1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu đa dạng sinh học và phân bố của ve giáp tại đồi chè khu thống nhất, huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ

48 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đa dạng thành phần loài Ve giáp Acari: Oribatida tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ .... Ảnh hưởng một số yếu tố sinh thái đến cấu trúc quần xã Ve giáp Acari: Oribatida

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sinh thái học

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sinh thái học

Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Duy Trinh

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ tận tình của các đơn vị và cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới:

Các thầy cô trong khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2 đã nhiệt tình giảng dạy

Sự hỗ trợ và tạo điều kiện làm việc của các cán bộ bộ môn Động vật học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN

Gia đình bà Nguyễn Thị Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin

cần thiết khi thu mẫu và nghiên cứu tại đồi chè gia đình

Chị Nguyễn Thị Tuyết Nhung K20 cao học đã chỉ bảo tôi trong thời

gian hoàn thành khóa luận

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đào Duy Trinh –

công tác tại Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Phạm Thị Thu Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này

là kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Đào Duy Trinh

Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong khóa luận này

Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Phạm Thị Thu Hà

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nội dung nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4.1 Ý nghĩa khoa học 3

4.2 Thực tiễn của đề tài 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới 5

2.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam 6

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, ĐẶC ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.1 Đối tượng nghiên cứu 8

2.2 Phạm vi nghiên cứu 10

2.3 Đặc điểm tự nhiên 10

2.4 Thời gian nghiên cứu 10

2.5 Phương pháp nghiên cứu 11

2.5.1 Phương pháp thu mẫu 11

Trang 7

2.5.2 Đo chỉ số các nhân tố sinh thái trong đất 11

2.5.3 Tách lọc mẫu Ve giáp 11

2.5.4 Định loại Ve giáp 12

2.5.5 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu 13

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15

3.1 Đa dạng thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ 15

3.1.1 Danh lục loài Oribatida tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ 15

3.2 Cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ 20

3.2.1 Đa dạng thành phần loài 21

3.2.2 Mật độ trung bình 21

3.2.3 Chỉ số đa dạng loài H’ và chỉ số đồng đều J’ 22

3.2.4 Các loài Oribatida ưu thế 22

3.3 Ảnh hưởng một số yếu tố sinh thái đến cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) tại đất trồng chè khu Thống Nhất, thanh Sơn, Phú Thọ 24

3.3.1 Ảnh hưởng của độ dẫn điện đối với một số chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatida tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ 24

3.3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với cấu trúc quần xã Oribatida tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ 26

KẾT LUẬN 28

KIẾN NGHỊ 29 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Danh sách số lượng loài theo các tầng phân bố tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ 16 Bảng 3.2 Thành phần phân loại học các loài Oribatida theo các tầng phân

bố tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ 19 Bảng 3.3 Một số định chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatida trong 2 lần thu mẫu theo các tầng phân bố 20 Bảng 3.4 Số lượng cá thể Oribatida ưu thế tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ(Đơn vị: cá thể) 22 Bảng 3.5 Tỉ lệ Oribatida ưu thế có trong đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú thọ (Đơn vị: %) 23 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của độ dẫn điện đối với một số chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatida tại đất trồng chè khu Thống Nhất 25 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với cấu trúc quần xã Oribatida tại đất trồng chè khu Thống Nhất 26

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida (Vũ Quang Mạnh, 2007) 8 Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan của Oribatida bậc cao (Vũ Quang Mạnh, 2007) 9 Hình 3.1 Đa dạng thành phần loài Oribatida theo tầng thẳng đứng tại đất trồng chè khu Thống Nhất 21 Hình 3.2 Cấu trúc loài Oribatida ưu thế trong đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ 23

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chè xanh hay trà là loài cây được trồng chủ yếu nhằm thu hoạch phần lá

và chồi non để chế biến thành nước uống trực tiếp hoặc phơi khô và xử lí để thu sản phẩm khô Cây chè đã được các loài động vật và con người sử dụng từ lâu đời như một loài thực phẩm hoặc nước uống mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe Theo y học cổ truyền, chè giúp tiêu hóa, sáng mắt, trung hòa độc tố vào các kinh tâm, phế vị (Đỗ Tất Lợi, 2012) [5] Trong các nghiên cứu lâm sàng gần đây, chè đã được cho là có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh ở người (US National Library of Medicine, 2018) [19] Chất caffeine có trong cây chè đã được chứng minh có chức năng như một chất chuyển hóa thứ cấp

và nó được tổng hợp ở các lá non cùng với một số loại enzyme (Li và cs., 2008) [18] Ngoài ra các chất khác có trong cây chè cũng mang lại nhiều giá trị về chữa bệnh như tannin giúp chữa tả lị, có tác dụng làm tan sỏi ở vùng bàng quang, thận, chống một số loại tia phóng xạ; chất catechin có tác dụng trong điều trị cao huyết áp, các bệnh lý về tim mạch và giúp cho các thành mạch vững chắc

Chè là cây lưu niên, được trồng phổ biến thành các mô hình công nghiệp đem lại giá trị kinh tế cao và bền vững Mỗi năm có thể thu 8 – 9 vụ chè phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc, mỗi một cây chè sau khi trồng cho sản phảm thu hoạch liên tục trong 30- 40 năm hoặc lâu hơn (Lê Tất Khương

và cs., 1999) [3] Cây chè có vùng thích nghi rộng, phân bố suốt từ đường xích đạo lên đến miền nam nước Anh (Gardening, 2005) [22] Tại Việt Nam, cho đến giữa thế kỷ XX cây chè được trồng rất phổ biến ở miền Bắc và miền Trung trong đó có 2 tỉnh có diện tích lớn nhất là Phú Thọ và Quảng Nam (Guinard, 1953) [15] Phú Thọ nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh nên khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây chè Đến nay, cây chè vẫn là một trong những cây trồng mũi nhọn của tỉnh Phú Thọ, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế và đời sống địa phương Tuy nhiên, trong quá trình canh tác người dân đã lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các loại kích thích hóa học kèm với việc đã canh tác lâu năm dẫn đến các

Trang 11

vùng trồng chè giảm dần về năng suất và chất lượng Điều này dẫn đến nhu cầu cấp thiết của việc đưa ra các giải pháp sinh học thân thiện và an toàn với môi trường để cải tạo các khu trồng chè

Đa dạng sinh học là sự đa dạng của sự sống trên Trái đất, gồm: đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái và đa dạng về thông tin di truyền/nguồn gen (Nguồn Internet) [23] Việt Nam là quốc gia có tính đa dạng sinh học cao cả về động vật, thực vật và vi sinh vật Trong đó, nhiều nhóm sinh vật đất có vai trò quan trọng trong việc chỉ thị điều kiện sinh thái môi trường, góp phần tiêu diệt, làm sạch hoặc mang một số nhóm kí sinh trùng hay nguồn bệnh khác Đại diện chính của nhóm này là Ve giáp (Acari: Oribatida) (J S Bokhorst và cs., 2008) [16]

Nghiên cứu cấu trúc quần xã Ve giáp ở đất có liên quan chặt chẽ đến điều kiện khí hậu, môi trường, với từng loại đất, cây trồng hay chế độ canh tác đất và phân bón Vì vậy, cấu trúc này được nghiên cứu như yếu tố chỉ thị sinh học, chỉ thị các biến đổi tự nhiên và tác nhân của môi trường đất

Việc nghiên cứu Ve giáp ở nhiều vùng miền, nhiều hệ sinh thái khác nhau, đặc biệt là các nghiên cứu tổng hợp về cấu trúc quần xã Ve giáp về thành phần loài, mật độ quần thể, độ đa dạng loài để đánh giá đúng và đầy đủ vai trò của chúng trong hệ sinh thái đất là hết sức cần thiết

Những năm trước cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài và cấu trúc quần xã Ve giáp ở các khu vực khác nhau Tuy nhiên, khu vực đất trồng chè tại khu Thống Nhất, thị trấn Thanh Sơn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều về hệ sinh thái đất

Với tất cả lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học và phân bố của Ve giáp tại đồi chè khu Thống Nhất, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida liên quan đến chiều sâu thẳng đứng trong đất tại đồi chè khu Thống Nhất, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá vai trò chỉ thị của Oribatida trong việc đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái đất trồng chè tại khu Thống Nhất

Xác định được sự tác động của một số yếu tố sinh thái (nhiệt độ, độ dẫn điện) đến sự phân bố, thành phần loài Ve giáp tại đồi chè khu Thống Nhất, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần loài, phân tích đa dạng loài và đặc sự phân bố của của Ve giáp (Acari: Oribatida) tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ

Xác định đặc điểm cấu trúc của quần xa Ve giáp theo chiều thẳng đứng nhờ phân tích các chỉ số sinh học (số lượng loài, mật độ trung bình, chỉ số dồng đều J’, chỉ số đa dạng H’ và độ ưu thế D)

Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (nhiệt độ, độ dẫn điện) đến cấu trúc quần xã Ve giáp (Arcari: Oribatida) ở đất trồng chè khu Thống Nhất

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài bổ sung các số liệu về đa dạng sinh học, các đặc trưng định lượng của Ve giáp theo sinh cảnh, theo độ sâu của đất (0-10 cm và 10-20 cm) tại đất trồng chè khu Thống Nhất thị trấn Thanh Sơn

Cung cấp các dẫn liệu về sự tác động của một số nhân tố sinh thái đến cấu trúc quần xã Oribatida ở khu vực trồng chè khu Thống Nhất thị trấn Thanh Sơn

Trang 13

4.2 Thực tiễn của đề tài

Đề tài bổ sung đánh giá về độ đa dạng loài, nêu được sự khác biệt về số lượng, thành phần loài Ve giáp ở các tầng đất khác nhau Đó là căn cứ để có thể dự đoán về ảnh hưởng từ các hoạt động của con người tác động đến môi trường đất cũng như đến sự đa dạng trong thành phần loài Oribatida

Dựa và việc phân tích số liệu làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá cũng như quản lý sử dụng cấu trúc quần xã Ve giáp làm yếu tố chỉ thị sinh học

trong việc quản lý bền vững hệ sinh thái đất

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới

Năm 2004, theo Karasawa thành phần loài Oribatida do ảnh hưởng của

sự phân cắt đại lý ít hơn so với thành phần loài Oribatida chịu ảnh hưởng của

sự đa dạng vi sinh cảnh (microhabitat) trong rừng ngập mặn Tác giả đã thu thập mẫu Oribatida từ lá cây, vỏ cây (tương ứng với các độ cao 100 – 150cm,

50 – 100cm và 0 – 50cm so với mặt đất), đất nền, mẫu rễ cây và từ tảo biển ở

2 địa điểm cách nhau 470km Tác giả đã chỉ ra rằng thành phần loài Oribatida

ở đầu rễ cây và vỏ thân cây có sự khác biệt so với các sinh cảnh còn lại Theo Karasawa quần xã Oribatida giống nhau là do chúng có cùng kiểu sinh cảnh hơn là do cùng địa điểm (Karasawa S., 2004) [17]

Năm 2007, khi nghiên cứu quần xã Oribatida sống trên cây ở vùng Nizhiy Novgorod của Liên bang Nga, Ermilov và Chistyakov đã xác định được 74 loài Oribatida thuộc 51 giống, 36 họ, 22 liên họ Khi nghiên cứu về thành phần loài, mật độ cá thể và các loài ưu thế theo chiều thẳng đứng của quần xã Oribatida sống trên cây, Ermilov và Chistyakov đã phân biệt chúng thành 3 nhóm khác nhau về hình thái, sinh thái Tác giả cũng cho thấy sự phân bố của các loài Oribatida phụ thuộc và nơi sống của chúng: nhóm sống hoàn toàn trên cây, nhóm sống trên cây – dưới đất và nhóm sống hoàn toàn trong đất (Ермилов C Г.,Чистяков M П., 2007) [13].

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về Oribatida diễn ra mạnh mẽ tại nhiều vùng trên khắp các châu lục và đã thu được nhiều kết quả to lớn Trong thời gian này, theo Balogh số lượng giống Oribatida được phát hiện trên thế giới đã tăng từ 700 lên đến hơn 1.000 gống (Balogh J and Balogh P., 1992) [12]

Khi nghiên cứu về cấu trúc quần xã Oribatida, Petersen và Luxton cho rằng độ phong phú và đa dạng lớn nhất của Oribatida là ở trong lớp thảm mục, trong cây gỗ, rêu, nấm, địa y và trong các tầng nông sâu của đất, đặc biệt chúng tập trung khá nhiều ở tầng 0-20cm (Petersen và Luxton, 1982) [20] Nghiên cứu của Archaur và cs năm 2006 đã chỉ ra rằng sự khô hạn sẽ làm giảm độ phong phú của nhiều loài nhưng cũng có một vài taxon có thể

Trang 15

gia tăng số lượng trong thời kỳ khô hạn hoặc ngay sau thời kỳ này (Archaux

et al, 2006) [11]

2.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam

Trong những năm gần đây tại Việt Nam, động vật chân khớp bé ở đất đại diện là Ve giáp (Acari: Oribatida) ngày càng được quan tâm Các công trình nghiên cứu về Ve giáp ngày càng có hệ thống về cả khu hệ sinh học, sinh thái

và vai trò chỉ thị

Năm 2012, khi nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp tại khu công nghiệp Bình Xuyên và vùng phụ cận thuộc huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc, Triệu Thị Hường và cs đã chỉ ra được sự biến động lớn về thành phần loài Oribatida ở các sinh cảnh khác nhau đó là KCN, VQN, Ruộng Kết quả ghi nhận được 38 loài trong đó có 2 loài chưa được định tên (Triệu Thị Hường và cs., 2012) [2]

Cũng trong năm 2012, khi nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida theo mùa

ở hệ sinh thái đất rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Đào Duy Trinh

và cs., cho rằng khi chuyển từ mùa khô sang mùa mưa thì các giá trị số lượng loài ở các sinh cảnh khác nhau đều có sự thay đổi rõ rệt ở hầu như tất cả các chỉ số như số lượng loài, mật độ trung bình, độ đa dạng loài (H’), độ đồng đều (J’) (Đào Duy Trinh và cs., 2012) [10]

Năm 2014, Lê Thị Lan Phương, Đào Duy Trinh, Nguyễn Thị Thu Anh khi nghiên cứu cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) tại đất rừng thứ sinh nhân tác thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình ở độ cao 300m Kết quả đã ghi nhận được 68 loài Oribatida thuộc 47 giống, 29 họ, trong đó có 7 loài được xem là loài đặc trưng cho khu vực nghiên cứu MĐTB cao nhất ở tầng đất 0-10cm (16960 cá thể/m3) và thấp nhất ở tầng rêu (576 cá thể/kg) Trong khi đó độ đa dạng H’ và độ đồng đều J’ lại có chiều hướng ngược lại, cao nhất ở tầng rêu (H = 3,05; J’ = 0,89) và thấp nhất ở tầng đất 0 – 10cm (H’ = 1,71; J’ = 0,52) (Lê Thị Lan Phương và cs., 2014) [9]

Năm 2017, Đỗ Chí Cường và cs khi nghiên cứu thành phần loài Oribatida trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn đã ghi nhận được 22 loài, 19 giống thuộc 11 họ Trong đó 3 họ có số lượng

Trang 16

giống và loài nhiều nhất là họ Xylobatidae, họ Oppiidae và họ Scheloribatidae (Đỗ Chí Cường và cs., 2017) [1]

Trang 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, ĐẶC ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài Oribatida (Acari: Oribatida), thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Archanida), phân lớp Ve bét (Acari)

Đặc điểm hình thái loại Ve giáp

Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida (Vũ Quang Mạnh, 2007)

- Prosoma là phần đầu ngực bao gồm 4 đôi chân I, II, III và IV

- Proterosoma là phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước

- Hyterosoma là phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN), giáp sinh

dục (G) và 2 đôi chân sau

- Prodorsum là tấm giáp đầu ngực, Notogaster là tấm giáp lưng

- Gnathosoma là phần hàm miệng

- Propodosoma là phần thân trước mang đôi chân I và II

- Prodosoma là phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân

- Metapodosoma là phần giữa mang đôi chân III và IV

Trang 18

Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan của Oribatida

bậc cao (Vũ Quang Mạnh, 2007)

a Mặt lưng, b Mặt bụng, c Mặt bên

ro: Chóp đỉnh rostrum: ro, lm: lông rostrum; tấm lamella

le, in, ss: Lông mọc trên lamella, lông interlamela, lông sensilus

Bothridium: Gốc của lông sensilus

Exa và Exp: lông trước gốc bothridium và lông sau gốc bothridium

tutorium: tấm kitin chìa ra nằm dưới và chậy song song với lamella

cuspis: phân đỉnh của tấm lamella chìa lên bề mặt cơ thể

prolamela: phân tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên trên bề mặt cơ

thể

Trang 19

c1, c2, c3, d1, d2, e1, e2, f1, f2, h1, h2, h3, ps1, ps2, ps3: các lông notogaster

ở Ve giáp bậc thấp; gla: tuyến dầu nhờn; h: lông dưới miệng; 1a, 1b, 1c và

2a, 3a, 3b, 3c và 4a, 4b, 4c, 4d: các lông của epimeres 1, 2, 3 và 4; ap1, ap2, ap3, ap4, ap5, ap sej., ap.st: các mấu lồi trong apoodemes; ep1, ep2, ep3, ep4: các gân cơ epimeres của gốc chân; pd1, pd2, pd3, pd4: các tấm pedotecta

phủ mặt trên của gốc các chân; ia, ih, im, ips, iad, ian: các khe cắt lyrifissures

G, AG: giáp sinh dục và giáp quanh sinh dục; g và ag: các lông sinh dục và

lông quanh sinh dục

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) được tiến hành ở khu vực trồng chè tại khu Thống Nhất, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.3 Đặc điểm tự nhiên

Vị trí địa lý: Phía Đông Thanh Sơn giáp huyện Thanh Thủy và tỉnh Hòa

Bình; phía Tây giáp huyện Tân Sơn; phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình; phía Bắc giáp 2 huyện Tam Nông và Yên Lập (Nguồn Internet) [24]

Địa hình: Thanh Sơn bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối,

nghiêng từ Tây sang Đông Vùng núi cao tập trung ở phía Tây, vùng núi thấp

ở giữa, vùng gò đồi tập trung ở phía Đông và những thung lung chạy dọc theo các con sông, độ cao trung bình từ 500 – 700 m Trên địa bàn có sông Bứa, sông Cái, sông Dân, ngòi Lạt và nhiều sông nhỏ khác chảy qua (Nguồn Internet) [24]

Khí hậu: Thanh Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm

trung bình từ 85 - 87%, nhiệt độ trung bình từ 22,5 - 23,5°C, mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 10 (Nguồn Internet) [24]

2.4 Thời gian nghiên cứu

Tôi tiến hành thu mẫu theo 2 lần:

Lần 1 vào ngày 30/09/2017 với số lượng 10 mẫu

Lần 2 vào ngày 29/12/2017 với số lượng 10 mẫu

Trang 20

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp thu mẫu

Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: Hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật cỡ (5x5x10) cm, cân tiểu li, túi nilong, bút dạ không xóa, sổ nhật kí thực địa (Trần đại nghĩa, 2005) [8]

Mẫu đất được thu ở 2 tầng có độ sâu từ 0-10cm (tính từ mặt đất) kí hiệu

là tầng -1 và ở độ sâu tiếp theo 10-20cm kí hiệu là tầng -2 Mỗi mẫu có kích thước (5x5x10) cm³ Mỗi tầng thu 5 mẫu (tổng số 10 mẫu)

Cách thu mẫu: Trên ruộng trồng chè, tôi tiến hành thu mẫu theo hình dấu thập, mỗi điểm lấy mẫu cách nhau 5m Mẫu được lấy ở 5 vị trí của ruộng (4 mẫu ở 4 góc ruộng và 1 mẫu ở trung tâm của ruộng) Cả 2 lần lấy mẫu đều thu lặp lại tại cùng 1 địa điểm nghiên cứu Có chụp ảnh thu mẫu trong 2 lần

Tất cả các mẫu sau khi thu đều cho ngay vào túi nilon riêng được buộc chặt, bên trong có chứa nhãn ghi đầy đủ các thông số: tầng đất, ngày, tháng, địa điểm lấy mẫu Mẫu được đem về phòng thí nghiệm động vật để phân tích (Vũ Quang Mạnh, 2007) [6]

2.5.2 Đo chỉ số các nhân tố sinh thái trong đất

- Nhiệt độ: có máy đo nhiệt độ chuyên dụng,

- Độ dẫn điện: Mẫu đất sau khi thu về được đưa ngay vào phòng thí nghiệm động vật của trường để phân tích (Độ dẫn điện theo TCVN 6650: 2000: ISO 11265: 1994)

2.5.3 Tách lọc mẫu Ve giáp

Các mẫu sau khi thu ở thực địa về sẽ tiếp tục tiến hành tách động vật Chân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp phễu lọc “Berlese – Tullgren”,

Trang 21

dựa theo tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm của động vật đất, trong

thời gian 7 ngày đêm, ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm

Xử lý mẫu, bảo quản và định loại: Các ống nghiệm chứa động vật thu được sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn trong đĩa petri, sử dụng kính lúp để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Các mẫu Oribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệm chứa dung dịch định hình là formol 4% Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghi đầy đủ ngày thu mẫu, địa điểm Toàn bộ tiêu bản định loại và các mẫu vật được bảo quản tại phòng Động vật, khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.5.4 Định loại Ve giáp

Mẫu Ve giáp, trước khi định loại cần được tẩy màu, làm trong vỏ kitin cứng Quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau, quan sát theo hướng lưng, bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát ta chuyển sang kính hiển vi để quan sát và định loại Oribatida

Sau khi hoàn tất quá trình định loại Oribatida, các loài được chụp ảnh và tất cả các cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch định hình bằng formol 4% Dùng giấy decan ghi các thông số tên loài cần thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước, tất cả các ống nghiệm được đặt chung vào lọ thủy tinh lớn chứa formol 4% để bảo quản lâu dài Ghi tên các loài đã được định loại vào nhật kí phòng thí nghiệm Vũ Quang Mạnh, (2007); Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, (2006) [6] [7]

Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng loại phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh P., 1992 [12] Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả: Vũ Quang Mạnh, (2007); Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, (2006) [6] [7]

Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều được TS Đào Duy Trinh kiểm định lại

Trang 22

13

2.5.5 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu

Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu, dùng

phần mềm Primer - E, 2001; phần mềm Excel 2003 [21]

Số lượng loài: được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên cứu

ở tất cả các lần thu mẫu (với đất là cá thể/m³)

Mật độ trung bình: được tính bằng số lượng cá thể trung bình có ở tất

cả các lần thu mẫu của điểm nghiên cứu (với đất là cá thể/m³)

Phân tích độ ưu thế (D) tính theo công thức:

Trong đó: D: độ ưu thế

na: số lượng cá thể của loài a

N: tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay theo địa

điểm

Theo Ermilov và Chistyakov, 2007: loài Oribatida ưu thế là những loài

có độ ưu thế đạt giá trị 5% trở lên

Phân tích chỉ số đa dạng loài (H’):

Chỉ số (H’) Shannon – Weaner: Được sử dụng để tính sự đa dạng loài

hay số lượng loài trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của

các loài trong quần xã

Trong đó: s: số lượng loài thu được

ni: số lượng cá thể của loài i

N: tổng số cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu

Giá trị H’ dao động trong khoảng 0 đến ∞ Chỉ số đa dạng của quần xã

phụ thuộc vào hai yếu tố là số lượng loài và tính đồng đều về sự phong phú

Trang 23

của các loài trong quần xã Một khu vực có số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn Chỉ số đa dạng ở khía cạnh nào đó cho biết tính đa dạng của quần xã và là một chỉ tiêu có thể đánh giá được tính đa dạng về khu hệ động, thực vật của một khu vực

Phân tích chỉ số đồng đều (J’) – Chỉ số Pielou

Trong đó: H’: chỉ số đa dạng loài

S: số loài có trong sinh cảnh

Giá trị J’ dao động trong khoảng từ 0 đến 1 Nếu J’=1, quần xã có độ đồng đều cao nhất, khi đó tất cả các loài có số lượng bằng nhau

S

H J

ln '

Trang 24

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đa dạng thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ

3.1.1 Danh lục loài Oribatida tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ

Kết quả nghiên cứu tại đất trồng chè khu Thống Nhất, Thanh Sơn, Phú Thọ đã thu được 20 loài thuộc 8 họ 11 giống (bảng 3.1) Các loài phân bố không đều tại các tầng đất: tầng đất 0-10cm có 16 loài, tầng đất 10-20cm có 9 loài Trong tổng số 20 loài thu được có: 15 loài xác định tên khoa học và 5

loài chưa định tên gồm: Papilacarus sp.; Unguizetes sp.; Perxylobates sp.;

Xylobates sp.; Oribatella sp

Trong 20 loài được ghi nhận, có 3 loài xuất hiện tại cả 2 lần thu mẫu là

Papilacarus undriostratus; Xylobates lophotrichus; Xylobates gracilis và có

thể xem đây là các loài Oribatida thích nghi cao trong sinh cảnh đất trồng chè

khu Thống Nhất Có 5 loài xuất hiện ở cả 2 tầng phân bố gồm: Papilacarus

undriostratus; Perxylobates brevisetus; Perxylobates sp.; Xylobates lophotrichus; Xylobates gracilis Những loài còn lại chỉ xuất hiện ở 1 tầng

phân bố (bảng 3.1)

Ở Bắc Bộ, mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X còn mùa khô kéo dài từ tháng XI đến tháng IV (Vũ Tự Lập, 2007) [4] Trong 20 loài được ghi nhận, có 11 loài chỉ xuất hiện ở lần thu mẫu 1 (vào mùa mưa) và 6 loài chỉ xuất hiện ở lần thu mẫu thứ 2 (vào mùa khô) Như vậy qua 2 mùa sự phân bố

số lượng loài Oribatiada chênh lệch khá lớn, mùa mưa là 11 loài và mùa khô

là 6 loài

Ngày đăng: 23/12/2019, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Chí Cường, Bùi Công Chuẩn, Đào Duy Trinh, 2017, “Sự biến động về thành phần loài Ve giáp thuộc phân bộ Oribatida (Acari) trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, Minh Trí, Sóc Sơn, Hà Nội”, Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên Sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ VII 20/10/2017, tr. 590-595 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến động về thành phần loài Ve giáp thuộc phân bộ Oribatida (Acari) trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, Minh Trí, Sóc Sơn, Hà Nội”, "Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên Sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ VII 20/10/2017
2. Triệu Thị Hường và cs., 2012, “Nghiên cứu sự biến động về thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại khu công nghiệp Bình Xuyên và phụ cận huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc”, Kỷ yếu hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học các trường đại học sư phạm toàn quốc lần thứ VI, tr538 – 543 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự biến động về thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại khu công nghiệp Bình Xuyên và phụ cận huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc”, "Kỷ yếu hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học các trường đại học sư phạm toàn quốc lần thứ VI
3. Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung, Đỗ Ngọc Oanh 1999, Giáo trình cây chè, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr 7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây chè
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
4. Vũ Tự Lập, 2007, địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, tr140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: địa lí tự nhiên Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
6. Vũ Quang Mạnh, 2007, Động vật chí Việt Nam, Bộ Ve giáp Oribatida, Nxb KH và KT, 21, tr.15-346.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật chí Việt Nam, Bộ Ve giáp Oribatida
Nhà XB: Nxb KH và KT
7. Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006, “Ve giáp họ Oppiinae Grandjean, 1954 (Acari: Oribatida) ở Việt Nam, II, Phân họ Oppiidae Grandjean, 1951 và Multioppiinae Balogh, 1983”, Tạp chí khoa học ĐHQG hà Nội, T, XXII, 4, tr.66-75.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ve giáp họ Oppiinae Grandjean, 1954 (Acari: Oribatida) ở Việt Nam, II, Phân họ Oppiidae Grandjean, 1951 và Multioppiinae Balogh, 1983”, "Tạp chí khoa học ĐHQG hà Nội
8. Trần Đại Nghĩa (chủ biên), 2005, Sổ tay thực tập thiên nhiên, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr 5-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thực tập thiên nhiên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
9. Lê Thị Lan Phương, Đào Duy Trinh, Nguyễn Thị Thu Anh, 2014. Cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng thứ sinh nhân tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 23. Tr. 113-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 23
11. Archaux F., Wolter V 2006, “Impact of summer drought on forest biodiversity: What do me know?” Ann. For Sci., 63. Pp. 645-652 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of summer drought on forest biodiversity: What do me know?”
12. Balogh J. and Balogh P. 1992, The Oribatida Genera of the World, HNHM Press, Budapest, V.1 and 2, pp.1 – 263 and pp. 1 – 375 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Oribatida Genera of the World
13. Ермилов C. Г.,Чистяков M. П., 2007, "Насколько нам известно из древесных клещей панцирных Нижегородской области Новогорода", Поволгический эколо. Ж. З, С. 250-255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Насколько нам известно из древесных клещей панцирных Нижегородской области Новогорода
14. Eromilov S.G and Chistyakov M.P., 2007. “To our knowledge of arboareal Oribatida of the mites of the Nizhniy Novgoorod region”, Povoljki ecological Jurnal 3, pp.250-255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: To our knowledge of arboareal Oribatida of the mites of the Nizhniy Novgoorod region
15. Guinard, A. "Situation de la culture en Indochine". Archives dé recherches agronomiques et pastorales au Viêt-Nam: La culture du thé en Indochine No 20. Saigon: Centre national de recherches scientifiques et techniques, 1953. tr 168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Situation de la culture en Indochine
18. Li Y, Ogita S, Keya CA, Ashihara H (March 2008). "Expression of caffeine biosynthesis genes in tea (Camellia sinensis)". Zeitschrift Fur Naturforschung. C, Journal of Bio Sách, tạp chí
Tiêu đề: Expression of caffeine biosynthesis genes in tea (Camellia sinensis)
20. Petersen H và LuxtonM. 1982, “Comparative analysis of soil fauna populations and their role in decomposition processes.” Oikoi, 39, pp.278-388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative analysis of soil fauna populations and their role in decomposition processes.” "Oikoi
21. Primer-E Ltd. 2001, Primer 5 for windows, Version 5.2.4, 2001. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Primer 5 for windows
10. Đào Duy Trinh, Tạ Minh Cường, Vũ Quang Mạnh, 2012, “Nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida theo mùa khô và mùa mưa ở vườn quốc gia Khác
16. J S. Bokhorst, A. Huiskes, P. Convey, P.M. Van Bodegom, R. Aerts Khác
17. Karasawa S., 2004, ‘’Effect of microhabitat diversity and geofraphical isolation on Oribatida mite (Acari: Oribatida) communites in mangrove forest’’, Pedobiologia 48(3), pp. 1-10 Khác
19. MedlinePlus, US National Library of Medicine. 30 November 2017. Retrieved 27 February 2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w