LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện một số giai đoạn trong quy trình nhân giống in vitro cây hoa Cẩm chướng Dianthus caryophyllus L.” là kết quả nghiên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN * * -* -* -* -
NGÔ TUYẾT DUNG
HOÀN THIỆN MỘT SỐ GIAI ĐOẠN TRONG QUY TRÌNH
NHÂN GIỐNG IN VITRO CÂY HOA
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN * * -* -* -* -
NGÔ TUYẾT DUNG
HOÀN THIỆN MỘT SỐ GIAI ĐOẠN TRONG QUY TRÌNH
NHÂN GIỐNG IN VITRO CÂY HOA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và tri ân sâu sắc đến Ts La Việt Hồng, khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban Chủ nhiệm khoa Sinh-KTNN, Cán bộ Phòng thí nghiệm Sinh lý học Thực vật khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, cùng các bạn trong nhóm đề tài Sinh lý học Thực vật đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Trong thời gian đó tôi cũng nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của
cô Mai Thị Hồng, cán bộ phòng Thí nghiệm Sinh lý học Thực vật khoa KTNN trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô
Sinh-Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, hỗ trợ và đóng góp ý kiến trong quá trình tôi học tập và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Ngô Tuyết Dung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện một số giai
đoạn trong quy trình nhân giống in vitro cây hoa Cẩm chướng (Dianthus
caryophyllus L.)” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi do TS La Việt Hồng
hướng dẫn Các số liệu, kết quả trong nghiên cứu này là trung thực và không trùng lặp với kết quả và nghiên cứu của người khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Ngô Tuyết Dung
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MS : Murashige và Skoog, 1962
BAP : 6 - Benzyl amino purin
NAA : Napthalene acetic acid
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các công thức thí nghiệm ảnh hưởng của BAP 17 Bảng 2.2 Các công thức thí nghiệm ảnh hưởng củ NAA 18 Bảng 2.3 Các công thức thí nghiệm ảnh hưởng của cường độ ánh sáng 19
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của BAP đến sự tái sinh và nhân nhanh chồi in vitro
in vitro 29
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của độ che sáng đến tỷ lệ sống sót và chiều cao cây
Cẩm chướng in vitro giai đoạn rèn luyện (sau 20 ngày rèn luyện) 32
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Hoa Cẩm chướng 20 Hình 3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến quá trình tái sinh và nhân nhanh chồi in vitro giống TVĐ 21
Hình 3.3 Hiện tượng thủy tinh hóa ở chồi in vitro giống TVĐ 21
Hình 3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến quá trình tái sinh và
nhân nhanh chồi in vitro giống VC 24 Hình 3.5 Hiện tượng thủy tinh hóa ở chồi in vitro giống VC 24
Hình 3.6 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến quá trình tái sinh và
nhân nhanh chồi in vitro giống ĐN 26 Hình 3.7 Hiện tượng thủy tinh hóa ở chồi in vitro giống ĐN 27 Hình 3.8 Kết quả tạo rễ cho chồi Cẩm chướng in vitro của ba giống trên
môi trường N0,1 31
Hình 3.9 Kết quả rèn luyện cây in vitro giống Trắng viền đỏ sau 20 ngày
rèn luyện (công thức che sáng 75%) 34
Hình 3.10 Kết quả rèn luyện cây in vitro giống Vàng chanh sau 20 ngày
rèn luyện (công thức che sáng 75%) 34
Hình 3.11 Kết quả rèn luyện cây in vitro giống Đỏ nhung sau 20 ngày rèn
luyện (công thức che sáng 75%) 35
Hình 3.12 Kết quả rèn luyện ba giống cây Cẩm chướng in vitro sau 1,5
tháng rèn luyện 35
Trang 8MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đính nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Giới thiệu về cây hoa Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.) 5
1.1.1 Vị trí phân loại và nguồn gốc của cây Cẩm chướng 5
1.1.2 Đặc điểm sinh học 6
1.1.3 Giá trị thẩm mỹ và kinh tế 7
1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu về hoa Cẩm chướng 11
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 11
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 12
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Vật liệu, hóa chất, thiết bị 15
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 15
2.1.2 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất 15
2.1.3 Môi trường nuôi cấy 16
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
Trang 92.2.3 Phương pháp phân tích thống kê số liệu 19
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Tái sinh và nhân nhanh chồi Cẩm chướng in vitro 20
3.1.1 Giống Cẩm chướng Trắng viền đỏ: 20
3.1.2 Giống Cẩm chướng Vàng chanh 23
3.1.3 Giống Cẩm chướng Đỏ nhung 26
3.2 Ra rễ và tạo cây in vitro hoàn chỉnh 29
3.3 Rèn luyện cây Cẩm chướng in vitro thích nghi với điều kiện tự nhiên 31
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 10và phổ biến Nó không chỉ góp phần làm đẹp cảnh quan mà ngành sản xuất hoa còn trở thành một ngành thương mại có giá trị kinh tế cao, mang lại lợi ích lớn cho nhiều quốc gia [23]
Cẩm chướng là một trong những loại hoa cắt cành hàng đầu có giá trị thương mại lớn Với những ưu điểm: Màu sắc đẹp, đa dạng, phong phú, sản lượng cao, dễ vận chuyển, dễ bảo quản, Cẩm chướng trở thành một loài hoa cắt cành được trồng phổ biến trên thế giới, chiếm khoảng 17% tổng sản lượng hoa cắt cành [1]
Cây cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.) có nguồn gốc ở Địa Trung
Hải, bắt đầu được nuôi trồng để thưởng thức từ thế kỉ XVI, thuộc họ Cẩm chướng gồm khoảng 82 đến 120 chi với hơn 3.000 loài [1], [2], [3] Nhiều
loài trong chi Dianthus phân bố rộng khắp từ Châu Âu và Châu Á, từ cực Bắc
Mỹ tới các đỉnh núi của Châu Phi Một số loài trong chi Dianthus gồm: D caryophyllus, D barbatus, D chinensis, D Plumarius,D superbus và các
dạng lai của chúng được sử dụng rộng rãi trong ngành sản xuất hoa [8] Các
giống hoa cẩm chướng thuộc loài (Dianthus caryophyllus L.), thường được
trồng để thu hoa thương phẩm dưới dạng hoa cắt cành, được người tiêu dùng
ưa chuộng [13]
Ở nước ta, cây hoa Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.) được
người Pháp đưa vào trồng từ những năm đầu thế kỷ XX Cẩm chướng chủ yếu
Trang 112
được trồng ở những nơi có khí hậu mát mẻ như Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) Hầu hết các giống hiện có ở nước ta đều được nhập nội từ Hà Lan, Pháp, Đức, Ý và Trung Quốc [4] Những năm gần đây, Cẩm chướng được trồng ở khắp các địa phương trong cả nước, đã góp phần tích cực thay đổi đời sống của nhân dân
Sản xuất giống Cẩm chướng có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau: vi nhân giống - nhân giống bẳng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật, nhân giống bằng hạt hoặc nhân giống bằng phương pháp giâm cành
Phương pháp gieo hạt có ưu điểm là hệ số nhân giống cao, tuy nhiên, hạt Cẩm chướng phải nhập nội, tỉ lệ nảy mầm không cao, giống tạo ra không đồng đều, cây con yếu, khó chăm sóc,… nên phương pháp này ít được sử dụng
Phương pháp giâm cành có thể được tiến hành quanh năm, thuận lợi nhất là vào mùa xuân Phương pháp này dễ thực hiện, chi phí thấp Tuy nhiên, cây giống được tạo ra không đảm bảo được sạch bệnh, phụ thuộc nhiều vào thời tiết bên ngoài, nhất là khi giâm vào mùa hè hay mùa thu
Trong sản xuất thường kết hợp kĩ thuật vi nhân giống và phương pháp giâm cành để giảm chi phí sản xuất cây giống mà vẫn có thể tận dụng được những ưu điểm của phương pháp nuôi cấy mô [3]
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ nhân giống vô
tính thực vật bằng phương pháp nuôi cấy in vitro đã và đang tỏ ra rất hiệu quả
trong sản xuất nông nghiệp
Ưu điểm của phương pháp này là tạo ra số lượng lớn giống cây trồng sạch bệnh với tốc độ nhanh, chất lượng đồng đều về mặt di truyền, tiết kiệm
không gian, nâng cao chất lượng cây trồng và đặc biệt, nuôi cấy in vitro thực
vật có tiềm năng công nghiệp hóa Kĩ thuật nuôi cấy mô được sử dụng cho
Trang 123
hơn 50% giống cây trồng các loại.Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp này cũng có những mặt hạn chế như chi phí cao, yêu cầu kỹ thuật thành thạo do đó sản phẩm có giá thành cao hơn so với các sản phẩm giống cây trồng từ phương pháp truyền thống [5], [23]
Vậy, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện một số giai
đoạn quy trình nhân giống in vitro cây hoa Cẩm chướng (Dianthus
caryophyllus L.)” nhằm cải thiện một số khó khăn trong quy trình nhân
giống loài hoa này từ đó cung cấp nguồn giống hoa Cẩm chướng sạch bệnh,
có chất lượng tốt cho thị trường hoa tươi của Việt Nam
2 Mục đính nghiên cứu
Hoàn thiện và khắc phục một số khó khăn trong quy trình nhân
giống in vitro ba giống Cẩm chướng Trắng viền đỏ, Vàng chanh và Đỏ
nhung nhằm cung cấp nguồn giống hoa Cẩm chướng sạch bệnh, có chất lượng tốt cho thị trường hoa tươi của Việt Nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến khả năng tái sinh và tạo chồi của
ba giống Cẩm chướng
Nghiên cứu ảnh hưởng của NAA đến khả năng tạo rễ của chồi Cẩm
chướng in vitro
Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng sống sót
và sinh trưởng của cây in vitro trong điều kiện tự nhiên
4 Phạm vi nghiên cứu
Các thí nghiệm tái sinh và nhân nhanh, ra rễ tạo cây in vitro hoàn
chỉnh được thực hiện trong điều kiện môi trường nhân tạo tại Phòng thí
Trang 134
nghiệm Sinh lý học Thực vật, Khoa Sinh-KTNN, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2
Các thí nghiệm rèn luyện cây con in vitro được thực hiện tại Vườn
thực nghiệm Khoa Sinh-KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Bổ sung nguồn tài liệu khoa học về ảnh hưởng của
nồng độ chất điều hòa sinh trưởng thực vật (BAP) đến quá trình tái sinh
chồi, đánh giá ảnh hưởng của NAA đến khả năng tạo rễ của chồi in vitro,
đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng sống sót và sinh trưởng của cây con khi đưa từ môi trường phòng thí nghiệm ra rèn luyện trong điều kiện tự nhiên
Ý nghĩa thực tiễn: Hoàn thiện một số giai đoạn của quy trình nhân giống in vitro ba giống hoa Cẩm chướng cắt cành Trắng viền đỏ, Vàng
chanh và Đỏ nhung nhằm tạo ra nguồn giống cây con sạch bệnh, chất lượng cao
Trang 145
NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về cây hoa Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.)
1.1.1 Vị trí phân loại và nguồn gốc của cây Cẩm chướng
Cẩm chướng là tên gọi chung cho hầu hết các loài thực vật trong chi
Dianthus thuộc họ Caryophyllaceace, có nguồn gốc từ Châu Âu, chủ yếu là
từ Địa Trung Hải, những loài này đã bắt đầu xuất hiện trong ghi chép của người La Mã vào khoảng những năm 50 TCN [23]
Chi : Dianthus (Chi Cẩm chướng)
Loài : Dianthus Caryophyllus L
Tên Việt Nam: Cẩm chướng, Phăng, Cẩm nhung
Họ Cẩm chướng (Caryophyllaceae) được gộp trong bộ Caryophyllales,
là một họ lớn với khoảng từ 82 đến trên 120 chi với hơn 3.000 loài và nó là một trong tổng số 2 loài thực vật có hoa được tìm thấy tại châu Nam Cực Họ Cẩm chướng phần lớn là cây thân thảo, phân bố rộng khắp thế giới, đa dạng
Trang 15gỗ, hay thậm chí là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ Họ Cẩm chướng tương đối dễ
nhận dạng với các đặc điểm sinh học sau:
Rễ: Cây hoa cẩm chướng có bộ rễ chùm phát triển mạnh vào vụ chính
Rễ chủ yếu phân bố ở tầng đất mặt có chiều dài từ 15-20 cm
Thân: Cây cẩm chướng có thân dạng thân thảo, nhỏ và mảnh mai
Thân có màu xanh nhạt, được bao phủ một lớp phấn trắng
Lá: Lá kép, mọc đối, hiếm khi mọc vòng Mặt lá nhẵn không có độ
bóng Trên mặt lá có phủ một lớp phấn trắng mỏng và mịn Phiến lá nguyên,
có cuống lá và thường có lá kèm Các lá kèm này không tạo thành bao vỏ.
Hoa: Hoa lưỡng tính ở đầu cành, có thể mọc đơn lẻ (dạng đơn) hay
thành các cụm hoa dạng xim hoa (dạng chùm) Cụm hoa có thể là xim hai ngả Điều này có nghĩa là trong nách mỗi cuống hoa chính của hoa tận cùng trong xim hoa thì hai nhánh hoa đơn lẻ chồi ra ở mỗi bên của hoa đầu tiên và ngay dưới nó Nếu như không có hoa tận cùng thì điều này có thể dẫn tới xim một ngả, nghĩa là một xim hoa đơn với chỉ một hoa trên mỗi trục của cụm hoa Trong trường hợp tột cùng, điều này dẫn tới chỉ một hoa đơn lẻ, như ở
chi Dianthus Hoa cẩm chướng đẹp tự nhiên và có mùi thơm thoang
thoảng Hoa mẫu 5, các lá đài rời hay hợp Các cánh hoa nhăn hay chẻ sâu ở
tận cùng Đài hoa có thể phồng hình trụ, như ở chi Silene Số lượng nhị hoa là
5, 8 hay 10 Bộ nhụy thường có từ 2 tới 5 lá noãn (nhụy kép) và là dạng quả
Trang 16Hạt: Hạt nhỏ và nằm bên trong quả có màu đen, hình dẹt và hơi cong
Phôi thành vòng bao lấy phôi nhũ [1], [11], [23]
Hiện nay có khoảng 20 giống Cẩm chướng được trồng với mục đích cắt cành, được chia thành hai nhóm chính sau:
Nhóm hoa chùm: màu đỏ, hồng, trắng, kem…Hoa nhỏ, cành thấp:
30-40 cm Thời gian sinh trưởng: 18-24 tháng
Nhóm hoa đơn: màu đỏ, hoa lớn, cành cao: 70-80cm, mắt thưa, ít chồi Thời gian sinh trưởng 15-18 tháng
Ở nước ta, Cẩm chướng trồng chủ yếu tại Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng), những nơi có khí hậu mát mẻ Hoa Cẩm chướng là loại cây trồng có năng suất cao và giá trị xuất khẩu lớn do vậy cây Cẩm chướng nằm trong cơ cấu chuyển dịch cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, xoá đói giảm nghèo [1]
Trang 178
a Tình hình sản xuất hoa trên thế giới
Hoa Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.) bắt đầu được trồng để
thưởng ngoạn từ tế kỉ XVI Năm 1750, người Pháp đã lai tạo ra giống Cẩm
chướng Remontant cây cao, ra hoa nhiều lần trong năm
Năm 1852, Cẩm chướng bắt đầu được nhập từ Châu Âu vào nước Mĩ với màu sắc và kiểu dáng khác nhau, trong đó giống hàng đầu được ưa
chuộng là Wiliam Sim Từ các giống này họ đã lai tạo, gây đột biến kết quả
cho ra rất nhiều giống Cẩm chướng mới, được gieo trồng trên khắp thế giới [1]
Italia là quốc gia trồng Cẩm chướng nhiều nhất, năm 1995 sản lượng hoa cắt của nước này đạt 2.500 triệu cành Đến năm 2001 là 3.200 cành
Hà Lan có diện tích trồng Cẩm chướng và sản lượng đứng thứ 2 trên thế giới, khoảng 1.800 triệu cành/năm, Cẩm chướng của Hà Lan được xuất khẩu tới các thị trường khó tính như Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản Đến năm
Trung Quốc bắt đầu trồng Cẩm chướng từ năm 1920 Trung Quốc là quốc gia có nhiều vùng sản xuất Cẩm chướng Thượng Hải là vùng đầu tiên cũng là vùng sản xuất chủ yếu, sau đó là Vân Nam, Giang Tô, Triết Giang, Tứ Xuyên, Quảng Châu, Bắc Kinh,…[1]
Trang 189
Cẩm chướng là một trong bốn loại hoa cắt cành được ưa chuộng nhất thế giới, và tất nhiên Cẩm chướng cũng rất được ưa chuộng tại Việt Nam vì những ưu điểm của nó
b Tình hình sản xuất hoa tại Việt Nam
Ở Việt Nam nhìn chung Cẩm chướng đã có mặt từ đầu Thế kỉ XX do người Pháp trồng Đến nay, loài hoa này đã được trồng phổ biến trên khắp các vùng cả nước từ một số vùng núi như Lào Cai đến Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh,… cho đến thành phố Hồ Chí Minh Một số vùng trồng nhiều Cẩm chướng cũng như các loại hoa cắt cành khác như Sa Pa (Lào Cai),
An Hải (Hải Phòng), Tây Lựu - Từ Liêm (Hà Nội), Đà Lạt (Lâm Đồng) Tuy nhiên chỉ tại một số vùng có khí hậu mát mẻ như Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) mới cho hoa hoa có chất lượng cao hơn do điều kiện sinh trưởng tốt nhất của loài hoa này là từ 15-20 độ C [1], [2]
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng (2009) (chủ yếu là Đà Lạt) có khoảng 95ha trồng hoa Cẩm chướng trên tổng
số 3.216ha trồng hoa cắt cành chiếm 6%, là vùng có diện tích lớn nhất cả nước trồng Cẩm chướng cũng như nhiều loại hoa cắt cành khác phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu [19] Tuy diện tích trồng không lớn so với Cúc (65%), Lay - ơn (9%), Đồng tiền,… nhưng Cẩm chướng luôn có trong danh mục hoa xuất khẩu của Việt Nam Đặc biệt, trong một vài năm gần đây Cẩm chướng của Đà Lạt còn được thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc nhập khẩu và tạo thành thương hiệu riêng đã đem lại lợi nhuận gấp đôi cho người trồng hoa, từ 700 triệu đến 1 tỷ đồng / năm [20], [23]
Số liệu thống kê trên trang web http://www.rauhoaquavietnam.vn cho thấy kim ngạch xuất khẩu hoa các loại trong tháng 8/2009 đạt 1,7 triệu USD, tăng 111,9% so với cùng kỳ 2008 Sản phẩm hoa xuất khẩu chủ yếu là hoa
Trang 1910
Cúc, hoa Cẩm chướng Trong đó xuất khẩu hoa Cẩm chướng trong tháng 8/2009 đạt 1,7 triệu cành, kim ngạch đạt 343,8 nghìn USD, mặc dù có tăng 32% về lượng và 48% về kim ngạch so với tháng 7/2009 nhưng lại giảm 12%
về lượng và 19% về kim ngạch so với cùng kỳ 2008 Tính chung 8 tháng đầu năm 2009, lượng xuất khẩu hoa cẩm chướng đạt 8,4 triệu cành [22]
Cẩm chướng với những ưu điểm đang rất có triển vọng về sản xuất cũng như xuất khẩu Theo thống kê từ năm 2009 thì trường xuất khẩu hoa Cẩm chướng chủ yếu là Nhật Bản, Ôxtrâylia và Đài Loan Trong đó kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt cao nhất với 5,6 triệu cành/năm, kim ngạch đạt 924,9 nghìn USD Tiếp đến là Ôxtrâylia với lượng đạt 1,9 triệu cành/năm, kim ngạch đạt 440,7 nghìn USD Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu hoa Cẩm chướng sang thị trường Đài Loan vẫn tăng rất mạnh, đạt 901 nghìn cành/năm và hơn 120 nghìn USD, tăng 111% về lượng
Thứ hai, nguồn giống cung cấp chủ yếu từ nhân giống bằng phương
pháp gieo hạt hoặc giâm cành từ cây mẹ để lại từ vụ trước, qua thời gian giống bị thoái hoá dẫn đến năng suất và chất lượng hoa bị giảm sút, một số cơ
sở sản xuất đã nhập giống từ nước ngoài, chủ yếu là từ Trung Quốc, tuy nhiên nguồn gốc giống không được kiểm soát, không có xuất xứ rõ ràng, giá thành lại khá cao
Thứ ba, ở các tỉnh phía Bắc (trừ Sa Pa) hoa Cẩm chướng chỉ trồng được
một vụ trong năm, ảnh hưởng không nhỏ tới việc đáp ứng nhu cầu sử dụng
Trang 2011
của thị trường hoa trong nước cũng như chưa phát huy hết tiềm năng xuất khẩu
ra thị trường quốc tế của loại hoa này [11], [21]
Và cho đến hiện nay, sản xuất hoa cắt cành nói chung và Cẩm chướng nói riêng vẫn đang trong quá trình sôi động, cần được quan tâm, đầu tư và cải tiến kĩ thuật hơn nữa nhằm đem lại lợi nhuận cao cho người trồng hoa, cũng như khẳng định vị trí của hoa tươi Việt Nam trên thị trường Quốc tế
1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu về hoa Cẩm chướng
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ thế kỷ XVI đã có những nghiên cứu nhằm cải tạo giống hoang dại với mục đích có thể lai tạo được nhiều giống Cẩm chướng mới có kiểu dáng, hình dạng và màu sắc đa dạng hơn và có thể trồng được nhiều vụ trong năm
Năm 1840 Dalmais (Pháp) tạo ra giống Antivn từ loại Cẩm chướng Trung Quốc (Pecpartual Carnation) Năm 1886 Alegatera (Pháp) tạo ra giống Trecanation có ưu điểm là thân thẳng đứng, các giống ra hoa quanh năm.Và
cho đến nay đã có rất nhiều những nghiên cứu về loài hoa này
Abau Dahab (1967) đã nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ và kết luận biện
độ nhiệt giữa ngày và đêm ảnh hưởng lớn đến số đốt của giống Williamsim cụ
thể là: nhiệt độ đêm thấp, ngày cao có lợi cho sự kéo dài của cuống hoa Còn theo Hanan (1959) cho rằng nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của cành và lá ban ngày là 18-24oC, ban đêm từ 12-18o
C
Năm 1987 Vande Heuvel đã nghiên cứu công nghệ trồng Cẩm chướng
ở Hà Lan cho thấy các loại đất trồng, phương pháp tưới nước, bón phân có thể làm giảm bệnh do nấm Fusarium, tưới nước nhỏ giọt có thể tiết kiệm nước, sử dụng plastic trắng che có thể tận dụng được ánh sáng sẵn có của tự nhiên và giảm sự bay hơi nước trong mùa đông
Trang 2112
Awaersen và Aabrandi (1989) trồng cây Cẩm chướng lai Fancy
trong điều kiện nhân tạo ở các cường độ ánh sáng 10-60 W/m2 Kết quả cho thấy số cành hoa đã tăng rõ rệt theo cường độ ánh sáng
Smith và Parker (1996) nghiên cứu bảo quản hoa bằng cách điều hoà không khí phát hiện thấy: Khi nồng độ CO2 cao hơn 3,5% thì có thể loại trừ các tác hại của Ethylen với Cẩm chướng
Elham Hamidimoghadam và cộng sự năm 2014 đã nghiên cứu ảnh hưởng của Nano - bạc (NS), Axit gibberellic (GA3) và Benzyl adenine (BA) đến 1 số tính trạng sau thu hoạch và tuổi thọ của giống Cẩm chướng Pinkcastellaro đã cho kết quả tốt nhất ở công thức có chứa 5mg/l NS và GA3 kết hợp với 80 mg/l BA
Và những nghiên cứu được công bố mới nhất gần đây phải kể đến nghiên cứu của Khatun và cộng sự đầu năm 2018 về ảnh hưởng của Nước dừa
và Cytokinin đến quá trình nhân giống in vitro Cẩm chướng: theo Khatun, chồi Cẩm chướng in vitro sinh trưởng và phát triển tốt nhất, cho hệ số nhân
nhanh cao nhất là ở công thức MS cơ bản bổ sung 10% nước dừa và 1mg/l BAP
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Cẩm chướng đã xuất hiện từ thế kỉ XX nên loài hoa này không còn lạ lẫm với các nhà khoa học, do đó Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu về loài hoa này
Năm 1998, Nguyễn Mỹ Linh đã có những nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển, giá trị kinh tế của cây hoa Cẩm chướng và tuyển chọn được 5 giống hoa Cẩm chướng có giá trị kinh tế cao là: Cẩm chướng đỏ, Cẩm
Trang 22giống Dianthus Domingo
Cũng trong năm 2003, Lê Đức Thảo đã nghiên cứu, tuyển chọn một số giống Cẩm chướng và phương pháp nhân giống bằng giâm cành trên các loại giá thể khác nhau Đã tìm ra giống Cẩm chướng TD11 (hoa đơn, màu trắng,
có nguồn gốc từ Hà Lan) và TD15 (hoa đơn, màu xanh, có nguồn gốc từ Hà Lan) là hai giống có khả năng sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất chất lượng cao
Năm 2007, Nguyễn Thị Ngân đã nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thuỷ canh và khí canh trong nhân giống hoa Cẩm chướng, đã nâng tỷ lệ ra rễ của hom giâm lên 95,1% Tuy nhiên biện pháp này không mang lại nhiều tích cực
do biện pháp thực hiện, cơ sở vật chất khá phức tạp so với người dân trồng hoa
Nguyễn Mạnh Hùng (2009) đã có những bước đầu nghiên cứu xử lý đột biến thực nghiệm trên cây Cẩm chướng bằng tia Gammar
Đến những năm gần đây, năm 2013, Nguyễn Thị Thu Hằng cũng đã
nghiên cứu về kĩ thuật nhân giống in vitro hoa Cẩm chướng đã chỉ ra rằng
mẫu đốt thân được xử lý bằng dung dịch HgCl2 0,1% trong 5 phút cho tỉ lệ
Trang 2314
mẫu sạch lên đến 44,44% Môi trường thích hợp cho giai đoạn nhân nhanh
và tái sinh chồi là MS + BAP 0,05mg/l + Kinetin 0,1mg/l + NAA 0,1mg/l +
Saccaroz 30g/l cho hệ số nhân nhanh đạt 3,4 lần Chồi in vitro sẽ được cho
ra rễ thíchhợp nhất trên môi trường MS + IBA 0,1mg/l + Saccaroz 20g/l
Gần đây nhất có thể kể đến nghiên cứu của La Việt Hồng, Nguyễn Văn Đính năm 2017 đã nghiên cứu và tổng quan giới thiệu một số quy trình
vi nhân giống cây hoa Cẩm chướng: Giới thiệu về 1 số công bố gần đây về
vi nhân giống hoa Cẩm chướng
Trang 2415
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu, hóa chất, thiết bị
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
Ba giống Cẩm chướng được sử dụng làm đối tượng nghiên cứu trong đề
tài này là: Trắng viền đỏ (Breezer),Vàng chanh (Regatta) và Đỏ nhung
(Plantom), mẫu in vitro được lưu trữ tại Phòng thí nghiệm Sinh lý học Thực
vật, Khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Vật liệu nghiên cứu là cây in vitro ba giống Cẩm chướng nói trên đã được tái sinh, nuôi cấy thành cây in vitro sạch bệnh tại Phòng thí nghiệm Sinh
lý học Thực vật, Khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.1.2 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất
Các thiết bị sử dụng bao gồm: nồi hấp khử trùng, máy đo pH, máy khuấy từ, cân kỹ thuật, tủ lạnh Hitachi, tủ lạnh sâu, buồng cấy vô trùng, cân phân tích, bếp từ, thiết bị đo cường độ ánh sáng,…
Dụng cụ cần thiết: bộ khay cấy (khay cấy, dao cấy, panh kẹp, kéo, ghim tài liệu), bình tam giác (250ml, 500ml, 1000ml), đèn cồn, bình xịt cồn, túi nilon (loại túi 1 lít), dây thun, pipet, ống fancon, lưới đen, cọc tre,…
Hóa chất đa lượng và vi lượng của Trung Quốc: NaOH, HCl, nước cất, chất điều hòa sinh trưởng
BAP (6-benzyl amino purin): Nhập khẩu của hãng Dulchefa, Hà Lan NAA (α-napthalene acetic acid): Nhập khẩu của hãng Dulchefa, Hà Lan [6], [10]