1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ của vương triều ayutthaya với đại việt thế kỷ XVI XVIII

59 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 807,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ với Xiêm đến trước thế kỉ XX, nhất là giai đoạn thế kỉ XVI - XVIII được các chúa Nguyễn lưu tâm Thái Lan là một quốc gia láng giềng thân thiết với Việt Nam và đã có nhiều gắn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

======

DƯƠNG XUÂN CƯƠNG

QUAN HỆ CỦA VƯƠNG TRIỀU AYUTTHAYA VỚI ĐẠI VIỆT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

======

DƯƠNG XUÂN CƯƠNG

QUAN HỆ CỦA VƯƠNG TRIỀU AYUTTHAYA VỚI ĐẠI VIỆT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo - Th.S Nguyễn Thị Ngọc Thảo, người đã hướng dẫn em trong suốt thời gian làm khóa luận Cô không quản ngại vất vả, trong suốt quá trình Cô luôn tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn em để

em hoàn thành tốt khóa luận của mình Một lần nữa em xin chân thành cảm

ơn Cô, chúc Cô và gia đình luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong cuộc sống cũng như sự nghiệp của mình

Vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của bài khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo thêm của quý Thầy, Cô Đó là hành trang quý giá giúp em hoàn thiện bản thân sau này

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè luôn đồng hành cùng em, để em có thể hoàn thành tốt khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Dương Xuân Cương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện,

có sự giúp đỡ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các thông tin sử dụng trong Khóa luận đều có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Dương Xuân Cương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Cấu trúc của đề tài 6

NỘI DUNG 7

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ AYUTTHAYA VỚI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XVI - XVIII 7

1.1 Bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á thế kỉ XVI - XVIII 7

1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Vương triều uttha a thế kỉ XVI - XVIII 8

1.3 Tình hình kinh tế - xã hội ở Đại Việt thế kỉ XVI - XVIII 11

1.4 Mối quan hệ của vương triều uttha a với Đại Việt trước thế kỉ XVI - XVIII 19

TIỂU KẾT 22

Chương 2: MỐI QUAN HỆ CỦ VƯƠNG TRIỀU AYUTTHAYA VỚI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XVI - XVIII 23

2.1 Mối quan hệ bang giao và triều cống giữa vương triều uttha a và Đại Việt 23

2 1 1 Ch nh sách bang giao của vương triều uttha a 23

2 1 2 Ch nh sách ngoại giao của các vương triều Đại Việt 25

2 1 3 ối quan hệ bang giao 26

2 1 4 ối quan hệ triều cống 29

Trang 6

2.2 Quan hệ thương mại giữa vương triều uttha a với Đại Việt 30

2 2 1 Các thương ph m xuất nhập chủ ếu 30

2 2 2 Các m t hàng độc qu ền 36

2 2 3 ối quan hệ của vương triều uttha a với Đại Việt trong tương quan với các quốc gia Đông Nam Á khác 37

2.3 Mối quan hệ chính trị - quân sự của vương triều uttha a với Đại Việt 41

TIỂU KẾT 48

ẾT U N 49

D NH C T I IỆU THAM KHẢO 51

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hoạt động ngoại giao có vai trò và vị trí rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, một đất nước Các quốc gia muốn tồn tại và phát triển một cách hưng thịnh thì phải có các mối quan hệ Vì vậy trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, việc mở rộng quan hệ đối ngoại, thiết lập mối quan hệ đa phương trở thành một trong những điều kiện phát triển của mỗi quốc gia

Trong lịch sử, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực Các mối quan hệ nà đều có vai trò nhất định trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, tuỳ vào mối quan hệ với từng quốc gia, trong những thời kì lịch sử cụ thể Vào thời kì phong kiến, trong điều kiện cách trở về địa lí, thông tin liên lạc cũng như giao thông chưa phát triển, quan hệ với các nước láng giềng gần kề rất được coi trọng Mối quan hệ với Xiêm đến trước thế kỉ XX, nhất là giai đoạn thế kỉ XVI - XVIII được các chúa Nguyễn lưu tâm

Thái Lan là một quốc gia láng giềng thân thiết với Việt Nam và đã có nhiều gắn kết trong lịch sử Bước sang thế kỷ XXI, tình hình thế giới và khu vực có nhiều phức tạp Xu hướng ngoại giao đa phương, đa dạng; chú trọng phát triển mối quan hệ với các nước láng giềng và trong khu vực Vậy nên, việc nghiên cứu mối quan hệ lịch sử Ayutthaya - Đại Việt có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và thời sự sâu sắc Nghiên cứu sự kiện lịch sử để hiểu đúng bản chất là điều cần thiết và nhất là mối quan hệ của quá khứ có liên quan đến hiện tại của hiện nay Những bài học trong mối quan hệ trong lịch sử có thể góp phần nhận thức và giải quyết những mối quan hệ hiện tại về m t thương mại, ngoại giao cho ngày nay Việc chọn đề tài nà cũng góp phần giúp người viết thu thập tư liệu, phục vụ trong việc giảng dạy ở trường Trung học phổ thông và mở rộng phạm vi nghiên cứu về sau Với những l do như vậ , tôi đã

Trang 8

chọn đề tài “Quan hệ của vương triều Ayutthaya với Đại Việt thế kỷ XVI

- XVIII” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quan hệ của Ayutthaya với Đại Việt là một trong những mối quan hệ được chính quyền phong kiến hai bên xem trọng, đ c biệt trong giai đoạn từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII Nhìn chung đó là mối quan hệ bang giao hoà hiếu, diễn ra trên nhiều lĩnh vực và có tính liên tục

Mối quan hệ giữa hai nước đã được ghi lại trong nhiều bộ sử, qua các thời kì khác nhau Đó là những tư liệu, có thể cung cấp cho chúng ta những sự kiện chủ yếu trong quan hệ giữa hai nước thế kỉ XVI - XVIII

Đầu tiên phải nói đến bộ “Phủ biên tạp lục” của lê Quý Đôn gồm 6

quyển, được viết vào năm 1776, lúc ông đang giữ chức Tham tán quân cơ ở Thuận Quảng Bộ sách ghi chép về hai đạo Thuận Hóa và Quảng Nam trên nhiều m t từ cảnh quan môi trường, địa lý hành chính, sản vật, phong tục đến

lệ thuế má, nhân vật, Bộ sách ngoài phần điểm lại quá trình dựng nghiệp của Nguyễn Hoàng ở Thuận Hóa và đối đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài, có phần ghi chép về công cuộc mở đất về phía Nam của triều đình phong kiến Đàng Trong Tác ph m được xem là một bộ Đại Lý - lịch sử phong phú về hai

xứ Thuận - Quảng thế kỷ XVI - XVIII

“Đại Nam thực lục” của Quốc sứ quán triều Nguyễn được vua Minh

Mạng cho tiến hành biên soạn năm 1821, gồm hai phần: Đại Nam thực lục tiền biên ghi chép giai đoạn lịch sử từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam (1558) đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1777); Đại Nam thực lục quyền lực dòng

họ (1777) đến khi vua Đồng Khánh mất (1889) Bộ sách là một tập hợp các ghi chép dưới dạng biên niên về những sự việc cụ thể, những lời nói, việc làm vua, lời tâu trình của quần thần, việc nội trị, ngoại giao; trong đó có mối quan

hệ với Ayutthaya

Trang 9

Tập hợp các nguồn tư liệu cổ khác nhau về mối quan hệ Đại Việt với các nước trong khu vực, công trình Thư tịch cổ Việt Nam về Đông Nam Á do tác giả Nguyễn Lệ Thi biên soạn là nguồn tư liệu phong phú Đâ là công trình tập hợp các sự kiện chính trong quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á được ghi chép trong các thư tịch cổ như Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục, Đại Việt liệt truyện, Đại Việt sử k toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Nội dung tư liệu bao quát trên tất cả các m t trong quan

hệ giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á về kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự,

Nghiên cứu về chính sách ngoại giao của Đại Việt qua các thời kì có bộ Bang giao Đại Việt của tác giả Nguyễn Thế Long Bộ sách gồm 5 tập, tương ứng với các thời kì lịch sử như Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý, Trần - Hồ, Lê - Mạc - Lê Trung Hưng, Tâ Sơn, Ngu ễn Quan hệ bang giao giữa Đại Việt với các nước trong khu vực đã được trình bày chi tiết trong tác ph m Trong

đó, tác ph m có nói về bang giao giữa Đại Việt với Ayutthaya (Xiêm) Tuy nhiên, tư liệu mối quan hệ giữa Ayutthaya với Đại Việt thế kỷ XVI - XVIII còn rất ít

Cuốn Lịch sử Đông Nam Á của D.G.E Hall là tác ph m nghiên cứu nhiều vấn đề về lịch sử các nước năm trong khu vực Đông Nam Á, dựng nên bức tranh sinh động về lịch sử, bối cảnh các nước Đông Nam Á trong thế Kỷ XVI - XVIII

Cũng nghiên cứu lịch sử các nước trong khu vực Đông Nam Á, tác

ph m lược sử Đông Nam Á do Phan Ngọc Liên chủ biên cung cấp tư liệu mang tính khái quát về lịch sử các nước trong đó có Đại Việt và Ayutthaya

Nghiên cứu về quá trình mở rộng lãnh thổ có cuốn Việt sử xứ Đàng Trong của tác giả Phan Khoang Tác ph m như là một tấm lược đồ vẽ lại đường đi của tiền nhân khoảng 400 năm trước trong công cuộc kh n hoang

Trang 10

lập ấp ở miền đất mới Quá trình xác lập chủ quyền ở vùng đất Nam Bộ, trong

đó có vấn đề bang giao với uttha a cũng được trình bày

Cuốn Lịch sử Thái Lan của tác giả Phạm Nguyên Long, Nguyễn Tương Lai nói về đất nước, con người Thái Lan từ lập quốc đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX Tác ph m đã nói đến quá trình hình thành, bang giao các mối quan hệ của Ayutthaya với các quốc gia trong khu vực

Ngoài ra, còn có các bài viết trong các kỷ yếu hội thảo khoa học Các tạp chí nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Qua toàn bộ các bài viết trong kỷ yếu hội thảo khoa học, các tạp chí, người đọc có thể khái quát được nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ Ayutthaya với Đại Việt trong giai đoạn từ thế kỷ XVI - XVIII

3 Mục ti u và nhiệ vụ nghi n cứu

Mục đ ch của việc nghiên cứu là tìm hiểu quan hệ của Ayutthaya với Đại Việt trong lịch sử trên các lĩnh vực: bang giao, triều cống, thương mại, chính trị - quân sự; làm rõ bối cảnh, diễn tiến, tình hình đ c điểm, những bài học lịch sử qua mối quan hệ đó

Thứ nhất: Tìm hiểu khái quát được tình hình Đông Nam Á trong thế kỷ XVI – XVIII từ đó để làm rõ hơn mối quan hệ giữa vương triều Ayutthaya với Đại Việt

Thứ hai: Tìm hiểu về tình hình kinh tế - xã hội hai quốc gia thế kỷ XVI – XVIII, các chính sách bang giao, ngoại giao của vương triều Ayutthaya và Đại Việt

Thứ ba: Đi sâu và tìm hiểu về mối quan hệ: bang giao, triều cống, thương mại, chính trị - quân sự giữa hai quốc gia đề từ đó có thể rút ra những điểm tích cực và tiêu cực

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Khóa luận tập trung nghiên cứu và làm rõ mối quan hệ giữa vương triều Ayutthaya với Đại Việt thế kỷ XVI – XVIII để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho mối quan hệ hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Khóa luận cung cấp những thông tin cơ bản về tình hình hai nước uttha a và Đại Việt (về Đại Việt chủ yếu là khu vực Đàng Trong do các chúa Nguyễn cai quản, Đàng ngoài nhắc tới t hơn), khu vực Đông Nam Á trong thế kỷ XVI – XVIII, các mối quan hệ xung quanh khu vực Đông Nam Á: Đông Bắc Á…

Thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu mối quan hệ của vương triều Ayutthaya với Đại Việt trong khoảng thời gian bắt đầu từ thế kỷ XVI cho đến năm 1767 khi vương triều Ayutthaya sụp đổ

5 Phương pháp nghi n cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp lịch sử: Đâ là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong khoá luận, nhất là phần nghiên cứu diễn biến mối quan hệ của Ayutthaya với Đại Việt Theo chiều lịch sử, mối quan hệ nà được tái hiện từ mối quan hệ bang giao, triều cống, quan hệ thương mại, chính trị quân sự giữa Ayutthaya với Đại Việt

- Phương pháp logic: Đ t mối quan hệ của Ayutthaya với Đạt Việt trong bối cảnh cả hai nước theo từng giai đoạn lịch sử, cũng như bối cảnh khu vực Đông Nam Á

- Phương pháp liên ngành: khai thác nguồn tư liệu, kế thừa kết quả nghiên cứu thuộc các ngành khoa học khác nhau: sử học, dân tộc học, văn hoá,…

Trang 12

6 Đóng góp của đề tài

Khóa luận tái hiện khái quát bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á thế kỉ XVI - XVIII, tình hình kinh tế - xã hội của vương triều Ayutthaya và Đại Việt, mối quan hệ Ayutthaya với Đại Việt từ trước thế kỉ XVI và đi vào nội dung chính là quan hệ Ayutthaya từ thế kỉ XVI đến năm 1767 khi vương triều Ayutthaya bị sụp đổ

Các kết quả nghiên cứu của khóa luận đã góp phần thúc đ hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp vốn có giữ hai dân tộc Thái Lan - Việt Nam, củng cố cho

ch nh sách đối ngoại giữa Việt Nam - Thái Lan càng thân thiện hơn, đồng thời

đ t ra một vấn đề mới trong hoạt động nghiên cứu về lịch sử mối quan hệ giữa hai nước

7 Cấu tr c của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phụ lục tiểu kết và tài liệu tham khảo, khóa luận

có 2 chương nội dung:

Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Ayutthaya với Đại Việt thế kỉ XVI - XVIII

Chương 2: ối quan hệ của vương triều uttha a với Đại Việt thế kỉ XVI - XVIII

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1:

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ AYUTTHAYA VỚI

ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XVI - XVIII 1.1 Bối cảnh chung của khu vực Đông Na Á thế kỉ XVI - XVIII

Đông Nam Á là một khu vực chia làm hai phần rõ rệt Phần lục địa gọi

là bán đảo Trung - Ấn, phần còn lại là hải đảo theo cách gọi của người Trung Hoa gọi là Nam Dương Đông Nam Á lục địa thế kỉ XVI - XVIII là khu vực các cứ, rất nhiều quốc gia thường xu ên xung đột tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau Nhưng su cho cùng Đại Việt, Xiêm, Miến Điện là những quốc gia lớn mạnh nhất, bản thân những quốc gia lớn nà cũng hoàn toàn chưa thống nhất Những quốc gia nhỏ như anna, i ao, Chân ạp,… trở thành miếng mồi ngon, đâ là ngu ên nhân ch nh dẫn đến sự đụng độ giữa Đại Việt - Xiêm và giữa Xiêm - Miến Điện

Đến thế kỷ XVI, ở các nước Đông Nam Á cơ bản vẫn là xã hội phong kiến Nhưng ở thời điểm nà đã có sự xuất hiện của chủ nghĩa thực dân ở khu vực, việc này tạo ra sự tha đổi cho quá trình phát triển của Đông Nam Á Sau các cuộc phát kiến địa lý, các nước phương Tâ lần lượt xây dựng các điểm buôn bán, những trạm tiếp tế cho các hạm thuyền ở một số địa điểm của Đông Nam Á Trong quá trình phát triển, cácquốcgia đều tiến hành thiết lập mối quan hệ với các nước khác Đồng thời, trên bước đường xác lập, xây dựng, phát triển mỗi quốc gia đều có nhu cầu khẳng định mình, mở rộng lãnh thổ và phạm vi ảnh hưởng nên không tránh khỏi những cuộc tranh chấp, xung đột Tình trạng hòa bình và chiến tranh thường diễn ra tại quốc gia dân tộc khu vực Đông Nam Á Từ thế kỷ XVI - XVIII vương quốc Ayutthaya phát triển mạnh, dẫn đến sự tha đổi lớn trong khu vực Chính sách ngoại giao đầy tham vọng của các vương triều uttha a đe dọa nghiêm trọng độc lập, chủ quyền

Trang 14

của các nước lân cận Với Đại Việt tu đôi lúc có sự tranh chấp với Ayutthaya tuy nhiên hai quốc gia nhanh chóng phát triển đi đến lợi ích chung của mỗi quốc gia và đã có mối quan hệ với nhau trên nhiều lĩnh vực

1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Vương triều Ayutthaya thế kỉ XVI - XVIII

Vào thế kỉ XIII, trước áp lực xâm lược của đội quân Mông Cổ một bộ phận người Thái ở thượng nguồn sông ê ông đã chu ển xuống phía nam Luồng thiên di đó đã tạo ra nhiều sáo trộn trong tình hình kinh tế và chính trị của Xiêm Vào những năm đầu thế kỉ XIV, lịch sử vương quốc Thái an đã diễn ra nhiều biến động lớn Sau cái chết của người anh hùng Rakhămhẻng, bản thân vương triều trước uttha a là Sukhothai đã bộc lộ những dấu hiệu của sự su vong dưới thời con trai của nhà vua ơtha (1317 - 1347) Ngay vào thời kì trị vì của vị vua mới nà , Nam ianma đã tách khỏi vương quốc Mianma và hình thành một đạo quân rất mạnh tàn xuống tấn công vào quân đội ơtha Đến năm 1347, lợi dùng tình trạng lộn xộn khi Lithay lên ngôi Chaixiri II đã mở rộng ảnh hưởng của mình và vào năm 1350, ông đã xâ dựng trên một hòn đảo gần địa điểm hợp lưu của sông Mê Nam và Paxak một kinh đô mới Ayutthaya và lấy danh hiệu là Rama Thipbôđi I, mở đầu cho vương triều Ayutthaya tồn tại suốt 416 năm trong lịch sử Thái Lan

Giai đoạn thế kỉ XVI - XVIII về kinh tế: Người Ayutthaya với một nguồn lương thực dồi dào Nông dân trồng lúa để tiêu thụ và trả thuế Phần dôi dư được dùng cho các mục đ ch tôn giáo Từ thế kỉ XIII - XV một sự chuyển biến mạnh mẽ đã diễn ra trong lĩnh vực trồng lúa Ở cao ngu ên, nước được cung cấp cho ruộng bằng hệ thống thủy lợi Ở vùng thấp như Chao Phra a, nông dân đã tạo ra những ruộng nổi trên m t nước có thể nổi theo mực nước - một kĩ thuật được du nhập từ Bengal Nguồn lương thực dồi dào với giá rẻ đã khiến Ayutthaya thành một trung tâm của các hoạt động kinh tế

Trang 15

Ngoài ra các hoạt động trao đổi thương mại giữa Ayutthaya với phương Tâ

và các nước láng giềng đ c biệt với Đại Việt cực kì phát triển Ayutthaya có điều kiện tự nhiên thích hợp cho việc phát triển cả ba ngành kinh tế: nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương mại, nhất là thương mại đường biển Ayutthaya trở thành một trung tâm cung cấp lúa gạo, các sản vật và các sản

ph m, hàng hóa cho khu vực Vì vậy, “Ayutthaya vừa là một quốc gia nông nghiệp, nhưng đồng thời cũng là một quốc gia thương nghiệp, một thể chế biển phát triển ở khu vực” [18] Sự phát triển của nền kinh tế tạo nên sự thịnh

vượng cho đất nước, góp phần gây dựng nên tiềm lực vật chất để vương triều Ayutthaya có thể chủ động trong việc thiết lập, thực hiện các mối quan hệ đối ngoại

Về xã hội, vương triều uttha a đã thực hiện những chính sách và xã hội đ c biệt: Chế độ Sakdina, chế độ quản lí lao động cưỡng bức và chính sách qu định nghĩa vụ quân vụ cho nhà nước Theo đó, uttha a đã đảm bảo được tư liệu sản xuất cho các tầng lớp người thuộc giai cấp bị trị, đồng thời họ buộc phải thực hiện các nghĩa vụ quân sự và lao dịch cho nhà nước Cách thức quản lí ch t chẽ nhân lực của vương triều uttha a đã tạo nên cơ

sở xã hội vững chắc phục vụ cho quyền lợi của nhà nước phong kiến Ayutthaya, nhất là trong việc hu động nguồn nhân lực phục vụ chiến tranh

và các mục đ ch xã hội khác

Thế kỉ XVII- XVIII, nước Xiêm vẫn không ổn định Cuộc chiến tranh với Miến Điện vẫn tiếp diễn, nội bộ nước Xiêm rối loạn và phân quyền Vệc can thiệp vào Campuchia vẫn được du trì Vua (Trương Quốc nh), đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất nước Xiêm Tiếp theo là vua Chakri – Rama I khởi đầu của Hoàng gia Thái an ch đến ngày nay Từ năm 1688-

1703, tình trạng đất nước hỗn loạn liên miên Năm 1690, một người mạo danh

là em vua Nara, đã hu động dân một số huyện đến đánh kinh đô utha a

Trang 16

nhưng bất thành Hai người tỉnh trưởng khác cũng nổi dậy ở Korat và Nakhon Cuối năm 1692, hai cuộc nỗi loạn nà đã bị dập tắt Năm 1699, Korat lại nổi dây lần nữa, do một người pháp thuật lãnh đạo, có những pháp thuật kinh ngạc Sau một thời gian hoạt động, ông đã di chu ển về Lopburi cùng với 3000 quân Khi bị quân đội bao vây, thuộc hạ đã bắt nộp lãnh tụ của

họ và phong trào sụp đổ Tiếp đó, Xiêm phái một đội quân qua Campuchia để phục hồi ngôi báu, nhưng bị quân Keofa có sự giúp đở của chúa Nguyễn đánh bại Năm 1717, Xiêm lại đưa một đội quân lớn hơn đánh vào Udong, nhưng cũng bị thất bại n ng nề Khi vua Taisra chết năm 1733, triều đình lại tranh giành ngôi báu Kết cục em vua đã thắng và lên ngôi lấ vương hiệu là Maha Tammaraja II hay gọi là Boromokot Đức vua đã cai trị đất nước một cách bình ên, được xem là thời kỳ hoàng kim

Vua Boromkot còn là người bảo trợ lớn cho Phật giáo Năm 1753, vua Xâ Lan nhờ ông cử một phái đoàn Phật giáo sang làm trong sạch đạo Phật Sinhali Vua đã nhận lời và cử 15 nhà sư sang Xâ an, họ đã lập nên phái Phật giáo Suyam Wong lớn nhất ở Xâ an Trước khi mất 1768, vua đưa con thứ hai lên thay con cả Tuy vậy ông vẫn cảm thấy khó xử nên ông bỏ đi tu Sau khi giành lại độc lập từ Miến Điện vào năm 1867 Vua Taksin được đăng quang ở BangKok Tuy nhiên Xiêm lúc nà đang trong tình trạng cát cứ Ở bán đảo Malai có tỉnh trưởng Nakho tuyên bố độc lập Ở tỉnh Korat có con trai vua Boromokot chiếm giữ có tham vọng làm đế vương Còn ở tận cùng phía bắc có một nhà sư Phật giáo đã thành lập một quốc gia thần quyền gọi là vương quốc Fang Taksin có nhiều việc phải làm thống nhất đất nước Quân Miến Điện vẫn còn ở Chiengmai và còn đối phó với vua sư ở Fang Taksin quyết định đánh vào Chiengmai nhưng lại thất bại Cuộc chinh phạt đã nhanh chóng triệt hạ được vương quốc Fang Vua Sư đã chạy lên phía Bắc và không nghe nói đến nữa

Trang 17

Sau khi đánh đuổi được quân Miến Điện, Taksin bị căng thẳng, rối loạn thần kinh trở nên tàn ác Chakri trở thành người lãnh đạo chính của Hoàng cung Chakri đã thể hiện vai trò minh chủ của mình đối với Vienchan và cả uangprabang Năm 1781, ông lại tiến qua Campuchia lật lại ngôi vua cho một hoàng tử ở Bangkok mà trước đâ Đại Việt đã đưa con của Angtong lên ngôi Chakri chưa thực hiện xong nhiệm vụ thì ở trong nước có cuộc nổi loạn đòi giết vua thần kinh và chiếm ngôi Chakri về Bangkok thì cuộc nổi loạn đã

bị dập tắt Chakri được nhân dân hoan hô và yêu cầu lên làm vua Một khó khăn là vua điên vẫn còn và mới 48 tuổi Nhưng rồi, sau việc thanh trừng quân nổi loạn, Taksin cũng bị thủ tiêu và Chakri được lên ngôi với vương hiệu là Rama I và đất nước dần dần ổn định

1.3 Tình hình kinh tế - hội ở Đại Việt thế kỉ XVI - XVIII

Lịch sử của mỗi quốc gia khởi điểm từ sự hình thành nhà nước đầu tiên Nhà nước đầu tiên của Đại Việt là nhà nước Văn ang dưới thời vua Hùng, Từ năm 179 TCN đến năm 938 SCN, cư dân Đại Việt trải qua giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra chống chính quyền phương Bắc đến năm 938, bằng cuộc đại thắng trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh bại quân Nam Hán và hoàn thành sự nghiệpgiải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc mở ra thời đại độc lập

dân tộc, tự chủ và phát triển đất nước “Nó mở đầu cho một thời đại của các triều Lý, Trần, Lê, oanh liệt một thời, không chỉ sánh ngang hàng với Tống, Nguyên, Minh ở Trung Quốc mà với cả những quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới lúc bấy giờ” [15] Tình hình kinh tế - xã hội ở giai đoạn thế kỷ XVI -

XVIII đất nước bước vào giai đoạn khủng hoảng, những cuộc tranh chấp quyền lực giữa các dòng họ đã ảnh hưởng lớn tới tình hình kinh tế - xã hội của Đại Việt

Trang 18

Tình hình kinh tế:

- Nông nghiệp:

Trong một không gian lãnh thổ tương đối hạn hẹp, khả năng phát triển

kinh tế nông nghiệp có phần hạn chế, các chúa Nguyễn đã có “tầm nhìn hướng Nam và hướng Đông mạnh mẽ” [10, tr.32 - 47] Sau khoảng 2 thế kỷ,

chính quyền Đàng Trong đã mở rộng được phạm vi quản chế đến vùng hạ lưu châu thổ Mekong M t khác, như là kết quả tất yếu của ch nh sách hướng Đông, Đàng Trong đã trở thành một thể chế biển mạnh của Đông Nam Á Thành công trong việc khai phá vùng đất phương Nam cũng như ch nh sách ngoại thương táo bạo,… đã đem lại sức mạnh thực tế đồng thời khẳng định vị thế của chính quyền này trong thế đối sánh với Đàng Ngoài cũng như các quốc gia khu vực

Kinh tế Đại Việt từ cuối thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XVII, nông nghiệp sa sút, mất mùa đói kém liên miên, bị chiến tranh tàn phá Từ nửa sau thế kỷ XVII, tình hình chính trị ổn định, nông nghiệp ở Đàng Trong và Đàng Ngoài phát triển:

Ở Đàng Ngoài, nhân dân tiếp tục khai kh n đất hoang mở rộng diện

t ch đất canh tác, ở Đàng Trong, các chúa Ngu ễn khu ến kh ch nhân dân khai phá đất hoang, nhanh chóng mở rộng ruộng đồng Diện t ch ruộng đất cả nước tăng lên nhanh chóng Nhân dân hai miền ra sức tăng gia sản xuất, bồi đắp đê đập, nạo vét mương máng hông dừng lại ở các giống lúa cũ, nhân dân còn tìm cách nhân giống, tạo ra hàng chục giống lúa tẻ, lúa nếp vừa giúp bữa ăn thêm ngon, vừa cung cấp thóc gạo cho thị trường Họ cũng trồng thêm khoai, sắn, ngô, đậu, dâu, bông, m a, đa , inh nghiệm “nước, phân, cần, giống” được đúc kết thông qua thực tế sản xuất Đ c biệt ở đất Nam Bộ, đất đai, thời tiết thuận lợi, nhân dân đã biết sản xuất được nhiều thóc gạo phục vụ thị trường, nâng cao đời sống Nghề trồng vườn với nhiều loại câ ăn quả

Trang 19

ngon như dừa, xoài, dứa, khá phát triển Đâ cũng là giai đoạn gia tăng tình trạng tập trung ruộng đất vào ta giai cấp địa chủ phong kiến

Ruộng đất ở cả 2 đàng mở rộng, nhất là ở Đàng Trong: thủ lợi được củng cố, giống câ trồng ngà càng phong phú, kinh nghiệm sản xuất được đúc kết

Ở Đàng Trong: ruộng đất nhanh chóng mở rộng, đất đai phì nhiêu, thời tiết thuận lợi, trồng lúa, hoa màu, câ ăn trái Ở cả hai Đàng chế độ tư hữu ruộng đất phát triển

- Sự phát triển của công thương nghiệp:

Nghề thủ công cổ tru ền tiếp tục phát triển đạt trình độ cao: dệt, gốm, rèn sắt, đúc đồng, làm đồ trang sức ột số nghề mới xuất hiện như: khắc in bản gỗ, làm đường trắng, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài

hai mỏ - một ngành quan trọng rất phát triển ở Đàng Trong và Đàng Ngoài Các làng nghề thủ công xuất hiện ngà càng nhiều như làm giấ , gốm

sứ, nhuộm vải,… Nét mới trong kinh doanh: ở các đô thị thợ thủ công đã lập phường hội, vừa sản xuất vừa bán hàng

Nội thương: ở các thế kỷ XVI - XVIII buôn bán trong nước phát triển: Chợ làng, chợ hu ện, xuất hiện làng buôn và trung tâm buôn bán Buôn bán lớn (buôn chu ến, buôn thu ền) xuất hiện Buôn bán giữa miền xuôi và miền ngược phát triển, thóc gạo ở Gia Định được đem ra các dinh miền Trung

để bán,…

Ngoại thương phát triển mạnh

Thu ền buôn các nước Bồ Đào Nha, Hà an, Pháp, nh đến Việt Nam buôn bán tấp nập: Bán vũ kh , thuốc súng, len dạ, bạc, đồng,… ua: tơ lụa, đường gốm, nông lâm sản Thương nhân nhiều nước đã tụ hội lập phố xá, cửa hàng buôn bán lâu dài Giữa thế kỉ XVIII ngoại thương su ếu dần do chế độ thuế khóa của nhà nước ngà càng phức tạp

Trang 20

Ở Đàng Ngoài, ch nh qu ền trung ương cũng như địa phương rất chú trọng đến công nghiệp khai mỏ Nguồn lợi từ các mỏ đồng, sắt, thiếc,… đã đem lại sức mạnh cho vương qu ền Nhà sử học Phan Huy Chú từng nhận xét

về tình hình khai mỏ ở Đàng Ngoài:

“Mối lợi về hầm mỏ phần nhiều là ở các xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lạng Sơn Các mỏ vàng, bạc, đồng, thiếc, đáng giá không biết bao nhiêu của Việc chi dùng của nhà nước sở dĩ được dồi dào, là do ở thuế các mỏ nộp đầy đủ” [4, tr.141] Với Đàng Trong, cùng với các nguồn lâm sản

nổi tiếng như trầm hương, gỗ quý, quế, hương liệu, đường,… kế thừa kinh nghiệm của người Chăm, ch nh quyền Phú Xuân cũng rất chú tâm đến việc tổ chức khai thác các mỏ khoáng sản như mỏ vàng vùng sông Thu Bồn đồng thời khuyến khích nhân dân trồng dâu, quế, làm đường để phục vụ nhu cầu xuất kh u Các hoạt động kinh tế đó đã nối kết các vùng cung cấp nguyên liệu với trung tâm sản xuất thủ công, thương nghiệp đồng thời biến nhiều nguồn lợi tự nhiên, vật ph m vốn chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước thành sản ph m hàng hóa, đạt giá trị cao trên thương trường quốc tế

Nhìn chung, tình hình kinh tế Đại Việt thế kỷ XVI - XVIII đã có bước chuyển biến lớn: diện t ch đất đai được khai kh n rộng mở, các loại cây trồng mới được phát triển và nhân giống, tu nhiên tình hình đất nước không ổn định đã có tác động đến tình hình nông nghiệp Đại Việt, những cánh đồng bị

bỏ hoang do chiến tranh gâ nên Cho dù đất nước xảy ra chiến loạn binh đao nhưng tình hình buôn bán ngoại thương rất phát triển nhiều đô thị, cảng biển

ra đời góp phần giúp cho đất nước phát triển, buôn bán được mở rộng với nhiều nước trong khu vực và phương Tâ Chính việc phát triển của các ngành nghề thủ công nghiệp, ngoại thương đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán và phát triển giữa Ayutthaya với Đại Việt trong giai đoạn này

Trang 21

Tình hình xã hội:

Sau một thời gian hưng thịnh, bước sang thế kỉ XVI, nhà Lê bắt đầu suy yếu dần Các vua Uy Mục (1505 - 1509), Tương Dực (1510 -1516) ăn chơi xa xỉ, hoang dâm, độc ác,… hi trăm họ đói khổ, gi c giã nổi lên như ong Trong triều, cuộc chiến tranh giành quyền lực không ngừng tiếp diễn Lợi dụng tình hình rối ren đó, ạc Đăng Dung cho người bức vua Lê rồi tự xưng làm Hoàng Đế, lập ra nhà Mạc năm 1527 Vương triều Mạc lại thi hành nhiều chính sách phản động như: cắt đất thần phục nhà Thanh, quan lại phong kiến nhũng nhiễu, hạch sách nhân dân,… khiến nhân dân bất mãn Thêm vào

đó, hành động phản nghịch của Mạc Đăng Dung khiến một số cựu thần nhà

ê, đứng đầu là Nguyễn Kim bất mãn Sau một thời gian chu n bị lực lượng, con cháu nhà ê dưới sự phò tá của hai họ Trịnh - Nguyễn bắt đầu nổi dậy Thanh Hoá làm mốc, trở vào thuộc quyền cai quản của nhà Lê (triều Lê Trung Hưng), trở ra thuộc sự quản lí của nhà Mạc

Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều diễn ra gần 50 năm từ năm 1539 đến năm 1592 với gần 40 trận đánh lớn nhỏ đã gâ nên một cuộc tàn sát đẫm máu Hàng ngàn người dân vô tội chết oan, kinh tế điêu tàn,… Đến năm 1591, tướng Trịnh Tùng của Nam triều tổng tấn công vào Đông kinh, bắt được vua Mạc Mậu Hợp, chiếm kinh thành Nhà Mạc bị tiêu diệt Năm 1593, Trịnh Tùng đón vua ê Thế Tông về kinh đô Đông Đô Công cuộc ê Trung Hưng hoàn thành cũng là lúc mọi quyền lực chuyển giao vào tay họ Trịnh Vua Lê trở thành bù nhìn, bắt đầu một thời kì mới - thời kì “vua ê chúa Trịnh” Tu nhiên, đất nước vừa thống nhất không lâu thì ngu cơ chia cắt lại tiếp diễn Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn có mầm mống từ thời Nam - Bắc triều bùng nổ, chia Đại Việt thành hai miền: Đàng Trong - Đàng Ngoài Đại Việt vào thế kỷ XVII - XVIII đất nước bị chia cắt thành hai Đàng, Đàng Ngoài do chúa Trịnh đứng đầu, Đàng Trong do chúa Ngu ễn kiểm soát Năm 1545, Nguyễn Kim -

Trang 22

tướng tài ba có công trong việc thành lập nhà ê Trung Hưng bị hàng tướng

họ Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết Quyền hành rơi vào ta con rể là Trịnh Kiểm Cũng từ đâ , mâu thuẫn giữa hai dòng họ Trịnh - Nguyễn bắt đầu, mở màn cho công cuộc chia cắt đất nước thành hai đàng: Đàng Trong và Đàng Ngoài

Trịnh Kiểm vì muốn thâu tóm quyền hành, xây dựng quyền thế tập cho dòng họ Trịnh nên đã tìm cách hại các em vợ Nguyễn Uông - con trưởng Nguyễn Kim bị hãm hại chết Nguyễn Hoàng lo sợ số phận của mình Được sự mách nước của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Hoàng nhờ cậy chị gái Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hoá Đâ

là nơi hoang vu, nhiều gi c giã Trịnh Kiểm muốn nhân cơ hội đó mượn tay

gi c trừ khử em vợ nên đã đồng ý Năm 1558, Ngu ễn Hoàng được lệnh vào

Nam: “Cùng đi với ông có một lực lượng hùng hậu có đến nghìn người, là

họ hàng ở huyện Tống Sơn, binh lính ở đất Thanh - Nghệ, những danh thần tài giỏi như Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống,…” [25] Khi

vào Nam, đoàn người đổ bộ lên cảng Cửa Việt, dựng dinh thự ở Ái Tử Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, nhân hậu, lưu tâm đến dân tình, hết lòng thu dụng hào kiệt để mưu cầu nghiệp lớn Ông được nhân gian yêu mến gọi là chúa Tiên Thời gian đầu, bề ngoài, Nguyễn Hoàng vẫn giữ làm tròn bổn phận một phiên thần Nhưng bên trong, một m t dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai rộng rãi; m t khác lợi dụng họ Trịnh đang tập trung chống lại họ Mạc, họ Nguyễn ra sức khai kh n vùng Thuận Quảng, xây dựng tiềm lực, chu n bị cho cuộc cát cứ lâu dài Để tránh sự nghi kỵ của chúa Trịnh, năm 1569, ông ra chầu vua Lê ở n Trường Năm 1570, Ngu ễn Hoàng được giao trấn thủ luôn đất Quảng Nam với ấn Tổng trấn Năm 1593, ông đem quân ra Đông Đô giúp Trịnh Tùng đánh dẹp dư đảng họ Mạc Vì lập được nhiều chiến công, ông được vua Lê tấn phong Trung quân đô đốc

Trang 23

phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái uý Đoan quốc công Năm 1600, lấy cớ đem quân đi dẹp loạn ở Nam Định, ông cùng các tướng tâm phúc giong thuyền thẳng vào Thuận Quảng Có thể xem từ năm 1600, Ngu ễn Hoàng bắt đầu xây dựng giang sơn riêng cho họ Nguyễn ở Đàng Trong Từ đó, mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn ngày càng gay gắt hơn Năm

1613, trước khi qua đời, Nguyễn Hoàng đã không quên d n con Nguyễn Phúc Nguyên tâm nguyện của đời mình và cũng mở màn cho công cuộc cát

cứ “đất Thuận Quảng phía Bắc có Hoành Sơn và Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Thạch Bi, địa thế hiểm trở, thật là một nơi để cho người anh hùng dụng võ Nếu biết dạy bảo dân, luyện tập binh sĩ kháng cự lại họ Trịnh thì gây dựng được cơ nghiệp muôn đời” [13] Nguyễn Phúc Nguyên (1613 -

1635) theo di huấn của cha xúc tiến mạnh hơn công cuộc cát cứ Ông tiến hành cải tổ chính quyền, dần thoát khỏi lệ thuộc đối với chúa Trịnh; tiếp đó,

là ngừng việc nộp thuế hàng năm cho triều đình trung ương Chúa Ngu ễn Phúc Ngu ên đã xâ dựng một chính quyền phong kiến biệt lập của riêng họ Nguyễn, chống lại triều đình của vua Lê chúa Trịnh Như vậy, lợi dụng cơ hội hai phe Trịnh - Mạc giao tranh quyết liệt ngoài Bắc, họ Nguyễn từng bước xây dựng thế lực trong Nam; đến lúc này nhà Mạc bị tiêu diệt thì cũng

là lúc họ Nguyễn đã đủ mạnh để mạnh để đối đầu với họ Trịnh úc nà , đất nước rơi vào tình trạng phân liệt mới: Đàng Trong - Đàng Ngoài ột cuộc nội chiến mới bắt đầu

Trong gần nửa thế kỉ từ năm 1627 đến năm 1672, quân đội hai bên đã bảy lần đem quân giao chiến tại khu vực Hà Tĩnh - Quảng Bình Sau bảy lần giao chiến, không bên nào đủ sức tiêu diệt đối phương Cuộc chiến hao người tốn của cuối cùng kết thúc bằng cách chia đôi đất nước Đàng Ngoài - Đàng Trong bằng giới tuyến sông Gianh

Trang 24

Sau một thời gian phục hồi, nửa thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến họ Trịnh và họ Nguyễn lâm vào con đường khủng hoảng, suy vong Quan lại ăn chơi sa đoạ, nhũng nhiễu, bóc lột nhân dân Nội bộ triều đình diễn ra cảnh

tranh giành quyền lực rối ren: “Làng xóm tiêu điều Nhân dân phiêu tán Tiếng oán than tận trời xanh” [25] Phong trào khởi nghĩa của nông dân nổ ra

khắp nơi

Đàng trong sau một thời gian trị vì của các chúa: Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635), Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648), Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687), Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691), Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), Nguyễn Phúc Chú ( 1725 - 1738), Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765) chính trị

ổn định, kinh tế phát triển, cư dân an cư lạcnghiệp, cương vực không ngừng

mở rộng về ph a Nam cho đến tận Hà Tiên Nhưng kể từ năm 1765, triều đình phong kiến Đàng Trong dưới sự chỉ huy của Chúa Nguyễn Phúc Thuần bắt đầu suy yếu, mục nát Quyền hành rơi vào ta qu ền thần Trương Phúc oan:

“tham tàn, bạo ngược, bán quan tước, hình phạt nặng nề” [6] Quan lại, quý

tộc đua nhau ăn chơi, hưởng lạc đến cực độ, đục khoét nhân dân Muôn dân lầm than, đói khổ Mâu thuẫn xã hội vô cùng gay gắt Đàng Ngoài, chế độ phong kiến lâm vào con đường suy vong, khủng hoảng Giai cấp thống trị lao sâu vào con đường ăn chơi sa đoạ, ra sức bóc lột nhân dân bằng các chính sách thuế khoá n ng nề

Năm 1767, Trịnh Doanh chết, Trịnh Sâm nối ngôi Trịnh Đệ âm mưu giết anh cướp ngôi Năm 1769, Trịnh Sâm giết Thái tử ê Du Vĩ Thêm vào

đó, việc phế con trưởng lập con thứ làm thế tử khiến mâu thuẫn nội bộ triều đình ngà càng rồi ren Năm 1782, Trịnh Sâm chết Đ ng Thị Huệ và Hoàng Đình Bảo lập Trịnh Cán làm chúa Con trưởng Trịnh Khải dựa vào Tam Phủ giết Hoàng Đình Bảo, phế truất Trịnh Cán và tự lên ngôi chúa Cũng từ đó,

“nạn kiêu binh” của quân Tam Phủ khiến nhân dân Đàng Ngoài oán hận Bọn

Trang 25

quan lại, địa chủ cường hào địa phương tăng cường đục khoét nhân dân Khắp nơi, đồng ruộng bỏ hoang, làng xóm tiêu điều, dân phiêu tán, đói khổ Trước khi Tâ Sơn kéo quân ra Bắc, khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài đã nổ ra khắp nơi vào các năm 1778, 1779, 1785,…

Năm 1771, ba anh em họ Nguyễn triệu tập nhân dân nổi dậy khởi nghĩa

ở ấp Tâ Sơn Cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại đã lần lượt tiêu diệt tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1777), lật đổ chính quyền phong kiến thối nát chúa Trịnh - vua ê (1787); đồng thời đánh bại âm mưu can thiệp xâm lược của phong kiến Xiêm và Mãn Thanh, xoá bỏ sự chia cắt đất nước

Vương triều Tâ Sơn thành lập, Quang Trung - Nguyễn Huệ có vai trò

to lớn với những chủ trương cải cách xã hội tiến bộ; nhưng Quang Trung mất sớm (1792) Quang Toản nối ngôi cha khi còn ít tuổi Nội bộ Tâ Sơn vốn có nhiều bất hoà nay càng lục đục trầm trọng, không đủ sức chống cự trước lực lượng hùng hậu của Nguyễn Ánh - hậu duệ của các chúa Nguyễn đang ra sức khôi phục cơ đồ của tổ tiên

1.4 Mối quan hệ của vương triều Ayutthaya với Đại Việt trước thế kỉ XVI - XVIII

Vương triều uttha a hình thành năm 1350 với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế nhất là sự phát triển của ngoại thương đã đem lại nguồn của cải dồi dào cho vương quốc Ayutthaya, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các mối quan hệ với các nước trong khu vực, trước hết là Đại Việt

Sau khi giành được độc lập dân tộc năm 938, bước sang giai đoạn mới, Đại Việt ngày càng phát triển và trở thành một thể chế mạnh và quan trọng ở Đông Nam Á, với vị tr địa lý thuận lợi, Đại Việt là địa điểm giao thương hấp dẫn đối với nhiều nước trên thế giới Với nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo xuyên suốt trong lịch sử, nhưng không phải vì thế mà ngoại thương cũng như

Trang 26

các mới quan hệ của Đại Việt bị hạn chế Năm 1149, đáp lại việc thuyền buôn các nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm a đến Hải Đông xin cư trú buôn bán, nhà

Lý: “cho lập trang ở nơi hải đảo gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương” [14] “Ở khu vực phía nam, các trung tâm trao đổi ở vùng Thanh - Nghệ cũng có điều kiện phát triển, thu hút một lượng lớn thương nhân từ Trung Quốc và Đông Nam Á đến buôn bán” [21, tr.1-34]

Nhà Lý lập trang Vân Đồn có ý nghĩa hết sức to lớn quan trọng, đánh dấu sự

có m t của hải thương Đại Việt ở khu vực, từ đó đánh dấu các mốc về các mối quan hệ với các nước trong khu vực Các thương nhân uttha a dùng hải trang Vân Đồn làm điểm trung chuyển với các nước trong khu vực Quan

hệ Ayutthaya với Đại Việt được đ y mạnh từ sau khi nhà Minh hạn chế buôn bán với nước ngoài bằng đường biển, các sứ giả uttha a sang Đại Việt vào

thời ê sơ “Mùa đông, tháng mười một, nước Xiêm La sai sứ là bọn Trai - Cương - Lạt sang cống, vua đưa cho sắc thư bảo mang về và trừ cho phần thuế buôn giảm xuống bằng phân nửa năm trước, 20 phần thu 1 phần, rồi thưởng cho rất hậu Ngoài ra về phần quốc vương chu 24 tấm lụa, 30 bộ bát

sứ, về phần quốc phi cho 5 tấm lụa, 2 bộ bát sứ, mỗi bộ là 35 chiếc” [14]

Nhìn chung trước thế kỉ XVI - XVIII, quan hệ giữa Đại Việt và Xiêm rất mờ mịt, rất ít sử liệu ghi chép về mối quan hệ này Quan hệ giữa Đại Việt

và Xiêm thật sự bắt đầu từ thế kỉ XIII Nước Xiêm ở giai đoạn này hoàn toàn không thống nhất có nhiều tiểu quốc của người Thái được thành lập ở phía Bắc như: Lana, Nan; miền Trung có Sukhothay, Aythaya Ngoài ra, còn có nhiều tiểu quốc người Môn cổ và một số tiểu quốc người Mã Lai nằm ở phía Nam (bán đảo Malacca) Giai đoạn đầu mối quan hệ này chủ ếu là trao đổi thư từ giữa Đại Việt và các tiểu quốc Thái như Sukhothay và Lavô với mục đ ch mừng chiến thắng của nhà Trần trước Mông Cổ Ngoài ra còn có sự buôn bán giữa các nước

Trang 27

Đến thế kỉ XV, cụ thể là triều đại Lê Sơ dưới sự trị vì của Lê Thánh Tông Hoàng Đế, Đại Việt trở nên hùng mạnh, mối quan hệ giữa hai nước lúc này rất phức tạp, chồng chéo dẫn đến chiến tranh ngoài ý muốn với các quốc gia người Thái Sự kiện xãy ra năm 1466, khi đó Bồn Man là thuộc quốc của Đại Việt từ thời của Lê Nhân Tông Hoàng Đế, Bồn Man được sự giúp đỡ của LanXang đã quay giáo chống lại Đại Việt do Cầm Công cầm đầu Năm 1467, Thánh Tông Hoàng Đế qu ết dùng binh lực tiêu diệt Bồn Man và LanXang với quân đội hùng hậu khoảng 30 vạn quân đã tràn sang lãnh thổ Bồn Man và LanXang , LanXang chống không nổi phải tháo chạ về phía tây Quân đội Đại Việt tiếp tục truy kích

Sự đụng độ giữa Đại Việt và các tiểu vương quốc người Thái là điều không thể tránh khỏi, các tiểu quốc Bắc Thái như: Lanna và Nan bị chiếm và một phần lãnh thổ của Sukhothay ở miền Trung Thái Lan ngày nay nữa, đã buộc Ayuthaya và Sukhothay, Lanna, Nan phải triều cống Quân đội Đại Việt không dừng lại ở đó mà tràn sang iến Điện đến sông Iraoadi, buộc tiểu quốc Ava phải xưng thần Cuộc tây chinh của Thánh Tông Hoàng Đế đã buộc các quốc gia bắc bán đảo Trung Ấn nhả vào cuộc chiến Sau khi sáp nhập Bồn Man vào lãnh thổ Đại Việt, hầu như các quốc gia trên bán đảo Trung Ấn phải triều cống cho Đại Việt Khi đạt được mục đ ch năm 1480 quân đội Đại Việt rút về Sau cuộc tây chinh của Đại Việt, các quốc gia người Thái đoàn kết với LanXang để chống lại Đại Việt Cuộc chiến này đã làm cho các quốc gia Lanxang, Lanna, Nan, Bồn Man bị tàn phá n ng nề

Từ thế kỉ XVI - XVIII, là thế kỉ ên bình trong mối quan hệ giữa Đại Việt và các quốc gia người Thái chủ ếu là quan hệ buôn bán utha a là đối tác buôn bán ch nh trong các quốc gia người Thái mà đường biển là ch nh

Trang 28

TIỂU KẾT

Với những yếu tố về kinh tế - xã hội của hai quốc gia cũng như những điều kiện về tự nhiên, bối cảnh chung của khu vực là nhân tố những tác động đến mối quan hệ Ayutthaya với Đại Việt Tuy nhiên những yếu đó không thể làm hạn chế mối quan hệ giữa hai quốc gia, mà từ những khó khăn đó hai quốc gia uttha a và Đại Việt đã cùng nhau hợp tác, cùng nhau phát triển và

có những mối quan hệ thật tốt đẹp trên nhiều m t: bang giao, triều cống, thương mại,… ở thế kỉ XVI - XVIII Những yếu tố trên là nền tảng cho quá trình phát triển mối quan hệ của Ayutthaya với Đại Việt, nguồn động lực cho hai quốc gia thực hiện những chính sách tạo dựng một mối quan hệ vững mạnh trong những thế kỷ tiếp theo Cho dù trong những thế kỷ tiếp theo hai nước có những bất đồng quan điểm vì lợi ích của mỗi quốc ra nhưng đó chỉ là những tranh chấp, xung đột nhỏ Sau xung đột, ngay lập tức hai nước lại tạo nên những mối quan hệ mới, tốt đẹp hơn, bền vũng hơn để cùng hợp tác và phát triển Tất cả vì lợi ích chung của mỗi quốc gia, dân tộc

Trang 29

Chương 2:

MỐI QUAN HỆ CỦA VƯƠNG TRIỀU AYUTTHAYA VỚI ĐẠI VIỆT

THẾ KỶ XVI - XVIII 2.1 Mối quan hệ bang giao và triều cống giữa vương triều Ayutthaya và Đại Việt

Mối quan hệ bang giao giữa hai quốc gia uttha a và Đại Việt luôn được đ t lên hàng đầu, được coi trọng trong suốt chiều dài của lịch sử Được

áp dụng một cách khôn khéo, mềm dẻo linh hoạt vào tùy từng thời điểm mà

ch nh sách bang giao được thực hiện sao cho đạt được lợi ích lớn nhất cho quốc gia đó

Triều cống làm một trong những hình thức đ c biệt của quan hệ bang giao giữa Ayutthaya với Đại Việt Một nước lớn mạnh có ưu thế về kinh tế, quân sự, luôn cho mình có quyền lực áp đ t lên các nước nhỏ bé hơn Những quốc gia lân cận muốn du trì hòa bình, độc lập và tự chủ nhất thiết phải lựa chọn con đường thiết lập và duy trì quan hệ triều cống

Trong quan hệ bang giao, để giữ vững hòa hiếu, tránh gây xung đột và chiến tranh, việc khéo léo trong con đường ngoại giao có ý nghĩa hết sức quan trọng Những hoạt động chính trong bang giao như triều cống, thăm hỏi, đều được Ayutthaya và các triều đại Đại Việt xử lý một cách khôn ngoan Quan

hệ triều cống mỗi triều đại, thời điểm lại mang bản sắc riêng

2.1.1 ư t tt

hi nói đến chính sách ngoại giao của người Thái, sử gia D.G.E Hall

nổi tiếng người nh đã viết: “chưa có ai giỏi hơn người Thái về quan hệ ngoại giao” “Trong suốt chiều dài lịch sử của vương quốc Thái Lan, các vương triều đều thể hiện rõ sự tài giỏi của mình trong đường lối đối ngoại và vương triều Ayutthaya cũng không nằm ngoài số đó” [9]

Ngày đăng: 23/12/2019, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w