Mục đích nghiên cứu Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Bạch Chỉ Angelica L.. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN -
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ của TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đến các thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Trần Thế Bách cùng tập thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều
tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Phượng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Bạch Chỉ (Angelica
L 1753) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn của TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày trong
khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Phượng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 4
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 Đối tượng nghiên cứu 6
2.2 Phạm vi nghiên cứu 6
2.3 Thời gian nghiên cứu 6
2.4 Nội dung nghiên cứu 6
2.5 Phương pháp nghiên cứu 7
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
3.1 Đặc điểm phân loại chi Bạch Chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam 10
3.1.1 Dạng sống 10
3.1.2 Lá 10
3.1.3 Cụm hoa 10
3.1.4 Hoa 10
3.1.5 Quả và hạt 11
3.2 Hệ thống phân loại 11
3.3 Khoá định loại các loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam: 12
3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam 12 3.4.1 Angelica decursiva (Mip.) Fr & Sav 1875 - Tiền hồ 12
3.4.2 Angelica sinensis (Oliv.) Diels, 1900- Đương Quy 15
3.4.3 Angelica dahurica (Fisch ex Hoffm.) Maxim 1878 - Bạch Chỉ 17
3.4.4 Angelica uchiyamae Yabe, 1903- Đương Quy 19
Trang 5Ghi chú: Theo The Planlist, loài này là tên đồng nghĩa của Angelica
polymorpha Maxim 1984 21
3.4.5 Angelica anomala Ave- Lall 1840 (CTVT:605)- Xuyên Bạch Chỉ 21
3.4.6 Angelica pubescens Maxim 1878 - Độc hoạt 22
3.5 Giá trị tài nguyên 23
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
PHỤ LỤC 30
Trang 6MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Hiện nay, sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự phát triển nhiều ngành khoa học khác nhau trong sinh học, trong đó có phân loại học thực vật
Chi Bạch chỉ (Angelica L), thuộc họ Hoa tán (Apiaceae Lindl.) có
khoảng 60 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới Ở Việt Nam, chi này có 6 loài, cả 6 loài này đều có giá trị sử dụng trong
y học Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số công trình đề cập đến phân loại chi Bạch Chỉ nhưng vẫn chưa đầy đủ và có hệ thống, một số thông tin thiếu cập nhật
Từ thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu phân loại
chi Bạch Chỉ (Angelica L 1753) ở Việt Nam”
Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Bạch Chỉ (Angelica
L.) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu họ Hoa tán (Apiaceae Lindl.), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
Nội dung nghiên cứu
- Phân tích các hệ thống phân loại chi Bạch Chỉ (Angelica L.) trên thế
giới, từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp chi và các loài thuộc chi
Bạch chỉ ở Việt Nam
- Xây dựng bản mô tả chi, các loài và tìm hiểu giá trị tài nguyên của các
loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam
- Xây dựng khoá định loại các loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở
Việt Nam
Trang 7Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí
Việt Nam về họ Apiaceae ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về chi Bạch
Chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành ứng dụng và sản xuất lâm nghiệp, y dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật,…
Điểm mới của đề tài: Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành
phân loại có hệ thống chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam một cách đầy
đủ và có hệ thống, giúp cho việc tra cứu thông tin nhanh chóng, chính xác
Bố cục của khóa luận: Gồm 35 trang, 10 ảnh, 1 bảng được chia thành
các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 3 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu:
4 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 16 trang), kết luận và kiến nghị: 1 trang, tài liệu tham khảo: 14 tài liệu; bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Trên thế giới
Chi Bạch chỉ (Angelica) do Linnaeus công bố năm 1753 với typus là loài Angelica sylvestris L Trong công trình này, ông xếp chi Angelica trong lớp 5
nhị - 2 vòi nhụy (Pentandria Digynia) [18]
Jussieu (1789) [14] khi công bố họ Umbelliferae (tên cũ của họ
Apiaceae) đã xếp chi Angelica vào họ này cùng các chi Sium, Ligusticum, Lasepiticum…
Năm 1836, nhà khoa học người Anh là Lindley đã công bố họ Apiaceae
với typus là chi Apium cũng nhất trí xếp chi Angelica vào họ này Kể từ đây,
họ Thìa là (Hoa tán) có thêm 1 tên gọi nữa là Apiaceae
Drude (1898) khi xây dựng hệ thống phân loại họ Umbellifera đã chia
chia họ này thành 3 phân họ là Apioideae, Hydrocotyoideae, Saniculoideae
(theo Tardieu)
Takhtajan (1997, 2009) [13] đã chia họ Apiaceae thành 4 phân họ là
Apioideae, Azorelloideae, Mackinlayoideae, Saniculoideae Tác giả đã xếp chi Angelica (cùng với các chi Agasyllis, Chymsydia…) vào tông Angeliceae, phân
họ Apioideae, họ Hoa tán (Apiaceae), coi Umbelliferae là tên đồng nghĩa
Gần Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu chi Angelica như: Buwalda (1949) nghiên cứu chi Angelica ở vùng Malesiana…
Shan Renhwa & Sheh Menglan (1992) [17] nghiên cứu chi Angelica ở Trung Quốc đưa ra đặc điểm phân loại của các loài thuộc chi Angelica cùng với hình ảnh đi kèm.Trong đó có 4 loài thuộc Việt Nam: A decursiva; A sinensis; A dahurica; A anomala
Pan Zehui & Mark F Watson (2005) [12] nghiên cứu chi Angelica ở Trung Quốc đưa ra đặc điểm phân loại của các loài thuộc chi Angelica Trong
Trang 9đó có 4 loài thuộc Việt Nam: A decursiva; A sinensis; A.dahurica; A
anomala
1.2 Ở Việt Nam
Lecomte (1923) [15] khi nghiên cứu họ Thìa là (Umbelliferae) ở Đông
Dương cũng xây dựng bản mô tả, cung cấp các thông tin về loài Peucedanum decursivum (Miq.) Maxim 1886 (tên đồng nghĩa của loài Angelica decursiva) ở Việt Nam
Tardieu (1967) [16] trong Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam đã
xây dựng bản mô tả chi, xây dựng khóa định loại và mô tả đặc điểm phân loại
của loài thuộc chi Angelica Trong đó có loài Tiền hồ (Angelica decursiva
(Mip.) Fr & Sav.) ở Việt Nam Tác giả sử dụng tên khoa học là Umbelliferae
Nguyễn Tiến Bân (2003) [3], trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam
đã chỉnh lý danh pháp, cung cấp các thông tin sơ bộ về phân bố, sinh học và sinh thái, giá trị sử dụng cho 6 loài thuộc chi Bạch chỉ ở Việt Nam Tác giả sử dụng tên khoa học là Apiaceae, coi Umbelliferae là tên đồng nghĩa
Phạm Hoàng Hộ (2003) [8] đã cung cấp thông tin ngắn gọn về đặc điểm
nhận biết, phân bố và giá trị sử dụng 4 loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.1753) ở Việt Nam là: Angelica decursiva, Angelica sinensis, Angelica dahurica, Angelica uchiyamae Tác giả sử dụng cả hai tên khoa học là
Apiaceae và Umbelliferae
Ngoài các công trình chuyên về phân loại nêu trên, ở Việt Nam còn có một số công trình về giá trị tài nguyên cũng đề cập đến một số loài thuộc chi Bạch chỉ, như: Võ Văn Chi (1997, 2003) [9] đã trình bày một số đặc điểm nhận biết nhanh, khu vực phân bố, bộ phận dùng, nơi sống và thu hái, sinh
học và công dụng của 4 loài thuộc chi Bạch chỉ: A dahurica, A decursiva, A pubescens, A sinensis
Trang 10Đỗ Tất Lợi (2004) [10] trong công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, đã trình bày đặc điểm chung, khu vực phân bố các thành phần hóa học, lí học cùng với các sơ chế và ứng dụng để chữa bệnh của 5 loài thuộc
vào chi Bạch chỉ ở Việt Nam là Angelica anomala, Angelica dahurica, Angelica decusiva, Angelica pubescens, Angelica sinensis
Trang 11CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở
mẫu vật và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Bạch chỉ (Angelica L.) trên thế giới
và của Việt Nam, nhất là các chuyên khảo
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt
Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN)
mẫu vật được tiến hành tại phòng thí nghiệm thực vật (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) Ngoài ra, tôi còn tham khảo một số ảnh chụp mẫu vật trên internet
Ngoài ra, nếu điều kiện cho phép sẽ nghiên cứu thêm mẫu ở các phòng tiêu bản thực vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), PTB thực vật Viện Sinh học nhiệt đới – Tp Hồ Chí Minh (HM), Viện Dược liệu (NIMM), Viện điều tra quy hoạch rừng (HNF), trường Đại học Dược khoa Hà Nội (HNIP)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Các loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) trên toàn lãnh thổ Việt Nam
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7/2015 - 5/2017
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp để sắp xếp các taxon nghiên cứu
ở Việt Nam
Trang 12- Điều tra nghiên cứu thực địa để thu thập mẫu vật và các thông tin về phân bố, sinh thái,
- Phân tích mẫu vật để định loại và xây dựng bản mô tả các taxon nghiên cứu
- Xây dựng khóa định loại các taxon nghiên cứu
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam, chúng
tôi sử dụng phương pháp Hình thái so sánh theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007 [11] Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của
nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành, nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa, )
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa
nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu
ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác
Công tác nội nghiệp: Được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bao gồm
việc xử lý, phân tích và bảo quản mẫu vật Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại
Việc nghiên cứu phân loại chi Bạch Chỉ (Angelica L.) được tiến hành
theo các bước như sau:
Trang 13Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi
Bạch chỉ (Angelica L.) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc
phân loại chi này ở Việt Nam
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Bạch Chỉ (Angelica
L.) hiện có
Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây dựng khoá định loại, mô tả các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế
– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công
bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài chuẩn của chi, ghi chú (nếu có)
Thứ tự soạn thảo loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu
ở Việt Nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)
Trang 14– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, tôi tập hợp các số liệu đã phân tích
về loài đó, sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài
Bản mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), tôi sẽ có những ghi chú bổ sung
- Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, tôi lựa chọn cách
xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như sau:
Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải
ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon) Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi phân biệt hết các taxon
- Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm phân loại chi Bạch Chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam
L 1753 Sp Pl 1: 250; Tardieu 1967 Fl Camb Laos Vietn 5: 70; Shan Renhwa & Sheh Menglan, 1992 Fl Reip Pop Sin.55(3): 13; Pan Zehui & Mark F Watson, 2005 Fl China 14: 158
3.1.1 Dạng sống
Cây thân thảo sống 2 năm hoặc lâu năm; có rễ củ to; thân chia thành mấu
và gióng (thường rỗng); chứa tinh dầu thơm; mặt ngoài gióng thường có khía,
ít khi có lông (A anomala)
một số loài lá bắc con có lông (A anomala)
3.1.4 Hoa
Hoa lưỡng tính, mẫu 5, đều Đài hình ống cao đến đầu nhụy, phía trên có răng nhỏ hoặc có răng cưa hình tam giác Cánh hoa rời; màu trắng hay màu tím sẫm; hình trứng hoặc dạng trứng ngược, đỉnh cong vào trong Nhị 5, mọc xen kẽ với cánh hoa, đính xung quanh hoặc trên tuyến mật; bao phấn đính lưng, hạt phấn có 3 rãnh Bộ nhụy gồm 2 lá noãn hợp thành bầu hạ 2 ô, mỗi ô có
1 noãn đính treo ở đỉnh bầu; vòi nhụy 2, gốc phình to và dính với tuyến mật
Trang 163.1.5 Quả và hạt
Quả bế (hạch khô), gồm 2 phân quả, khi chín phân quả tách làm 2 (nên thường gọi là quả bế đôi hay song liệt quả) Phân quả hình bầu dục hay gần tròn; cạnh bên có cánh; cạnh lưng dẹp, bề mặt có gân mảnh Hạt 1; bề mặt phẳng hoặc hơi lõm; có nội nhũ dầu
Typus: Angelica sylvestris L
Có khoảng 60 loài trên thế giới (theo FL China) và khoảng 50 loài trên thế giới Việt Nam hiện biết có 6 loài
3.2 Hệ thống phân loại
Qua phân tích các hệ thống phân loại họ Thìa là (Hoa tán), chúng tôi nhận thấy có 2 quan điểm về việc sử dụng tên khoa học của họ Thìa là: Quan điểm thứ nhất sử dụng tên khoa học là Umbelliferae (Jussieu công bố) và quan điểm thứ hai sử dụng tên khoa học là Apiaceae (Lindley công bố) Tuy nhiên, các nhà thực vật học đều nhất trí về vị trí và giới hạn của chi Bạch chỉ
(Angelica L.) Trong công trình này, chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của Takhtajan (2009) để xác định vị trí và giới hạn chi chi Bạch chỉ (Angelica L.)
ở Việt Nam, vì: 1) hệ thống của Takhtajan công bố năm 2009 được kế thừa từ công trình công bố trước đó; 2) cách sắp xếp hợp lí và đơn giản nên dễ sử dụng; 3) được nhiều nhà thực vật học trên thế giới sử dụng để sắp xếp các taxon thuộc họ Thìa là và 4) hệ thống này phù hợp với việc sắp xếp chi Bạch
chỉ (Angielica) ở Việt Nam Trên cơ sở của các hệ thống của Takhtajan (2009), chi Bạch chỉ (Angelica L 1753) được xếp vào họ Thìa là hay Hoa tán
(Apiaceae), bộ Hoa tán (Apirales), phân lớp Ngọc lan (Magnolidae), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledonae), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae) Theo đó, chi này ở Việt Nam có 6 loài
Trang 173.3 Khoá định loại các loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam:
1A Thân phân nhánh 1 A decursiva
1B Thân không phân nhánh
2A Lá chét xẻ nhiều thùy hình chân vịt không đều……….2 A sinensis
2B Lá chét xẻ thùy hình lông chim
3A Thân cao 40-60 cm; lá chét có răng cưa ở chóp … 3 A uchiyamea
3B Thân cao 1-3 m; lá chét có răng cưa ở mép
4A Quả có 4 cánh 4 A dahurica
4B Quả có 2 cánh
5A Lá chét có lông; mỗi hoa có 1-2 lá bắc con 5 A pubescens 5B Lá chét không có lông; mỗi hoa có 3-7 lá bắc nhỏ 6 A anomala 3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Bạch chỉ (Angelica L.) ở Việt Nam 3.4.1 Angelica decursiva (Mip.) Fr & Sav 1875 - Tiền hồ
Fr & Sav 1875 Enum Pl Jap i 187; Tardieu 1967 Fl Camb Laos Vietn 5: 72; Shan Renhwa & Sheh Menglan, 1992 Fl Reip Pop Sin.55(3):28; Ban, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 1095; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2: 487; Pan Zehui & Mark F Watson, 2005 Fl China 14: 164
- Porphyroscias decursiva Miq 1867 Ann Mus Bot Lugduno-Batavi,
Trang 18Hình 1 Angelica decursiva
1 rễ; 2 lá; 3 cụm hoa; 4 chi tiết một phần cụm hoa; 5 hoa;
6 hoa (đã tách tràng và nhị); 7 quả (Hình theo Shan Renhwa & Sheh Menglan, 1992) Cây thảo, cao tới 2 m; rễ củ màu nâu, hình nón, đường kính 1-2 cm, rất thơm Thân rỗng mọc thẳng đứng, phân cành, có khía dọc, màu xanh-tím, không có lông Lá kép lông chim 1-2 lần, mọc so le; cuống lá dài tới 30 cm, gốc phình to thành bẹ ôm thân Lá chét thường hình tam giác hay hình bầu dục, kích thước 5-15× 2-5 cm, lá gần gốc lớn hơn; chóp nhọn; mép lá chia thành các thùy hình bầu dục có răng cưa to; mặt dưới có lông cứng dọc các gân bên; gân nằm chính có màu xanh tím (khi tươi) Cuống lá chét ngắn Cụm
Trang 19hoa dạng tán kép, mập, dài tới 30 cm; cụm hoa cơ sở dài 2-4 cm, có tới 22 hoa, có lông mịn Lá bắc 1-4, hình bầu dục, màu đỏ tía, dài 1-3 cm, dựng ngược; lá bắc con 3-8, hình mũi mác, màu xanh đến tía Cuống hoa có lông mịn Hoa màu tía Đài hình tam giác hay hình thìa Cánh hoa hình trứng ngược, màu tím, đỉnh uốn cong Nhị 5; vòi nhụy ngắn Quả có cánh hình bầu dục đến thuôn, do 2 phân quả dẹp tạo thành, dài 4-7 mm, cụt ở 2 đầu, khi chín
2 phân quả tách nhau ra, có mép rộng và hơi dày, kích thước từ 4-7 × 3-5 cm Hạt lõm
Loc Class: Japan
Phân bố: Khá phổ biến ở Việt Nam như Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn
(Mẫu Sơn), Quảng Ninh (Quảng Yên), Lào Cai (Sa Pa, Mường Khương), Yên Bái( Mù Cang Chải), vườn thuốc của Viện Dược Liệu…Ngoài ra còn có ở Đài Loan, Triều Tiên, Nhật Bản, vùng Viễn Đông của Nga
Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác ở ven rừng, rừng cây bụi hay ở sườn
dốc, thường mọc lẫn trong các trảng cỏ, ven rừng núi đá vôi và gần các bờ khe suối; ở độ cao từ 200-800 m Tại Việt Nam phổ biến ở nền nhiệt:13,5
C Cây sinh trưởng trong mùa mưa ẩm, mùa hoa tháng 7-8; quả chín tháng 10
Giá trị sử dụng: Rễ củ làm thuốc tiêu đờm, ho, đau họng, ngực căng thở
gấp, nhức đầu, ngâm rượu đắp trị thấp khớp Ngoài ra còn chữa cảm mạo, sốt nóng, phong nhiệt sinh ho, suyễn, viêm khí quản Dùng ngoài trị nọc độc, hòa với rượu đắp chữa thấp khớp, cũng được dung chữa đau dây thần kinh (TĐCT) Trong y học cổ truyền Trung Quốc, rễ tiền hồ cho uống điều trị ho
gà, phối hợp với các vị thuốc khác giảm đau, long đờm, điều trị hen và viêm phế quản
Mẫu nghiên cứu: HÀ NỘI, (Phó Bảng: Phố Chồ), Nguyễn Tập 4951A
(NIMM); LẠNG SƠN( Tân Mỹ), Nguyễn Tập 3229 (NIMM)
Trang 203.4.2 Angelica sinensis (Oliv.) Diels, 1900- Đương Quy
Diels, 1900 Bot Jahrb Syst 29: 500; Shan Renhwa & Sheh Menglan,
1992 Fl Reip Pop Sin.55(3): 39; Ban, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 1094; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2:487; Pan Zehui & Mark F Watson, 2005
Trang 21Cây thảo sống nhiều năm, cao 40-60 cm Rễ hình trụ, phân nhiều rễ con, mọng nước và thơm Thân hình trụ, phân cành ở trên, có rãnh dọc, màu xanh tím, nhẵn và có mùi thơm đặc biệt Lá mọc so le xẻ lông chim 2-3 lần, mọc tụm ở gốc thân Lá chét hình bầu dục hay hình mũi mác, có 3 đôi, kích thước
từ 2-3.5× 0.8- 2.5 cm, đôi lá chét phía trên không có cuống, mép lá chia thành 1-2 thùy có răng không đều, chóp nhọn; có lông ở gân và mép lá Cuống lá dài từ 3-12 cm, gốc cuống thu hẹp tạo thành bẹ ôm thân Cụm hoa dạng tán kép, mỗi tán có 13-36 hoa, cuống hoa dài khoảng 1 cm Lá bắc 0-2 Đài hoa hình bầu dục Cánh hoa màu xanh trắng Quả bế, dẹt, gân ở mép quả hình chỉ
có màu tím (Hình 2)
Loc class.: China (Gehol) Typus: A David 2180 (K)
Phân bố: Trồng nhiều ở miền bắc, Hà Giang, Lào Cai, Kon Tum (Ngọc
Linh), Đắc Lắc (Buôn Ma Thuật), Lâm Đồng (Đà Lạt) Có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản
Sinh học và sinh thái: Là loài thực vật ưa khí hậu ẩm mát (mùa thu),
đến mùa đông toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi, phần củ dưới mặt đất chịu đựng được khí hậu lạnh và mọc lại vào mùa xuân năm sau Thích hợp với độ cao từ 2500- 3000 m Mùa hoa quả vào tháng 7-9
Giá trị sử dụng: Thân và rễ làm thuốc cho phụ nữ, bổ huyết Rễ dùng
chữa bệnh thiếu máu xanh xao, gầy yếu, mệt mỏi, đau đầu, đau lưng, viêm khớp, chân tay đau nhức tê bại, táo bón, mụn nhọt lở ngứa, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, rong kinh, có thai ra máu hoặc sảy thai ra máu không dứt; chữa răng lợi, môi miệng sưng đau, chảy máu; chữa cảm mạo sốt sao, nhức đầu, đau mình, khát nước, tiểu tiện đỏ hoặc sốt nóng đã lâu mà không khỏi; chữa bệnh suy yếu, cũng dùng làm thuốc giảm đau, kích thích ăn ngon, chống
co giật, chữa cao huyết áp Ngoài ra còn chữa xuất huyết nào do xơ cứng mạch máu kèm theo liệt nửa người và mất tiếng hoàn toàn hay không hoàn