lĩnh vực sản xuất xã hội Do chỉ biết đề cao đạo tự thân và đạo tự nước mà họ không màng đến các tri thức khác, không tham gia vào lực lượng sản xuất của xã hội
Như vậy, trong suốt thời kì được du nhập và phát triển ở Việt Nam trung đại, Nho giáo đã có những ảnh hưởng tích cực và có những ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội nước ta Và dù như vậy, Nho giáo cũng đã thể hiện đươc giá trị tư tưởng của mình đối với triều đình phong kiến Việt Nam Nho giáo cũng đã cùng các triều đại phong kiến và nhân dân Việt Nam hoàn thành một thời kì lịch sử v vang của dân tộc Những điểm tích cực của Nho giáo cũng
đã tạo tiền đề cho sự phát triển về tư tưởng sau này của nhân dân ta Và đặc biệt là những tư tưởng về trị nước của Nho giáo đã ảnh hưởng rất nhiều với đường lối chính trị ở nước ta
1.2.2 Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến văn học trung đại Việt Nam
Sự ảnh hưởng của Nho giáo tới xã hội đã tạo nên trong nền văn học trung đại Việt Nam một bộ phận văn học rất quan trọng – văn học nhà Nho Văn học nhà Nho là những tác phẩm được sáng tác theo khuynh hướng mỹ học Nho gia Nội dung sáng tác chịu sự chi phối của tư tưởng Nho giáo, là văn chương lí tưởng của nhà Nho về mặt lí thuyết Văn học viết nước ta xuất hiện chính là sự xuất hiện của các tác phẩm được viết bằng chữ Hán Chữ Hán
là hệ thống chữ viết đầu tiên được sử dụng chính thống ở nước ta Mà chữ Hán chính là hệ chữ chúng ta mượn từ dân tộc Hán ở phương Bắc, ngày đó ông cha ta học chữ Hán đều được gọi là chữ Nho Các tài liệu sách vở được
sử dụng trong giảng dạy ở trong các lớp học đều là những sách kinh điển của
nho gia – Tứ thư Ngũ kinh Chữ Hán gắn liền với Nho gia Những người học
chữ Hán đều là những Nho sĩ Và tất nhiên lực lượng sáng tác của bộ phận văn học này dù là những nhà Nho, hay người làm quan, đến các vị vua, thì ngoài sự tài hoa và uyên thâm họ có một đặc điểm chung không thể thiếu là
chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Với tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, chỉ có nam giới mới được học chữ, đọc sách, nữ giới không được tiếp
xúc đến lĩnh vực này, hầu hết các tác gia của văn học nhà Nho đều là nam giới Và trong văn học trung đại Việt Nam, thì cũng phải đến giai đoạn cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XIX mới xuật hiện các nhà thơ nữ như Hồ Xuân
Trang 29Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm Nhưng lúc này, chữ Nôm đã xuất hiện và là thời kì phát triển rực rỡ của nó trong văn học Và vì vậy, chủ thể sáng tác của văn học nhà Nho vẫn là các bậc nam nhi
Từ giai đoạn đầu tiên độc lập và xây dựng đất nước, Nho giáo chưa có
sự ảnh hưởng rõ rệt ở nước ta Nhưng bắt đầu từ thế kỉ XIII trở đi, Nho giáo
đã thể hiện được rõ những ưu thế của mình với thời cuộc Và trong văn học,
“quá trình vận động từ khi mới manh nha cuối thế kỉ XII cho đến lúc trở thành điển phạm ở thế kỉ XV là giai đoạn có ý nghĩa quyết định cho diện mạo
và những định hướng phát triển sau này của nền văn học nhà Nho ở Việt Nam”
[9-tr.1] Văn học là sản phẩm của hệ tư tưởng Nho giáo - một mô hình thiết
chế xã hội đặc trưng Các quan niệm về văn chương lúc này gắn với “văn dĩ tải đạo” (文以载道) và “thi dĩ ngôn chí” (诗以言志) Văn chương mang đặc tính chức năng xã hội điển hình là “tải đạo”, truyền đạo và giáo dục con người Mà đạo ở đây được bắt nguồn từ đạo của trời: “Cái có thể cổ võ lay động thiên hạ đó là ở lời Cái lời sở dĩ cổ võ được thiên hạ vì nó là cái văn của tự nhiên (đạo)” [1, tr.129] Cái đạo ở đây là đạo làm người, đạo tu thân,
đạo trị nước được nhắc đi nhắc lại trong sách thánh hiền Văn chương là để truyền cho người đọc những triết lí, tu tưởng về nhân sinh, về quan hệ với con
người “Thi dĩ ngôn chí”, chí ở đây chính là chí làm trai của các Nho sĩ Tu
thân, lập công, lập danh là mục đích và lí tưởng cả đời của bất kì một học trò cửa Khổng sân trình nào đều hướng tới Sự quyết tâm trong học hành tu thân, lòng khao khát được đem tài năng công sức của mình ra để công hiến cho đất nước đều được các tác gia mượn văn thơ để giãi bày Trong Nho giáo, nhà Nho hành đạo là mẫu hình nhà Nho lí tưởng Và vì vậy, việc cống hiến cho xã hội, cộng đồng là lí tưởng chung của việc hành đạo Trong văn học cái chí đó
đều mang đậm mầu sắc chung và sự nhạt nhòa của màu sắc cá nhân Cái “tôi”
hòa vào cái chung của đất nước, cái tôi cá nhân để phục vụ cho cái chung của
xã hội Và dù có nói đến cái “đạo” của của con người hay cái “chí” của người “Quân tử” thì văn chương nhất thiết phải hướng con người đến cái chuẩn mực của Nho giáo là “Nhân” và “Nghĩa”
Do yêu cầu về nội dung phản ánh và nhiệm vụ của mình, nên văn chương nhà Nho chủ yếu hướng vào các đề tài của cuộc sống, những vấn đề
Trang 30quan thiết với cuộc sống nhà Nho, các chuyện tu thân, “tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” Bởi có sự giới hạn nghiêm ngặt, nên văn chương nhà Nho
chính thống không bao giờ quan tâm đến những chuyện ngoài phạm vi này Trong các tác phẩm, ta có thể thấy xuất hiện những hình ảnh tùng trúc cúc mai, những con người ngư tiều canh mục thì cũng chỉ mang tính chất minh họa cho những vấn đề xã hội, những đạo lí – thế sự Qua những hình ảnh đấy,
tác giả muốn nhắc đến một vấn đề về “Đạo” của con người, vấn đề của dân
tộc, vấn đề về đất nước về an dân Hình tượng nhân vật trung tâm bao giờ cũng là những nhà Nho hành đạo Họ là những người nhà Nho kiểu mẫu, luôn sống theo các nguyên tắc và các chuẩn mực đạo đức của Nho giáo Họ luôn
có cách ứng xử cho hợp thời thế, tư tưởng hành đạo và nhập thế là điểm tích cực của các nhà Nho này Chính vì vậy, các hình tượng khác đều được văn học khắc họa theo mô hình nhân cách lí tưởng hóa của Nho gia Nhà Nho luôn tìm kiếm mục đích sống của mình ngay trên cõi trần này, các nhà Nho hướng về cái đẹp của thực tại, của đời sống thế tục Cái đẹp trong văn chương
là cái đẹp của chính nhân cách của chủ thể, sự tu dưỡng, sự nỗ lực tu thân của
người nhà Nho “Một trong những đặc tưung thẩm mĩ của văn học nhà Nho là cái đẹp của tình cảm được lí trí chế ước trong phạm vi của cái trung hòa” [9- tr.25] “Tâm tính học của Nho gia hướng tới sự phù hợp tuyệt đối, phù hợp tới độ nhất thể giữa bản năng và lễ chế/ các thiết chế xã hội Cái đó được nhà Nho gọi là “phát nhi giai trúng tiết” Nó là Hòa Hòa ở đây là tư tưởng, tình cảm, bản năng, xúc cảm hoàn toàn được làm chủ, được điều tiết và những tình cảm bản năng đó không gì vượt qua khuôn phép Cái tiêu chí, chỗ dựa để điều tiết đó là các quy chế của lễ chế Tu tâm dưỡng tính thực chất là làm cho tình cảm tự nhiên không mâu thuẫn với lễ” [27] Văn học nhà Nho
cũng có những đặc trưng thi pháp nổi bật Nó là đặc điểm quan trọng để phân biệt nó với các hiện tượng văn học khác trong nền văn học Việt Nam Văn học trung đại phổ biến sử dụng các hình ảnh ước lệ, nghiêm ngặt và phức tạp hơn sơ với văn học dân gian hay văn học hiện đại sau này Văn chương nhà Nho là dòng văn chương chính thống và mang tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ Trong các sáng tác ta thấy sẽ có sự xuất hiện thường xuyên của các điển tích, điển cố, những thi liệu, văn liệu của người xưa Vì vậy muốn hiểu hết được ý nghĩa của các sáng tác đòi hỏi người đọc phải có những hiểu biết
Trang 31về văn hóa, lích sử, văn chương đời trước Đó cũng là nét thể hiện sự sùng cổ
của văn học trung đại Văn chương quan niệm về thời gian “Thời gian nghệ thuật trong văn học nhà Nho luôn hướng về quá khứ, sử dụng quá khứ làm chuẩn mực, làm thước đo cho hiện tại và tương lai Nhà Nho xác lập cho mình một hệ giá trị dựa trên những ước lệ về một quá khứ hoàn hảo, huy hoàng, một quá khứ đại diện cho Đạo Thời gian đối với nhà Nho không vận động mà chỉ biến đổi theo chu kì tuần hoàn thịnh suy, trị loạn Không gian nghệ thuật trong văn học nhà Nho là không gian hiện thực, thế tục, là cung đình, nông thôn, sơ thủy, những không gian này thường mang tính ước lệ, biểu tượng.” [9- tr.25]
Hình ảnh con người trong văn chương trung đại là những con người vũ trụ Trong tư tưởng của Nho giáo con người cá nhân là một yếu tố trong thể thống nhất của thế giới Con người luôn chịu ảnh hưởng của thuyết thiên mệnh, của quy luật biến dịch tuần hoàn, âm dương tiêu trưởng Do đó, trong văn học hình ảnh con người luôn được gợi lên cùng với thiên nhiên, với trời đất, sông núi Với quan niệm văn chương là để giáo dục con người, chuyên chở đạo lí và đấu tranh cho công lí, hình ảnh con người trong văn chương cũng gắn với quan niệm con người đạo đức Họ thường là những con người
sống theo “tam cương ngũ thường” tu thân theo chuẩn mực đạo đức của Nho
giáo phong kiến Vì vậy, họ là những con người phi cá nhân, không có cá tính
và sống theo khuôn mẫu Mọi tư duy, hành xử của nhân vật đều phải bó vào trong một khuôn mẫu có sẵn nên nghệ thuật miêu tả nhân vật chưa có gì đặc sắc Cũng từ nguyên nhân coi văn học mang chức năng xã hội, nên thể loại văn học thời kì này cũng là các thể loại chính trị, chính luận như: hịch, cáo, chiếu, biểu, Và ngay cả những thể loại mang tính nghệ thuật nhiều hơn như thơ, phú cũng bị nhà Nho chức năng hóa Như trong thơ ca, thể thơ để vịnh trở thành tiểu loại tiêu biểu để vịnh các dồ vật, sự vật để thể hiện những vấn đề đạo lí – thế sự Đây cũng là một trong những lí do gọi đây là thời kì văn sử, triết bất phân
Tiểu kết chương 1
Chương một của khóa luận đã đưa ra những vẫn đề khái quát nhất về Nho giáo Nho giáo cùng với những quan điểm của mình đã dần được giai cấp
Trang 32phong kiến nước ta tiếp nhận Trong quá trình du nhập vào nước ta, Nho giáo
đã thể hiện sự phù hợp trong cai trị đất nước của mình qua từng triều đại Từ
những niệm về “tam cương” và “ngũ thường” đến nhà Nho hành đạo của người “Quân tử” đến những quan niệm cho những người phụ nữ trong xã hội
Nho giáo đã thể hiện rõ bản chất cơ bản của mình là sự ràng buộc, khuôn phép, tôn ti rõ ràng Nho giáo hướng con người vào những lễ nghi, phép tắc trong cả đời sống ngày thường và cả trong chính trị quốc gia Lý tưởng xây dựng về đất nước hòa bình thịnh trị của Nho giáo đã có ảnh hưởng đến các triều đại phong kiến Việt Nam Cùng với quá trình phát triển hệ tư tưởng của Nho giáo ở Trung Quốc, Nho giáo ở Việt Nam ngày càng chiếm được ưu thế Giai cấp phong kiến Việt đã thúc đẩy sự phát triển của Nho giáo và đồng thời Nho giáo cũng thể hiện thế mạnh trong việc ổn định xã hội của mình Trên các phương diện chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thì văn chương không nằm ngoài vòng ảnh hưởng này Nho giáo đã ảnh hướng đến lực lượng sáng tác, nội dung sáng tác và cả nghệ thuật sáng tác của văn học trung đại Việt Nam Nho giáo đã góp phần hình thành một bộ phận văn học viết với nhiều thành tựu của văn học viết Việt Nam Những tác phẩm đó đã phản ánh đới sống tinh thần Người Việt Nam cả một thời đại đầy phong ba bão táp và hào hùng của
dân tộc
Trang 33Chương 2 NHO GIÁO VỚI TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC TRONG THƠ VĂN LÊ THÁNH TÔNG 2.1 Lê Thánh Tông – một nhà chính trị, một nhà thơ
2.1.1 Lê Thánh Tông – Hoàng đế Nho gia trong bối cảnh độc tôn của Nho giáo
Nho giáo từ nửa sau thế kỉ XV đã được đưa lên vị trị độc tôn trong xã hội, đồng hành với sự phát triển lên giai đoạn cực thịnh của chế độ chuyên chế ở Việt Nam Sự lên ngôi của Lê Thánh Tông (黎聖宗) cũng là dấu mốc cho sự hoàn thành xu hướng Nho giáo hóa xã hội được khởi nguồn từ giữa thời Trần Lê Thánh Tông là một nhân vật lớn trong lịch sử trung đại Việt Nam Sinh năm 1442, mất năm 1497, gần 38 năm trị vì đất nước dưới hai niên hiệu Quang Thuận-光順 (1460-1469) và Hồng Đức- 洪德 (1470-1497), Lê
Thánh Tông đã mở ra một thời kì “võ công - văn trị rực rỡ” trên nước ta
Mặc dù vẫn còn nhiều điều nghi vấn về xuất thân của ông, nhưng người con trai thứ tư của Lê Thái Tông (黎仁宗), Lê Tư Thành (黎思誠) đã lên ngôi hoàng đế sau cái chết Lê Nhân Tông và hàng loạt những biến động cung đình Sau khi lên ngôi, ông đã thực hiện những chính sách để đưa nước ta đi vào ổn định Ông đã xây dựng một nhà nước theo những quy chuẩn bài bản về kinh
tế, sở hữu ruộng đất, quân sự, kinh tế, Lê Thánh Tông cũng thiết lập được một xã hội mang tính pháp trị bậc nhất trong lịch sử nước ta Bộ Luật Hồng Đức gồm nhiều quy phạm pháp luật về lĩnh vực hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân – gia đình, hành chính, được ra đời dưới thời vua Lê Thánh Tông Đây là bộ luật được đánh giá là tiêu biểu, qua trọng nhất và có vai trò rất đặc biệt trong lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam Tuy rằng đây là bộ luật của giai cấp cầm quyền phong kiến, nhưng nó đã có những điểm tiến bộ về những quy định bảo vệ phụ nữ, bảo vệ quyền lợi của người
dân, tầng lớp dưới, Nó cũng thể hiện tinh thần nhân đạo, thương dân, “lấy dân làm gốc- 以民为本”, sự kết hợp hài hòa giữa “lễ trị” và “pháp trị” trong
đường lối cai trị của Lê Thánh Tông
Trang 34Ông cũng là người hoàn thiện những phép tắc khoa cử và đưa khoa cử
ở nước ta thành nề nếp Bắt đầu từ năm 1463, các khoa thi được tổ chức đều đặn ba năm một lần Các kì thi được tổ chức lần lượt từ thi Hương, thi Hội, thi Đình, lấy đỗ tam giáp, đệ nhất giáp bao gồm tam khôi So với các giai đoạn trước, từ thời Lý đến thời Trần, thì con đường khoa cử Nho học dưới thời Lê Thánh Tông được đặc biệt chú trọng Vì vậy, Nho sĩ thời này cũng đông hơn, số lượng người tiến thân bằng con đường khoa cử Nho học cũng nhiều hơn Ông cũng thực hiện một loạt các nghi lễ để tôn vinh các tiến sĩ đỗ bảng vàng Họ sẽ được ban mũ đai y phục dưới sự chúc mừng của các quan triều đình và nhà vua ở chính điện, được đề tên bảng vàng, được vinh quy bái
tổ Bia tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam của các khoa thi từ 1442 đến
1484 cũng là do Lê Thánh Tông cho người dựng Có thể thấy rằng, đây là thời
kì lí tưởng cho các nhà Nho hành đạo khi mà mà Nho giáo được tôn sùng và
có rất nhiều cơ hội để các nhà Nho thi thố tài năng Bên cạnh đó, Lê Thánh Tông cũng hạn chế sự phát triển và ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo Trên phương diện hình thức, Lê Thánh Tông đã trục xuất Phật giáo và Đọa giáo ra khỏi triều đình, để thực hiện theo hình thức của Nho giáo Trong văn
sách thi Đình ở khoa thi đầu tiên năm Quý Mùi 1463), ông đã viết: “ Giáo
lí của đạo Phật, đạo Lão hết thảy đều mê đời lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cái hại của nó không thể kể xiết mà lòng người rất ham, rất tin Đạo của Thánh nhân, lớn thì tam cương ngũ thường, nhỏ thì tiết văn độ số đều thiết dụng trong cuộc sống thường ngày mà lòng ham thích của người ta lại chẳng bằng đạo Phật, đạo Lão Tại sao như thế?” [23- tr.271] Trên thực tế, Phật giáo
và Đạo giáo đã cùng Nho giáo đồng hành trong đời sống tinh thần của nhân dân nhiều thế kỉ qua Và Lê Thánh Tông tuy rằng vẫn có những ảnh hưởng từ hai đạo trên, nhưng ông đã chủ động để tiếp nhận Nho giáo và tích cực nâng cao địa vị của Nho giáo
Ông cũng là người ráo riết trong việc thực hiện võ trị Lê Thánh Tông nhiều lần đích thân cầm quân đi đánh giặc và là người có công lớn trong hành trình nam tiến của dân tộc Ông là một vị hoàng đế đã làm thay đổi diện mạo của đất nước, với những hành động như vậy đều thể hiện tư tưởng Nho gia của Lê Thánh Tông Tuy nhiên, với tư cách là một nhà vua, ông là một nhà
Trang 35vua theo kiểu mẫu của Nho giáo hoàn toàn có ý thức Ông đã xây dựng được một xã hội quan chủ quan liêu theo mô hình Nho giáo, hoàn toàn khác so với thời Lý – Trần và xu thế chuyển đổi từ nền quân chủ quý tộc sang nền quân chủ quan liêu Khi đó, mọi quyền lực đều tập trung vào tay nhà vua, Nho sĩ là những người thông qua tuyển chọn khoa cử để giúp việc cho triều đình Đỗ
Lai Thúy đã gọi ông là một “Nhà nho - Hoàng đế - Thi nhân: Như vậy Lê Thánh Tông là một nhà Nho quân tử điển hình Ngôi vị hoàng đế không kéo được ông ra khỏi mẫu hình này, mà ngược lại thúc đẩy ông phát động hết mức tiềm năng của con người đó, nhất là chức năng hành đạo.” [23- tr.666] Trên lí thuyết, nhà Nho và “hoàng đế” là hai loại hình nhân cách khác nhau Trong quan niệm của Nho giáo thì hoàng đế nằm trong mô hình “thiên mệnh – thiên hạ - thiên tử” Như vậy, “hoàng đế” là người có quyền lực cao nhất,
và chỉ chịu sự chi phối của thiên mệnh Tiêu chí để giữ được thiên mệnh của
“hoàng đế” là phải có Đức Đế vương phải tu dưỡng đạo đức của bản thân để
lấy nó để cai trị giang sơn Như vậy, việc tu thân và hành đạo của nhà Nho
cũng giống như việc tu dưỡng “Đức” của nhà vua để đem ra cai trị đất nước
và Lê Thánh Tông chính là một nhà Nho hành đạo chính thống Ông đã chủ động lựa chọn việc thúc đẩy quá trình Nho giáo hóa trong xã hội và việc thần thánh hóa ngôi vua chuyên chế Thiết định mô hình xã hội theo Nho giáo và đẩy mạnh tinh thần giáo hóa là việc làm của một nhà Nho Nhưng Lê Thánh Tông đã dùng thân phận của một vị hoàng đế Nho gia để làm những việc đó
để đưa thời đại của ông trở thành khuôn mẫu
2.1.2 Lê Thánh Tông với văn chương thời Hồng Đức
Lê Thánh Tông không chỉ có sức ảnh hưởng đến nền chính trị nước nhà,
mà với tư cách là một nhà thơ đích thực, ông cùng các Nho sĩ thời mình đã tạo nên một thời văn thơ Hồng Đức rực rỡ trong lịch sử văn học Cuộc đời sáng tác của Lê Thánh Tông khá dài, có thể nói từ những sáng tác đầu tiên đến những sáng tác cuối đời, ông luôn giữ được địa vị quan trọng trên văn đàn Với ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và cương vị là một nhà vua, nên những sáng tác của ông thường thiên về những vấn đề thực tiễn có liên quan đến yêu cầu củng cố chế độ phong kiến Trong thơ của ông ít xuất hiện những ý thơ bay bổng, cảm hứng phiêu dật, những suy tư thăng trầm Nhưng đôi khi hồn