1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Thiết kế phương tiện trực quan để tổ chức dạy học chương i, sinh học 11

49 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH- KTNN ====== DƯƠNG THỊ MAI LOAN THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I, SINH HỌC 11 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH- KTNN

======

DƯƠNG THỊ MAI LOAN

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN

TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I, SINH HỌC 11

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học sinh học

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ TỐ NHƯ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài tôi đã nghiên cứu cùng với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Thị Tố Như Các kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực

và không trùng với bất kì đề tài nào khác

Nếu có gì sai phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Vĩnh Phúc, ngày tháng 05năm 2018

Sinh viên thực hiện

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Sinh học khoa Sinh- KTNN trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt khóa luận này

Em cũng xin chân thành cảm ơn cô Tiến sỹ Đỗ Thị Tố Như đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tâm trong suốt quá trình em làm khóa luận

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên em trong quá trình em thực hiện đề tài này

Trong quá trình làm luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong các thầy cô giáo, các bạn sinh viên quan tâm đóng góp, bổ sung ý kiến để giúp cho đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Vĩnh Phúc, ngày tháng 05năm 2018

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PPDH: Phương pháp dạy học

PTDH: Phương tiện dạy học

PTTQ: Phương tiện trực quan

SGK : Sách giáo khoa

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỘT MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Giả thuyết khoa học 3

4 Đối tượng 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Những đóng góp của đề tài 4

8 Phạm vi nghiên cứu 4

PHẦN HAI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Cơ sở lí luận 7

1.2.1 Khái niệm PTTQ 7

1.2.2 Phân loại PTTQ 8

1.2.3 Vai trò của PTTQ 10

1.2.4 Những yêu cầu khi sử dụng PTTQ 10

1.2.4.1 Những yêu cầu sử dụng PTTQ trong nhóm phương pháp trực quan 10 1.2.4.2 Những yêu cầu sử dụng PTTQ trong nhóm phương pháp thực thức hành 11

1.2.5 Những chú ý khi biểu diễn PTTQ 11

1.3 Cơ sở thực tiễn 12

Trang 6

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN

TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I, SINH HỌC 11 16

2.1 Vị trí chương I 16

2.2 Phân tích nội dung chương I 16

2.2.1 Logic nội dung chương I 16

2.2.2 Chuẩn kiến thức kĩ năng chương I 16

2.2.3 Phân tích từng bài trong chương I 18

2.3 Thiết kế các PTTQ trong dạy học chương I, sinh học 11 22

2.3.1 Nguyên tắc thiết kế PTTQ 22

2.3.2 Quy trình thiết kế PTTQ 22

2.3.2.1 Quy trình chung 22

2.3.2.2 Ví dụ minh họa: 23

2.3.3 Kết quả thiết kế PTTQ trong dạy học Chương I, Sinh học 11 25

2.4 Sử dụng PTTQ trong dạy học Chương I, sinh học 11 28

2.4.1 Định hướng sử dụng 28

2.4.2 Sử dụng PTTQ trong một số bài thuộc Chương I, Sinh học 11 29

CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PTTQ 37

3.1 Mục tiêu đánh giá 37

3.2 Phương pháp đánh giá( thực nghiệm sư phạm) 37

3.3 Kết quả 37

PHẦN BA KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 7

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Do yêu cầu đổi mới về PPDH

- Trong phần mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2016-2020, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đưa ra một trong những nhiệm vụ trọng tâm đó là: “ Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” Để thực hiện được mục tiêu đó cần đổi mới nội dung, PPDH Muốn đổi mới PPDH thì vấn đề là phải đổi mới và tăng cường sử dụng có hiệu quả PTTQ trong dạy học

- Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng,

từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong Và ngày nay để thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của HS, các cấp quản lí, GV cần tạo điều kiện động viên, khuyến khích học sinh bằng nhiều hình thức như: Đổi mới nội dung và phương pháp, chương trình giảng dạy, bổ sung kịp thời cái mới vào bài giảng, các báo cáo ngoại khóa, các chuyên đề, tổ chức các câu lạc bộ khoa học…

- Các bộ môn nói chung và môn sinh học nói riêng cần phải đổi mới chương trình, nội dung phương pháp và những phương tiện phù hợp nhằm

nâng cao chất lượng đào tạo

1.2 Do đặc điểm của bộ môn

- Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm với những phương pháp nghiên cứu đặc thù như: quan sát tìm tòi, thực hành thí nghiệm nên việc sử dụng các PTTQ là cần thiết

Trang 8

- Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và các phương tiện kĩ thuật dạy học ngày càng hiện đại Cùng với sự đổi mới nội dung và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, các nhà trường hiện nay cũng đã được trang bị khá đầy đủ các PTDH hiện đại như: Các phương tiện nghe nhìn, các máy móc truyền tải thông tin… Nhờ vậy mà gây hứng thú học tập của HS, giúp HS lĩnh hội nhanh, dễ dàng hơn những trí thức và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời, các phương tiện dạy học mới còn giúp

HS thu lượm nhanh, nhiều những thông tin mới, giảm cường độ lao động của

GV về mặt truyền đạt thông tin trong những bài diễn giảng, thuyết trình để tập chung suy nghĩ, tổ chức, hướng dẫn hoạt động tự học của HS

1.3 Xuất phát từ vai trò của PTDH trực quan

- PTDH giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn

- PTDH làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập của HS

- PTDH giúp HS phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy

Xuất phát từ những lí do nêu trên chúng tôi lựa chọn đề tài:

“ Thiết kế phương tiện trực quan để tổ chức dạy học Chương I, Sinh học 11”

2 Mục đích nghiên cứu

- Thiết kế và sử dụng PTTQ trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS, nâng cao hiệu của dạy học sinh học 11

Trang 9

3 Giả thuyết khoa học

- Nếu thiết kế được các PTTQ phù hợp với nội dung chương I và

sử dụng PTTQ một cách hợp lí góp phần nâng cao hiệu quả dạy họcChương I

4 Đối tượng

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

- PTTQ để dạy học Chương I, Sinh học 11

- Nội dung kiến thức Chương I, Sinh học 11

- Biện pháp sử dụng PTTQ

4.2 Khách thể nghiên cứu:

- HS lớp 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng PTTQ

5.2 Phân tích nội dụng chương I- SGK sinh học 11

5.3 Thiết kế PTTQ và định hướng sử dụng PTTQ cho dạy học

5.4 Kiểm tra tính hiệu quả của PTTQ đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các văn bản của nhà nước về việc sử dụng PTTQ trong dạy học, nghiên cứu các công trình, tài liệu liên quan, SGK làm cơ

sở cho việc đề xuất thiết kế PTTQ

6.2 Phương pháp quan sát, điều tra

- Quan sát sư phạm: Tình hình thiết kế và sử dụng PTTQ ở

trường phổ thông.( Dự giờ)

- Điều tra: Điều tra bằng phiếu hỏi, phát vấn về tình hình thiết

kế và sử dụng PTTQ trong dạy học sinh học ở trường phổ thông

Trang 10

6.3 Phương pháp chuyên gia

- Lấy ý kiến nhận xét, góp ý của các GV có kinh nghiệm về tính hiệu quả của các PTTQ đã thiết kế đồng thời xin ý kiến về cách thức sử dụng PTTQ trong dạy học

- Đề xuất phương pháp để sử dụng PTDH chương I, sinh học 11

- Kiểm tra được tính hiệu quả của các PTTQ đã thiết kế

8 Phạm vi nghiên cứu

- Thiết kế PTTQ thuộc phạm vi nội dung chương I phần A- Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật

Trang 11

PHẦN HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

- Chủ nghĩa Mac- Lenin đã giải thích bản chất nhận thức của con người

là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan theo quy luật: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến khách quan

Tư duy trừu tượng nếu không bắt nguồn từ trực quan cảm tính thì trở nên trống rỗng Ngược lại trực quan cảm tính nếu không có tư duy trừu tượng thì chỉ còn là những cảm tính rời rạc, những tri thức đơn giản, sự suy nghĩ khi trực quan làm cho các cảm giác con người trở nên tinh tế nhạy bén hơn

- K.Đ.Usinki ( 1824-1870) đã đi xa hơn trong việc vận dụng nguyên tắc trực quan trong quá trình dạy học và cho rằng trực quan không chỉ là phương tiện nhận thức mà còn là phương tiện để phát triển tư duy Theo ông, người

GV không thể chir dựa vào những hình tượng cụ thể để hình thành tri thức cho HS trong quá trình dạy học, mà phải sử dụng cả biểu tượng đã có từ trước Ông cho rằng:” Nếu anh cho trẻ nắm một từ nào đó mà nó chưa biết thì phải vất vả lắm nó mới nhớ được, nhưng nếu cho chúng học 20 từ như vậy bằng tranh ảnh thì dù trẻ một tuổi cũng nắm được một cách dễ dàng

- Bên cạnh việc nghiên cứu vai trò, vị trí của PTTQ trong điều kiện hiện đại, nhiều tác giả đã dành một vị trí đáng kể trong việc nghiên cứu vấn đề sử dụng các PTTQ trong dạy học ( Tônlinghenova, P.R.Atutop, V.G Bonotianxki ) Tônlinghenova cho rằng, về nguyên tắc PTTQ chỉ có thể các chỉ số chất lượng thông qua các quá trình sư phạm Không có quá trình gia công sư phạm thì dù các PTTQ có chế tạo được tốt bao nhiêu cũng không thể hiện được bất kì vai trò chức năng gì

Trang 12

- K.G.Nojko cũng khẳng định:” Vấn đề không phải chỉ ở chỗ sản xuất và cung cấp cho nhà trường những đồ dùng dạy học mà còn chủ yếu là phải làm sao cho đồ dùng dạy học được GV sử dụng với hiệu quả cao”

- Theo X.G sapovalenko: “ Chất lượng đồ dùng dạy học phải gắn chặt với chất lượng sử dụng nó của thầy giáo để nó có thể đạt hiệu quả giảng dạy

và giáo dục cao” “ Đồ dùng dạy học, các phương tiện kĩ thuật là phương tiện

hỗ trợ trong tay người thầy giáo”

- Như vậy qua các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới khẳng định được vai trò quan trọng của PTTQ trong quá trình dạy học ở trường phổ thông Điều đó chứng tỏ PTTQ có ý nghĩa to lớn với quá trình nhận thức, giúp HS tìm tòi khám phá làm tăng năng suất lao động sư phạm.Song giá trị của PTTQ không chỉ mỗi bản thân nó mà còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ sư phạm trong quá trình nghiên cứu xây dựng và sử dụng của người GV Nếu trong giờ học, PTTQ được sử dụng không hợp lí thì dẫn đến hậu quả xấu về mặt sư phạm và kinh tế

1.1.2 Ở Việt Nam

- Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu và sử dụng PTTQ trong quá trình tổ chức dạy học ngày càng mạnh mẽ, phù hợp với thế giới và công cuộc đổi mới phương pháp dạy và học của Đảng và nhà nước Vấn đề này được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khoa học như vật lí, hóa học, lịch sử, địa lí, sinh học,…Một số tác giả như Thái Duy Tuyên ,Vũ Trọng Rỹ, Nguyễn Cương, Tô Xuân Giáp, Đinh Quang Báo,…đã có nghiên cứu về những vấn đề chung như

vị trí, vai trò, cấu trúc, mối quan hệ giữa PTTQ với các thành tố của quá trình dạy học, cũng như việc sử dụng PTTQ trong các môn học

- Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Hoành và Trần Bá Hoành( 1980) cho rằng: “Trong thực tiễn dạy học, đảm bảo tính nguyên tắc trực quan- một trong những nguyên tắc chỉ đạo quá trình dạy học nhằm đem lại hiệu quả cao, chất

Trang 13

lượng tốt, đảm bảo cung cấp cho HS những hình ảnh cụ thể, các biểu tượng trong sáng, trên cơ sở đó, hoạt động tư duy ở các em được vận dụng một cách tích cực, nhờ đó cùng với sự giúp đỡ của thầy mà các em lĩnh hội được các khái niệm một cách vững chắc

- Các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Cương( 1995): Tính trực quan là tính chất có tính quy luật của quá trình nhận thức khoa học

Tô Xuân Giáp ( 2000) cho rằng : “ PTDH có những tác động đặc biệt quan trọng đến kết quả cuối cùng của quá trình dạy học” Nguễn Công Kinh với đề tài “ Xây dựng và sử dụng đồ dùng dạy học phần đất trồng và phân bón trong chương trình kĩ thuật trồng trọt lớp 11 để nâng cao chất lượng dạy học.”

- Nguyễn Quang Vinh và Bùi Văn Sâm: Nghiên cứu vầ cải tiến và áp dụng các thí nghiệm nâng cao hiệu quả dạy học sinh học

- Qua nghiên cứu của các tác giả cho thất PTTQ có vai trò quan trọng không chỉ minh họa cho bài giảng mà còn là nguồn thông tin giúp người học tiếp thu về đối tượng nghiên cứu, cung cấp tri thức trong quá trình nhận thức, rèn luyện phương pháp tư duy

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Khái niệm

- PTDH: Có rất nhiều quan niệm khác nhau về PTDH

Trong các tài liệu về lí luận dạy học, coi PTDH có cùng nghĩa với PTTQ, đó là những vật thật, vật tượng hình và các vật tạo hình được sử dụng

để dạy học

Các vật thật bao gồm: động vật, thực vật sống ở môi trường tự nhiên, các khoáng vật

Các vật tượng trưng như: sơ đồ, lược đồ,…

Các vật tạo hình như: tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, băng hình

Trang 14

Cũng có những tác giả coi PTTQ như những đồ dùng dạy học được khái quát bằng những mô hình vật chất, được dựng lên một cách nhân tạo, giúp ta nghiên cứu đối tượng gốc khi không có điều kiện tri giác trực tiếp đối tượng này

“PTTQ là tất cả những gì có thể được lĩnh hội( tri giác) nhờ sự hỗ trợ của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai của con người Tất cả các đối tượng nghiên cứu được tri giác trực tiếp nhờ các giác quan đều gọi là PTTQ.”

- “PTTQ là tất cả các đối tượng nghiên cứu được tri giác trực tiếp bằng các giác quan.”

- “ PTTQ được hiểu là những vật( sự vật) hoặc sự biểu hiện của nó băng hình tượng( biểu tượng) với những mức độ quy ước khác nhau.”

- Có thể thấy rằng tuy cách diễn đạt của mỗi tác giả là khác nhau nhưng nói chung các tác giả có sự thống nhất về khái niệm về PTTQ: PTTQ là tất cả các đối tượng nghiên cứu được tri giác trực tiếp nhờ các giác quan

1.2.2 Phân loại

Hiện nay, các phương tiện và thiết bị dạy học rất đa dạng và hiện đại Vì vậy, phân loại các phương tiện và thiết bị dạy học có nhiều cách, song để đi sâu vào PTDH cụ thể có thể phân loại dựa theo tính chất, cấu tạo, cách sử dụng,…

Dưới đây là một số cách phân loại PTDH:

Phân loại PTDH dựa theo tính chất

- Nhóm truyền tin: máy chiếu qua đầu, máy chiếu phim, máy ghi âm, máy thu thanh, máy thu hình, máy vi tính,…

- Nhóm mang tin: các tài liệu in (SGK, sách bài tập,…), các phương tiện nghe, nhìn, phương tiện nghe nhìn

Phân loại theo cấu tạo phương tiện dạy học

- Mẫu vật thật: các mẫu vật sống, tiêu bản tuơi, khô, ngâm ép,…

Trang 15

- Mô hình: mô hình tĩnh, mô hình động,…

- Tranh, ảnh, bản trong, băng hình, VCD, DVD

Phân loại theo cách sử dụng

- Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học

- Phương tiện dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học

Phân loại theo mức độ chế tạo phức tạp

- Loại chế tạo không phức tạp

- Loại chế tạo phức tạp

Trong dạy học sinh học có 3 loại PTTQ chính:

 Các mẫu vật tự nhiên: mẫu sống, mẫu ngâm, mẫu nhồi, tiêu bản ép khô, tiêu bản hiển vi,…

- Ưu điểm:

+ Mẫu sống có kích thước, màu sắc tự nhiên có giá trị sư phạm cao

- Nhược điểm: Gặp khó khăn khi bảo quản

 Các vật tượng hình: Mô hình, tranh vẽ, ảnh, phim, sơ đồ, biểu đồ,…

- Ưu điểm: các mô hình thường phản ánh được cấu tạo khái quát và cho phép hình dung được cấu trúc không gian đã được phóng to hoặc thu nhỏ so với kích thước thực

+Tranh vẽ, ảnh, phim, biểu đồ có giá trị dạy học cao vì cho phép HS theo dõi dễ dàng bài giảng

- Nhược điểm: Không thể hiện được tỉ mỉ các chi tiết( Mô hình)

 Các thí nghiệm: có giá trị sư phạm cao nhất, là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở HS kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật

- Ưu điểm:HS có thể tự tiến hành thí nghiệm ở trên lớp, trong phòng thí nghiệm, ngoài vườn, ruộng hoặc tại nhà

- Nhược điểm: Một số thí nghiệm không thực hiện được ở trên lớp

Trang 16

1.2.3.Vai trò của PTTQ

- Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu sâu sắc và nhớ lâu hơn

+ PTTQ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp từ chúng

+ PTTQ giúp cụ thể hóa cái trừu tượng, đơn giản hóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp

+ PTTQ giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập

bộ môm, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học

+ PTTQ giúp HS phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy( phân tích tổng hợp hiện tượng rút ra những kết luận có độ tin cậy…) giúp HS hình thành khiếu tẩm mỹ, tính chính xác của thông tin chứa trong PTTQ

- Giúp GV tiết kiệm thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp GV điều khiển được hoạt động nhận thức của HS được thuận lợi và hiệu suất cao

1.2.4 Những yêu cầu khi sử dụng PTTQ

1.2.4.1 Những yêu cầu sử dụng PTTQ trong nhóm phương pháp trực quan

Tùy theo từng nhóm PTTQ mà có những biện pháp biểu diễn khác nhau Trong khi biểu diễn cần tuân theo các yêu cầu chung sau:

Trang 17

- Trong việc chiếu phim, biểu diễn thí nghiệm cần kết hợp với biểu diễn vật thật hay mẫu ngâm Trong biểu diễn PTTQ cần phối hợp sử dụng lời nói, lời thuyết minh, lời bình luận,…

Các Phương pháp trong nhóm phương pháp thực hành

Tùy theo đối tượng thực hành công tác thực hành có thể phân ra bốn dạng sau:

- Thực hành quan sát, nhận biết, sưu tầm mẫu vật

- Thực hành quan sát các tiêu bản hiển vi

- GV phải phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng HS

- GV chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, HS phải được trực tiếp được tác động vào đối tượng từ đó lĩnh hội được kiến thức

1.2.5.Những chú ý khi biểu diễn PTTQ

- Biểu diễn PTTQ phải đúng lúc, dùng đến đâu thì đưa ra đến đó

Trang 18

- Đối tượng quan sát phải đủ lớn, rõ Nếu vật quan sát quá nhỏ, phải dành thời gian để giới thiệu tới từng HS

- Việc biểu diễn đồ dùng trực quan phải tiến hành thong thả, theo một trình tự nhất định, để HS dễ theo dõi, kịp quan sát

- Trong điều kiện có thể, nên phối hợp, bổ sung các loại PTTQ khác nhau

- Trước khi biểu diễn PTTQ cần hướng dẫn HS lưu ý quan sát triệt để

1.3.Cơ sở thực tiễn

Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng PTTQ

Để tìm hiểu thực trạng kĩ năng thiết kế và sử dụng PTTQ của GV dạy Sinh học tại một số trường THPT, chúng tôi đã tiến hành điều tra GV dạy Sinh học của một số trường THPT tại một số địa bàn tỉnh Hưng Yên ( trường THPT Trưng Vương, trường THPT Nguyễn Siêu, trường THPT Mỹ Hào), ở

Hà Nội ( trường THPT Đại Cường), ở Hải Dương ( trường THPT Ninh Giang), ở Vĩnh Phúc (trường THPT Xuân Hòa), ở Tuyên Quang ( trường THPT Tân Trào) với tổng số 15 GV Quá trình điều tra được thực hiện trong năm học 2016-2017 và 2017-2018

- Chúng tôi đã tiến hành điều tra kĩ năng thiết kế và sử dụng PTTQ của

GV bằng việc sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến ( Phiếu số 1 – Phụ lục) Các nội dung điều tra được cụ thể trong bộ câu hỏi 10 gồm cả câu hỏi đóng và câu hỏi

mở được thiết kế dựa trên 4 vấn đề sau:

+ Hiểu biết trong việc thiết kế PTTQ của GV trong dạy học Sinh học + Hiểu biết về lí thuyết liên quan tới sử dụng PTTQ để dạy học Sinh học

và kĩ năng sử dụng PTTQ của GV

+ GV đánh giá kĩ năng thiết kế và sử dụng PTTQ để tổ chức dạy học của bản thân, của GV mới ra trường và sinh viên thực tập (nếu có)

Trang 19

+ Khó khăn và mong muốn của GV trong việc nâng cao kĩ năng thiết kế

và sử dụng PTTQ để tổ chức dạy học môn Sinh học 11

Ngoài ra,chúng tôi đã tiến hành quan sát sư phạm, tìm hiểu giáo án, trao đổi với một số GV Trên cơ sở tổng hợp phiếu điều tra và nội dung phỏng vấn chúng tôi đưa ra những phân tích dựa trên kết quả phiếu điều tra về từng vấn

đề được trình bày trong các bảng 1.2, 1.3 trong mục tiếp theo của khóa luận

Kết quả và phân tích

Vấn đề 1: Hiểu biết trong việc thiết kế PTTQ của GV trong dạy học Sinh học:

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về hiểu biết chung về PTTQ của GV

trong dạy học Sinh học

Vấn đề 2: Mức độ cần thiết của PTTQ ( rất cần thiết)

Vấn đề 3: GV đánh giá kĩ năng thiết kế và sử dụng PTTQ để tổ chức dạy học của bản thân, của GV mới ra trường và sinh viên thực tập (nếu có):

Vấn đề 4: Khó khăn và mong muốn của GV trong việc nâng cao kĩ năng thiết kế và sử dụng PTTQ để tổ chức dạy học môn Sinh học 11:

- Ngoài điều tra từ GV chúng tôi cũng tìm hiểu thực trạng thiết kế và sử dụng PTTQ chúng tôi đã tiến hành điều tra một số HS trường trung học phổ thông Xuân Hòa,.Phúc Yên, Vĩnh Phúc Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu điều tra trong bộ câu hỏi gồm 4 câu hỏi:

+ Câu 1: Theo em PTTQ là gì?

+ Câu 2: Theo em PTTQ có vai trò như thế nào đối với bộ môn Sinh học?

Trang 20

+ Câu 3: Thầy ( cô) ở trường có thường dùng các PTTQ để dạy bài mới không?

Bảng 1.3: Tình hình sử dụng PTTQ trong dạy học sinh học

1 Mẫu vật tự nhiên ( Mẫu

sống, mẫu nhồi, mẫu ngâm, tiêu bản ép khô, tiêu bản hiển vi,…)

Hầu như GV và HS đều có nhận thức rõ ràng về PTTQ trong việc dạy

và học, đều có ý kiến xây dựng trong việc thiết kế bổ sung và sử dụng PTTQ trong dạy học

Trong việc sử dụng PTTQ có những yếu tố cản trở cần khắc phục và cải thiện Sau đây là nhận định của đội ngũ GV ở một số trường trung học phổ thông Trong đó mức độ 5 là mức độ đồng ý cao nhất và giảm dần, mức 1 coi như không đồng ý

Trang 21

STT Những cản trở Mức độ (%)

1 Thói quen của

GV với việc thiết kế PTTQ còn thụ động

2 Năng lực thiết

kế PTTQ của

GV còn hạn chế

3 Điều kiện cơ sở

vật chất, thiết bị dạy học còn hạn chế

Nhằm phát triển toàn diện, tính tích cực sáng tạo và năng động của HS thì việc thiết kế và sử dụng PTTQ gắn với cuộc sống và thực tiễn là việc cần thiết

Trang 22

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN

TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I, SINH HỌC 11 2.1 Vị trí chương I

Sinh học 11 củng cố và phát triển những kiến thức sinh học bậc trung học cơ sở và lớp 10

Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng Đây là chương mở đầu của chương trình sinh học 11 và tiếp nối việc nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của cơ thể sống ở mức độ cơ thể Phần lớn kiến thức trọng tâm của sinh học

11 được sắp xếp ở chương này

2.2 Phân tích nội dung chương I

2.2.1 Logic nội dung chương

- Chương I, sinh học 11 gồm 14 bài trong đó có 11 bài lí thuyết và 3 bài thực hành

- Nội dung của chương đề cập tới:

+ Sự hấp thu nước và muối khoáng( Bài 1)

+ Vận chuyển các chất ( Bài 2, bài 3)

+ Vai trò của các nguyên tố khoáng ( Bài 4, bài 5, bài 6)

+ Trao đổi và phân giải các chất ( Bài 8, bài 9, bài 10, bài 11 và bài 12)

2.2.2 Chuẩn kiến thức kĩ năng chương I

và năng lượng trong tế bào

- Trình bày được vai trò của nước ở thực vật

Trang 23

- Trình bày được cơ chế trao đổi nước

- Giải thích được sự bón phân hợp lí tạo năng suất cao của cây trồng

- Trình bày được vai trò của quang hợp

- Trình bày được quá trình quang hợp

- Nêu được vai trò của quang hợp đối với năng suất cây trồng

- Trình bày được ý nghĩa của hô hấp

- Phân biệt được hô hấp hiếu khí và sự lên men

- Trình bày được mối quan hệ giữa

Trang 24

quang hợp và hô hấp

Kĩ năng : Biết được cách xác định cường độ thoát hơi nước

Biết bố trí thí nghiệm về bón phân Thí nghiệm phân tích các sắc tố chính Thực hiện thí nghiệm phát hiện hô hấp

2.2.3 Phân tích từng bài trong chương

Phần A: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật

Bài 1: Sự hấp thụ nước và muối khoáng ở rễ

1 Mục tiêu

Học xong bài này HS phải:

- Trình bày đặc điểm hình thái của hệ rễ cây thích nghi với chức năng hấp thụ nước và muối khoáng

- Trình bày được cơ chế hấp thụ nước và muối khoáng và hai con đường

di chuyển nó vào mạch gỗ

- Mối quan hệ giữa môi trường với rễ trong quá trình hấp thu nước và muối khoáng

2 Nội dung trọng tâm

- Sự thích nghi hình thái, cấu tạo rễ với chức năng hấp thu nước và muối khoáng

- Cơ chế hấp thụ nước

- Cơ chế hấp thụ ion khoáng

Bài 2: Vận chuyển các chất trong cây

1 Mục tiêu

Ngày đăng: 23/12/2019, 14:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w