Tác phẩm đã trình bày khái quát chiến lược mở rộng của EU hiện nay, những cải cách và sự hội nhập của các nước Đông Âu vào EU.. Sự mở rộng của EU sang Đông Âu cũng đặt ra những thách th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
******************
PHAN THỊ THANH THỦY
SỰ MỞ RỘNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
SANG ĐÔNG ÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Người hướng dẫn khoa học
Th.S Nguyễn Thị Nga
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
PHAN THỊ THANH THỦY
SỰ MỞ RỘNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
SANG ĐÔNG ÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Người hướng dẫn khoa học
Th.S Nguyễn Thị Nga
HÀ NỘI – 2018
Trang 3Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ, bạn bè, những người đã động viên, khích lệ tinh thần, tạo điều kiện để em vượt qua những khó khăn, rào cản, hoàn thành tốt đề tài của mình
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Phan Thị Thanh Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung trình bày trong khóa luận là kết quả quá
trình nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của thầy cô Nếu sai em xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Phan Thị Thanh Thủy
Trang 5Ngân hàng tái thiết và phát triển châu Âu
ECB European Central Bank Ngân hàng Trung ương
châu Âu ECSC European Coal and Steel
Communit
Cộng đồng Than – Thép châu Âu
Community
Cộng đồng Kinh tế châu Âu
EFTA European Free Trade
EUTAROM Europeam Atomic Energy
Communit
Cộng đồng nguyên tử châu Âu
châu Âu FDI Foreign Direct Invesment Đầu tư trực tiếp của nước
ngoài GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
NAFTA North American Free Trade Hiệp định Thương mại tự
Trang 6Agreement do Bắc Mỹ NATO North Atlantic Treaty
PHARE EU assistance Progame for
Central and Eastern Europe
Chương trình viện trợ tài chính của EU cho các nước Trung và Đông Âu
hội
độc lập WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại
thế giới
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Nguồn tư liệu 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của khóa luận 5
6 Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG 7
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ MỞ RỘNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU 7
1.1 Sự thành lập của Liên minh châu Âu 7
1.1.1 Xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa sau Chiến tranh thế giới thứ hai 7
1.1.2 Sự ra đời của Liên minh châu Âu 10
1.2 Những nhân tố tác động đến sự mở rộng vủa Liên minh châu Âu 14
1.2.1 Nhân tố khách quan 14
1.2.2 Nhân tố chủ quan 19
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2: QUÁ MỞ RỘNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU 23
2.1 Liên minh châu Âu và những lần mở rộng 23
2.1.1 Những lần mở rộng của EU 23
2.2 Khả năng mở rộng của EU về phía Đông 32
Chương 3: ĐÁNH GIÁ VỀ QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG51 CỦA EU SANG ĐÔNG ÂU 51
3.1 Thách thức của EU sau khi mở rộng về phía Đông 51
3.2 Những đóng góp của các thành viên phía Đông cho EU 53
3.3 Tác động của việc EU mở rộng sang phía Đông 55
3.2.1 Đối với EU 55
3.2.2 Đối với các nước Đông Âu 58
3.2.3 Đối với Nga và NATO 60
Tiểu kết chương 3 65
Trang 8KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 9là sự phát triển của Internet càng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa
Liên minh châu Âu là một lực lượng hùng mạnh có vị trí quan trọng trên thế giới, là một liên minh kinh tế, chính trị, xã hội, tiến tới mục tiêu nhất thể hóa châu Âu Sự mở rộng EU sang Đông Âu vừa làm tăng thế lực của EU, đồng thời tác động đến các mối quan hệ song phương và đa phương giữa EU với các nước
Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, trật tự 2 cực được hình thành do Liên Xô đứng đầu phe XHCN và một cực do Mỹ cầm đầu phe TBCN Châu Âu cũng bị chia cắt thành Tây Âu và Đông Âu theo hai thể chế chính trị khác nhau,Tây Âu chịu sự chi phối của Mỹ, Đông Âu chịu sự chi phối của Liên Xô Chiến tranh Lạnh kết thúc sau hơn bốn thập kỉ đối đầu căng thẳng giữa hai siêu cường, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu, khối Warszawa giải thể đã làm thay đổi cục diện thế giới, đặc biệt là cục diện địa – chính trị châu Âu Các nước Đông Âu chuyển sang cơ chế thị trường và thiết lập nhà nước dân chủ theo
mô hình phương Tây và mong muốn được tham gia vào cơ chế EU Cục diện hai cực chấm dứt nhưng trật tự thế giới mới đang hình thành, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các nước EU phải thống nhất lại, tạo ra sức mạnh bên trong để cạnh tranh với những đối thủ lớn của họ, đồng thời giải quyết những thách thức phức tạp đang diễn ra trong lòng châu Âu Sự mở rộng của EU sang Đông Âu đã xóa bỏ hố ngăn cách giữa hai phần Đông và Tây Âu, sản phẩm của chiến tranh Lạnh, tiến tới xây dựng một ―Đại châu Âu nhất thể hóa‖ Tuy nhiên, lần mở rộng này cũng đem lại những khó khăn và thách thức cho EU, tác động đối với nước Nga, tác động đối với Mỹ - NATO và tác động tới quan hệ quốc tế Vì vậy việc nghiên cứu về sự mở rộng EU sang phía Đông có ý nghĩa
Trang 10vô cùng quan trọng, làm rõ được những vấn đề trên đồng thời cũng đưa ra những dự đoán về tương lai châu Âu
Lịch sử của EU đã trải qua nhiều lần mở rộng Tuy nhiên lần mở rộng sang Đông Âu năm 2004 là lần mở rông lớn nhất và có tác động sâu rộng đối
với Liên minh châu Âu Sau lần mở rộng 2007, lược đồ địa – chính trị châu Âu thay đổi cơ bản, EU trở thành một khối thống nhất gồm 27 nước, diện tích, dân
số, tổng giá trị, tổng kim ngạch thương mại gia tăng Với sự kiện đó, diện tích của Liên minh châu Âu sẽ trải rộng từ Đại Tây Dương tới biển Ban Tích ở phía Bắc, Địa Trung Hải ở phía Nam trên lãnh thổ rộng 4 triệu km2, 450 triệu dân, chiến 25% sản lượng và 35% giá trị xuất khẩu toàn thế giới Việc mở rộng EU nói chung và sang Đông Âu nói riêng đã có ý nghĩa quan trọng, bên cạnh sự
biến đổi về số lượng, EU cũng trải qua sự biến đổi sâu sắc về chất Những biến động này sẽ nâng cao đáng kể vai trò kinh tế, chính trị, quân sự của EU trên toàn
thế giới Điều đó cũng tác động mạnh mẽ tới cục diện toàn cầu, mối quan hệ của các quốc gia với Liên minh châu Âu
Trên những lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài ―Sự mở rộng của Liên minh châu Âu sang Đông Âu‖ làm đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Liên minh châu Âu trong những năm qua
Trước hết là công trình “Liên minh châu Âu”, của tác giả Đào Huy Ngọc,
NXB Chính trị quốc qua, Hà Nội, 1995 Nội dung của công trình này trình về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động của EU Công trình đã cung
cấp cho người đọc hiểu biết sâu sắc về tổ chức này
Trang 11Công trình nghiên cứu “Hợp tác kinh tế và thương mại EU”, của Ủy ban Kế
hoạch Nhà nước (nay là Bộ kế hoạch và đầu tư) xuất bản năm 1995 Cuốn sách cung cấp những thông tin về EU đặc biệt là các cơ sở kinh doanh, các tổ chức xuất khẩu muốn thâm nhập vào thị trường EU và tư nhân muốn hợp tác kinh
doanh và sản xuất với các đối tác EU
Tác phẩm “Tiến trình thống nhất tiền tệ của EU” của tác giả Kim Ngọc,
1996 đã đi sâu vào các vấn đề về điều kiện, bối cảnh, quá trình thồng nhất tiền tệ châu Âu, nội dung cơ bản của quá thống nhất tiền tệ EU và tác động của nó tới
khu vực và thế giới
Nhóm tác giả Bùi HuyKhoát, Carlo Filippini, Stefan Hell đã biên soạn công
trình “Mở rộng EU và các tác động tới Việt Nam” do NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2003 Cuốn sách tập hợp những bài phát biểu từ cuộc hội thảo quốc tế về
mở rộng EU và các tác động tới Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10
năm 2003
Năm 2003, Nguyễn Quang Thuấn, Nguyễn An Hà đã cho công bố công trình
“Các nước Đông Âu gia nhập Liên minh châu Âu và những tác động tới Việt Nam” của tác giả, NXB Khoa học xã hội Tác phẩm đã trình bày khái quát chiến
lược mở rộng của EU hiện nay, những cải cách và sự hội nhập của các nước
Đông Âu vào EU
Ngoài ra, còn có một số luận án cử nhân và thạc sĩ về đề tài EU Trên các tạp chí ―Nghiên cứu châu Âu‖, ―Những vấn đề kinh tế thế giới‖và một số tờ báo khác như ―Thương mại‖ và ―Tuần báo quốc tế‖ đã đăng các bài nghiên cứu của các nhà khoa học: Bùi Huy Khoát, Hoàng Hải, Lê Minh Nhật, Đinh Công Tuấn, Ngô Xuân Bình, Lê Mạnh Tuấn, Lê Khanh, các bài nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau về đề tài EU Trong các bài viết, các tác giả nghiên cứu về một số mặt có liên quan đến liên minh châu Âu hay đến sự mở rộng của
EU
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trang 12Đề tài nhằm đặt được những mục đích nghiên cứu sau đây:
- Làm rõ sự mở rộng của EU sang Đông Âu
- Phân tích những tác động của sự mở rộng của EU sang phí đông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên thì nhiệm vụ của đề tài là:
- Phân tích nguyên nhân của quá trình mở rộng EU sang phía Đông
- Làm rõ tiến trình các nước Đông Âu gia nhập EU
- Làm rõ những ảnh hưởng kinh tế, xã hội của sự mở rộng EU
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tập trung khai thác những nước Đông Âu Xã hội chủ nghĩa trước đây gia nhập EU: Ba Lan, Séc, Xlovakia, Hunggari, Estonia, Latvia, Litva, Xlovenia, Bungari, Rumani, các ứng cử viên EU trong tương lai, và các thành viên EU-15 sau khi EU mở rộng sang phía Đông
- Về thời gian: Đề tài, tập trung phân tích quá trình gia nhập EU của các nước Đông Âu và tác động của nó từ 2004 đến nay
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện nghiên cứu, tác giả đã kế thừa những kết quả nghiên cứu của
các viện nghiên cứu như: Viện Nghiên cứu châu Âu, Viện Nghiên cứu thế giới,
Tác giả cũng chú ý khai thác các tài liệu của Thông tấn xã, Thư viện Quốc gia,Học viện Quan hệ quốc tế, các Websize của Bộ Ngoại giao, Bộ Thương
mại
Ngoài ra, tác giả còn khai thác các nguồn tư liệu được đăng trên các báo: Báo Nhân dân, báo Thương mại và tạp chí: Tạp chí Quốc tế, tạp chí Nghiên cứu châu Âu, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí Những vấn đề kinh tế và
chính trị quốc tế
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: phân tích, so sánh, tổng hợp,
5 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần làm rõ thêm quá trình hội nhập vào EU của các nước Đông Âu để hiểu rõ về một thị trường lớn đầy tiềm năng Đồng thời, khóa luận giúp thấy rõ hơn xu thế phát triển của thế giới, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa Sự mở rộng của EU sang Đông Âu cũng đặt ra những thách thức cho tổ chức này, yêu cầu cải tổ về cơ cấu tổ chức, tác động đến mối quan hệ giữa EU với các nước, giữa những nước thành viên với EU và giữa những nước thành viên với nhau đặc biệt là những thành viên cũ với những thành viên Đông Âu mới gia nhập Từ nghiên cứu này có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng trên con đường hội nhập kinh tế thế giới, dung hòa lợi ích giữa nước thành viên với tổ chức Sự liên kết khu vực ngày càng gia tăng, chặt chẽ, giúp nhau cùng phát triển, tránh được sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước lớn, song quá trình đó diễn ra lâu dài phức tạp đòi hỏi ở một mức độ nào đó lợi ích quốc gia, dân tộc được đặt sau lợi ích của tổ chức Mặt khác khi đi sâu tìm hiểu về quá trình mở rộng của EU cũng đưa ra những dự đoán về những hướng đi và tương lai EU
Đề tài sẽ là sự đóng góp tin cậy vào nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập về lịch sử Liên minh châu Âu, về các nước Đông Âu hiện đại
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những nhân tố tác động đến sự mở rộng của Liên minh châu
Âu
Chương 2: Quá trình mở rộng của Liên minh châu Âu
Chương 3: Đánh giá về quá trình mở rộng của EU sang Đông Âu
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ MỞ RỘNG
CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU 1.1 Sự thành lập của Liên minh châu Âu
1.1.1 Xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 -1945) đến năm 1991, quan hệ quốc tế luôn trong tình trạng đối đầu Đông – Tây dưới sự chi phối của trật tự hai cực do Liên Xô và Mỹ đứng đầu Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh lớn nhất, tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại, làm hơn 60 triệu người chết, 90 triệu người bị thương, thiệt hại về vật chất khoảng 4000 tỉ đô la Thắng lợi của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít đã tạo ra những tiền đề thuận lợi để sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, đốc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội bước sang thời kì mới Trong bối cảnh châu Âu bị tàn phá nghiêm trọng, sự suy yếu của Anh và Pháp và nước Đức trên bờ vực bị chia cắt thì Mỹ và Liên Xô nổi lên với vai trò là siêu cường thế giới Hội nghị cấp cao Yalta tháng 2 năm 1945 diễn ra tại Yalta, Liên Xô, với sự tham dự của đại diện 3 cường quốc Liên Xô,
Mỹ và Anh Thực chất nội dung hội nghị là cuộc phân chia thành quả thắng lợi chiến tranh giữa các lực lượng tham chiến, liên quan mật thiết đến hòa bình, an ninh và trật tự thế giới sau này Theo đó, Liên Xô chiếm đóng miền Đông Đức, Đông Berlin và các nước Đông Âu; còn Mỹ, Anh, Pháp chiếm Tây Đức, Tây Berlin, Italia và một số nước Tây Âu khác Sau Hội nghị Yalta, sau đó là Hội nghị hòa bình Paris và Hội nghị Postdam, thế giới hình thành trật tự hai cực giữa phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh Lạnh (1946 – 1989) Những
ký ức đau thương và khốc liệt về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai chưa nguôi ngoai thì nỗi lo sợ về một cuộc chiến tranh mới luôn thường trực với người dân châu Âu Trong hơn bốn thập kỉ của cuộc đối đầu Đông – Tây,tuy không đối đầu quân sự trực tiếp nhưng thế giới luôn trong tình trạng căng thẳng và nhân loại đều lo sợ khi một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba có thể bùng nổ bất cứ lúc nào
Trang 16Chiến tranh Lạnh đã tác động toàn diện tới tất cả các mặt trong đới sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia, quan hệ quốc tế cũng bị chi phối bởi Chiến tranh Lạnh Hai siêu cường Mỹ và Liên Xô luôn trong tình trạng bên miệng hố chiến tranh, đôi lúc xung đột có thể leo thang và dẫn đến một cuộc chiến thật sự nếu không có vũ khí hạt nhân, đó là mối đe dọa hủy diệt Trong thời kì Chiến tranh Lạnh, các cuộc chiến tranh cục bộ vẫn diễn ra tiêu biểu là: Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), hai cuộc khủng hoảng Berlin năm
1948 và 1961, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ (1954 -1975), vấn
đề Campuchia, khủng hoảng tên lửa CuBa 1962, cuộc chiến Afghanistan (1979 – 1989), tình hình Trung Đông tựa như ―thùng thuốc nổ có nhiều ngòi nổ chậm‖
do sự đối đầu giữa hai cực Xô – Mĩ như cuộc chiến tranh Isharel với các nước Arập, thảm kịch ở Libăng,
Từ nửa sau những năm 80, quan hệ Xô – Mĩ đã chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại Cuối năm 1989, cuộc gặp gỡ không chính thức giữa Bush và Gorbachev trên bán đảo Malta, Mĩ và Liên Xô đã chính thức tuyên bố chấm dứt Chiến tranh Lạnh kéo dài hơn 40 năm Trải qua hơn 40 năm thì trật tự hai cực
Xô – Mĩ cũng từng bước bị xối mòn, khi thắng lợi của cách mạnh Trung Quốc năm 1949 đã tạo ra bước đột phá, đập tan âm mưu của Mĩ khống chế Trung Quốc và Liên Xô cũng buộc phải bỏ đặc quyền ở vùng Đông Bắc Trung Quốc Trong khi Mĩ và Liên Xô tăng cường chạy đua vũ trang và quân sự thì sự vươn lên mạnh mẽ của kinh tế Nhật Bản và Tây Âu, đặc biệt là sự ra đời của Khối thị trường chung châu Âu (EEC) đã làm suy giảm vị thế của Mĩ và Liên Xô Đồng thời, cuộc cách mạng công nghệ và kĩ thuật đang diễn ra sổi nổi, cả thế giới đang ra sức chạy đua nhằm phát triển kinh tế Vì vậy muốn vươn lên bắt kịp xu thế thời đại mới, hai nước cần thoát khỏi xu thế đối đầu để tập trung phát triển kinh tế Trong những năm 1989 – 1991 chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ở Đông Âu
và sự tan rã của Liên bang Xô viết thì trật tự hai cực Yalta chính thức bị phá vỡ
Sự tan rã của trật tự thế giới hai cực Yalta (1991), lịch sử thế giới hiện đại đã bước sang một giai đoạn mới, thường được gọi là giai đoạn sau Chiến tranh
Trang 17Lạnh Sau khi trật tự hai cực bị phá vỡ, Mĩ ra sức vươn lên thế một cực trong trật
tự thế giới mới Tuy nhiên, đây là điều Mỹ khó có thể thực hiện được trước sự lớn mạnh của các cường quốc khác như Anh, Pháp, Nga, Nhật Bản, Tây Âu, Trung Quốc Xu thế thế giới mới là xu thế đa cực nhất siêu, đa cường Nhiều hiện tượng mới và xu thế mới đã xuất hiện
Một là, sau Chiến tranh Lạnh hầu như các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm, bởi kinh tế đã trở thành nội dung căn bản trong quan hệ quốc tế Hình thức chủ yếu trong cuộc chiến tranh giữa các cường quốc là xây dựng sức mạnh tổng hợp của các quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang Ngày nay, sức mạnh của mỗi quốc gia được thể hiện qua một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính vững chắc, một nền công nghệ có trình độ cao cùng với một lực lượng quốc phòng hùng mạnh
Hai là, một đặc điểm lớn sau Chiến tranh Lạnh là sự điều chỉnh quan hệ giữa các nước lớn theo hướng đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp nhằm tạo nên một môi trường quốc tế thuận lợi, phát triển kinh tế, vươn lên mạnh mẽ
và xác lập một vị trí ưu thế trong trật tự thế giới mới Mối quan hệ giữa các nước lớn ngày nay mang tính hai mặt, nổi bật là: mâu thuẫn và hài hòa, cạnh tranh và hợp tác, tiếp xúc và kiềm chế v.v
Ba là, sau Chiến tranh Lạnh tuy hòa bình và ổn định là xu thế chủ đạo của tình hình thế giới nhưng ở nhiều khu vực vẫn diễn ra nội chiến và xung đột Đặc biệt nhiều nơi còn bộc lộ chủ nghĩa li khai, chủ nghĩa khủng bố Cuộc khủng bố ngày 11-9-2001 ở Mĩ đã gây ra những tác hại to lớn, báo hiệu nhiều nguy cơ mới đối với tình hình thế giới, khi chủ nghĩa khủng bố đang lan rộng, trở thành vấn đề nóng và đe dọa an ninh toàn cầu Những mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ và nguy cơ khủng bố thường có những căn nguyên lịch sử sâu xa nên việc giải quyết không dễ dàng và nhanh chóng, đòi hỏi các nước phải chung tay nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế
Một nét nổi bật của quá trình toàn cầu hóa đó là sự phát triển nhanh chóng của thương mại thế giới Thương mại thế giới đã tăng 5 lần trong 23 năm (1948
Trang 18– 1971) Nền kinh tế thế giới quan hệ chặt chẽ với nhau và tính quốc tế hóa của nền kinh tế ngày càng cao Sự phát triển và vai trò ngày càng to lớn của các công ty xuyên quốc gia: năm 1960 có 200 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới, chiếm 17% tổng sản phẩm của toàn thế giới, năm 1985 có tới 600 công ty xuyên quốc gia [16; tr457] Đi đôi với xu thế toàn cầu hóa là xu thế liên kết khu vực phát triển nhanh Sự ra đời của hàng loạt các tổ chức khu vực như Liên minh châu Âu (EU), khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mĩ (NAFTA), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh kinh tế Trung Mĩ (khối MERCOSUR), Hiệp hội tự do thương mại Mĩ Latinh (LAFTA), Cộng đồng Đông Phi (EAC), Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi (ECOAC), Hiện nay, tính phụ thuộc giữa các quốc gia dân tộc, ý thức độc lập chủ quyền ngày càng được nâng cao và sự hợp tác kinh tế thế giới đã vượt sư khác biệt về ý thức hệ,
về chế độ chính trị - xã hội
Nhân loại đã bước sang thế kỉ XXI, mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức, nhưng tình hình hiện nay đã hình thành nên những điều kiện thuận lợi, những xu thế khách quan để các quốc gia dân tộc cùng nhau xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển, bảo đảm những quyền cơ bản của mỗi dân tộc và con người
1.1.2 Sự ra đời của Liên minh châu Âu
Liên minh châu Âu là một liên minh của những ý tưởng, mơ ước và là thành quả của quá trình hòa giải, hợp tác của những thế hệ từng sống, từng đối đầu và từng trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc trong nửa đầu thế kỉ
XX Lịch sử hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu trải qua chặng đường dài trên nửa thế kỷ, gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế, chính trị châu
Âu và thế giới nửa sau thế kỷ XX
Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt và Chiến tranh Lạnh bắt đầu ngay sau đó Ký ức về vô số những thảm kịch gây ra bởi chiến tranh nay vẫn còn hiện hữu khắp châu Âu, mối lo sợ về một thảm họa chiến tranh tiếp theo phải mất một thời gian dài mới có thể được xóa đi Ngay trong những năm sau chiến
Trang 19tranh, đã có một số chính khách nổi niếng như Robert Schuman, Alcide De Gasperi và Konrad Adenaer kế tjc quan điểm của Jean Monnet, có khả năng thúc đẩy quá trình tạo dựng một thực thể mới, một châu Âu thống nhất
Ý tưởng về một châu Âu hợp nhất đã có một thời kỳ lịch sử phát triển lâu dài Các đế chế trong lịch sử từ thời cổ đại đến thời cận hiện đại đã từng dùng chiến tranh và vũ lực để thống nhất các vùng lãnh thổ các quốc gia trên lục địa châu Âu và sự thiết lập sự thống trị của mình như: Đế chế La Mã, Byzantine, Thời kì La Mã đã đánh dấu những nỗ lực đầu tiên trong việc hợp nhất các vùng lãnh thổ châu Âu và các khu vực lân cận Địa Trung Hải Năm 117, sau Công nguyên, Đế chế La Mã làm chủ một vùng đất rộng lớn Nhưng hạn chế về khả năng quản lý cũng như chưa có một chính sách phát triển hợp lý nên đế chế La
Mã không thực sự làm chủ được toàn bộ vùng đất của mình Ý tưởng đầu tiên chỉ dừng lại ở những cuộc chinh phạt để mở rộng lãnh thổ của đế chế này Dưới
sự trị vì của vị vua dòng họ Franks (năm 800 sau công nguyên) thì một đế chế thống nhất và hòa bình thực sự mới hình thành, đó là đế chế Charlemagne Vùng đất này trải dài từ phía Nam nước Anh, qua Pháp, Trung và Nam Đức, Nam Âu kéo dài tới tận Biển Đen Tuy không rộng lớn như đế chế La Mã nhưng trong thời kì đế chế Charlemagne không hề có chiến tranh nổ ra Sau này các nhà lãnh đạo phương Tây cũng theo đuổi ý tưởng này dưới nhiều cách khác nhau, nhưng điển hình nhất là sử dụng bao lực Napoleon chinh phục Tây Âu bằng các cuộc chiến tranh là một minh chứng Nhiều học giả cho rằng ―Napoleon là cha đẻ của châu Âu‖ bởi trong quá trình mang quân đi mở rộng lãnh thổ của mình, ông đã
để lại nhiều di sản làm nền tảng cho luât pháp EU sau này như: luật liên bang, luật nhân quyền, ý tưởng về thị trường chung
Bên cạnh đó mơ ước về một châu Âu hợp nhất trong hòa bình cũng xuất hiện từ sớm Thế kỷ XVIII, Montesquieu đã nói đến châu Âu như một quốc gia bao gồm nhiều tỉnh Đến thế kỷ XIX, nhiều nhà văn Pháp, Italia và Ba Lan đã viết về một châu Âu hợp nhất như một giải pháp để chấm dứt chiến tranh, xung đột kéo dài giữa các quốc gia châu Âu Nhà văn Victor Hugo đã đề cập đến một
Trang 20quốc tịch châu Âu cho công dân ở lục địa này Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, sáng kiến thành lập một Liên minh toàn châu Âu được đề xuất để khẳng định sự hòa giải giữa hai quốc gia Đức và Pháp Năm 1923, nhà chính trị gia người Áo Richard Coudenhove Kalergi mở đầu phong trào thống nhất châu Âu Dự án chính thức đầu tiên của việc thành lập Liên hiệp châu Âu gắn liền với hoạt động của 2 ngoại trưởng Pháp và Đức trong những năm 1925 – 1932 đã đưa ra các dự
án thành lập Liên hiệp châu Âu và trình bày trước Hội quốc liên Bản ghi nhớ về việc tổ chức hệ thống Liên hiệp các dân tộc châu Âu Năm 1931, cựu thủ tướng
Pháp Edouar Herriot xuất bản cuốn “Hợp chủng quốc châu Âu” Tuy nhiên, do
những biến động của tình hình thế giới, do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
1929 – 1933, sau đó là chủ nghĩa phát xít và Chiến tranh thế giới thứ hai bùng
nổ nên dự định này đã không thực hiện được
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, châu Âu là chiến trường chính đã bị tàn phá nặng nề, trở nên hoang tàn, đổ nát Lần đầu tiên trong lịch sử, châu Âu không còn là trung tâm quyền lực của thế giới, thậm chí bị phụ thuộc vào Mỹ
Do đó, ý tưởng hóa thù hằn dân tộc, gắn kết các quốc gia vì sự phục hưng của châu Âu lại trỗi dậy Ngày 5/5/1949, Hội đồng châu Âu được thành lập với sự tham gia của 10 nước: Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Ireland, Italia, Lucxembua, Hà Lan,
Na Uy, Thụy Điển, Anh Hiện nay Hội đồng châu Âu có 47 thành viên Đây là
tổ chức nằm ngoài Liên minh châu Âu, danh sách thành viên và hoạt động không hòan toàn giống nhau nhưng đều phối hợp với nhau để nhằm mục tiêu duy trì hòa bình, dân chủ và nhân quyền châu Âu
Nền móng đầu tiên của Liên minh châu Âu là Cộng đồng than thép châu
Âu Năm 1949, xuất phát từ quan điểm cho rằng điểm mấu chốt dẫn đến sự căng thẳng giữa Pháp và Đức là việc tranh chấp vùng Ruhr, đây là vùng than thép quan trọng nhất châu Âu Sau khi thảo luận với Monnet và thủ tướng Đức Konrat Adenauer, Ngoại trưởng Pháp Schuman mở rộng ý tưởng này trong cuộc họp báo 9/5/1950 Ngày này được biết đến như là ngày sinh của ý tưởng thống nhất châu Âu với tuyên bố Schuman Ngày 18/04/1951, Cộng đồng than thép
Trang 21châu Âu (European Coal and Steel Community – ECSC) được thành lập với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Tây Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lucxembua Khi bắt tay vào dự án hội nhập này, các nhà sáng lập hy vọng ECSC sẽ giúp kiểm soát các nguyên liệu thô của chiến tranh và thúc đẩy sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh
tế, do đó tránh cho một cuộc xung đột khác ở châu Âu không thể tưởng tượng được Mỹ là nước đầu tiên công nhận tổ chức này Việc thành lập ECSC đã có tác động lớn đến kinh tế châu Âu khiến thương mại các nước tăng gấp 10 lần do tháo dỡ hàng rào thuế quan, hạ giá thành và tiết kiệm chi phí sản xuất Sự ra đời của ECSC là tổ chức quốc tế đầu tiên thành lập dựa trên nguyên tắc của chủ nghĩa siêu quốc gia (supernationalism) và sẵn sàng mở cửa cho các nước châu
Âu khác cùng tham gia Sự ra đời của nó đánh dấu bước ngoặt mang tính cách mạng trong tiến trình hợp nhất châu Âu: trên cơ sở sự hợp tác từ một lĩnh vực cụ thể đến hợp tác trên nhiều lĩnh vực rộng lớn hơn và cuối cùng là hợp nhất châu
Âu theo mơ ước của những người đi trước
Năm 1957, sáu nước thành viên ECSC đã ký hai hiệp ước mới tại Rome: thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) để phát triển các chính sách kinh tế chung và hợp nhất các thị trường quốc gia riêng biệt thành một thị trường duy nhất, trong đó hàng hóa, con người, vốn và dịch vụ có thể di chuyển tự do; thứ hai tạo ra một Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EURATOM) để đảm bảo sử dụng năng lượng hạt nhân cho các mục đích hòa bình Hai hiệp ước này, thường được gọi là "Hiệp ước Rome", có hiệu lực vào năm 1958 Năm 1967, ECSC, EEC và EURATOM được hợp nhất thành một cộng đồng chung là Cộng đồng châu Âu (EC) EC lần đầu tiên thêm các thành viên mới vào năm 1973, với
sự tham gia của Vương quốc Anh, Ireland và Đan Mạch Hy Lạp tham gia vào năm 1981, tiếp theo là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào năm 1986 Đạo luật châu Âu đã sửa đổi các hiệp ước EC năm 1987 để tạo điều kiện cho việc tạo ra thị trường đơn lẻ, giới thiệu cải cách thể chế và tăng cường quyền lực của Nghị viện châu Âu non trẻ Vào đầu năm 1993, việc gần hoàn thành một thị trường
Trang 22đơn lẻ đã mang lại sự chuyển động chủ yếu là tự do hàng hóa, con người, vốn và dịch vụ trong EC
Sự ra đời của EU Vào ngày 1 tháng 11 năm 1993, Hiệp ước về Liên minh châu Âu (còn được gọi là Hiệp ước Maastricht) có hiệu lực, thành lập Liên minh châu Âu hiện đại và bao gồm EC Hiệp ước Maastricht thành lập một EU bao gồm ba trụ cột: một EC mở rộng và tăng cường; chính sách ngoại giao và an ninh chung; và các biện pháp an ninh nội bộ chung Hiệp ước Maastricht cũng bao gồm các điều khoản dẫn đến việc tạo ra một Liên minh Kinh tế và Tiền tệ (EMU), bao gồm một đồng tiền chung châu Âu (đồng euro)
Liên minh châu Âu được dự định là một bước quan trọng trên con đường hướng tới không chỉ hội nhập kinh tế lớn hơn mà còn hợp tác chính trị chặt chẽ hơn và cuối cùng là tiến tới nhất thể hóa châu Âu
Vào ngày 1 tháng 1 năm 1995, Áo, Phần Lan và Thụy Điển gia nhập EU, đưa thành viên đến 15 quốc gia thành viên Vào tháng 6 năm 1997, các nhà lãnh đạo EU đã gặp nhau để xem xét Hiệp ước Maastricht và xem xét quá trình hội nhập châu Âu trong tương lai Hiệp ước Amsterdam có hiệu lực vào năm 1999, tăng cường quyền lực lập pháp của Nghị viện châu Âu, tìm cách tăng cường chính sách đối ngoại của EU, và nhằm tiếp tục tích hợp các chính sách an ninh nội bộ
1.2 Những nhân tố tác động đến sự mở rộng của Liên minh châu Âu
1.2.1 Nhân tố khách quan
Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, bối cảnh thế giới một lần nữa thay đổi Chiến tranh Lạnh kết thúc với sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu Thế lưỡng cực bị phá vỡ, sự sụp đổ của bức tường Berlin đã đặt dấu chấm hết cho sự chia cắt giữa Tây Âu và Đông Âu Bối cảnh mới này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sâu rộng hơn của Cộng đồng châu Âu (về sau là Liên minh châu Âu)
Để mở đầu cho sự hội nhập rộng rãi hơn của toàn châu Âu, năm 1990 một hiệp ước về sự do đi lại đã được một số nước châu Âu kí kết, mang tên Hiệp ước
Trang 23Schengen Ban đầu chỉ có 6 nước hạt nhân tham gia khối Schengen, đến cuối năm 2009, đã có 28 nước tham gia khối này trong đó có cả những quốc gia không phải là thành viên của EU Việc tự do đi lại trở thành tiền đề cho những bước phát triển sau này của châu Âu, đặc biệt là về kinh tế
Sau hơn ba thập kỉ phát triển, EC đã tạo những cơ sở cho việc phát triển
và hội nhập kinh tế giữa các quốc gia thành viên Bao gồm cả Greenland – sau này tách ra khỏi Cộng đồng năm 1985, khu vực này đạt được là rất đáng kể Chỉ tính riêng mức sống của người dân hay những yếu tố cơ sở hạ tầng, cơ sở công nghiệp ở các nước thành viên đã chỉ ra sự phát triển vượt bậc của châu lục này Cho dù sở hữu nền kinh tế phát triển, nhưng EC vẫn mang tiếng là ―chú lùn chính trị‖ và ―con sâu quân sự‖ Từ 1992 đến năm 1996, chi phí quốc phòng của
EU giảm 43%, chi phí quốc phòng của Mĩ chiếm 3.38% GDP trong khi 5 nước tiềm lực quân sự lớn ở châu Âu chỉ chiếm 1,8% năm 1997 [17; tr.467] Vì vậy, Châu Âu đã tiến hành công cuộc nhất thể hóa về phương diện chính trị, qua đó tăng cường tiếng nói với các thành viên, xử lí năng động các vấn đề quốc tế và khu vực; chỗ đứng của mình trên chính trường quốc tế
Hiệp ước Maastricht – 1992
Hiệp ước Maastricht có hiệu lực vào ngày 1 tháng 11 năm 1993, đánh dấu một giai đoạn mới trong tiến trình xây dựng một liên minh ngày càng chặt chẽ giữa các quốc gia thành viên Từ năm 1992, Liên minh Châu Âu chính thức thay thế cho Cộng đồng châu Âu (EC) Mục tiêu chủ yếu của Hiệp ước Maastricht là
mở rộng quá trình hợp nhất của châu Âu, tiến tới thành lập EU trên cơ sở liên minh kinh tế - tiền tệ với đồng tiền chung Euro và liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung Hiệp ước Maastricht thành lập một EU bao gồm ba trụ cột của EU: Một EC mở rộng và tăng cường, thể hiện sự hợp tác đa diện hơn cả về kinh tế – văn hóa – xã hội – môi trường giữa các thành viên; hai là chính sách ngoại giao và an ninh chung nhằm tạo ra
cơ chế phối hợp xây dựng kế hoạch và thực thi chính sách đối ngoại và an ninh chung giữa các nước thành viên trên cơ sở đảm bảo chủ quyền quốc gia; và ba là
Trang 24các biện pháp an ninh nội bộ chung, thể hiện sự hợp tác trong các lĩnh vực xét sử tội phạm, giải quyết các vấn đề tệ nạn, nhập cư và hợp tác tư pháp trong vấn đề dân sự
Đồng thời Hiệp ước Maastricht cũng đưa ra lộ trình cho việc xây dựng đồng tiền chung châu Âu (Euro) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Điều kiện để tham gia vào liên minh kinh tế - tiền tệ : tỷ lệ lạm phát không vượt quá 1.5% so với mức trung bình của ba nước có tỷ lệ lạm phát thấp nhất; thậm hụt ngân sách không quá 3% GDP; nợ nhà nước dưới 60% GDP…[17; tr.463] Bên cạnh đó Hiệp ước Maastricht còn mở rộng trách nhiệm của EU trong các vấn đề xã hội, như y tế, giáo dục, giao thông vận tải v.v Theo đó, công dân châu
Âu có thêm nhiều quyền hạn mới như quyền tự do đi lại, tự do cư trú trên các lãnh thổ của các quốc gia thành viên và có quyền bầu cử trong các cuộc bẩu cử địa phương và EU
Hiệp ước cũng bổ sung cho Nghị viện châu Âu (EP) thủ tục lập pháp mới: đồng quyết định Theo đó, EP có quyền lực ngang bằng với Hội đồng Bộ trưởng Khi một bộ luật muốn được thông qua, nó cần có sự đồng thuận từ cả hai thể chế trên Bên cạnh đó, Hiệp ước còn trao thêm cho Nghị viện phê chuẩn các thỏa thuận quốc tế của Liên minh châu Âu
Lần đầu tiên trong lịch sử châu Âu, một Hiệp ước chú trọng đến mọi lĩnh vực hợp tác của châu Âu, qua đó gắn kết các quốc gia với nhau bằng những mối liên hệ toàn diện hơn Một thị trường nội địa chỉ phát hiệu quả cao nếu các nước thành viên có chung một chính sách phát triển, chính sách xã hội, chính sách nhập cư và chính sách tiền tệ Liên minh được dự định là một bước quan trọng trên con đường hướng tới không chỉ hội nhập kinh tế lớn hơn mà còn hợp tác chính trị chặt chẽ hơn Vào ngày 1 tháng 1 năm 1995, Áo, Phần Lan và Thụy Điển gia nhập EU, đưa thành viên đến 15 quốc gia thành viên
Hiệp ước Amsterdam - 1997
Vào tháng 6 năm 1997, các nhà lãnh đạo EU đã gặp nhau để xem xét Hiệp ước Maastricht và xem xét quá trình hội nhập châu Âu trong tương lai Hiệp ước
Trang 25Amsterdam (còn được gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi) được 15 quốc gia thành viên ký kết 2/10/1997 và có hiệu lực năm 1999 Hiệp ước Amsterdam tăng cường quyền lực lập pháp của Nghị viện châu Âu, tìm cách tăng cường chính sách đối ngoại của EU, và nhằm tiếp tục tích hợp các chính sách an ninh nội bộ
Hiệp ước ước này đánh dấu sự hoàn thiện về quyền công dân và quyền cá nhân của con người với mong muốn tạo lập được một xã hội dân chủ và công bằng hơn nữa Mặc dù trọng tâm của Hiệp ước Amsterdam không phải xem xét quyền hạn của Nghị viện, nhưng nó đã tăng cường đáng kể quyền hạn cho thể chế này, như đơn giản hóa thủ tục, mở rộng phạm vi hoạt động, tăng cường vai trò kiểm soát, và không chế số nghị sĩ của mỗi quốc gia theo tỷ lệ tương ứng với
số dân của nước đó
Hiệp ước Amsterdam là bước tiến mới cho quá trình nhất thể hóa của châu Âu với thành tựu nổi bật nhất là sự ra đời của đồng tiền chung Euro và
sự hoàn thiện về quyền cá nhân của con người, tiến tới một thể chế dân chủ hơn nữa Liên minh Châu Âu giờ đây trở nên thống nhất hơn cả về thể chế và pháp luật
Hiệp ước Nice – 2001
Vào tháng 12 năm 2000, các nhà lãnh đạo EU đã ký kết Hiệp ước Nice để
mở đường cho việc mở rộng hơn nữa của EU, chủ yếu đến phía đông châu Âu Bắt đầu có hiệu lực vào năm 2003, Hiệp ước Nice đặt ra các cải cách nội bộ, thể chế để cho phép Liên minh chấp nhận các thành viên mới và vẫn có thể hoạt động hiệu quả Đặc biệt, nó mở rộng hệ thống bỏ phiếu đa số trong Hội đồng Bộ trưởng của EU (đại diện cho các nước thành viên) cho một số lĩnh vực chính sách bổ sung trước đó đã yêu cầu nhất trí và tái cấu trúc Ủy ban châu Âu (điều hành của EU)
Từ ngày 15 đến 28 kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, EU đã làm việc với các nước cộng sản cũ của Trung và Đông Âu để cải cách hệ thống chính trị
và nền kinh tế của họ nhằm đáp ứng các tiêu chí thành viên của EU EU đã mở
Trang 26rộng sang phía đông châu Âu như hoàn thành một cam kết lịch sử để tiếp tục hội nhập của lục địa bằng các phương tiện hòa bình, vượt qua hàng thập kỷ phân chia nhân tạo, và giúp làm cho châu Âu "toàn bộ và tự do." Síp và Malta cũng bày tỏ sự quan tâm tham gia EU Vào tháng 3 năm 1998, EU bắt đầu đàm phán gia nhập với Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Ba Lan và Slovenia Vào tháng 12 năm 1999, EU đã quyết định mở đàm phán với sáu nước khác: Bulgaria, Latvia, Lithuania, Malta, Romania và Slovakia Vào tháng 12 năm
2001, EU đã thông báo rằng 10 nước trong số này - Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Malta, Ba Lan, Slovakia và Slovenia - có khả năng kết thúc đàm phán gia nhập vào cuối năm 2002 Các cuộc đàm phán năm 2002 với 10 ứng cử viên về các vấn đề còn lại như hỗ trợ nông nghiệp và khu vực đã
tỏ ra khó khăn vì họ đã nêu ra các vấn đề về ngân sách và chia sẻ gánh nặng Tuy nhiên, một thỏa thuận cuối cùng đã đạt được và EU đã kết thúc đàm phán gia nhập với tất cả 10 tại hội nghị thượng đỉnh tháng 12 năm 2002 Hiệp ước gia nhập đã được ký kết với 10 quốc gia vào ngày 16 tháng 4 năm 2003, và họ gia nhập EU vào ngày 1 tháng 5 năm 2004
Hiến pháp Chung – 2003
Bản hiến pháp Chung năm 2003 được coi như tham vọng của các nhà chính trị trong việc tạo ra một công cụ chính trị sắc bén cho EU trong thế kỷ XXI Nhất là sau lần kết nạp thêm thành viên, các nước EU càng mong muốn đẩy nhanh quá trình nhất thể hóa chính trị bằng việc đưa ra một bản Hiến pháp chung Tuy bản dự thảo hiến pháp đã được các nhà lãnh đạo và nguyên thủ 25 nước thông qua năm 2003, nhưng đến năm 2005, cử tri Pháp và Hà Lan đã lần lượt bác bỏ Sau đó, 10 nước thành viên tiếp tục phản đối bản dự thảo hiến pháp Nhìn chung, bản hiến pháp này đã thất bại do không tạo được sự đồng thuận giữa các quốc gia Năm 2007, vấn đề xây dựng một Hiến pháp Chung lại được đưa ra và buộc phải hoàn thành trước kì bầu cử Nghị viện châu Âu 2009, đây là nền tảng của Hiệp ước Lisbon Vào tháng 12 năm 2004, EU đã hoàn tất đàm phán gia nhập với Bulgaria và Romania, mặc dù một số quan ngại của EU liên
Trang 27tục về tình trạng cải cách tư pháp và nỗ lực chống tham nhũng ở cả hai nước Bulgaria và Romania chính thức gia nhập EU vào ngày 1 tháng 1 năm 2007, nâng tổng số thành viên của tổ chức này lên 27 nước
Hiệp ước Lisbon – 2007
Mặc dù Hiệp ước Nice đã tìm cách giới thiệu các cải cách thể chế để cho phép Liên minh mở rộng hoạt động tốt hơn và hiệu quả hơn, các nhà phê bình khẳng định rằng hiệp ước đã thiết lập một quy trình ra quyết định phức tạp hơn
và kém hiệu quả hơn Một số điều khoản trong Hiệp ước Nice cũng có hiệu quả (mặc dù không rõ ràng) giới hạn quy mô của EU cho 27 quốc gia thành viên Trước những lời chỉ trích của Hiệp ước Nice và nhằm mở rộng tiềm năng vượt
27 thành viên, EU bắt tay vào một nỗ lực cải cách thể chế mới vào năm 2002
Quá trình này lên đến đỉnh điểm vào ngày 1 tháng 12 năm 2009, khi Hiệp ước Lisbon có hiệu lực Hiệp ước Lisbon phát triển từ hiệp ước hiến pháp EU được đề xuất, đã bị bác bỏ trong các cuộc trưng cầu dân ý quốc gia của Pháp và
Hà Lan năm 2005, một phần vì những lo ngại của công chúng về việc mở rộng
EU tiếp tục Hiệp ước Lisbon nhằm mục đích tiếp tục hợp lý hóa các cơ quan quản lý của EU và các quy trình ra quyết định, và làm như vậy sẽ loại bỏ rào cản
kỹ thuật để mở rộng EU ra khỏi 27 quốc gia thành viên Hiệp ước mới cũng tìm cách mang đến cho EU một tiếng nói mạnh mẽ và mạch lạc hơn trên thế giới, và
nỗ lực tăng cường dân chủ và minh bạch trong EU, một phần bằng cách cấp thêm quyền lực cho Nghị viện châu Âu
Hiệp ước Lisbon tạo ra một EU dân chủ và minh bạch hơn, với bộ máy hoạt động được đơn giản hóa và hiệu quả hơn Hơn hết, hiệp ước này còn tạo ra cho châu Âu những quyền lợi và giá trị riêng: tự do, đoàn kết và an ninh Hiệp ước này được coi là dấu chấm hết cho cuộc khủng hoảng chính trị tại EU, cải thiện vị thế của liên minh trên trường quốc tế - tạo ra một diện mạo mới trên nền một châu Âu già cỗi
1.2.2 Nhân tố chủ quan
Trang 28Theo Hiệp ước Maastricht, bất kỳ quốc gia châu Âu nào cũng có thể nộp đơn xin thành viên EU nếu đáp ứng một bộ tiêu chí chính trị và kinh tế cốt lõi, được gọi là ―tiêu chuẩn Copenhagen‖ Quy định của pháp luật, nhân quyền và tôn trọng và bảo vệ người thiểu số; một nền kinh tế thị trường hoạt động, cũng như khả năng đối phó với áp lực cạnh tranh và các lực lượng thị trường trong Liên minh Ngoài ra, EU phải có khả năng hấp thụ các thành viên mới, vì vậy
EU có thể quyết định khi nào nó sẵn sàng chấp nhận một thành viên mới
Khi một nước nộp đơn đăng ký tham gia EU, nó sẽ kích hoạt một quy trình kỹ thuật phức tạp và một chuỗi các thủ tục đánh giá Đồng thời, việc mở rộng EU là một quá trình chính trị, hầu hết tất cả các bước trên đường dẫn đến gia nhập đòi hỏi sự đồng thuận nhất trí của các quốc gia thành viên hiện tại Như vậy, mối quan hệ hoặc xung đột của ứng viên EU tiềm năng với các quốc gia thành viên cá nhân có thể ảnh hưởng đáng kể đến triển vọng và thời gian gia nhập EU của một quốc gia
Sau khi nộp đơn đăng ký của một quốc gia cụ thể, Ủy ban châu Âu lần đầu tiên đưa ra ý kiến chính thức về quốc gia muốn gia nhập, sau đó Hội đồng
Bộ trưởng quyết định có nên chấp nhận đơn đăng ký hay không Sau một quyết định thống nhất của các quốc gia thành viên trong Hội đồng Bộ trưởng để chấp nhận đơn đăng ký của một quốc gia cụ thể, quốc gia đó trở thành ứng cử viên chính thức của EU Các cuộc đàm phán gia nhập, đó là một quá trình lâu dài và phức tạp, trong đó nước ứng cử viên phải chấp nhận và thực thi một cơ quan lớn của các hiệp ước, luật và quy định của EU, sau đó có thể bắt đầu Ủy ban và Hội đồng Bộ trưởng cũng phải phê chuẩn việc mở cửa thực tế các cuộc đàm phán gia nhập và một khung đàm phán, trong đó thiết lập các hướng dẫn chung cho các cuộc đàm phán mở rộng
EU gần 144.000 trang quy tắc và quy định được gọi là acquis communautaire Acquis được chia thành 35 "chương" liên quan đến chủ đề từ chuyển động tự do hàng hóa sang nông nghiệp để cạnh tranh Các cuộc đàm phán gia nhập vào mỗi chương bắt đầu với một quá trình sàng lọc để xem mức
Trang 29độ nào mà người nộp đơn đáp ứng các yêu cầu của mỗi chương; các cuộc đàm phán chi tiết diễn ra ở cấp bộ trưởng để thiết lập các điều khoản mà theo đó quốc gia nộp đơn sẽ áp dụng và thực hiện các quy tắc trong mỗi chương Ủy ban châu
Âu đề xuất các vị trí đàm phán chung cho EU trên mỗi chương, và tiến hành các cuộc đàm phán thay mặt cho EU Chính sách mở rộng và đàm phán gia nhập được chỉ đạo và dẫn đầu bởi Ủy viên EU về mở rộng và chính sách khu vực châu Âu Trong tất cả các khu vực của acquis, quốc gia ứng cử viên phải đưa các thể chế, năng lực quản lý và các hệ thống hành chính và tư pháp của mình lên các tiêu chuẩn của EU, cả ở cấp quốc gia và khu vực Trong các cuộc đàm phán, các ứng viên có thể yêu cầu các giai đoạn chuyển tiếp để tuân thủ các quy tắc nhất định của EU Tất cả các nước ứng cử viên đều nhận được hỗ trợ tài chính từ EU, chủ yếu để hỗ trợ cho quá trình gia nhập Các chương của acquis chỉ có thể được mở ra và đóng cửa với sự chấp thuận nhất trí của tất cả quốc gia thành viên EU hiện có hoạt động trong Hội đồng Bộ trưởng Định kỳ, Ủy ban đưa ra các báo cáo ―tiến độ‖ cho Hội đồng Bộ trưởng và Nghị viện châu Âu đánh giá những thành tựu ở các nước ứng cử viên Khi Ủy ban kết thúc đàm phán trên tất cả 35 chương với một quốc gia nộp đơn, các thỏa thuận đạt được được đưa vào một hiệp ước gia nhập dự thảo, mà phải được sự chấp thuận của Hội đồng Bộ trưởng và Nghị viện châu Âu Sau khi hiệp định gia nhập được ký kết bởi EU và quốc gia ứng cử viên, nó phải được phê chuẩn bởi mỗi quốc gia thành viên EU và quốc gia ứng cử viên; quá trình này có thể mất đến hai năm
Sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông Âu, các nước Đông Âu bước vào thập niên 90 với hai nhiệm vụ là xây dựng chế độ dân chủ và kinh tế thị trường
Về kinh tế, tiến hành quốc hữu hóa, bán các công ty quốc doanh, tư nhân hóa xí nghiệp và tư hữu hóa đất đai.Nhiều vấn đề phức tạp đã nảy sinh khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Song song với cải cách kinh tế cũng dẫn tới những hậu qủa xấu về mặt chính trị - xã hội
Trang 30Về chính trị, các nước này đã cải cách thể chế và thông qua quyết định của Hiến pháp mới, hoàn thành một loạt lập pháp, xây dựng chế độ dân chủ nghị viện đa đảng Cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo của các đảng phái chính trị mới lên hết sức quyết liệt Tuy cùng thống nhất bác bỏ chế độ cộng sản chủ nghĩa nhưng lại bất đồng về bước đi, chủ trương, biện pháp nhằm đưa đất nước
đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Nét chung trong chính sách đối ngoại của Ban lãnh đạo các nước Đông Âu sau thời kì ―cách mạng nhung‖ là xu thế ngả hẳn sang phương Tây Trong khi chấm dứt các hoạt động của Hội đồng tương trợ kinh tế SEV (6/1991) và khối Warszawa (7/1991), quân đội Liên Xô rút khỏi các nước Đông Âu thì Ban lãnh đạo thực hiện bước chuyển từ chính sách dựa vào Liên Xô và các nước XHCN là chủ yếu sang dựa vào phương Tây và Mỹ Mục tiêu của họ là gia nhập vào các cơ cấu kinh tế, chính trị, quân sự của châu
Âu, mong nhận được sự bảo trợ, giúp đỡ từ phương Tây và Mỹ Các nước Đông
Âu đều có nguyện vọng gia nhập Liên minh châu Âu Các quốc gia này đều tiến hành cải cách, điều chỉnh chính sách kinh tế, chính trị, đối ngoại để có thể đáp ứng được yêu cầu của EU mặc dù còn gặp nhiều khó khăn
Tiểu kết chương 1
Với sự kế thừa những ý tưởng thống nhất trong lịch sử và một quá trình
nỗ lực lâu dài, các nhà lãnh đạo các quốc gia châu Âu đã xây dựng và phát triển một khối liên minh vững chắc và toàn diện Những thành tựu của EU được ghi dấu bởi các hiệp ước mà tất cả các nước thành viên cam kết thực hiện, với mục tiêu tiến tới tạo thành một châu Âu thống nhất Quá trình mở rộng sang Đông
Âu là một quá trình lâu dài và phức tạp Chiến tranh Lạnh kết thúc cùng với sự sụp đổ của trật tự hai cực do Liên Xô và Mĩ cấm đầu, tạo điều kiện thuận lợi để tiến tới nhất thể hóa châu Âu, xóa bỏ vách ngăn cách hơn 40 thập kỉ chia cắt Đông – Tây
Trang 31Chương 2: QUÁ MỞ RỘNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
2.1 Liên minh châu Âu và những lần mở rộng
2.1.1 Những lần mở rộng của EU
Lần mở rộng thứ nhất
Những thành tựu đạt được đã có tác động đến các nước Tây Âu khác Ngay trong kế hoạch Schuman việc thành lập Cộng đồng Than - Thép đã để ngỏ cho tất cả các nước tham gia Có 6 nước tham gia CSCE còn các nước khác như Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai nước độc tài và ít quan tâm tới hợp tác quốc tế; Thụy Điển, Áo, Phần Lan muốn giữ trung lập; Ireland có nền sản xuất chính
là nông nghiệp và gắn bó chặt chẽ trong quan hệ kinh tế với Anh, còn Anh có quá nhiều lợi ích bên ngoài châu Âu, hơn nữa xuất khẩu thép của Anh sang các nước khác ở Tây Âu rất ít, chỉ 4 - 6% năm Anh cùng một số nước Tây Bắc Âu khác đứng ra thành lập Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) năm 1959 Đây là một tổ chức liên chính phủ lỏng lẻo với mục đích là tự do thương mại Nhưng nhiều thành viên của EFTA hợp tác làm ăn kinh tế với EEC hơn là với nhau Thực tế EEC đang tiến triển tốt, EEC đã tạo ra được những tiến bộ về kinh
tế, chính trị Nền công nghiệp Anh muốn thâm nhập vào thị trường giàu có ở châu Âu thì Anh phải tham gia EEC Với những lý do trên, chỉ sau 15 tháng thành lập EFTA, tháng 8/1961 Anh làm đơn xin gia nhập EEC cùng với Ireland
và Đan mạch Đan Mạch muốn tham gia EEC vì muốn tiêu thụ được nhiều sản phẩm nông nghiệp của mình trong thị trường EEC rộng lớn, đồng thời phát triển công nghiệp Ireland lại thấy EEC sẽ phát triển được các tiềm năng các nhà máy công nghiệp của mình và nhằm giảm bớt sự phụ thuộc về nông nghiệp với Anh
Do tính toán lợi ích của mình, Pháp muốn xây dựng EEC quanh trục Pháp-Đức, Pháp cho rằng nếu Anh trở thành thành viên thì sẽ cạnh tranh trực tiếp vai trò với Pháp trong EEC Ngoài ra, Pháp cũng sợ rằng quan hệ đặc biệt của Anh - Mỹ sẽ làm cho Mỹ càng có thêm nhiều ảnh hưởng ở châu Âu Nước Pháp dưới chính quyền của Đờ Gôn đã thuyết phục Đức phủ quyết Anh đến lần thứ hai Sau khi Đờ Gôn từ chức năm 1969, các nước này nộp đơn lần thứ ba
Trang 32mới được xem xét và được chấp thuận là thành viên chính thức vào năm 1973, đưa tổng số thành viên từ 6 lên 9 nước Không có những vấn đề khó khăn đối với 3 nước thành viên mới trong điều chỉnh các chính sách kinh tế cũng như pháp luật vì họ đều có sự tương đồng với các nước trong EEC
Lần mở rộng thứ hai
Một số nước Nam Âu như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng bày
tỏ muốn được tham gia EEC Hiệp ước Roma thành lập EEC nói rằng bất cứ nước châu Âu nào cũng có thể nộp đơn xin gia nhập EEC Nhưng trên thực tế thì dân chủ, nhân quyền và một chính sách kinh tế theo hướng thị trường tự do là những đòi hỏi tiên quyết Ba nước kể trên đều có vấn đề về dân chủ và nhân quyền Ngoài ra, nền kinh tế của họ cũng nghèo kém hơn các nước thành viên EEC Hy Lạp, chỉ sau khi chính phủ dân sự được lập lại vào năm 1974, nước này đã thuyết phục EEC rằng tư cách thành viên EEC sẽ giúp Hy Lạp xây dựng lại nền dân chủ và kinh tế Và do vậy, Hy Lạp đã được chấp nhận và trở thành thành viên thứ 10 của EEC vào năm 1981 Cũng tương tự, ở Bồ Đào Nha, sau khi chính quyền độc tài Caetano bị lật đổ năm 1973 và thiết lập một chính quyền dân sự, ở Tây Ban Nha sau khi Franco chết năm 1975 thì EEC mới xem xét nghiêm túc đến vấn đề thành viên của hai nước EEC cho rằng cũng như Hy Lạp, việc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là thành viên EEC sẽ khuyến khích dân chủ trên bán đảo Iberian và giúp liên kết hai nước này gần gũi hơn với Tây Âu
và NATO Năm 1986 hai nước này đã trở thành thành viên của EEC, nâng tổng
số thành viên từ 10 lên 12 nước
Việc tăng thành viên lên gấp đôi đã có những hiệu quả tích cực về kinh tế
và chính trị Nó giúp tăng cường ảnh hưởng của EEC vì lúc này EEC là khối kinh tế rộng lớn nhất thế giới Nhưng nó cũng làm giảm ảnh hưởng bao trùm của Pháp và Đức Việc các nước nghèo ở Địa Trung Hải gia nhập cộng đồng cũng
đã làm thay đổi cán cân kinh tế nội bộ khi các nước mới gia nhập kém phát triển
và ít sự tương đồng hơn so với các nước gia nhập trước đó
Lần mở rộng thứ ba
Trang 33Sau khi Anh, Đan Mạch và Ireland gia nhập EEC, các nước còn lại kể cả các nước theo đuổi chính sách trung lập như Thụy Điển, Áo, Phần Lan cũng lần lượt xin làm thành viên không đầy đủ của EEC, quan hệ kinh tế thương mại giữa
họ với EEC còn phát triển mạnh mẽ hơn nhiều so với trong nội bộ EFTA Thực
tế, do sự gần gũi về địa lý và chính trị, mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa EEC và EFTA được xúc tiến mạnh mẽ dưới nhiều hình thức như đầu tư trực tiếp, liên doanh và hợp tác kỹ thuật Ngoài ra, hợp tác về giao thông và môi trường cũng
đã có những phát triển mới Một bước tiến quan trọng nữa trong sự hợp tác giữa EEC và EFTA là thiết lập Khu vực kinh tế châu Âu (Europe Economic Area)
Chiến tranh lạnh kết thúc, tư cách trung lập không còn là sự cản trở các nước tham gia EEC Ba nước lần lượt xin gia nhập tổ chức này: Áo (1989), Thụy Điển (1991) và Phần Lan (1992) Việc đàm phán về tư cách thành viên giữa cộng đồng châu Âu và 3 nước kể trên không gặp vấn đề, trở ngại nào Các nước này là thành viên EFTA có quan hệ kinh tế với EEC khá mật thiết, nhất là sau khi hai nhóm nước thiết lập Khu vực kinh tế châu Âu (EEA) Một vài số liệu
cụ thể: 55% hàng xuất khẩu của EFTA là sang EEC; 26% hàng xuất khẩu của EEC là sang EFTA Hơn nữa các nước này đều là những quốc gia giàu có và ổn định, họ chỉ phải điều chỉnh rất ít để hòa nhập vào thị trường nội địa EEC, thậm chí có những điều chỉnh "xuống" Ví dụ: Thụy Điển là nước có những quy định
về môi trường chặt chẽ hơn các nước EEC nên không muốn cho phép những loại
ô tô chạy đường nội địa EEC kém kiểm soát về ô nhiễm vận chuyển qua nước mình[23]
Lần mở rộng thứ tư
Vào tháng 12 năm 2000, các nhà lãnh đạo EU đã ký kết Hiệp ước Nice để
mở đường cho việc mở rộng hơn nữa của EU, chủ yếu đến phía đông châu Âu Bắt đầu có hiệu lực vào năm 2003, Hiệp ước Nice đặt ra các cải cách nội bộ, thể chế để cho phép Liên minh chấp nhận các thành viên mới và vẫn có thể hoạt động hiệu quả
Trang 34Vào tháng 3 năm 1998, EU bắt đầu đàm phán gia nhập với Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Ba Lan và Slovenia Vào tháng 12 năm 1999, EU
đã quyết định mở đàm phán với sáu nước khác: Bulgaria, Latvia, Lithuania, Malta, Romania và Slovakia Vào tháng 12 năm 2001, EU đã thông báo rằng
10 nước trong số này - Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Malta, Ba Lan, Slovakia và Slovenia - có khả năng kết thúc đàm phán gia nhập vào cuối năm 2002 Các cuộc đàm phán năm 2002 với 10 ứng cử viên về các vấn đề còn lại như hỗ trợ nông nghiệp và khu vực đã tỏ ra khó khăn vì họ đã nêu ra các vấn đề về ngân sách và chia sẻ gánh nặng Một thỏa thuận cuối cùng
đã đạt được, tuy nhiên, và EU đã kết thúc đàm phán gia nhập với tất cả 10 tại hội nghị thượng đỉnh tháng 12 năm 2002 Hiệp ước gia nhập đã được ký kết với 10 quốc gia vào ngày 16 tháng 4 năm 2003, và họ gia nhập EU vào ngày 1 tháng 5 năm 2004
Lần mở rộng thứ năm
Vào tháng 12 năm 2004, EU đã hoàn tất đàm phán gia nhập với Bulgaria và Romania, mặc dù một số quan ngại của EU liên tục về tình trạng cải cách tư pháp và nỗ lực chống tham nhũng ở cả hai nước Bulgaria và Romania chính thức gia nhập EU vào ngày 1 tháng 1 năm 2007 đã nâng số thành viên EU lên 27
Lần mở rộng thứ sáu
Vào tháng 6 năm 2004, Croatia là ứng cử viên chính thức cho tư cách thành viên EU Vào thời điểm đó, EU khẳng định rằng Croatia vẫn cần tiến bộ thêm một số điều kiện tiên quyết chính trị cho các thành viên liên quan đến các vấn đề như quyền thiểu số, cải cách tư pháp và việc bắt giữ các tội phạm chiến tranh xuất phát từ các cuộc xung đột Balkan của thập niên 1990 Vào tháng 12 năm 2004, EU tuyên bố sẽ mở đàm phán gia nhập với Croatia vào tháng 3/2005, với điều kiện Croatia đã chứng minh "hợp tác đầy đủ" với Tòa án Hình sự Quốc
tế đối với Nam Tư cũ (ICTY) Tuy nhiên, việc bắt đầu các cuộc đàm phán gia nhập đã bị trì hoãn, bởi vì một số thành viên EU không tin rằng Croatia đang
Trang 35hợp tác đầy đủ với ICTY trong việc bắt giữ một nghi phạm tội phạm chiến tranh nổi bật
Các cuộc đàm phán gia nhập EU với Croatia cuối cùng đã được mở vào tháng 10 năm 2005, sau một quyết định rằng Croatia tuân thủ đầy đủ với ICTY Vào tháng 6 năm 2011, EU đã ký kết các cuộc đàm phán gia nhập với Croatia
EU và Croatia đã ký Hiệp ước gia nhập vào tháng 12 năm 2011 Tất cả các quốc gia thành viên EU đã phê chuẩn hiệp ước gia nhập Croatia vào tháng 6 năm
2013 Croatia trở thành quốc gia thành viên thứ 28 của EU vào ngày 1 tháng 7 năm 2013
2.1.2 Quá trình mở rộng EU về phía Đông
Giai đoạn 1 (1988 – 1994) EU bảo trợ cho sự cải cách ở Trung và Đông
Âu Ngay từ năm 1988 tại cuộc họp của Hội đồng châu Âu tại Rohode, các nước
EU đã thống nhất với nhau rằng EU là một lực hút kinh tế có thể kéo Đông Âu tiến tới một khu vực thịnh vượng chung mới của các dân tộc tự do EU trở thành trung tâm bảo trợ cho làn sóng cải các ở đây và điều này được chính thức hóa tại hội nghị cấp cao G7 năm 1989 Ngay sau đó, tháng 12/1989, EU đã phát động chương trình hành động cho sự phục hồi kinh tế của Ba Lan và Hungari (PHARE), sau đó PHARE đang tiếp tục được mở rồn cho các nước Đông Âu khác Năm 1990, chương trình đã trợ giúp Đông Âu 600 triệu USD, năm 1991 là
974 triệu USD và năm 1992 là 1,2 tỷ USD Tiếp theo, EU đã ký với hầu hết các nước Đông Âu hiệp định hợp tác thương mại Ngân hàng đầu tư Châu Âu dự trữ hàng tỷ đô la sẵn sàng cung cấp tín dụng cho Đông Âu Đặc biệt, với việc thành lập Ngân hàng tái thiết và phát triển Châu Âu (EBRD) năm 1990 với nguồn vốn
từ các nước EU, Mỹ và Nhật trong đó EU chiếm 51%, với số vốn ban đầu 12 tỷ USD nhằm giúp cho các thành phần kinh tế tư nhân ở các nước Đông Âu Chỉ riêng năm 1992, EBRB đã thông qua các dự án trị giá 1,3 tỷ USD trợ giúp các nước này Đây có thể coi như một ―kế hoạch Marshall‖ dành cho Đông Âu sau thời kì chiến tranh Lạnh Điều đó cũng nói lên quan tâm của EU khuyến khích
Trang 36các nước Đông Âu phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế tư nhân mà họ cho là đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường tự do [10; tr.8]
EU kí Hiệp định châu Âu (Europe Agreements) năm 1990 với các nước
Ba Lan, Hungari, Séc, Slovakia, Rumani, Bungari, các nước này sẽ thực hiện tự
do hóa thương mại trong công nghiệp kể cả những sản phẩm như hàng dệt và sắt thép Với ý nghĩa chiến lược trong việc thu hút các nước Đông Âu tham gia vào quỹ đạo của mình, EU phải chịu gánh nặng về tài chính cho tiến trình này cũng như phải có những chính sách ưu tiên cho các nước nói trên Bằng việc mở cửa thị trường cho hàng xuất khẩu của Đông Âu, EU đã góp phần làm sống động hoạt động kinh tế của khu vực này Có tới gần 80% hàng xuất khẩu của Trung – Đông Âu sang thị trường EU, chỉ 5% là xuất sang Mỹ Theo các nghiên cứu của
Ủy ban châu Âu, chỉ riêng việc cải cách công nghiệp và phát triển hạ tầng cơ sở của 10 nước Trung – Đông Âu thì EU đã phải chi thêm 5 tỷ USD trong ngân sách mỗi năm của mình [10; tr.8] Ngoài ra, những trợ giúp về kỹ thuật, pháp lý, mạng lưới thông tin toàn châu Âu, nâng cấp các khoa, các trường đại học, những điều kiện cần thiết để Đông Âu hào nhập EU là những khoản chi rất lớn
Qua đó cho thấy EU rất quan tâm đến việc làm cho các đối tác mới tương đồng về kinh tế khi tham gia EU hơn là những lợi ích kinh tế mà các đối tác này
có thể mang lại Nhưng điều đó không có nghĩa là EU không có những lợi ích kinh tế nào trong tiến trình mở rộng về phía Đông Khi xuất khẩu hàng sang EU thì các nước Đông Âu cũng phải chấp nhận và tuân theo những quy định của
EU Một mặt làm cho các nước này dần đi tới chuẩn mực chung của EU Đồng thời, khi Đông Âu chấp nhận những luật lệ và các mô hình pháp lý đó, về cơ bản
sẽ làm lợi cho các công ty của EU trong việc xâm nhập vào thị trường của các nước Trung-Đông Âu với một lợi thế mà các đối tác khác không có được
Hiệp định Châu Âu tại Copenhagen 1993 đã đưa ra cho tất cả các quốc gia Châu Âu đảm bảo những tiêu chuẩn sau:
- Thể chế ổn định để đảm bảo dân chủ, nguyên tắc luật pháp, nhân quyền
và tôn trọng, bảo vệ người thiểu số
Trang 37- Có nền kinh tế thị trường vận hành tốt cũng như khả năng chịu được sức
ép cạnh tranh và các sức mạnh thị trường trong liên minh
- Khả năng chấp nhận những nghĩa vụ thành viên, bao gồm cả việc gắn với các mục tiêu liên minh kinh tế, tiền tệ và chính trị [3; tr.85]
Để chuẩn bị các nước sau đại hội để hội nhập trong tương lai vào EU, các chương trình hỗ trợ phức tạp và các khuôn khổ điều kiện đã được phát triển và các nguồn lực đáng kể đã được cam kết Mục đích của các chính sách này là tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi kinh tế, khóa lợi nhuận dân chủ, giảm thiểu triển vọng xung đột trong nước và các mối đe dọa an ninh xuyên biên giới, và tiếp tục hỗ trợ tăng cường dân chủ trong khu vực Trong nhiều khía cạnh, đây là một trong những cơ chế khuyến khích dân chủ nhất quán và mạnh mẽ từng được phát triển Triển vọng của các thành viên EU đã trở thành trung tâm thúc đẩy dân chủ, cung cấp các ưu đãi mạnh mẽ đã định hình các ưu đãi chính sách, danh tính và chương trình nghị sự của các diễn viên chính trị khu vực Nỗ lực của EU
kể từ đầu những năm 1990 đều tập trung hỗ trợ quá trình chuyển đổi cho nền kinh tế thị trường và tăng cường năng lực quản trị sự hiện diện của các thể chế dân chủ
Giai đoạn 2 (1994 – 1997), cụ thể hóa chiến lược mở rộng
Năm 1994, Hội nghị Thượng đỉnh tại Ensen phê duyệt Chiến lược chuẩn
bị kết nạp các thành viên mới, đây là mốc đánh dấu việc EU chuyển sang chiến lược tiền hội nhập Từ năm 1994-1996, các nước CEE lần lượt đệ đơn xin gia nhập EU Năm 1997, Ủy ban châu Âu đưa ra Chương trình Nghị sự 2000, nhằm tăng tốc quá trình gia nhập của 10 quốc gia ứng viên Chương trình này bao gồm những cải tổ về thể chế, về chính sách ngân sách của EU, đặc biệt là chi tiêu cho chính sách nông nghiệp chung và quỹ cơ cấu để chuẩn bị cho việc kết nạp thành viên mới cũng như cam kết hỗ trợ tài chính cho các nước ứng viên trước và sau khi gia nhập, giai đoạn 2000-2006
Giai đoạn 3 (1998 - 2013) quá trình đàm phán và gia nhập EU của 13 nước Đông Âu
Trang 38Vào tháng 12 năm 2000, các nhà lãnh đạo EU đã ký kết Hiệp ước Nice để
mở đường cho việc mở rộng hơn nữa của EU, chủ yếu đến phía đông châu Âu Bắt đầu có hiệu lực vào năm 2003, Hiệp ước Nice đặt ra các cải cách nội bộ, thể chế để cho phép Liên minh chấp nhận các thành viên mới và vẫn có thể hoạt động hiệu quả Đặc biệt, nó mở rộng hệ thống bỏ phiếu đa số trong Hội đồng Bộ trưởng của EU (đại diện cho các nước thành viên) cho một số lĩnh vực chính sách bổ sung trước đó đã yêu cầu nhất trí và tái cấu trúc Ủy ban châu Âu
Từ 1998 đến 2004, quá trình gia nhập của 12 nước Đông Âu (từ EU-15 đến EU-27) Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, EU đã làm việc với các nước cộng sản cũ của Trung và Đông Âu để cải cách hệ thống chính trị và nền kinh tế của họ nhằm đáp ứng các tiêu chí thành viên của EU EU đã mở rộng sang phía đông châu Âu như hoàn thành một cam kết lịch sử để tiếp tục hội nhập của lục địa bằng các phương tiện hòa bình, vượt qua hàng thập kỷ phân chia nhân tạo,
và giúp làm cho châu Âu "toàn bộ và tự do." Síp và Malta cũng bày tỏ sự quan tâm tham gia EU Vào tháng 3 năm 1998, EU bắt đầu đàm phán gia nhập với Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Ba Lan và Slovenia Vào tháng 12 năm
1999, EU đã quyết định mở đàm phán với sáu nước khác: Bulgaria, Latvia, Lithuania, Malta, Romania và Slovakia Vào tháng 12 năm 2001, EU đã thông báo rằng 10 nước trong số này - Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Malta, Ba Lan, Slovakia và Slovenia - có khả năng kết thúc đàm phán gia nhập vào cuối năm 2002 Các cuộc đàm phán năm 2002 với 10 ứng cử viên
về các vấn đề còn lại như hỗ trợ nông nghiệp và khu vực đã tỏ ra khó khăn vì họ
đã nêu ra các vấn đề về ngân sách và chia sẻ gánh nặng Một thỏa thuận cuối cùng đã đạt được, tuy nhiên, và EU đã kết thúc đàm phán gia nhập với tất cả 10 tại hội nghị thượng đỉnh tháng 12 năm 2002 Hiệp ước gia nhập đã được ký kết với 10 quốc gia vào ngày 16 tháng 4 năm 2003, và họ gia nhập EU vào ngày 1 tháng 5 năm 2004
Vào tháng 12 năm 2004, EU đã hoàn tất đàm phán gia nhập với Bulgaria
và Romania, mặc dù một số quan ngại của EU liên tục về tình trạng cải cách tư
Trang 39pháp và nỗ lực chống tham nhũng ở cả hai nước Bulgaria và Romania chính thức gia nhập EU vào ngày 1 tháng 1 năm 2007 đã nâng số thành viên EU lên
27
Từ năm 2001 đến 2013, quá trình gia nhập EU của Croatia Croatia, từng
là một phần của Nam Tư cũ, đã ký kết một Hiệp định Ổn định (SAA) với EU vào năm 2001 SAA được coi là bước đầu tiên hướng tới thành viên EU đối với các nước vùng Tây Balkan SAA của Croatia đặt ra các thông số cho quan hệ Croatia-EU, bao gồm việc cung cấp hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của EU hướng tới giúp Croatia đáp ứng các tiêu chí chính trị và kinh tế cho việc gia nhập EU Croatia đã đệ đơn xin gia nhập EU vào tháng 2 năm 2003
Vào tháng 6 năm 2004, EU đã đặt tên Croatia là ứng cử viên chính thức cho tư cách thành viên Vào thời điểm đó, EU khẳng định rằng Croatia vẫn cần tiến bộ thêm một số điều kiện tiên quyết chính trị cho các thành viên liên quan đến các vấn đề như quyền thiểu số, cải cách tư pháp và việc bắt giữ các tội phạm chiến tranh xuất phát từ các cuộc xung đột Balkan của thập niên 1990 Vào tháng 12 năm 2004, EU tuyên bố sẽ mở đàm phán gia nhập với Croatia vào tháng 3/2005, với điều kiện Croatia đã chứng minh "hợp tác đầy đủ" với Tòa án Hình sự Quốc tế đối với Nam Tư cũ (ICTY) Tuy nhiên, việc bắt đầu các cuộc đàm phán gia nhập đã bị trì hoãn, bởi vì một số thành viên EU không tin rằng Croatia đang hợp tác đầy đủ với ICTY trong việc bắt giữ một nghi phạm tội phạm chiến tranh nổi bật
Các cuộc đàm phán gia nhập EU với Croatia cuối cùng đã được mở vào tháng 10 năm 2005, sau một quyết định rằng Croatia tuân thủ đầy đủ với ICTY Các cuộc đàm phán gia nhập của Croatia bị đình trệ, tuy nhiên, vào tháng 12 năm 2008 khi thành viên EU láng giềng Slovenia bắt đầu ngăn chặn việc mở và đóng cửa một số chương của vụ chuyển nhượng giữa một cuộc tranh chấp biên giới Vào tháng 9 năm 2009, Slovenia đã đồng ý giải quyết vấn đề biên giới riêng biệt, tách nó ra khỏi giá thầu thành viên EU của Croatia và do đó cho phép đàm phán gia nhập để tiếp tục