1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết đức thánh trần của trần thanh cảnh

65 109 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo thời gian, tiểu thuyết lịch sử đã trở thành một mạch nguồn bất tận trong dòng chảy của lịch sử văn học Việt Nam với hàng trăm tác phẩm có giá trị của các nhà văn nổi tiếng như Nguy

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS PHÙNG GIA THẾ

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc tới các thầy cô giáo trong Tổ

Lí luận văn học - khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt

là PGS.TS Phùng Gia Thế đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho em trong suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thành khóa luận này

Do còn hạn chế về mặt thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý từ thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Ngô Thị Khánh Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

- Khóa luận này là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của cá nhân dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phùng Gia Thế;

- Những số liệu và tài liệu được trích dẫn trong đây là trung thực;

- Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Bố cục của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA TRẦN THANH CẢNH 5

1.1 Khái quát về diễn ngôn 5

1.1.1 Khái niệm diễn ngôn trong ngôn ngữ học 6

1.1.2 Vấn đề diễn ngôn trong văn học 9

1.1.2.1 Diễn ngôn văn học mang tính lịch sử 11

1.1.2.2 Diễn ngôn văn học có tính kí hiệu 12

1.1.2.3 Diễn ngôn văn học có tính quy chiếu 13

1.1.2.4 Diễn ngôn văn học có tính hư cấu 13

1.1.2.5 Diễn ngôn văn học được “lạ hóa” 13

1.1.2.6 Diễn ngôn văn học mang tính phỏng nhại 15

1.2 Khái quát về diễn ngôn lịch sử 16

1.2.1 Diễn ngôn lịch sử trong khoa học lịch sử 16

1.2.2 Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử - một bình diện quan trọng của diễn ngôn 18

1.2.2.1 Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử mang tính đối thoại 20

Trang 6

1.2.2.2 Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử là sự kết hợp hài hòa, sự đan bện

chặt chẽ của hai yếu tố sự thật lịch sử và hư cấu 21

1.2.2.3 Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử in đậm dấu ấn của các thủ pháp của khuynh hướng hậu hiện đại 22

1.3 Hành trình sáng tạo của Trần Thanh Cảnh 24

1.3.1 Vài nét về tác giả Trần Thanh Cảnh 24

1.3.2 Sáng tác của Trần Thanh Cảnh trong bối cảnh văn học đương đại 25

1.3.3 Tiểu thuyết Đức Thánh Trần - cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tay trong sáng tác của Trần Thanh Cảnh 26

CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT ĐỨC THÁNH TRẦN TỪ CÁI NHÌN NGƯỠNG VỌNG, CHIÊM BÁI 28

2.1 Nhân vật lịch sử được “thần thánh hóa” với cảm hứng ngợi ca, tôn vinh, thán phục 28

2.1.1 Trần Quốc Tuấn - một võ tướng kiệt xuất, uy dũng phi phàm 28

2.1.1.1 Một hào kiệt trẻ tuổi có dung mạo uy nghi, đẹp đẽ, văn võ toàn tài 28 2.1.1.2 Một bậc kỳ tài quân sự với tài điều binh khiển tướng lỗi lạc và dùng người kiệt xuất 30

2.1.1.3 Một bậc đại nhân có tấm lòng nhân nghĩa rộng lớn 35

2.1.2 Trần Thủ Độ - một đại công thần của nhà Trần, tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người 36

2.1.2.1 Khả năng chính trị quyết đoán hiệu quả 37

2.1.2.2 Tấm lòng tận trung, tận hiếu với vương triều nhà Trần và giang sơn xã tắc 38

2.1.3 Trần Thái Tông - một vị vua anh hùng cứu nước 38

2.1.3.1 Một người xem thường vinh hoa phú quý, có thể từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc 38

2.1.3.2 Một vị vua hết lòng vì quốc gia xã tắc 40

Trang 7

2.2 Thủ pháp khắc họa hình tượng nhân vật dưới cái nhìn sử thi 40

2.2.1 Về nghệ thuật miêu tả nhân vật 40

2.2.1.1 Từ diện mạo đến tính cách 40

2.2.1.2 Miêu tả qua hành động, cử chỉ 41

2.2.2 Về giọng điệu trần thuật 42

2.2.2.1 Giọng điệu hào hùng, đanh thép 43

2.2.2.2 Giọng điệu thống thiết, chân thành 44

2.2.2.3 Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý 45

CHƯƠNG 3: LỊCH SỬ TRONG ĐỨC THÁNH TRẦN CỦA TRẦN THANH CẢNH TỪ CÁI NHÌN ĐỜI TƯ- THẾ SỰ- NHÂN VĂN 47

3.1 Nhân vật lịch sử được “giải mờ” hiện lên như những con người đời thường dưới cái nhìn đời tư - thế sự - nhân văn 47

3.1.1 Hình ảnh Trần Quốc Tuấn không chỉ là “võ nghiệp lẫy lừng” mà còn có “tình yêu bất diệt” 47

3.1.1.1 Trong mối quan hệ tình ái với vợ - công chúa Thiên Thành 48

3.1.1.2 Trong mối tình “liêu trai” với tình nương - Quế Lan 49

3.1.2 Công chúa An Tư - một người con gái mang đậm bản năng tính dục 51

3.1.2.1 Con người liệt nữ của công chúa An Tư 51

3.1.2.2 An Tư - người con gái mang khát vọng tình dục cháy bỏng 51

3.2 Thủ pháp xây dựng hình tượng “con người đời thường” 53

3.2.1 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 53

3.2.3 Giọng điệu trần thuật 54

KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong bộ môn Lí luận văn học, có thể nói diễn ngôn đã trở thành đối tượng nghiên cứu từ rất sớm Từ những năm 60 của thế kỉ XX ở Châu Âu, hướng nghiên cứu về diễn ngôn được phát triển rất mạnh mẽ Diễn ngôn lúc

đó trở thành một khái niệm trung tâm và được sử dụng trong hầu khắp các ngành khoa học xã hội và nhân văn Xét trong phạm vi văn học, thực tế đã chứng minh, ở mỗi thời kì lịch sử, do những định chế của thời đại sẽ có những diễn ngôn khác nhau; ở mỗi thể loại văn học, do có những quy định riêng, đặc trưng riêng của từng thể loại, cũng có những kiểu diễn ngôn khác nhau; và ở mỗi nhà văn, do phong cách nghệ thuật, cá tính sáng tạo, cảm quan

cá nhân riêng mà lại cũng có những cách diễn ngôn khác nhau Do đó, nghiên cứu diễn ngôn trong văn học không chỉ đơn thuần là nghiên cứu trên bề mặt câu chữ mà địa hạt của nó chính là vấn đề nằm ngoài và sau văn bản, ở khả năng liên văn bản, hứa hẹn mở ra những chiều kích lý giải và khám phá khác nhau soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau

1.2 Tiểu thuyết lịch sử, xét trên phạm vi toàn thế giới, được ví như một thanh nam châm có sức thu hút và lôi cuốn đặc biệt đối với những cây bút lẫy lừng của văn học thế giới Chính vì vậy, ở đề tài này, đã có rất nhiều tác phẩm

đạt đến tầm kinh điển, chẳng hạn như: Nhà thờ Đức Bà Paris của Victor Hugo, Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi, Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Tây du kí của Ngô Thừa Ân,… Trong văn học Việt Nam vào thế

kỉ XVIII cũng đã xuất hiện một bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng là Hoàng Lê

nhất thống chí của nhóm Ngô gia văn phái Sang đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết

lịch sử của Việt Nam lại một lần nữa được khẳng định khi có sự ra đời của

Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu Theo thời gian, tiểu thuyết lịch sử

đã trở thành một mạch nguồn bất tận trong dòng chảy của lịch sử văn học Việt Nam với hàng trăm tác phẩm có giá trị của các nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Huy Tưởng, Hà Ân, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn

Mộng Giác,… Nằm trong dòng chảy của thể loại, tiểu thuyết Đức Thánh Trần

của Trần Thanh Cảnh tuy là một tác phẩm mới được “khai sinh” trong đời sống văn học đương đại, song đã gây được một tiếng vang rất lớn bởi lối viết

Trang 9

mới mẻ, độc đáo, lôi cuốn của dược sĩ - nhà văn Trần Thanh Cảnh Sau tập

truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam

2015 cho văn xuôi, tên tuổi của Trần Thanh Cảnh càng được chú ý nhiều và

đến cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tay Đức Thánh Trần, tài năng văn chương

của ông thực sự đã tạo được một dấu ấn mạnh mẽ trên văn đàn văn học đương đại, đặc biệt là ở mảng đề tài lịch sử

1.3 Khi quyết định lựa chọn nghiên cứu một tiểu thuyết lịch sử của một nhà văn đương đại, tác giả khóa luận mong muốn có thể góp một phần nhỏ nhưng hữu ích của mình vào việc làm cho đời sống văn học đương đại trở nên gần gũi hơn, hòa mình hơn vào chương trình dạy và học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu

“Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh”

làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đức Thánh Trần là một tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng: “Lịch sử là

một thực thể khả biến, luôn vận động không ngừng, do đó, những diễn giải đa dạng, thậm chí trái ngược nhau, không phải để triệt tiêu nhau, mà là bổ trợ nhau trong việc hình thành một nhận thức mới có thể chấp nhận được” [16]

Với cảm thức như vậy, có thể nói tiểu thuyết Đức Thánh Trần của nhà văn

Trần Thanh Cảnh là một diễn giải lịch sử khả thể mang đậm dấu ấn cá nhân nhà văn Tuy là một gương mặt mới, chung sống trong đời sống văn học đương đại chưa lâu, nhưng với tất cả những ý nghĩa tư tưởng cũng như những

cách tân đổi mới về nghệ thuật của nhà văn, Đức Thánh Trần của Trần Thanh

Cảnh thực sự đã trở thành một “cây nam châm” kì diệu thu hút nhiều bút lực của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học hay các công trình nghiên cứu khoa học Nhận xét về cuốn tiểu thuyết đặc biệt này, nhà phê bình văn học Nguyễn

Hoài Nam đã viết: “Trần Thanh Cảnh khởi thảo Đức Thánh Trần sau khi đã

cho ra mắt độc giả hai tập truyện ngắn mang đậm chất hoa tình, thậm chí là tinh thần “phóng dục” khá đặc trưng cho đất và người Kinh Bắc Cái “nếp” ấy vẫn được ông giữ lại trong cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tay này, qua những

Trang 10

trường đoạn viết về ái tình hừng hực nhựa sống và tràn trề đam mê của những người đàn ông, đàn bà Việt Nam thế kỉ XIII Đọc những trường đoạn ấy, ta sẽ thấy, ví dụ, Trần Quốc Tuấn và An Tư công chúa của Trần Thanh Cảnh khác với Trần Quốc Tuấn của Hà Ân, khác với An Tư công chúa của Nguyễn Huy Tưởng đến thế nào Đó cũng chính là những diễn giải lịch sử khả thể”

Trong bài viết “Tiểu thuyết Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh” –

Một tiểu thuyết lịch sử đáng đọc”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng đã đưa ra những

nhận định sắc bén về cuốn tiểu thuyết đặc sắc này: “Để làm nên Đức Thánh

Trần, tác giả đã dám mạo hiểm xông vào những địa hạt vô cùng trống vắng sử

liệu, trở thành “nhà thám hiểm cuộc sống” Những khuất lấp của lịch sử, những bí ẩn trong đời sống nội tâm, những “vùng mờ” trong cuộc đời và số phận nhân vật được nhà văn khơi mở, phân tích sâu sắc Sự mở rộng biên độ

hư cấu, sáng tạo cho phép Trần Thanh Cảnh tiếp cận, soi rọi, giải mã những nhân vật tưởng chừng như đã “đóng đinh” trong kinh nghiệm, hiểu biết của cộng đồng Từ điểm nhìn đời tư - thế sự - nhân văn, ông đã soi rọi, khám phá nhiều khía cạnh mới mẻ trong cuộc đời Trần Quốc Tuấn - thần tượng dân tộc, huyền thoại tôn giáo Nhà văn thấy được ở con người vĩ đại này không chỉ mang phẩm chất thần thánh, sứ mệnh thiên định, mà còn có những giây phút rất đời, rất người” [16]

Có thể nhận thấy những bài nghiên cứu trên đã ít nhiều đề cập đến vấn

đề diễn ngôn lịch sử trong Đức Thánh Trần Tuy nhiên chưa có một công

trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách bài bản, kĩ lưỡng vấn đề này Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn để triển khai nghiên cứu đề tài: Diễn ngôn

lịch sử trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh

3 Mục đích nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, khóa luận của tôi nhằm mục đích một mặt sẽ góp phần làm sáng tỏ lý thuyết vể diễn ngôn ở thể tài tiểu thuyết lịch sử, mặt khác vận dụng lý thuyết này để phân tích đặc điểm của diễn ngôn

lịch sử được thể hiện trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần của Trần Thanh

Cảnh Nếu hoàn thành tốt, khóa luận sẽ là nguồn tư liệu cần thiết và đáng tin cậy cho những ai quan tâm đến vấn đề này

Trang 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Làm rõ cơ sở lý luận về lý thuyết diễn ngôn, vận dụng cụ thể lý thuyết này để tìm hiểu diễn ngôn trong tiểu thuyết lịch sử

4.2 Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt giữa diễn ngôn lịch sử với diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử, từ đó đề nghị một cách hiểu rộng hơn về lịch sử

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần của Trần Thanh

Cảnh

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết lịch sử ĐứcThánh Trần, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2017

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp hệ thống;

- Phương pháp phân tích - tổng hợp;

- Phương pháp liên ngành;

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận được triển khai làm 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Khái quát về lý thuyết diễn ngôn và hành trình sáng tạo của Trần Thanh Cảnh

Chương 2: Lịch sử trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần từ cái nhìn

ngưỡng vọng, chiêm bái

Chương 3: Lịch sử trong Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh từ cái

nhìn đời tư - thế sự - nhân văn

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

KHÁI QUÁT VỀ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG

TẠO CỦA TRẦN THANH CẢNH 1.1 Khái quát về diễn ngôn

Từ những năm 60 của thế kỉ XX, nghiên cứu diễn ngôn (hay còn gọi là phân tích diễn ngôn) trở thành một trào lưu nghiên cứu khoa học có sức lan tỏa mạnh mẽ ở Châu Âu, đặc biệt trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, diễn ngôn đã trở thành một khái niệm trung tâm Sau thời kì thống trị của cấu trúc luận, nội hàm của khái niệm này lại ngày càng trở nên phức tạp hơn

do nó xuất hiện thêm nhiều nét nghĩa mới Điều này đã được khảo sát và ghi nhận trong các công trình nghiên cứu hậu cấu trúc và giải cấu trúc của M Foucault, J.Derrida, R.Barthes… Ngày nay, diễn ngôn trở thành một thuật ngữ quan trọng trong các công trình nghiên cứu của các trường phái: Phân tích diễn ngôn phê phán, Chủ nghĩa Hậu hiện đại, Lí luận nữ quyền, Chủ nghĩa Tân lịch sử,…

Diễn ngôn có một phạm vi phủ sóng rộng lớn, rộng đến mức, Marie Christine trong cuốn từ điển bách khoa về các lý thuyết văn học đương đại

Encyclopedia Contemporary Literary Theory đã cho rằng, “nó đi ngang qua

ranh giới của các lĩnh vực và bởi vậy tham gia vào một sự tái tổ chức tri thức nói chung đang diễn ra trong khoa học xã hội và nhân văn ngày nay” [4] Diễn ngôn đã trở thành đối tượng nghiên cứu và phương tiện sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa, xã hội học, khoa học lịch sử,… Tuy nhiên, trong mỗi bối cảnh khác nhau, tùy vào từng hướng nghiên cứu khác nhau, nó lại biểu hiện thành những nét nghĩa rất khác nhau Học giả Jacques Derrida định nghĩa diễn ngôn như sau: “Diễn ngôn…có hình thức cấu trúc của các diễn giải Mỗi câu, do tự nó đã có bản chất diễn giải, sẽ tạo ra sự diễn giải cho câu khác” [13] Julia Kristeva lại cho rằng: “Nguyên tắc đối thoại bao giờ cũng đi đôi với các cấu trúc chiều sâu của diễn ngôn… Nguyên tắc đối thoại

là nguyên tắc của mọi phát ngôn” [13] Còn theo tác giả Roland Barthes

Trang 13

thì diễn ngôn được hiểu với những hàm nghĩa sau: “Thứ nhất là sự giao tiếp bằng lời, nói chuyện, hội thoại Thứ hai là sự triển khai một vấn đề nào đấy bằng cách nói hoặc viết theo một trật tự Thứ ba, các nhà ngôn ngữ học thường sử dụng thuật ngữ diễn ngôn để chỉ một đơn vị của văn bản - đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu” [1-tr.1]

Có thể thấy các ý nghĩa khác xa nhau, mâu thuẫn nhau, hoặc đan bện chồng chéo lên nhau, khó phân tách, do đó vẫn chưa có một nội hàm thuật ngữ khoa học xác định, thống nhất Nhiệm vụ của người nghiên cứu là phải căn cứ vào bối cảnh sử dụng cụ thể của diễn ngôn để thấy được nét nghĩa nào của thuật ngữ đã được triển khai, sáng tạo thêm Mặc dù bản thân thuật ngữ

có nội hàm khá phức tạp, nhiều cách diễn giải với những ý nghĩa khác nhau, tuy nhiên tựu trung có thể khái quát diễn ngôn thành các khuynh hướng tiêu biểu sau:

1.1.1 Khái niệm diễn ngôn trong ngôn ngữ học

Có hai hướng nghiên cứu diễn ngôn cơ bản đó là hướng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học và của các nhà xã hội học Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu diễn ngôn của các nhà ngôn ngữ học phải kể đến đó là quan niệm phân biệt ngôn ngữ và lời nói theo ngôn ngữ học cấu trúc của F.de Saussure Trong

Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học, theo quan điểm của Saussure: “Ngôn ngữ

là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những

tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, cũng như trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm đó Lời nói là kết quả của việc vận dụng các phương tiện khác nhau của ngôn ngữ để truyền đạt thông tin, kêu gọi người nghe có hành động tương ứng” [tr.311] Như vậy, ngôn ngữ và lời nói

là hai mặt thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiềm tàng, trừu tượng hóa Còn lời nói là phương tiện giao tiếp ở dạng hiện thực hóa, tức là ở dạng hoạt động, gắn liền với những nội dung cụ thể Ngôn ngữ mang tính cộng đồng, là tài sản chung của xã hội, còn lời nói mang tính cá nhân, là sản phẩm của sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể, bởi các cá nhân cụ thể Về sau, một số nhà ngữ học nhận thấy trong hướng nghiên cứu của Saussure có một sự thiên lệch

Trang 14

khi ông khẳng định ngôn ngữ là hệ thống những yếu tố và nguyên tắc có giá trị chung, nó là cơ sở để cấu tạo các ngôn bản hay lời nói; người ta chỉ có thể giao tiếp nếu các ngôn bản hay lời nói bao gồm những yếu tố có giá trị chung, hoạt động theo những nguyên tắc chung Họ thấy cần thiết phải nghiên cứu lời nói, nghiên cứu văn bản, nghiên cứu diễn ngôn và từ đó diễn ngôn được đề xuất như đối tượng mới của ngôn ngữ học

Diễn ngôn được các nhà ngữ văn học nghiên cứu, tiêu biểu trong đó là

M Bakhtin Đối với khoa học xã hội nhân văn, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là “text (văn bản), còn trong văn học thì tác giả gọi là “slovo” (lời văn/ngôn từ/lời nói) Với hướng nghiên cứu theo chủ nghĩa cấu trúc, trong quan điểm của mình, Saussure chỉ chú trọng quan tân đến ngôn ngữ và lời nói, tức là quan tâm đến nghĩa và cái biểu nghĩa hay “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt”, đơn vị được định lượng chỉ là từ và câu Vậy vấn đề đặt ra ở đây là nếu ta đem các đơn vị từ và câu ấy vào hoạt động giao tiếp cụ thể thì chủ thể giao tiếp có thể thực hiện được mục đích giao tiếp hay không? Trong giao tiếp hết câu chưa phải là hết ý mà đến khi nào hết một phát ngôn của chủ thể mới là hết ý, khi đó mục đích giao tiếp mới được thực hiện, người nói mới truyền đạt được thông tin đến người nghe Bakhtin nhấn mạnh: Phát ngôn chính là đơn vị giao tiếp của lời nói bởi bản thân lời nói chỉ có thể tồn tại trong thực tế dưới hình thức những phát ngôn cụ thể của những lời nói riêng

lẻ Mặt khác, thông qua phát ngôn, tức là thông qua thực tiễn sử dụng ngôn ngữ thì bản chất sống động của ngôn ngữ sẽ được thể hiện rõ nét Với Sausure ngoài cấu trúc ra, các yếu tố khác như chủ thể giao tiếp, hoàn cảnh lịch sử, ngữ cảnh,… đều không đóng góp một vai trò quan trọng nào trong việc quy định nghĩa của diễn ngôn thì Bakhtin cho rằng, ý nghĩa diễn ngôn, phương thức diễn ngôn (cách dùng từ, đặt câu…) không chỉ do cấu trúc ngôn ngữ hay

do cá tính người phát ngôn quy định mà còn do ngữ cảnh, do đặc điểm văn hóa - xã hội của từng thời kì lịch sử quy định Diễn ngôn do vậy mà nó gắn liền với xã hội, mang tính xã hội Diễn ngôn gắn liền với hoạt động giao tiếp thường ngày của con người bởi con người phải nói theo các quy tắc ngôn ngữ nhất định nếu muốn tồn tại trong xã hội

Trang 15

Như vậy, đối với Bakhtin, diễn ngôn không phải là ngôn ngữ; hai khái niệm này tuy có thể cùng một đối tượng nhưng chúng mang nội hàm ý

nghĩa khác nhau, có nền tảng tư tưởng khác nhau: Nếu ngôn ngữ là đối tượng

của ngôn ngữ học truyền thống, thì diễn ngôn là đối tượng của khoa học xã hội nhân văn Xét trong phạm vi của ngôn ngữ học truyền thống, nhắc đến

ngôn ngữ là nhắc đến hai mặt nội dung và hình thức của ngôn ngữ, hai mặt này có thể tồn tại độc lập với nhau; ngôn ngữ có khả năng tách biệt, không chịu sự chi phối của đời sống xã hội và ý thức hệ Trong phạm vi nghiên cứu của lý luận diễn ngôn, hai khái niệm nội dung và hình thức của diễn ngôn cũng như mối quan hệ giữa chúng theo quan niệm truyền thống thì đến nay nếu theo quan điểm của chủ nghĩa Hậu cấu trúc thì không còn phù hợp nữa Ngôn ngữ được xem như một chỉnh thể, vì vậy ta không thể nào phân tách được một cách biệt lập nội dung và hình thức của nó Nội dung của diễn ngôn tức là hình thức và hình thức chính là cái biểu hiện nội dung Cái gọi là chỉnh thể ngôn ngữ mà Bakhtin hay dùng thực chất là diễn ngôn Nếu như ngôn ngữ

có khả năng tồn tại độc lập không phụ thuộc vào sự chi phối của đời sống xã hội thì diễn ngôn tồn tại dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của những tư tưởng, quan điểm của chủ thể phát ngôn nói riêng và khung tri thức văn hóa của thời đại, của từng thời kì lịch sử nói chung Bakhtin là người đề xuất hướng nghiên cứu “siêu ngôn ngữ học”, tức lấy diễn ngôn (lời nói, văn bản) làm đối tượng nghiên cứu, mở ra một hướng mới trong cách tiếp cận ngôn từ văn học Với tác giả, diễn ngôn không phải là ngôn ngữ theo cách hiểu của ngôn ngữ học truyền thống mà diễn ngôn được hiểu là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, ngôn ngữ trong thực tiễn sử dụng, có tư tưởng và mang tính xã hội cao Bất cứ lời nói nào được phát ra trong hoạt động giao tiếp thì đều được coi là diễn ngôn Vì vậy, diễn ngôn là sản phẩm của giao tiếp, không thể tách rời với ý thức chủ quan của người nói Bản chất diễn ngôn mang tính đối thoại bởi mỗi một phát ngôn đều thể hiện một ý kiến, một quan điểm, một tư tưởng của chủ thể phát ngôn (người nói) Mỗi một phát ngôn của chúng ta trong quá trình giao tiếp chỉ có ý nghĩa khi nó được hình thành và phát triển,

có sự tương tác qua lại, thường xuyên và liên tục trong mối quan hệ với những phát ngôn của các cá nhân khác trong xã hội

Trang 16

Như vậy, qua sự phân tích trên đây, chúng ta có thể khẳng định quan niệm diễn ngôn của Bakhtin thuộc lí luận văn học, triết học, không thuộc ngôn ngữ học Ông chủ trương nhìn nhận vấn đề từ góc độ bản thể tư tưởng, góc độ triết học để nghiên cứu văn học, dùng diễn ngôn thay thế cho ngôn ngữ

Từ những quan niệm khác nhau về diễn ngôn, trong khóa luận

này, chúng tôi đề xuất những cách hiểu về diễn ngôn như sau: Diễn ngôn là

hệ thống tổ chức của những kí hiệu, những cấu trúc ngôn ngữ chứa đựng nội dung tư tưởng, ý thức hệ, quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá, lý giải về bản chất của thế giới tự nhiên và xã hội Nó là cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể, một sản phẩm của hoạt động giao tiếp, của môi trường văn hóa tạo ra Nói đến diễn ngôn là nói đến một sự kiện ngôn ngữ, đồng thời là một sự kiện xã hội vì nó vừa thể hiện được một cách đầy đủ và toàn vẹn những quy tắc cấu tạo ngôn ngữ, mặt khác nó lại chứa đựng một quan niệm tư tưởng, một ý thức

hệ nhất định

1.1.2 Vấn đề diễn ngôn trong văn học

Diễn ngôn văn học là diễn ngôn về một hình thái nghệ thuật ngôn

từ trong đó có sự thống nhất giữa hai mặt hình thức và nội dung, giữa hình thức và tư tưởng Tiếp nhận diễn ngôn văn học là ta tiếp nhận thông qua hệ thống biểu đạt của nó Hệ thống biểu đạt của diễn ngôn văn học bao gồm hình tượng, loại hình ngôn ngữ, các phương tiện tu từ gắn với quan niệm, tư tưởng, mục đích sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Đồng thời, diễn ngôn văn học có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với lịch sử tư tưởng, chịu sự chi phối của các hình thái ý thức xã hội, của ý thức hệ, quan niệm văn hóa, thẩm mỹ của cộng đồng xã hội ở một thời kì lịch sử xã hội nhất định Mỗi thời đại có những định chế về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng khác nhau, ý thức hệ khác nhau, tôn giáo khác nhau, thị hiếu thẩm mỹ khác nhau,… sẽ tạo nên khung tri thức khác nhau, từ đó sẽ tạo nên những kiểu diễn ngôn khác nhau và điều này cũng chính là vấn đề “phong cách thời đại” Chính quyền lực xã hội đã quy định những kiểu diễn ngôn mang đặc trưng của thời đại, cho phép mỗi nhà văn được quyền nói những gì, nói đến đâu và nói như thế nào Nếu nhà văn nào không hiểu và thực hiện được “luật chơi” ấy, phát ngôn của anh ta sẽ không

Trang 17

được cộng đồng chấp nhận Ở vào thời kì chiến tranh, nhiệm vụ của văn học

là cổ vũ, khích lệ, động viên tinh thần sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng nên tượng đài về những người anh hùng - kết tinh cho vẻ đẹp, ý chí, khát vọng, sức mạnh của cả cộng đồng Vì thế văn học thời kì này là dòng văn học sử thi, diễn tả chủ yếu cái hùng, nếu có miêu tả cái bi thì cái bi đó phải hiện lên là cái bi hùng, bi tráng chứ không phải là cái

bi lụy, bi thương Văn học phải truyền đi thông điệp mạnh mẽ về tinh thần lạc quan, niềm tin vào cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp, tươi sáng ở tương lai, theo đúng “phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa” Có thể nhận thấy rõ tinh thần và cảm hứng sáng tác ấy được biểu hiện rõ nét trong những sáng tác tiêu biểu của M Gorki, A Tolsoy, M.Cholokhov,… của nền văn học Xô-viết; hay trong những sáng tác của Tố Hữu, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Anh Đức,… của văn học cách mạng Việt Nam; hay trong các tác phẩm của Khúc

Ba, Dương Mạt, Lương Bân,… của văn học Trung Quốc Thế nhưng, khi chiến tranh đi qua, cuộc sống “muôn mặt đời thường” của thời bình lại trở lại, văn học thời kì này phải thay đổi chức năng, sứ mệnh của mình để có thể bắt nhịp với hơi thở của đời sống hiện thực với bao phức tạp, bộn bề, ngổn ngang chồng chéo Văn học sử thi với cái nhìn ngưỡng vọng, chiêm bái lúc này đã nhường chỗ cho văn học thế sự với cái nhìn đời tư - nhân văn, quan tâm đến

số phận con người cá nhân, tiếng nói của “cái tôi” cá nhân với những nhu cầu, ước muốn, khát vọng về tình yêu, hạnh phúc được bộc lộ rõ nét Văn học có điều kiện đi sâu hơn để tìm hiểu, làm sáng rõ những “vùng tối”, “góc khuất”,

“điểm mờ” của hiện thực đời sống cũng như trong chính bản thể con người

Từ sự thay đổi trong quan niệm văn chương này đã làm xuất hiện một số diễn

ngôn mang đặc trưng mới như: Đoạn đầu đài (Tsinghiz Aitomatov), Chuyện

thường ngày ở huyện (V Auvetskin),… ở Nga; Linh sơn (Cao Hành Kiện), Cao lương đỏ (Mạc Ngôn), Thiếu nữ đánh cờ vây (Sơn Táp),… ở Trung

Quốc; Rừng Na-uy, Nhảy nhảy nhảy (Haruka Murakami),… ở Nhật Bản; Thời

xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Biết đâu địa ngục thiên đường (Nguyễn Khắc Phê),… ở Việt Nam

Trang 18

Có thể hiểu một cách ngắn gọn diễn ngôn trong văn học là lối nói, là quy tắc phát ngôn ẩn chìm trong vô thức cộng đồng, luôn chịu sự chi phối bởi đặc điểm của thời đại Nhà văn sống ở thời đại nào thì những phát ngôn của anh không chỉ nhân danh riêng một cá nhân, một người trí thức mà đó còn là tiếng nói, là điểm nhìn của cộng đồng thuộc về thời đại xã hội với bối cảnh lịch sử - văn hóa đó

Diễn ngôn văn học mang một số đặc trưng tiêu biểu sau:

1.1.2.1 Diễn ngôn văn học mang tính lịch sử

Điều này có nghĩa là ở mỗi cộng đồng thuộc các giai đoạn, thời kì lịch

sử - xã hội khác nhau sẽ có những quy định riêng, khác biệt riêng về lối nói và

ý thức nói Chính những yếu tố thuộc về thể chế chính trị, tư tưởng triết học, ý thức tôn giáo, quan niệm thẩm mĩ, thị hiếu tiếp nhận… của từng thời đại sẽ chi phối đến nguyên tắc phát ngôn: Sống ở thời đại này, cộng đồng này, anh được quyền nói những gì, nói đến đâu và nói như thế nào, bằng hình thức nào,

để thông qua đó truyền đạt đến người tiếp nhận một nội dung tư tưởng, một quan niệm thẩm mĩ, một cách nhìn nhận, lý giải về thế giới Do vậy, tri thức, thế giới quan, nhân sinh quan qua từng thời đại xã hội sẽ bị thay đổi theo thời gian Đây chính là hệ quả của mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực trong diễn ngôn Chẳng hạn như văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, do thể chế chính trị, ý thức hệ, chính quyền, nhân quyền, tôn giáo có sự chi phối, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội nói chung và đời sống văn học nói riêng nên vô hình trung đã tạo nên sức mạnh quyền lực có khả năng chi phối đến ý thức sáng tác Trong không gian cộng đồng chịu sự chi phối về

tư tưởng ấy, người viết tuy có ý thức muốn thể hiện sự bất mãn với thời cuộc nhưng lại không dám đả động đến giai cấp thống trị, hoặc muốn nói bắt buộc anh phải lựa chọn cách nói khác, cách nói gián tiếp, ẩn ý Có thể lấy một ví dụ

để minh chứng cụ thể cho điều này - tác phẩm Nhớ rừng của Thế Lữ Bài thơ

ra đời khi đất nước đang oằn mình chống chọi vì gót giày xâm lăng giày xéo của thực dân Pháp Khi đó, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đấu tranh của nhân dân đã nổ ra để đòi lại quyền độc lập, tự do của dân tộc song trước ngọn lửa hung tàn của kẻ thù, chúng đều bị dập tắt Những thi sĩ, chiến

sĩ lúc bấy giờ đương mang trong mình tâm trạng căm hờn, u uất, ngột ngạt vì

Trang 19

một nỗi bất lực, bế tắc trước cảnh nước mất nhà tan Tác giả đã mượn lời con

hổ để diễn tả nỗi chán ghét cuộc sống mất tự do Tâm trạng của con hổ (uất hận, chán chường trước thực tại và nỗi nhớ thương, luyến tiếc quá khứ huy hoàng, tươi đẹp) cũng chính là tâm trạng của Thế Lữ, tâm trạng chung của một lớp người trong xã hội lúc bấy giờ (1931-1935), cảm thấy bế tắc trước cuộc sống, chán chường với thực tại, khát khao cháy bỏng một cuộc đời tự do, phóng khoáng mặc dù chưa được định hướng rõ ràng Như vậy, Thế Lữ sáng

tác bài thơ Nhớ rừng không phải là tiếng nói của cái tôi cá nhân trực tiếp bộc

lộ thái độ bất mãn, căm phẫn đối với thực tại xã hội lúc bấy giờ mà ông mượn cách nói gián tiếp, xây dựng nên một hình ảnh ẩn dụ giàu sức khái quát là con

hổ bị giam cầm trong cũi sắt ở vườn Bách thú để thể hiện tâm sự u uất và niềm khát khao tự do mãnh liệt của con người bị giam cầm, sống trong vòng

nô lệ lầm than

1.1.2.2 Diễn ngôn văn học có tính kí hiệu

Chính đặc trưng này nó quy ước mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm - độc giả là mối quan hệ mã hóa - giải mã, nó đòi hỏi người đọc cần phải đọc

nó theo cách của một hệ thống mã Vì vậy, khi nghiên cứu diễn ngôn, người nghiên cứu cần phải tuân thủ theo nguyên tắc đó là phải đặt diễn ngôn trong quan hệ với vật quy chiếu, với điều kiện hoạt động, cách thức vận hành của diễn ngôn, với bối cảnh tại thời điểm sản sinh ra diễn ngôn (chú ý đến không gian, thời gian, nhân vật); và cần xét đến cả hệ thống các dòng quy chiếu trong văn bản và ngoài văn bản (tính liên văn bản) Cơ sở của nguyên tắc này bắt nguồn từ mối quan hệ có thực giữa chủ thể phát ngôn (người tạo ra phát ngôn) với đối tượng được đề cập, bàn luận (sự vật, hiện tượng trong đời sống

tự nhiên và xã hội); giữa điều đang được nói đến với những yếu tố đã xuất hiện trước, được đề cập trước nó trong văn bản (quy chiếu trong văn bản);

giữa các kí kiệu với nhau và giữa các văn bản (quy chiếu liên văn bản)

Trang 20

1.1.2.3 Diễn ngôn văn học có tính quy chiếu

Cần lưu ý rằng chính chủ thể phát ngôn đã làm cho các kí hiệu ngôn ngữ có tính quy chiếu chứ không phải tự thân diễn ngôn văn chương quy chiếu Tính quy chiếu trong diễn ngôn văn học được thể hiện trên hai phương diện Phương diện thứ nhất, quy chiếu vào đời sống hiện thực, tức là văn chương thông qua hệ thống hình tượng và bằng hình tượng mà tái hiện một cách chân thực, sinh động hiện thực đời sống Phương diện thứ hai là quy chiếu vào chiếu vào chính nó và các văn bản khác tạo nên những kí mã thẩm

mĩ của nhà văn, mở rộng khả năng liên văn bản cho tác phẩm, làm cho hoạt động sáng tạo - tiếp nhận tác phẩm văn chương trở thành hoạt động đồng sáng tạo của nhà văn và bạn đọc

1.1.2.4 Diễn ngôn văn học có tính hư cấu

Hư cấu được xem là một hạt nhân không thể thiếu trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và trong văn học nói riêng Nếu văn học thiếu đi tính hư cấu thì cũng chỉ giống như một mảnh đất khô cằn, thiếu màu mỡ mà ở đó khó có thể gieo mầm nảy hạt tươi tốt Rõ ràng, tính hư cấu làm nên sức sống, sức hấp dẫn của tác phẩm văn học đối với công chúng tiếp nhận Hư cấu giúp diễn ngôn một mặt vừa có khả năng tái hiện chân xác hiện thực đời sống như nó vốn có, qua đó khái quát những bài học nhân sinh, chân lý cuộc sống, mặt khác lại có khả năng thể hiện và làm nổi bật được cá tính sáng tạo độc đáo của chủ thể sáng tác Từ đó, nó tạo ra một thế giới khả hữu, cung cấp tri thức,

mở rộng hiểu biết về thực tại, bồi đắp năng lực cảm thụ, tiếp nhận cái đẹp ở người đọc

1.1.2.5 Diễn ngôn văn học được “lạ hóa”

Không đi theo lối mòn, luôn tìm kiếm những cái mới, đổi mới trở thành một nhu cầu tất yếu của sáng tạo nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Nhà văn phải là người cất lên tiếng nói mới mẻ, tìm kiếm, thể nghiệm những cách nhìn mới về những vấn đề muôn thuở của cõi nhân gian để không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình Do vậy, văn học luôn có xu hướng vượt thoát, phá vỡ mọi vòng kiềm tỏa của những khuôn khổ, hướng đến những chân trời mới của nhận thức, tư tưởng, tình cảm Lạ hóa để tìm những

Trang 21

giá trị chân chính có sức mạnh vượt thời đại, có khả năng khai sáng tầm hiểu biết, nhận thức của con người bị hạn chế và chi phối bởi khung tri thức văn hóa, ý thức hệ, quan niệm thẩm mĩ của thời đại Sống trong thời đại xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX khi mà ý thức hệ Nho giáo còn ngự trị nặng nề trong xã hội với những tư tưởng “Trọng nam khinh nữ”, “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”… một mặt Nguyễn Du chịu ảnh hưởng lớn của ý thức hệ Nho giáo, mặt khác

“Với con mắt nhìn thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” quan niệm của ông lại có nhiều điều mới mẻ, tiến bộ, hiện đại, nó có sức mạnh vượt thoát ra khỏi giới hạn của thời đại xã hội lúc bấy giờ Nếu như theo quan niệm của lễ giáo phong kiến về “chữ Trinh” của người phụ nữ thì người phụ nữ phải đặc biệt coi trọng và giữ gìn tiết hạnh, sự trinh trắng của mình đến khi về nhà chồng Nó được xem là yếu tố tiên quyết đến đạo đức, phẩm hạnh, nhân cách,

đến cuộc sống hôn nhân và đạo làm vợ của họ Trong Truyện Kiều, Nguyễn

Du đã để Thúy Kiều trải qua cuộc đời gió bụi dặm trường đầy cay đắng và khổ đau, vì phải bán mình chuộc cha và em mà nàng buộc phải chấp nhận hi sinh “đời con gái” của mình mà rơi vào chốn nhơ nhớp, nhục nhã ê chề của cuộc đời Đối với Thúy Kiều khi nàng đứng trước hai sự lựa chọn: một là giữ gìn cái “đáng giá nghìn vàng” của mình, hai là giữ gìn sự bình yên, hạnh phúc cho gia đình, thì nàng đã lựa chọn hi sinh chữ tình cho chữ hiếu, tức là nàng

đã đặt chữ hiếu lên hàng đầu Do đó, ở đây, “chữ Trinh” có thể hiểu là sự hi sinh quên mình, hi sinh tình yêu và hạnh phúc cá nhân để làm tròn đạo hiếu với bậc sinh thành Như vậy, từ chữ trinh với ý nghĩa nhằm chỉ đạo đức, tiết hạnh, phẩm giá của người phụ nữ trong “đạo tòng quân” theo quan niệm của

lễ giáo phong kiến, Nguyễn Du đã nâng lên thành một quan niệm mới mẻ, hiện đại, với cách nhìn nhận, đánh giá con người thoáng rộng hơn nhiều Hay chỉ bằng một cử chỉ của Thúy Kiều “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, Nguyễn Du cũng đã cho thấy quan niệm mới mẻ, hiện đại của ông về tình yêu đó là đề cao sự tự do yêu đương, khát vọng chủ động, quyết liệt tìm đến và nắm giữ tình yêu đích thực của cuộc đời mình… Có thể nói, với

Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã thể hiện những quan niệm mới mẻ,

nhân văn, tiến bộ, nó vượt thoát ra khỏi khung tư tưởng của thời đại xã hội lúc bấy giờ

Trang 22

1.1.2.6 Diễn ngôn văn học mang tính phỏng nhại

Diễn ngôn văn học không chỉ đơn thuần biểu hiện tổ chức diễn ngôn, các kiểu diễn ngôn thuộc lĩnh vực văn học mà bên cạnh đó, diễn ngôn văn học còn có khả năng dung chứa, hấp thụ trong nó các tổ chức diễn ngôn của các lĩnh vực khác như: diễn ngôn trong lịch sử (bộ môn khoa học lịch sử), diễn ngôn văn hóa, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn triết học, diễn ngôn xã hội học,… Chính thuộc tính này đã dẫn đến tính chất phỏng nhại của diễn ngôn văn học Tuy nhiên tính chất phỏng nhại trong diễn ngôn văn học không phải

ở giai đoạn nào cũng giống nhau, tùy vào đặc điểm văn hóa - xã hội của từng giai đoạn lịch sử mà nó sẽ có những mức độ biểu hiện khác nhau Chẳng hạn, giai đoạn 1945-1975, có thể nhận thấy tính chất phỏng nhại của diễn ngôn văn học được biểu hiện ở xu hướng “chính trị hóa” văn học Nguyên nhân có đặc điểm này là do văn học trong thời kì cách mạng phải phát huy tối ưu hóa vai trò “văn học là người thư kí trung thành của thời đại”, do vậy văn học chịu sự chi phối và chỉ đạo mạnh mẽ của tư tưởng cách mạng (biểu hiện ở việc lớp ngôn từ chính trị xuất hiện với một tần suất dày đặc trong văn bản văn học

như: đồng chí, cách mạng, Đảng, lãnh tụ, nhân dân, quần chúng, lý tưởng,

chất vấn, ý kiến, phấn đấu,…) Cần nhấn mạnh thêm tính chất phỏng nhại

trong diễn ngôn văn học được biểu hiện khá phong phú, đa dạng trên nhiều phương diện: phỏng nhại về phong cách, thể loại, nội dung tư tưởng Chẳng hạn trong những sáng tác của nữ thi sĩ trung đại được mệnh danh là Bà Chúa Thơ Nôm, ta bắt gặp trong thơ bà hiện tượng nhại phong cách của tầng lớp Nho sĩ, nhại phong cách diễn ngôn văn hóa của tín ngưỡng phồn thực trong dân gian,… Tất cả đã góp phần tạo nên một phong cách thơ dung dị mà độc đáo, in đậm cá tính Hồ Xuân Hương Hay ta có thể tìm thấy trong rất nhiều sáng tác ở thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết của một nhà văn hiện đại Nguyễn Huy Thiệp có hiện tượng nhại phong cách của diễn ngôn văn học dân gian như ca dao, hò, vè,…

Tóm lại, có thể hiểu một cách ngắn ngọn và khái quát nhất về diễn

ngôn văn học như sau: Diễn ngôn trong văn học là lối nói, là quy tắc phát

ngôn được quy định và chịu sự chi phối bởi đặc điểm văn hóa - xã hội của từng giai đoạn, từng thời kì lịch sử khác nhau Chính đặc điểm khác nhau về

Trang 23

bối cảnh lịch sử của mỗi thời kì kết hợp với cá tính sáng tạo của chủ thể sáng tạo sẽ tạo nên một kiểu diễn ngôn riêng biệt của mỗi nhà văn, đồng thời cũng tạo nên những kiểu diễn ngôn mang đặc trưng phong cách thời đại Do vậy,

có thể khẳng định phong cách thời đại chính là diễn ngôn

1.2 Khái quát về diễn ngôn lịch sử

1.2.1 Diễn ngôn lịch sử trong khoa học lịch sử

Diễn ngôn lịch sử trong khoa học lịch sử hay còn gọi là diễn ngôn khoa học lịch sử được hiểu là cách thức tổ chức, sắp xếp ngôn từ tạo thành một hệ thống kí hiệu, một cấu trúc diễn ngôn hoàn chỉnh cung cấp tri thức về lịch sử;

nó là những quy tắc phát ngôn trong bộ môn khoa học về lịch sử (chính sử)

Diễn ngôn khoa học lịch sử bao gồm một số đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, khác với tính hư cấu là đặc trưng nổi bật của diễn ngôn văn học, diễn ngôn lịch sử trong khoa học lịch sử phải đảm bảo tính chân thật của lịch sử cũng như tính khách quan, chính xác của một bộ môn khoa học Nếu

như nhà văn có hai đặc quyền trong sáng tác văn chương: một là “nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại” tức là phải phản ánh một cách cụ thể, chân thực hiện thực đời sống; hai là, nhà văn cũng có quyền hư cấu, không nhất thiết phải viết đúng sự thật như những gì đã có trong thực tại mà anh được quyền viết theo cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của riêng anh; thì sử gia phải là người tuyệt đối trung thành với những sự kiện lịch sử đã diễn ra, không có quyền thêm hoặc bớt theo chủ ý cá nhân và đặc biệt không có quyền

hư cấu lịch sử Nhiệm vụ, sứ mệnh của người viết sử là “ghi chép” lịch sử, tường thuật, tái hiện lại sự kiện lịch sử như nó vốn có chứ không phải là người sáng tác lịch sử, tạo ra lịch sử

Thứ hai, liên quan đến mục đích của việc chép sử để từ đó quy định hình thức, cách tạo lập diễn ngôn lịch sử trong khoa học lịch sử Mục đích

của việc chép sử là để ghi chép lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ, sự kiện đó diễn ra như thế nào, nguyên nhân bắt đầu từ đâu, nó để lại những bài học ý nghĩa nào cho người đời sau học hỏi Chính vì nhằm đáp ứng được mục đích, yêu cầu đó, cho nên việc ghi chép các sự kiện lịch sử phải đảm bảo được tính ngắn ngọn, rành mạch, chính xác giúp cho người đọc tiện

Trang 24

cho việc ghi nhớ, nắm bắt Và để đảm bảo cho tính ngắn gọn, cô đúc thì nhiệm vụ của người chép sử chỉ ghi chép lại một cách khách quan, trung thực

sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ và nêu lên được bản chất vấn đề của

nó, chứ không được quyền thêm hoặc bớt đi theo ý muốn chủ quan của mình, đặc biệt không được hư cấu lịch sử, sáng tạo thêm các chi tiết và tiểu tiết xung quanh các sự kiện đó

Thứ ba, chú ý đến hệ thống các nhân vật lịch sử Khi viết diễn ngôn

lịch sử trong khoa học lịch sử, nhân vật lịch sử phải là những con người có thật trong lịch sử, như: Trần Thủ Độ, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Ích Tắc,… Họ là những con người của sự kiện, con người hằng in trong tâm thức cộng đồng về những phẩm tính tiêu biểu, xuất chúng, có vai trò và đóng góp to lớn đối với vận mệnh dân tộc Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng cần phải nhận thức được rằng nhân vật lịch sử dù có được

“thần thánh hóa” đến đâu đi chăng nữa thì trước hết họ cũng là con người bình thường Do khả năng hoặc hạn chế về trí tuệ, tri thức, tính cách, tu dưỡng,… mà họ có thể khôn ngoan hoặc dại dột, có thể xây dựng nên cả một

cơ đồ hoặc hủy hoại nó, có thể được trở thành người anh hùng lập công lớn với cộng đồng được nhân dân ca tụng hoặc cũng có thể trở thành kẻ tội đồ lịch sử bị người đời sau nguyền rủa,… Một điểm nữa cần lưu ý đó là trong khoa học lịch sử (chính sử) khía cạnh con người cá nhân, con người đời tư của nhân vật lịch sử không được nói đến, khác với trong diễn ngôn lịch sử trong văn học

Thứ tư, chú ý về mặt thống kê số liệu trong khoa học lịch sử Diễn ngôn

trong khoa học lịch sử muốn đảm bảo được tính chinh xác, minh bạch, có độ tin cậy cao, một trong những yếu tố không thể thiếu được trong công việc chép sử của các sử gia đó là ghi chép, đưa ra những con số, số liệu cụ thể về ngày, tháng, năm diễn ra sự kiện, sự kiện đó để lại những hậu quả hay thắng lợi trên những phương diện nào (thống kê cụ thể bằng số liệu thực tế),…

Thứ năm, về điểm nhìn trần thuật của diễn ngôn trong khoa học lịch sử

Trong chính sử, các sử gia là người ghi chép lại lịch sử, tường thuật lại diễn biến của lịch sử theo ngôi kể thứ ba, đứng ngoài phạm vi của các sự kiện lịch

sử ấy mà không can dự hoặc bày tỏ thái độ đánh giá chủ quan của mình trước

Trang 25

những sự kiện lịch sử ấy Vì vậy, điểm nhìn trong diễn ngôn khoa học lịch sử

là điểm nhìn bên ngoài, nhất quán (ngôi thứ ba từ điểm nhìn của sử quan), khách quan, trung tính

Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất diễn ngôn khoa học lịch

sử là một loại diễn ngôn được dùng trong chuyên ngành khoa học lịch sử Các đặc trưng của nó cũng chính là những nguyên tắc đòi hỏi người chép sử phải tuân thủ để đảm bảo tính chính xác, khách quan, khoa học của diễn ngôn khoa học lịch sử

1.2.2 Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử - một bình diện quan trọng của diễn ngôn trong sáng tác và nghiên cứu văn học

Lịch sử bao giờ cũng là gia tài của trí thức, người mẹ của chân lí Lịch

sử ôm trọn trong mình tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ, thuộc về quá khứ, tuy quá khứ nhưng vẫn không cắt mối dây liên hệ với hôm nay, là một

bộ phận của cuộc sống hôm nay, chứa đựng nhiều điều bí ẩn về con người, xã hội, thời đại Tiểu thuyết lịch sử lấy lịch sử làm đề tài phản ánh Trong dòng chảy của văn học, tiểu thuyết lịch sử là một mạch nguồn không phải mới được khai thông Trước đây, chúng ta cũng có viết tiểu thuyết lịch sử, nhưng đó là loại tiểu thuyết lịch sử cách mạng Ở đó nhà tiểu thuyết chủ yếu hướng ngòi bút của mình viết về các tấm gương anh dũng chiến đấu hi sinh vì lý tưởng giải phóng dân tộc của những lãnh tụ cách mạng, các chiến dịch, các cuộc khởi nghĩa,… Trong quan niệm viết tiểu thuyết lịch sử lúc bấy giờ, lịch sử để lại tất cả dấu ấn của mình trong văn học với đặc điểm bao trùm và nổi bật là

mô hình đối lập nhị nguyên, quy luật đấu tranh giai cấp, địch ta, tiến bộ, phản động, nông dân với địa chủ, vô sản với tư sản, người yêu nước với kẻ bán nước, giặc ngoại xâm,… Vì chịu sự chi phối mạnh mẽ của ý thức hệ, nhà nước, chính quyền, giai cấp, cho nên tiểu thuyết lịch sử thường phản ánh lịch

sử theo đúng quan niệm ta tốt - địch xấu, ta thắng - địch thua Đây chính là loại tiểu thuyết lịch sử chính trị theo quan điểm chính đảng Nhiệm vụ của tiểu thuyết đó là ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng nên những bức tượng đài về những người anh hùng, từ đó khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì nghĩa lớn Những vấn đề thuộc về đời sống

Trang 26

con người cá nhân, tâm lý, tình cảm, nhân tính, vô thức, số phận,… đều nằm ngoài phạm vi phản ánh của diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử thời kì này

Trên thế giới, khi sự thay đổi quan niệm về lịch sử dần thay đổi (từ chủ nghĩa cấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến chủ nghĩa tân lịch sử) đã kéo theo sự đổi thay của tiểu thuyết lịch sử Con người dần nhận thức được rằng lịch sử không phải là chân lý, là một cái gì khách quan duy nhất , bất biến mà lịch sử suy cho cùng cũng chỉ là sự trần thật về lịch sử, là những diễn giải lịch sử khả thể mà thôi Nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo ra diễn ngôn mới về lịch sử, đề xuất một tiếng nói mới, một góc nhìn mới, một khả năng mới, từ đó gợi mở ra những nhận thức mới mẻ, thú vị ở người đọc trong tiếp nhận lịch sử hôm nay Ở đây cần lưu ý và nhấn mạnh rằng trong tiểu thuyết lịch sử, cái gọi là “sự thật lịch sử” chỉ đóng vai trò là đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật, chúng ta không nhầm lẫn mà đánh đồng bản thân nó chính là nội dung của tiểu thuyết lịch sử Bản chất của tiểu thuyết lịch sử là sự kết hợp nhuần nhuyễn của hai yếu tố sự thật và hư cấu Yếu tố “sự thật lịch sử” chỉ là cái đinh để nhà văn móc lên cái áo của mình (lời nhận định của nhà tiểu thuyết người Pháp A.Duyma) Sự thật lịch sử giống như là một chất liệu

để nhà văn kết hợp với vốn hiểu biết, vốn sống, tài năng nghệ thuật của mình

mà phục dựng nên bức tranh đời sống xã hội về con người, thời đại của một thời kì đã qua, từ đó cho thấy tư tưởng, quan điểm, thái độ, tình cảm của nhà văn

Từ những phân tích trên đây, chúng ta cần phải có cái nhìn minh bạch, rạch ròi để phân biệt được hai khái niệm diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử và diễn ngôn khoa học lịch sử Tuy cả hai cùng viết về quá khứ, lấy con người, sự kiện trong quá khứ là đối tượng để phản ánh, song cách thức phản ánh lại khác nhau Khoa học lịch sử chỉ chú trọng tái hiện, phục dựng, tường thuật lại các sự kiện, nhân vật trong nét bản chất, “trung thực” như nó đã diễn ra và được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ ngắn gọn, chính xác, khách quan, khoa học Đối với tiểu thuyết lịch sử, cách phản ánh lại khác Xuất phát từ quan niệm lịch sử là những cách nhìn, lịch sử là những diễn giải khả thể in đậm dấu ấn chủ quan và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của chủ thể sáng tác, nhà văn có thể tìm hiểu sự kiện ấy, nhân vật ấy cả trong khoa học lịch sử, trong gia phả,

Trang 27

dòng họ, trong huyền sử hay dã sử,… để rồi “nhào nặn”, bồi đắp thêm qua cách cảm thụ, trí tưởng tượng, hư cấu của tác giả, từ đó biến nhân vật lịch sử thành nhân vật của tiểu thuyết - nhân vật nếm trải Nếu như mỗi nhân vật, mỗi

sự kiện trước khi được chính thống hóa in trong sách sử thì chúng phải là đối tượng thu hút sự quan tâm, chú ý, bình luận, đánh giá của rất nhiều người để rồi cuối cùng đi đến một cái nhìn chung thống nhất, thì tiểu thuyết lịch sử lại hoàn toàn do một cá nhân nhà văn sáng tạo nên Do vậy, diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử in đậm dấu ấn về quan điểm, cách nhìn, tư tưởng, tình cảm, cá tính sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Đằng sau mỗi diễn ngôn ấy, chúng ta còn có thể tìm hiểu được phần nào hệ hình ý thức xã hội và cơ chế văn hóa, môi trường văn hóa của từng thời kỳ

Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử mang những đặc trưng cơ bản sau

đây:

1.2.2.1 Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử mang tính đối thoại

Đối thoại chính là đặc điểm đầu tiên và quan trong nhất của diễn ngôn tiểu thuyết Mỗi một thể loại văn học đều có một kiểu diễn ngôn riêng Theo Bakhtin, nếu thơ trữ tình là diễn ngôn của chủ thể tác giả tự bộc lộ, tự phơi trải nỗi lòng mình trước cuộc đời, kịch là diễn ngôn của nhân vật tự thể hiện mình trên sân khấu thông qua ngôn ngữ kịch và hành động kịch thì tiểu thuyết lại là diễn ngôn của “người khác” Diễn ngôn trong tiểu thuyết lịch sử là điểm giao lưu, gặp gỡ, kết nối của nhiều quan điểm khác nhau mà ở đó nhà văn có thể kéo người đọc cùng tham gia vào câu chuyện lịch sử của mình để nhà văn, bạn đọc cùng tranh luận, nghiền ngẫm, khám phá, phát hiện ra “điểm mờ” của lịch sử cũng như bề rộng, bề sau, bề xa của cuộc đời và con người trong cõi nhân sinh Thiết lập ra quan hệ đối thoại với lịch sử, các nhà tiểu thuyết muốn khẳng định: Không hề có một lịch sử “vật tự nó” mà chỉ có những lịch sử “vật cho ta”, và lịch sử của những diễn giải về lịch sử (theo lời nhận xét của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoài Nam) Với tư duy hậu hiện đại, nhận thức về lịch sử, con người có cái nhìn đa chiều hơn: Lịch sử không phải là một cái gì

đó bất biến, đông cứng và tĩnh tại mà cần nhìn nhận nó trong sự vận động liên tục, trong sự diễn giải và tái diễn giải Có thể nhận thức rõ điều này trong tiểu

thuyết Đức Thánh Trần của nhà văn Trần Thanh Cảnh Tiểu thuyết lịch sử

Trang 28

của nhà văn Trần Thanh Cảnh chính là diễn giải của tác giả về vương triều Trần lừng lẫy ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, đặc biệt là về cuộc đời

và sự nghiệp của một trong những nhân vật hiển hách nhất mọi thời đại: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Nếu như trong chính sử, nhân vật này được

“đóng đinh” trong tâm thức cộng đồng là một nhân vật anh hùng nổi tiếng với phẩm chất thần thánh, vị thế thần thánh, là một trong Tứ bất tử của thần điện đất Việt thì khi xuất hiện trong những trang tiểu thuyết lịch sử của Trần Thanh Cảnh, phẩm chất thần thánh của nhân vật hiển hách này lại một lần nữa được ngòi bút của nhà văn tô đậm Song bên cạnh đó, chính nhờ diễn giải lịch

sử mang điểm nhìn hiện đại của tác giả mà nhân vật hiển hách nhất thời đại nhà Trần cũng hiện lên trước hết là một con người rất thực, rất đời, có khát vọng tình yêu và khát khao được giải phóng bản năng tính dục, có một đời sống tình ái phức tạp… Như vậy qua một lối diễn ngôn mới, người đọc được

“lật xới” lại lịch sử, được cấp thêm những điểm nhìn đa dạng, nhiều chiều về những điều vốn được xem là “khả tín”, bất biến của lịch sử, nhìn nhận sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử qua những lăng kính đa diện hơn

1.2.2.2 Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử là sự kết hợp hài hòa, sự đan bện chặt chẽ của hai yếu tố sự thật lịch sử và hư cấu

Để tạo ra được diễn ngôn về lịch sử thì tiểu thuyết lịch sử cần sử dụng những “sự thật lịch sử” nhất định Sự thật lịch sử giống như một chất liệu chứ không phải là nội dung của tiểu thuyết lịch sử, nó bao gồm sự kiện, nhân vật, phong tục, tập quán, đồ dùng, đồ trang sức, bài hát, trò chơi đương thời…, nhưng không thể đòi hỏi “hoàn nguyên lịch sử”, một việc mà bản thân sử học cũng không làm được Nhờ có “sự thật lịch sử”, những diễn giải về lịch sử của nhà văn có độ tin cậy đối với bạn đọc Hư cấu là bản chất của tiểu thuyết, thể hiện bản chất của sáng tạo nghệ thuật M Gorki từng nói tỉ lệ sự thật và

hư cấu trong tiểu thuyết là 2/98 Nói như vậy để thấy rằng trong tiểu thuyết lịch sử, nhà văn được quyền bỏ qua không nói đến hoặc thậm chí nói nhầm một vài sự thật lịch sử, nhưng diễn ngôn của nhà văn vẫn có tính chân thật

Rõ ràng, tính chân thật lịch sử không nằm ở ngôn ngữ mà ở bản thân sự diễn giải của diễn ngôn

Trang 29

1.2.2.3 Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử in đậm dấu ấn của các thủ pháp của khuynh hướng hậu hiện đại

Sau 1975, tiểu thuyết lịch sử xuất hiện với một diện mạo mới, nó đã khoác lên mình những “chiếc áo” hình thức biểu đạt mới mẻ Sở dĩ có một sự chuyển biến như vậy là bởi ở thời kì này hệ hình tư duy lịch sử đã thay đổi Văn học cất bước dịch chuyển theo bước đi của khuynh hướng hậu hiện đại hay nói cách khác khuynh hướng hậu hiện đại để lại dấu ấn rõ nét trong văn học nói chung và trong thể loại tiểu thuyết lịch sử nói riêng Với việc vận dụng và xử lý sáng tạo những thủ pháp nghệ thuật của khuynh hướng hậu hiện đại, các nhà văn muốn đem lại một sự đột phá trong hình thức nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử, muốn tạo ra một gương mặt mới qua một sự cách tân mới

mẻ Theo quan niệm của lí luận hiện nay, lịch sử không còn được xem như một mô hình khép kín, tĩnh tại, bất biến mà lịch sử là những mảnh vỡ được ghép vào nhau theo ý đồ của nhà văn Với sự thay đổi quan niệm về lịch sử của tư duy hậu hiện đại cùng với nhu cầu muốn nhận thức lại quá khứ, nhận thức lại lịch sử từ cái nhìn đa điện, nhiều chiều, thói quen nhìn nhận cuộc sống từ những mảnh hiện thực của đời tư, thế sự, những “góc khuất”, những

“vùng mờ”, các nhà tiểu thuyết đương đại nhận thấy không nhất thiết phải tái hiện lịch sử theo lớp lang của những sự kiện được diễn tiến theo trình tự thời gian tuyến tính Điều khiến nhà văn quan tâm và trăn trở, đặt bút lực của mình để viết về đề tài lịch sử đó là những sự kiện, những vấn đề, những con người lịch sử ấy nói lên điều gì, để lại những bài học nhận thức, chiêm nghiệm nào cho hậu thế Do vậy, cách thức nhà văn phản ánh, tái hiện những

sự kiện lịch sử trong tác phẩm của mình có thể không tuân theo trật tự thời gian tuyến tính mà chúng có khi được xây dựng tách rời nhau theo thủ pháp phân mảnh, cắt ghép

Một trong những thủ pháp quen thuộc được sử dụng trong văn học đương đại để tăng tính đa thanh, đa điệu cho tác phẩm, đồng thời phát huy tinh thần dân chủ, tạo không gian đối thoại nhiều chiều đó là kĩ thuật trần thuật đa điểm nhìn Theo kĩ thuật này, nhà văn không phải là người kể chuyện toàn tri, độc quyền tư tưởng, độc tôn điểm nhìn, mà tư tưởng hay điểm nhìn tác giả trao lại cho nhân vật của mình trong tác phẩm Nhân vật nào cũng đều

Trang 30

giữ một vai trò nhất định và có quyền nói lên tiếng nói cá nhân Thông qua phát ngôn của nhân vật, xuất phát từ những điểm nhìn của các nhân vật khác nhau, bản chất của sự kiện, con người được đánh giá, phán xét, nhìn nhận từ nhiều góc độ, nhiều chiều hướng, mang tính khách quan, toàn diện hơn Như vậy sự gia tăng điểm nhìn trần thuật còn chứng tỏ sự phát triển của ý thức phản biện, ý thức đối thoại trong việc chống lại sự “độc tài chân lí”, tạo cơ sở cho sự phát huy dân chủ và quyền bình đẳng trong nghệ thuật

Bên cạnh kĩ thuật trần thuật đa điểm nhìn, một thủ pháp nữa cũng được coi là đặc trưng của văn học hậu hiện đại đó là thủ pháp giải thiêng lịch sử Với thủ pháp này, nhân vật lịch sử không chỉ dừng lại ở cảm hứng ngợi ca, tôn vinh, thán phục từ cái nhìn sử thi mà đặc biệt hơn, nhân vật còn được hiện lên như những con người đời thường dưới cái nhìn đời tư - thế sự - nhân văn Mọi góc khuất về đời tư nhân vật, những hỉ, nộ, ái, ố thường tình của kiếp nhân sinh,… đều được các nhà văn chú ý khai thác và họ thực sự trở thành nhà thám hiểm về con người và cuộc đời trong muôn mặt phức tạp và bề bộn

của nó Điều này đã được thể hiện rõ trong cuốn tiểu thuyết lịch sử Đức

Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh thông qua diễn ngôn mới mẻ của nhà văn

về các nhân vật lịch sử như: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, công chúa An Tư,…

Như vậy, với ý thức tìm kiếm sự đổi mới, cách tân về mặt hình thức biểu hiện trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng, các nhà văn đương đại đã vận dụng những thủ pháp của khuynh hướng hậu hiện đại, làm cho tác phẩm viết về đề tài lịch sử của mình không còn khô cứng, thuần khiết màu sắc lịch sử mà nó được thổi vào một linh hồn mới mang một sức sống mới trong cảm thức đối thoại, nhân văn, khám phá lịch

sử, văn hóa và con người ở tầng vỉa sâu của những bí ẩn, khuất lấp, ý thức và

vô thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường Nhà văn thực sự đã mang lại cho lịch sử những “gương mặt người” rất thực, rất đời

Trang 31

1.3 Hành trình sáng tạo của Trần Thanh Cảnh

1.3.1 Vài nét về tác giả Trần Thanh Cảnh

Nhà văn Trần Thanh Cảnh sinh ngày 13 tháng 1 năn 1959 Quê quán ở làng Ngọ Xá, Thuận Thành, Bắc Ninh Trần Thanh Cảnh vốn là một dược sĩ, ông tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội và gắn bó với nghề hơn 30 năm Ông bắt đầu bén duyên với văn chương từ năm 2013 Tưởng như ít có mối liên hệ nào giữa một người nhiều tiền và giàu chữ, thế nhưng bỗng một ngày dính nghiệp chữ nghĩa, một đại gia đã trở thành một nhà văn Người ta vẫn gọi ông với một cái tên dí dỏm “Dược sĩ già - nhà văn trẻ” bởi ông vốn là một dược sĩ tìm đến với văn chương khá muộn khi tuổi đời đã ngoài năm mươi Cơ duyên

để văn chương và ông gắn bó với nhau như một phần máu thịt của cuộc sống

là một hoàn cảnh rất đặc biệt: ông viết văn bên bờ vực phá sản Là Giám đốc của một công ty dược khá lớn với chuỗi cửa hàng phân phối tân dược trong khắp thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận, Trần Thanh Cảnh chưa bao giờ hình dung có một ngày mình sẽ trở thành nhà văn theo đúng nghĩa Cuốn theo vòng xoáy khủng khiếp của xã hội, ở một thời điểm giống như một “cơn sốt”, những người có tiền đua nhau đầu tư vào bất động sản, đại gia Trần Thanh Cảnh cũng không thoát khỏi sự lôi cuốn ấy Vậy là ông quyết định dốc hết hầu bao của mình từ việc kinh doanh bán thuốc Tây bấy lâu nay đổ sang đất đai, nhà cửa Có phải là một quyết định liều lĩnh chăng? “Sự đâu sóng gió bất kì?” Chưa kịp bán được mảnh đất, căn nhà nào thì bong bóng vỡ tan, điều không mong muốn đã xảy ra, thị trường bất động sản đóng băng, ông đứng trước nguy cơ bị phá sản Mọi chân trời tươi sáng đều sụp đổ trước mắt ông lúc bấy giờ Tinh thần bị hoang mang, quay cuồng trong đống nợ nần khiến vị giám đốc như đông cứng mọi giác quan, không còn đủ tỉnh táo để nhìn ra hướng đi nào sáng sủa, khả quan

Trong lúc rơi vào hố sâu của sự tuyệt vọng như vậy, ông liền nẩy ra một ý định: “Mình phải làm cái việc gì đó không liên quan đến tiền để thư giãn” [17] Hằng ngày, sau khi kết thúc công việc kinh doanh của mình, tạm gác lại mối lo cơm áo gạo tiền nặng trĩu, ông ngồi lại văn phòng, đóng cửa lại

và lấy bút ra viết Ông viết văn như một sự giải tỏa và niềm thôi thúc từ sâu thẳm con người ông Hiện thực đời sống với những gam màu đa dạng cùng

Trang 32

với sự trải nghiệm cả những thành công và thất bại mà ông đã gặp trên đường đời đã trở thành chất liệu quý giá để ông đặt bút sáng tạo nghệ thuật Những tác phẩm của Trần Thanh cảnh là tiếng nói chân thực, thẳng thắn và trung thực về con người và cuộc đời trong thế giới hiện đại lắm những “góc khuất”,

“vùng mờ” cả trong ý thức, tiềm thức lẫn vô thức

1.3.2 Sáng tác của Trần Thanh Cảnh trong bối cảnh văn học đương đại

Các tác phẩm của ông đa phần đều gắn bó với hình ảnh làng quê Kinh Bắc (quê hương của ông) Vì thế nhà văn Trần Thanh Cảnh còn được gọi là người kể chuyện Kinh Bắc

Mới bước chân vào nghề văn chưa được bao lâu (6 năm), nhưng Trần Thanh cảnh đã khẳng định được tên tuổi, vị trí của mình trong lòng bạn đọc

đương thời Tiếng vang ấy có lẽ bắt đầu từ khi tập truyện ngắn Kỳ nhân làng

Ngọc của ông đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2015 cho văn xuôi

Trước tập truyện ngắn nổi tiếng này, ông đã viết tập truyện ngắn đầu tay có

tên là Đại gia (xuất bản năm 2013) Kỳ nhân làng Ngọc là tập truyện ngắn mà

nhà văn dành bút lực và sức sáng tạo để viết về chính ngôi làng của mình - mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn ông từ cái nôi văn hóa lâu đời Kinh Bắc Theo sự chia sẻ của ông, gần như các nhân vật đều được xây dựng, lấy cảm hứng từ những nguyên mẫu có thật ở ngoài đời Thông qua ngôn ngữ văn học, nhà văn muốn kí thác lại tình cảm mến yêu trân trọng đối với ngôi làng của mình, đồng thời qua đó cũng muốn lưu giữ lại những kí ức về một miền quê giàu bản sắc văn hóa dân tộc Ở đó là về những phong tục, tập quán, văn hóa Kinh Bắc Đặc biệt là những con người, nhân vật đã trải qua mấy chục năm

“bể dâu” của đất nước Tập truyện ngắn là tập hợp của nhiều chuyện bi, hài kịch, thậm chí chính kịch về những con người hào hùng, nhưng cũng rất bi thương

Sau cuốn Kỳ nhân làng Ngọc, Trần Thanh cảnh tiếp tục cho ra mắt bạn đọc cuốn Mỹ nhân làng Ngọc (tập truyện ngắn, 2016) như một sự tiếp nối

cảm hứng sáng tạo nghệ thuật và một tình cảm đặc biệt ưu ái mà ông dành riêng cho ngôi làng thân yêu của mình Cũng trong năm 2016, một tập truyện

Ngày đăng: 23/12/2019, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w