1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong trào đấu tranh của công nhân miền nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1954 1975)

57 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 629,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975” làm đề tài khoá luận của mình.. Viết về phong tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

======

TÔ THỊ TỨ

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH

CỦA CÔNG NHÂN MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

CỨU NƯỚC (1954-1975)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

======

TÔ THỊ TỨ

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH

CỦA CÔNG NHÂN MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

CỨU NƯỚC (1954-1975)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

ThS NGUYỄN VĂN NAM

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành sâu sắc của mình tới các thầy cô giáo trong khoa lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã cung cấp cho em những kiến thức trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt là thầy Trần Anh Đức và thầy Nguyễn Văn Nam đã hướng dẫn trực tiếp và giúp đỡ em trong quá trình làm khoa học, để em hoàn thành đề tài khóa luận của mình

Bên cạnh đó em xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ, bạn bè và những người thân của em đã tạo mọi điều kiện, khích lệ tinh thần và động viên em rất nhiều

để em vượt qua những khó khăn, rào cản và hoàn thành tốt đề tài khóa luận này của mình

Trong quá trình thực hiện do còn hạn chế về mặt thời gian, nguồn tư liệu cũng như trình độ chuyên môn nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo

và bạn bè

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Tô Thị Tứ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan những nội dung mà em đã trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em dưới sự hướng dẫn của thầy Th.s Nguyễn Văn Nam và thầy Trần Anh Đức Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Em xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa luận này

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Tô Thị Tứ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của đề tài 5

6 Bố cục của khóa luận 6

CHƯƠNG 1 PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954-1964 7

1.1 Đất nước chia cắt làm hai miền và chính sách của Mỹ-Việt Nam cộng hòa đối với công nhân miền Nam 7

1.2 Kinh tế và đời sống công nhân miền Nam từ 1954-1964 9

1.3 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong giai đoạn “chiến tranh đơn phương” 1954-1960 11

1.4 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong giai đoạn 1961-1964 15

CHƯƠNG 2 PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1965-1975 21

2.1 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam giai đoạn 1965-1968 21

2.1.1 Kinh tế và đời sống của công nhân miền Nam giai đoạn 1965-1968 21

2.1.2 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong chiến lược chiến tranh “chiến tranh cục bộ” 23

2.1.2.1 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam từ giữa năm 1965 đến cuộc Tiến công tết 1968 23

2.1.2.2 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong cuộc tổng tiến công tết 1968 27

Trang 6

2.2 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam giai đoạn 1969-1975 31 2.2.1 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” 31 2.2.2 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam sau hiệp định Pari 1973-

1975 36 2.2.2.1 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam rút hết quân theo Hiệp định Pari 1973-1974 36 2.2.2.2 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975 40 2.3 Nhận xét phong trào đấu tranh chống Mỹ cứu nước của công nhân miền Nam 43

KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 7

Cùng với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác trong khối đại đoàn kết dân tộc, giai cấp công nhân đã có đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế-

xã hội của đất nước

Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam từ năm 1954-1975, diễn

ra liên tục, sôi nổi và quyết liệt ở các đồn điền, xí nghiệp, các ngành như: hỏa

xa, xăng, dầu, dệt, taxi, vận tải, vô tuyến truyền thông,… Mặc dù bị Mỹ và Việt Nam cộng hòa dùng mọi âm mưu và thủ đoạn để đàn áp, khủng bố và kìm kẹp nhưng phong trào công nhân miền Nam vẫn tiếp tục phát triển mạnh

mẽ cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975

Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam cùng với quần chúng nhân dân lao động, trong đó lực lượng nòng cốt dẫn đầu và có tác dụng cổ vũ nhân dân đấu tranh từ nông thôn đến thành thị trong cuộc đấu tranh chung vì

sự nghiệp giải phóng miền Nam Phong trào công nhân đã giáng những đòn mạnh mẽ vào hậu cứ an toàn của Mỹ và Việt Nam cộng hòa, từng bước phá thế kìm kẹp và cô lập địch về chính trị, làm cho hậu phương bị rối loạn, đẩy

Mỹ và tay sai từng bước rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng

Trang 8

2

Đứng trước tuyến đầu của phong trào đấu tranh chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng phong trào công nhân miền Nam đã nối tiếp truyền thống của dân tộc, thể hiện vai trò tiên phong cách mạng cùng các giới đồng bào góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Tìm hiểu lịch sử đấu tranh của công nhân miền Nam từ năm 1954-1975

để rút ra những đặc điểm của phong trào công nhân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc nó có ý nghĩa khoa học thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất cho thế hệ trẻ Từ những lí

do trên, tôi đã chọn đề tài “Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” làm đề tài khoá

luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu và ấn phẩm tổng kết về lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung và công nhân miền Nam nói riêng Trong đó có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu chủ yếu đã công bố liên quan đến đề tài

Viết về phong trào công nhân có thể kể đến các ấn phẩm tiêu biểu như:

Cuốn “Phong trào công nhân miền Nam”: giới thiệu cuộc đấu tranh chống

Mỹ- Diệm của giai cấp công nhân miền Nam từ tháng 7/1954 đến tháng 7/1961, NXB sự thật, 1961 của tác giả Võ Nguyên giúp người đọc hiểu được

sự trưởng thành của giai cấp công nhân miền Nam và vị trí của phong trào công nhân trong các phong trào yêu nước Cuốn sách đã giới thiệu những nét

sơ lược về phong trào công nhân miền Nam trong 7 năm (từ tháng 7/1954 đến 7/1961)

Cuốn“Công nhân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước(1954-1975)”của Cao Văn Lượng, NXB khoa học xã hội Hà

Nội, 1977 Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về phong trào công

Trang 9

3

nhân miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trong đó tác giả đã tập trung khái quát về sự phát triển đội ngũ công nhân miền Nam Việt Nam từ 1954-1975, đi sâu phân tích những thủ đoạn của Mỹ và Việt Nam cộng hòa đối với công nhân miền Nam, đời sống công nhân dưới chính quyền Mỹ và Ngô Đình Diệm, phong trào đấu tranh của công nhân trong từng giai đoạn cụ thể Dù bất cứ giai đoạn nào, phong trào công nhân miền Nam vẫn diễn ra hết sức quyết liệt với những hình thức đấu tranh phong phú Hạn chế của công trình này là chưa khai thác được tài liệu lưu trữ

“Một vài ý kiến về công nhân lao động miền Nam và công tác công đoàn vùng giải phóng” 1978, NXB lao động, Hà Nội Có thể coi đây là công

trình nghiên cứu khá đầy đủ về đội ngũ công nhân lao động miền Nam Nét nổi bật là công trình đã nêu rõ truyền thống đấu tranh bất khuất của giai cấp công nhân lao động miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

“Phong trào công nhân lao động và hoạt động công đoàn miền Nam Việt Nam (1954-1975)”của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã nêu lên

truyền thống anh dũng của giai cấp công nhân vì dân sinh, dân chủ và chống chiến tranh xâm lược

“Nghiệp đoàn Sài Gòn và phong trào công nhân”của tác giả Lê Thị

Qúy, NXB TP Hồ Chí Minh, 1988 Trình bày về âm mưu và thủ đoạn của Mỹ-Việt Nam cộng hòa trong việc tổ chức và sử dụng nghiệp đoàn

“Lịch sử giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XXI” do GS.TS.Đỗ Quang Hưng(chủ biên), của

NXB lao động, 2011 Cuốn sách đã đem đến những hiểu biết tinh gọn nhất,

cơ bản nhất về quá trình xây dựng và phát triển những đóng góp to lớn của giai cấp công nhân, công đoàn Việt Nam trong mọi thời kì cách mạng

Những công trình và những bài viết của các tác giả trên đã phản ánh nhiều mặt gián tiếp hay trực tiếp đề cập tới phong trào công nhân miền Nam

Trang 10

4

trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1954-1975 Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, tác giả đã kế thừa và tiếp thu có chọn lọc thành tựu của các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài phong trào công nhân

3 Mục đích, nhiệm vụvà phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tập trung trình bày và phân tích bước phát triển của phong trào công nhân ở từng giai đoạn cụ thể từ năm 1954-1975 Bước đầu rút ra được đặc điểm, cũng như tác động ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân miền Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung làm nổi bật những vấn đề sau:

Thứ nhất, làm rõ tình hình kinh tế và đời sống của giai cấp công nhân miền Nam trong từng giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Thứ hai, tập trung làm rõ những chính sách của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đối với công nhân miền Nam

Thứ ba, trên cơ sở trình bày về các phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam từ năm 1954-1975 từ đó rút ra được những nhận xét về phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam

Trang 11

5

phong trào công nhân ở miền Nam Miền Nam được hiểu theo nghĩa là vùng đất phía Nam vĩ tuyến 17 theo quy định hiệp định Giơnevơ năm 1954

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả chủ yếu tìm và thu thập tài liệu tại: Thư viện quốc gia, Viện Sử học và Thư viện trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2

Đề tài dựa vào nguồn tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu của các tác giả, nhà khoa học và sử học đi trước Các ấn phẩm, bài báo, tạp chí, luận văn, luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong khóa luận là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp liên ngành như liệt

kê, tổng hợp và kết hợp với các phương pháp truyền thống như phân tích, trình bày trong việc trình bày những chính sách của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng như diễn biến đặc điểm của phong trào công nhân

5 Đóng góp của đề tài

- Về mặt khoa học:

Trên cơ sở hệ thống tư liệu, tiếp thu có chọn lọc những công trình nghiên cứu, khóa luận trình bày một cách có hệ thống về phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trên

cơ sở đó, tác giả đã nhận xét, đánh giá khách quan về đặc điểm, vai trò phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Khóa luận là tài liệu tham khảo để nghiên cứu về phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu còn góp phần

Trang 12

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận gồm có hai chương nội dung chính gồm:

Chương 1: Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam giai đoạn 1954-1964

Chương 2: Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam giai đoạn 1965-1975

Trang 13

7

Chương 1 PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN MIỀN NAM GIAI

Từ cuối năm 1954, đế quốc Mỹ đã loại bỏ được thực dân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm làm tổng thống Việt Nam cộng hòa, lập chính phủ bù nhìn dưới sự chỉ đạo giấu mặt của cố vấn Mỹ, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ

Để độc chiếm được miền Nam, Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã dùng những thủ đoạn để đánh phá phong trào công nhân miền Nam Thông qua

chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, đồng thời núp dưới chiêu bài “tố cộng”,

Mỹ-Diệm đã mở những cuộc khủng bố đẫm máu khắp miền Nam, đánh phá

ác liệt phong trào công nhân lao động Ngày 3/7/1955 chúng đàn áp cuộc biểu tình đòi thi hành hiệp định Giơnevơ, đòi hòa bình thống nhất đất nước của công nhân lao động và nhân dân Sài Gòn, bắt giam trên 100 người Đầu năm

1956 viện cớ là trong hàng ngũ công nhân có nhiều “Việt Cộng nằm vùng”, nhiều “cơ sở cộng sản”, Mỹ-Diệm bắt đầu “tố cộng” mạnh trong công nhân

lao động Chúng mở nhiều chiến dịch nhằm đánh phá ác liệt phong trào công nhân và tàn sát công nhân bắt bớ và thủ tiêu hàng loạt cán bộ nghiệp đoàn

Núp dưới chiêu bài “thanh khiết nghiệp đoàn”

Trang 14

8

Ngày 11/11/1957, chính phủ Ngô Đình Diệm đã mở một đợt khủng bố nghiệp đoàn ra lệnh giải tán 30 nghiệp đoàn, bắt giam hơn 200 cán bộ lãnh

đạo nghiệp đoàn Để lấy cớ công khai đàn áp phong trào công nhân “báo cách

mạng quốc gia, số ra ngày 11/6/1959, làm cơ quan ngôn luận của chính quyền Diệm đã tuyên truyền rằng: “Cộng sản lũng đoạn nghiệp đoàn” đồng thời nhấn mạnh: “an toàn quốc gia bao giờ cũng cần hơn tự do dân chủ” Bằng trò vừa ăn cắp vừa la làng Mỹ-Diệm lại tiến thêm một bước nữa trong việc đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân” Ngày 29/12/1959, chúng đàn

áp đẫm máu cuộc đấu tranh của 8.000 công nhân cao su Lộc Ninh, Xa Cát, Long Thành (Biên Hòa), đốt cháy 32 nhà của công nhân, trục xuất cán bộ nghiệp đoàn ra khỏi tỉnh [9, tr.157]

Đi đôi với những thủ đoạn đàn áp, khủng bố, Mỹ-Diệm còn thực hiện chính sách lừa bịp nhằm làm chệch hướng đấu tranh của công nhân miền Nam

và hướng họ đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, Mỹ-Diệm còn tiến hành

cái gọi là “chiến tranh ý thức hệ” nằm trong chiến lược toàn cầu phản cách

mạng của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, chúng lừa bịp công nhân lao động

rằng chúng “không phải là đối tượng đấu tranh mà là bạn của dân”[12,

tr.50]

Bên cạnh đó Mỹ còn rất quan tâm đến nghiệp đoàn và coi đây là vấn đề chiến lược trong chính sách chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Với

hình thức độc lập, dân chủ, “chủ nghĩa thực dân mới” của Mỹ cho phép tổ

chức nghiệp đoàn để lũng đoạn phong trào công nhân theo nguyên tắc

“nghiệp đoàn đa nguyên” nếu ban đầu nghe thì nhầm tưởng là tự do dân chủ

nhưng thực tế ý đồ của Mỹ là muốn chia rẽ lực lượng công nhân bằng những trung tâm nghiệp đoàn khác nhau như: Tổng liên đoàn lao công, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, lực lượng thợ thuyền,…

Trang 15

9

Tại các đồn điền cùng với việc hạn chế các quyền lợi của công nhân,

Mỹ và Việt Nam cộng hòa thành lập các “ấp chiến lược” nhằm tách cán bộ

cách mạng và Đảng viên Đảng cộng sản ra khỏi công nhân, lùa cộng sản vào rừng sống cô lập, thiếu thốn, đói khát rồi sẽ bị diệt trừ,… chúng trú trọng đặt

bộ máy kìm kẹp khống chế công nhân tại các đồn điền ngoài ra chúng còn tiến hành các chính sách vơ vét nhân tài vật lực ở miền Nam để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng Nạn sưu cao, thuế nặng, lạm phát giá

cả tăng đã làm cho đời sống của công nhân ngày càng thêm khốn khổ

Có thể nói, trong những năm từ 1954-1975, Mỹ và Việt Nam cộng hòa không từ một âm mưu và thủ đoạn nào để đánh phá phong trào công nhân miền Nam Với các chính sách đàn áp, khủng bố, chia rẽ công nhân, tìm cách lôi kéo đội ngũ công nhân đi theo con đường cải lương thỏa hiệp, từng bước nắm chặt các nghiệp đoàn nhằm biến các nghiệp đoàn thành công cụ phục vụ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam

1.2 Kinh tế và đời sống công nhân miền Nam từ 1954-1964

Có thể nói kinh tế miền Nam trong giai đoạn này là một nền kinh tếlạc hậu, do chính sách đàn áp khủng bố và các thủ đoạn bóc lột tàn bạo của Mỹ-Diệm đã làm cho đời sống công nhân miền Nam vô cùng cực khổ

Trong đó nổi lên là nạn thất nghiệp giống như một thứ bệnh dịch, lan tràn khắp mọi nơi, năm này qua năm khác và ngày một tăng lên Tính đến tháng 3/1955 đã có 56.000 công nhân thất nghiệp, đến tháng 8/1955 con số này tăng lên 10 vạn người Trong đó Sài Gòn-Chợ Lớn tình trạng thất nghiệp ngày càng lan rộng hơn [9, tr.158]

Nạn thất nghiệp lan tràn phổ biến đang trực tiếp đe dọa một cách nghiêm trọng đời sống công nhân miền Nam Những người tạm thời còn có công ăn việc làm luôn nằm trong tình trạng thấp thỏm lo âu, vì sợ sắp bị sa thải Năm 1956 chỉ tính những vụ sa thải lớn ở một số xí nghiệp, đồn điền số

Trang 16

10

công nhân bị sa thải đã lên đến 64.455 người Những người thất nghiệp như phụ nữ, trẻ em được Mỹ-Diệm cho tuyển vào làm với mức lương rất thấp chỉ bằng một phần ba những người làm cũ, mặc dù lương thấp nhưng nhiều người thất nghiệp vẫn không kiếm được việc làm, đời sống đói khổ khốn cùng dồn

họ vào thế bí và không còn con đường nào khác, họ phải đi ăn xin Nạn ăn mày tràn ngập khắp thị trường miền Nam, nhiều đến nỗi chính quyền Diệm

lập ra “Uỷ ban chống nạn hành khất” Tuy nhiên cũng không tài nào ngăn

nổi, vì đây là kết quả của sự bần cùng hóa của công nhân.Có nhiều công nhân phẫn uất vì đói khổ đã tẩm xăng vào mình đốt cháy hoặc nhảy xuống sông tự

tử, như anh Nguyễn Văn Kỹ, 36 tuổi làm thợ mộc đã tẩm xăng và quần áo rồi châm lửa tự thiêu [11, tr.3-4]

Bên cạnh nạn thất nghiệp còn có nạn lạm phát giấy bạc, thuế má tăng: thuế đất, thuế nóc nhà, thuế rác,…giá cả sinh hoạt đắt đỏ như giá gạo, thịt, rau, tiền thuê nhà tăng gấp bội, ngoài ra còn phạt vạ: Nạn xổ số, lạc quyên bắt buộc người công nhân phải đóng trong khi đó tiền lương vẫn giữ nguyên

Do không đủ tiền thuê mướn nhiều công nhân phải sống trong những túp lều lụp xụp, thiếu nước, thiếu điện, rác rưởi bùn lầy mất vệ sinh, đời sống vất vưởng cảnh màn trời chiếu đất

Điều kiện làm việc vô cùng cực khổ, phải làm việc quá sức, và bị bắt phải làm việc 11 giờ trên một ngày, chủ nhật không được nghỉ và quanh năm không có ngày nghỉ lễ, đặc biệt tại các đồn điền, điều kiện làm việc của công nhân lại càng khắc nghiệt và man rợ, hàng ngày các chủ đồn điền lăm lăm cầm chiếc roi trên tay, động một tí là vụt lên đầu, lên mặt mọi người, có công nhân bị chúng đánh vứt rác xuống hố, hằng ngày trong đồn điền nấc lên tiếng khóc của công nhân, và tiếng chửi rủa của chính quyền Ngô Đình Diệm

Điều kiện lao động đã nặng nhọc lại không được đảm bảo an toàn nên

đã có rất nhiều vụ tai nạn xảy ra mỗi năm một tăng Năm 1958 có 11 vạn

Trang 17

1.3 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong giai đoạn

“chiến tranh đơn phương” 1954-1960

Trong giai đoạn này Mỹ-Diệm đã dùng mọi âm mưu, thủ đoạn để phá hoại phong trào công nhân miền Nam, chính sách khủng bố đàn áp đi đôi với mua chuộc chia rẽ, lừa bịp, đã gây nhiều khó khăn cho phong trào, nhưng với tinh thần đoàn kết và dưới sự lãnh đạo của Đảng giai cấp công nhân miền Nam ngày càng trưởng thành và đã vùng dậy đấu tranh Với những hình thức

và phương pháp đấu tranh phong phú, đa dạng thích hợp, phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam mặc dù gặp khó khăn trước sự khủng bố của Mỹ-Diệm, nhưng nhìn chung vẫn được giữ vững và phát triển

Tính chung từ tháng 7/1954 đến năm 1960 giai cấp công nhân miền Nam đã tiến hành 2.329 cuộc đấu tranh tập thể Trong đó từ tháng 7/1954 đến hết năm 1955; 292 cuộc, năm 1956; 504 cuộc, năm 1957; 408 cuộc, năm 1958; 306 cuộc, năm 1959; 401 cuộc, năm 1960; 418 cuộc [26, tr.4] Những cuộc đấu tranh đã thể hiện tính liên tục, quyết liệt và toàn diện của phong trào

vì lợi ích của giai cấp và của dân tộc với mục tiêu đấu tranh là đòi cải thiện dân sinh, đòi tự do dân chủ, chống viện trợ của Mỹ, đòi hòa bình thống nhất đất nước

Giai cấp công nhân miền Nam nêu cao khẩu hiệu đòi những quyền lợi rất bức thiết như tăng lương, giảm giờ làm, chống sa thải, đòi cải thiện điều

Trang 18

12

kiện làm việc, phong trào phát triển rộng khắp tại các đồn điền, xí nghiệp cơ

sở thương mại, vận tải, tàu hàng không, hỏa xa,…

Nhiều cuộc đấu tranh đã thu hút hàng ngàn, hàng vạn công nhân tham gia và được các giới khác ủng hộ, trong đó phải kể đến cuộc bãi công ngày 10/11/1955 của hơn 40.000 công nhân các đồn điền cao su ở tất cả bốn tỉnh

Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh đưa ra yêu sách đòi tăng lương, đòi cải thiện chế độ ăn ở làm việc và đối xử, đòi chủ không được ngăn cản tự

do tổ chức của công nhân [23, tr.17-18]

Trong khi đấu tranh cho các khẩu hiệu dân sinh, dân chủ cũng như các khẩu hiệu khác, giai cấp công nhân miền Nam đã sử dụng nhiều hình thức đấu tranh sinh động, ngoài những hình thức đấu tranh thông thường như họp đại hội, đưa yêu sách, kiến nghị,… họ đã sử dụng những hình thức đấu tranh cao, quyết liệt như: Bãi công, lãn công, bãi công chiếm xưởng Những hình thức đấu tranh phản ánh sự trưởng thành về ý thức tổ chức kỉ luật, tinh thần chiến đấu của công nhân Năm 1955 có 27 cuộc bãi công gồm hàng vạn công nhân, năm 1956 có 21 cuộc bãi công Năm 1959 chỉ tính trong các xí nghiệp Sài Gòn-Chợ Lớn đã có 8 cuộc bãi công lớn, cuộc bãi công của trên 25.000 công nhân trong các hãng nhà binh Pháp nổ ra ngày 7/12/1954, đòi tăng lương 20%, giảm giá sinh hoạt, đòi thi hành hiệp định Giơnevơ kéo dài gần một tháng đặc biệt là cuộc bãi công chiếm xưởng của 30.000 công nhân hỏa xa gồm các Đề Pô, Dĩ An, Chí Hòa và của gần 3.000 công nhân hãng Ba Son tháng 5/1957 kéo dài hàng tháng đã gây cho Mỹ-Diệm nhiều thiệt hại [33, tr.8-20]

Đi đôi với phong trào đòi cải thiện dân sinh là phong trào đòi tự do, dân chủ, mà nội dung chủ yếu là đòi tự do nghiệp đoàn chống bắt bớ, tra tấn và thanh khiết nghiệp đoàn Ngày 17/11/1957 công nhân lao động Sài Gòn phát động phong trào đấu tranh chống khủng bố nghiệp đoàn, phong trào trở nên

Trang 19

13

sôi nổi, đặc biệt trong các đồn điền, công nhân đồn điền Xa Cát, Dầu Tiếng,…[20, tr.12]

Tại các thành phố phong trào đòi tự do nghiệp đoàn phát triển khá rầm

rộ và sôi nổi, công nhân hỏa xa biểu tình, kí kiến nghị phản đối tòa án của Diệm xử tử hai cán bộ nghiệp đoàn hỏa xa Ngày 28/9/1958, hơn 450 nghiệp đoàn thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn lao động họp đại hội gửi kiến nghị đòi chính quyền Diệm bãi bỏ dụ 23, đòi mở rộng tự do dân chủ Tiêu biểu là các đợt đấu tranh chống vụ thảm sát Phú Lợi, chống luật phát xít 10/59 trong đó công nhân lao động là lực lượng tiên phong, nòng cốt trong các cuộc đấu tranh [9, tr.164]

Phong trào đấu tranh đòi hòa bình thống nhất đất nước, chống viện trợ

Mỹ cũng diễn ra rầm rộ, sôi nổi trong giai đoạn này Ngay sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết ngày 1/8/1954, 50.000 công nhân và nhân dân Sài Gòn, Chợ Lớn phối hợp với phong trào đòi hiệp thương Tổng tuyển cử, công nhân nhà máy điện Đà Nẵng cùng với công nhân lao động trong thành phố tổ chức đấu tranh đòi tăng lương, cải thiện đời sống, giảm giờ làm, yêu cầu được khám sức khỏe,…

Tháng 7/1955, mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động phong trào đấu tranh đòi hiệp thương hòa bình thống nhất đất nước Để mở đầu cho phong trào này ngày 3/7/1955 công nhân lao động Sài Gòn đã tổ chức hai cuộc biểu

tình đòi trả tự do cho những người trong “Uỷ ban cứu trợ nạn nhân chiến

tranh” kết hợp với đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước

Ngày 23/10/1955 chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý nhằm mục đích buộc Bảo Đại phải thoái vị Bắt công nhân lao động đi bỏ phiếu nhưng số người đi chỉ được một nửa, số còn lại cử tri tìm cách lẩn trốn không đi bỏ phiếu,… Ý thức chống Mỹ đã ăn sâu trong công nhân lao động miền Nam được thể hiện qua các cuộc đấu tranh chống cướp đất, cào nhà,

Trang 20

14

đuổi nhà để xây dựng căn cứ quân sự chống “viện trợ” Mỹ Tiêu biểu là cuộc

đấu tranh ngày 4/12/1956 của gần 10 vạn công nhân lao động khu Vân Đồn, Chương Dương chống lệnh đuổi nhà của chính quyền Diệm Hầu hết các cuộc

đấu tranh năm 1958 đều tập trung vào khẩu hiệu “chống viện trợ Mỹ”, chống

tăng thuế, đòi nâng đỡ hàng nội hóa, xây dựng một nền kinh tế độc lập, giải quyết công ăn việc làm và đời sống cho công nhân lao động [3, tr.165]

Trong hai năm 1957-1958 có tới hơn 700 cuộc đấu tranh của công nhân lao động diễn ra ở hầu hết các ngành sản xuất với quy mô lớn có sự thống nhất rộng rãi Đòi quyền lợi thiết thân của mình chính vì thế lôi kéo được đông đảo nông dân tham gia Ngày 31/3/1957, nông dân Phước Long đấu tranh chống địa chủ cướp đất được nhân dân nhiều nơi và 100 đại biểu công nhân Gia Định ủng hộ Ngày 8/2/1960, trên 4.000 nông dân huyện Bến Cát, Dầu Tiếng biểu tình chống khủng bố được 3.000 công nhân các đồn điền Dầu Tiếng, Bến Cát sôi nổi tham gia [9, tr.153]

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân miền Nam còn lôi kéo được cả giai cấp tư sản dân tộc tham gia Bên cạnh việc đấu tranh đòi quyền lợi của giai cấp công nhân, phong trào còn đấu tranh đòi các lợi ích của tư sản dân tộc như: đòi bỏ độc quyền kinh tế của Mỹ-Diệm, tích cực bảo vệ hàng nội hóa, bãi bỏ thuế sản xuất vô lý, đòi xây dựng nền kinh tế tài chính độc lập, tự chủ, đòi khôi phục và phát triển công nghệ trong nước hạn chế và đình chỉ nhập cảng hàng hóa trong nước sản xuất được, cũng trong năm 1958, hàng vạn công nhân của 150 xưởng dệt ở Sài Gòn-Chợ Lớn đã họp ba lần vào ngày

12/6, 23/6, và 22/11 cùng với các chủ xưởng đấu tranh chống “viện trợ” Mỹ

Trong các Đại hội này công nhân và các nhà tư sản dân tộc đã nêu lên nhiều yêu sách cụ thể để bảo vệ quyền lợi của công nhân và các nhà sản xuất tiểu chủ: Bãi bỏ thuế sản xuất, đình chỉ nhập cảng các loại vải,… [12, tr.132-133]

Trang 21

15

Tiêu biểu cho tính quy mô, liên kết, thống nhất của phong trào công nhân miền Nam là các cuộc đấu tranh trong ngày 1/5 Thực hiện chủ trương của Đảng các tổ chức nòng cốt bí mật tổ chức vận động công nhân lao động đấu tranh trong ngày 1/5 Ngày 1/5/1956 hai mươi vạn công nhân lao động Sài Gòn xuống đường đấu tranh, ngày 1/5/1957: 278.000 người với những khẩu hiệu đấu tranh phù hợp đòi tăng lương, giải quyết nạn thất nghiệp, hạn chế nhập cảng những hàng hóa trong nước sản xuất được, triệt để giảm tô

đúng mức, thực hiện đầy đủ khẩu hiệu “người cày có ruộng”, thống nhất đất

nước bằng phương pháp hòa bình” Các cuộc biểu tình này có tác dụng tập hợp lực lượng, biểu dương sức mạnh đoàn kết rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, góp phần tích cực thực hiện mặt trận thống nhất rộng rãi của các tầng lớp nhân dân chống Mỹ-Diệm [9, tr.162]

Nhìn chung phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân miền Nam trong những năm 1954-1960 có bước phát triển mới so với thời kì trước Phong trào diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp thu hút được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, và có sự liên kết của nhiều ngành nghề, nhiều địa phương với nhau, trong đó đội ngũ giai cấp công nhân miền Nam đóng vai trò là lực lượng nòng cốt và thông qua các phong trào ngày càng trưởng thành rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm để chiến đấu ở các giai đoạn tiếp theo

1.4 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam trong giai đoạn 1961-1964

Từ cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm bị thất bại, đế quốc Mỹ đã thay đổi chiến lược,

chuyển sang dùng “chiến tranh đặc biệt” để đối phó với cách mạng miền

Nam chiếm lại những địa bàn và dân cư đã bị mất

“Chiến tranh đặc biệt” là loại chiến lược chiến tranh đầu tiên trong ba

loại chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ Đặc

Trang 22

16

điểm của nó là tiến hành bằng các lực lượng phản cách mạng tại chỗ, cộng với

sự cung cấp đến mức cao nhất những phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ

và hệ thống cố vấn Mỹ, nội dung cơ bản của chiến lược trên quy mô lớn theo

chiến thuật “tát nước tát cá”

Việc lập ấp chiến lược là “quốc sách” là “xương sống” của chiến tranh

đặc biệt Biện pháp để thực hiện chiến lược này là càn quét và khủng bố

Để thực hiện “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách biến

đô thị, đồn điền thành những cứ điểm làm bàn đạp tấn công cách mạng ở nông thôn, với âm mưu này một mặt Mỹ-Diệm vẫn tiếp tục thực hiện những

thủ đoạn thâm độc “lấy phong trào, phá phong trào, nắm nghiệp đoàn để

nắm quần chúng”, dùng Trần Quốc Bửu và thông qua tổ chức Tổng liên đoàn

lao công Việt Nam để mua chuộc và chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ lực lượng công nhân, đưa phong trào công nhân lao động miền Nam theo chiều hướng chủ nghĩa tư sản cải lương Chúng lập ra một bộ máy đàn áp khổng lồ gồm quân chính quy và lực lượng cảnh sát ở Sài Gòn để sẵn sàng mở các cuộc hành quân khủng bố, đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân lao động

và nhân dân toàn miền Nam

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong giai đoạn này phát triển mạnh mẽ, diễn ra liên tục với khí thế ngày càng quyết liệt mà đỉnh cao là cuộc tổng bãi công ngày 21/9/1964 Lần đầu tiên trong lịch sử chống Mỹ, cứu nước giai cấp công nhân miền Nam đã mở một cuộc đấu tranh to lớn, toàn diện và giai cấp công nhân đã sử dụng biểu tình và bạo lực để chống lại lệnh cấm biểu tình, dùng bãi công để chống lại lệnh cấm bãi công của Mỹ

Giai đoạn này còn có sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ với đấu tranh chính trị và từng bộ phận tiến lên đấu tranh vũ trang, tay sai của Mỹ mà kẻ tiêu biểu là Trần Quốc Bửu không ngừng tìm

Trang 23

17

cách hướng phong trào công nhân đi theo con đường đấu tranh cải lương tư sản, đấu tranh kinh tế đơn thuần, nhưng chúng đã thất bại

Những cuộc đấu tranh lớn của công nhân trong giai đoạn này phần lớn

nổ ra trong những xí nghiệp của Mỹ và của chính quyền Sài Gòn kinh doanh những ngành trọng điểm của nền kinh tế miền Nam, những ngành phục vụ chiến tranh xâm lược của Mỹ, những cuộc đấu tranh này không chỉ có ý nghĩa

về kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, quân sự

Ngay sau khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh đặc biệt ở miền Nam thì ngày 4/9/1961, cuộc bãi công của 400 công nhân thuộc 4 cơ sở của hãng dầu Xtan- Vác Mỹ đã nổ ra và kéo dài trên 3 tháng làm chậm lại việc cung cấp dầu cho máy bay phản lực Mỹ và làm thiệt hại 5 triệu đồng [31, tr.45]

Các cuộc bãi công của hãng “vô tuyến truyền thông” làm tê liệt việc

liên lạc điện thoại giữa Sài Gòn và các tỉnh, cũng như giữa Sài Gòn với nước ngoài Cuộc đình công của công nhân giao thông Gia Định kiên quyết không

đi sửa đường số 7 để cản trở binh sĩ địch đi càn quét khủng bố nông dân Công nhân xi măng Hà Tiên, lò vôi Long Thọ (Huế) và nhiều xưởng ngói, gạch bãi công làm ảnh hưởng đến kế hoạch xây dựng đồn bốt, công sự của địch, công nhân xây dựng đập thủy điện Đa Nhim liên tiếp đình công nhiều tháng, làm chậm đến kế hoạch cả năm sử dụng trạm thủy điện này vào mục đích quân sự Đặc biệt là cuộc bãi công của 7.000 công nhân bốc vác của hãng Xtích, Xôvicôtơra làm ngừng trệ mọi công việc ở bến tàu trong 5 ngày Cuộc đình công kỉ niệm 10 năm ngày 20 tháng 7 của hàng ngàn công nhân khuân vác ở cảng Sài Gòn, làm tê liệt mọi hoạt động của bến cảng Sài Gòn [31, tr.47]

Trong hai năm 1961-1962, những năm đầu của cuộc “chiến tranh đặc

biệt”, công nhân miền Nam đã tiến hành trên 8.916 cuộc đấu tranh gồm

744.000 lượt người tham gia Riêng năm 1961, có 4.416 cuộc đấu tranh bao

Trang 24

18

gồm 294.000 lượt người tham gia trong đó có 147 cuộc đấu tranh lớn Mục tiêu chủ yếu của các cuộc đấu tranh là đòi cải thiện đời sống, đòi bồi thường lao động, đòi chấm dứt nạn đuổi thợ, giãn thợ, đòi tăng lương,… Riêng ở Sài Gòn-Chợ Lớn đã có tới 287 cuộc đấu tranh với 82.230 người tham gia Tại miền Trung và Nam Bộ phong trào đấu tranh của công nhân diễn ra liên tục với các khẩu hiệu dân sinh, dân chủ, chống đàn áp, khủng bố, chống bắt dân vào ấp chiến lược,… Công nhân nhà đèn Mỹ Tho đấu tranh đòi tiền lương tháng tết và tuyên bố sẽ cúp điện 24 tiếng đồng hồ nếu yêu sách không được giải quyết [21, tr.35-36]

Đến năm 1962 cuộc đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của công nhân miền Nam đi vào giai đoạn quyết liệt, có trên 4.500 cuộc đấu tranh của công nhân lao động với hơn 350.000 lượt người tham gia trong đó có hơn 100 cuộc đấu tranh lớn với sự tham gia của hàng vạn công nhân miền Nam Tiêu biểu là ở Sài Gòn, nơi địch tập trung lực lượng mạnh nhưng vẫn diễn ra phong trào đấu tranh của công nhân, trong 5 tháng đầu năm 1962 công nhân Sài Gòn đã tiến hành 82 cuộc đấu tranh, với các hình thức đình công, lãn công chống chính quyền Sài Gòn và tư bản Mỹ áp bức và bóc lột công nhân Đặc biệt là cuộc bãi công ngày 17/12/1962, của nữ công nhân hãng dệt Vimytex đòi sửa đổi lại nội quy làm việc đúng với luật lao động [12, tr.71]

Từ cuối năm 1963, Diệm Nhu bị lật đổ, cũng đã báo hiệu sự thất bại

của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ Từ đây cùng với phong trào

đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang phát triển như vũ bão, phong trào đấu tranh của các công nhân ở thành thị miền Nam đặc biệt là Sài Gòn-Chợ Lớn đã có 505 cuộc đấu tranh thu hút 200.000 người tham gia, tiêu biểu là cuộc đấu tranh của chị em công nhân hãng Vinatexco đã bị Mỹ-Việt Nam cộng hòa đàn áp đẫm máu, cuộc đàn áp đã gây nên một làn sóng căm phẫn dữ dội ở trong nước và trên thế giới Hội lao động giải phóng miền Nam Việt

Trang 25

19

Nam ra đời đã kêu gọi giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nước và thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh Ngay sau đó hàng chục nghiệp đoàn, hàng vạn công nhân miền Nam, công nhân và nhân dân miền Bắc cùng nhiều nước anh

em như công nhân các nước Liên Xô, Triều Tiên, Cuba,… lên tiếng ủng hộ Sau 42 ngày cuộc bãi công kết thúc thắng lợi buộc giới chủ phải tăng lương cho công nhân và phải mở cửa xưởng cho công nhân đi làm [23, tr.24-25]

Trải qua quá trình đấu tranh liên tục, gay go, quyết liệt chống Mỹ-Việt Nam cộng hòa ngày càng được nâng cao, các hình thức đấu tranh không còn

bó hẹp trong các hình thức tiêu cực trong phạm vi từng xí nghiệp, đồn điền riêng lẻ, mà đã nâng cao bằng những hành động đấu tranh chống địch giữa phong trào công nhân lao động và học sinh, sinh viên, giữa xí nghiệp, đồn điền, giữa đô thị và nông thôn bằng nhiều hình thức phong phú đa dạng

Trang 26

20

Tiểu kết chương 1

Ngay sau khi đất nước bị chia cắt làm hai miền, miền Nam dưới sự thống trị của Mỹ-Diệm, đời sống của giai cấp công nhân vô cùng cực khổ với một nền kinh tế lạc hậu, bên cạnh đó còn phải chịu sự khủng bố, đàn áp, mua chuộc, chia rẽ của Mỹ-Diệm đã gây không ít khó khăn cho phong trào công nhân, nhưng giai cấp công nhân miền Nam và nhân dân thành thị miền Nam vẫn đoàn kết cùng nhau đấu tranh không quản ngại khó khăn, thiếu thốn

Trong những năm chống Mỹ-Diệm, bất chấp mọi sự kìm kẹp, khống chế, đàn áp của kẻ thù, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân vẫn diễn

ra liên tục và mạnh mẽ với nhiều thức khác nhau Từ hình thức hội họp, đưa yêu sách đến các hình thức đấu tranh cao hơn nữa như chiếm xưởng, mít tinh biểu tình, vũ trang, diệt ác ôn, và trong đấu tranh công nhân miền Nam đã kết hợp chặt chẽ giữa đòi quyền dân sinh, dân chủ với đấu tranh chống bắt lính, cướp đất, đuổi nhà, chống lập khóm, phường, ấp chiến lược

Trang 27

21

Chương 2 PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN MIỀN NAM GIAI

ĐOẠN 1965-1975

2.1 Phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam giai đoạn 1965-1968 2.1.1 Kinh tế và đời sống của công nhân miền Nam giai đoạn 1965-1968

Từ giữa năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã được

đẩy đến mức cao nhất nhưng có nguy cơ phá sản hoàn toàn Mỹ vừa leo thang

và vừa mở rộng chiến tranh vừa đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nhằm lừa dối dư luận thế giới và xoa dịu phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân

Mỹ

Cùng với sự có mặt của quân đội viễn chinh ở miền Nam Việt Nam đã gây ra nhiều sự xáo trộn về mọi mặt của đời sống công nhân miền Nam như nạn bắt lính, bắt phu, lạm phát giấy bạc, giá cả sinh hoạt tăng vọt, nạn thất nghiệp, sưu cao thuế nặng, tệ nạn trộm cắp cùng với nhiều tệ nạn khác

Cùng với chính sách tăng cường chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ

và các biện pháp tài chính thất nhân tâm của chính quyền Sài Gòn đã khiến cho nền kinh tế Sài Gòn càng thêm suy sụp, nhiều nhà tư sản công thương phá sản, nhiều ngành sản xuất bị ngưng trệ, trước tình hình đó đã làm cho đời sống công nhân lao động miền Nam vô cùng điêu đứng, nạn thất nghiệp gia tăng

Công nhân lao động miền Nam ngoài chịu cảnh thất nghiệp, đói khổ

mà còn thường xuyên bị đe dọa, bị tư sản trong và ngoài nước lũng đoạn, bị bóc lột tàn nhẫn, bắt công nhân lao động phải làm việc nhiều giờ, không kể ngày đêm trong điều kiện lao động khắc nghiệt và không được đảm bảo về tính mạng Ở bến cảng Sài Gòn năm 1964 chỉ nhận 250.000 tấn hàng mỗi tháng, nhưng đến năm 1965 nhận đến 500.000 tấn và đến năm 1966 lên đến

Trang 28

22

600.000 tấn Nhiều công nhân phải làm việc trong điều kiện rất khắc nghiệt:

đi chân đất, không có quần áo ấm phòng lạnh khi làm trong những kho ướp lạnh dưới 10 độ Riêng đối với phụ nữ và trẻ em chủ bắt làm việc như nam giới nhưng lương của họ chỉ bằng ½ hoặc 2/3 so với nam giới.[12, tr.88]

Ở giai đoạn này những tưởng lương công nhân cao hơn thời kì trước nhưng đó là về hình thức vì so với giá cả hàng hóa thì đồng lương lại bị giảm sút, tính từ tháng 8/1965 đến tháng 7/1966, giá cả các mặt hàng cần thiết của công nhân tăng từ 2 đến 5 lần, trong khi đó lương công nhân từ năm 1965 đến năm 1967 tăng 43% tuy nhiên giá cả hàng hóa lại tăng vọt, giá thịt lợn tăng 300%, giá gạo tăng 600%,… Lương thấp, ăn uống kham khổ, làm việc vất vả, thiếu thuốc men và dịch vụ chăm sóc y tế nên tỉ lệ công nhân mắc bệnh ngày càng cao ngoài ra còn mắc các bệnh như chất độc màu da cam, nhiễm thuốc đạn,…Ngoài ra Mỹ và tay sai còn đặt ra nhiều thứ thuế vô lí nhằm bóp nặn dân chúng như: thuế trực thu, gián thu, thuế quan, trước bạ,… Năm 1965 thuế mới thu có 5.308 tỷ đồng, đến năm 1969 là 160 tỷ đồng.[6, tr.14-15]

Như vậy dưới ách thống trị tàn bạo của Mỹ và Việt Nam cùng với nỗi đau của người dân mất nước, công nhân lao động miền Nam đã phải chịu cảnh cực khổ, bần cùng và bị chà đạp về nhân phẩm và cuộc sống, chính vì lẽ

đó mâu thuẫn sâu sắc giữa công nhân miền Nam với Mỹ và Việt Nam cộng hòa ngày càng tăng, thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam và phong trào đấu tranh của công nhân nói riêng vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ngày đăng: 23/12/2019, 14:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w