1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

67 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 736,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ HỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ NGUYỆT XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN LỚP 4 THEO CÁCH TIẾP CẬN PISA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ HỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN LỚP 4

THEO CÁCH TIẾP CẬN PISA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở tiểu học

Hà Nội, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ HỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN LỚP 4

THEO CÁCH TIẾP CẬN PISA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở tiểu học

Người hướng dẫn khóa luận tốt ngiệp: ThS Nguyễn Thị Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo - ThS Nguyễn Thị Hương đã tận tình, chỉ bảo hướng dẫn em trong quá trình hoàn

thành khóa luận này

Em xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận

Em xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo tại các trường Tiểu học Phù Lỗ A, trường Tiểu học Hùng Vương, trường tiểu học Trưng Nhị

đã giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu cơ sở thực tiễn cho khóa luận Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do thời gian và năng lực hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và các bạn để hoàn thiện hơn vấn đề nghiên cứu

Hà Nội, tháng 4 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Nguyệt

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của ThS Nguyễn Thị Hương Các kết quả nghiên

cứu của đề tài này là trung thực và chưa có công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Hà Nội, tháng 4 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Nguyệt

Trang 5

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Cấu trúc của khóa luận 4

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 5

1.1.2 Đánh giá năng lực Toán học của PISA 15

1.1.3 Công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA 23

1.2 Cơ sở thực tiễn: Thực trạng đánh giá kết quả học tập môn Toán trong nhà trường tiểu học theo cách tiếp cận PISA 26

1.2.1 Mục đích điều tra 26

1.2.2 Nội dung điều tra 26

1.2.3 Đối tượng điều tra 26

1.2.4 Thời gian điều tra 27

1.2.5 Phương pháp điều tra 27

1.2.6 Kết quả điều tra 27

Chương 2 Xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA 32

Trang 6

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo độ giá trị 32

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo độ tin cậy 32

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan 32

2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 33

2.2 Quy trình xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA 33

2.3 Vận dụng quy trình xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán ở lớp 4 theo cách tiếp cận PISA 38

2.3.1 Vận dụng quy trình thiết kế công cụ đánh giá kết quả học tập nội dung Số học và phép tính 39

2.3.2 Vận dụng quy trình thiết kế công cụ đánh giá kết quả học tập nội dung Yếu tố Hình học 44

2.3.3 Vận dụng quy trình xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán theo nội dung Đại lượng và đo đại lượng 49

2.4 Đề xuất một số biện pháp sử dụng công cụ được thiết kế theo cách tiếp cận PISA để đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4 53

Kết luận và khuyến nghị 55

Tài liệu tham khảo 57

Phụ lục

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tầm quan trọng của đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4

Việc đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Toán là quan trọng và thiết thực, được xem là động lực cho sự thúc đẩy của đổi mới trong quá trình dạy học Một vấn đề được quan tâm trong thực tiễn và lí luận dạy học, quản lí giáo dục hiện nay là vấn đề nghiên cứu- ứng dụng các phương pháp đánh giá - kiểm tra quá trình và kết quả dạy - học, quá trình quản lí giáo dục một cách khách quan, chính xác và nhanh chóng Trong hoạt động dạy - học và kiểm chứng chất lượng - hiệu quả giờ học và trình độ nghề nghiệp của giáo viên Trong hoạt động quản lí kiểm tra - đánh giá cũng không chỉ đơn thuần hướng vào đánh giá kết quả công việc mà còn có tác động, hỗ trợ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức và công tác quản lí của tổ chức Lớp 4, giai đoạn mở đầu học sinh học tập sâu, học sinh phải làm quen với nhiều kiến thức mới Các em cần hoàn thiện và nắm chắc kiến thức đã học để tiếp tục học lên lớp 5 - giai đoạn kết thúc bậc giáo dục tiểu học Việc đánh giá kết quả học tập môn Toán giúp thầy (cô) và tự bản thân học sinh thấy được những điểm chưa được trong giảng dạy Từ đó, giáo viên thay đổi phương pháp dạy học để đạt kết quả tốt hơn

1.2 Xu hướng đánh giá hiện nay và cách đánh giá PISA

Thực tiễn cho thấy việc đánh giá môn Toán của học sinh theo thông tư

22 bổ sung tuy đã có nhiều sự thay đổi tích cực song các công cụ đánh giá vẫn chưa đánh giá đúng được năng lực toán học của học sinh Các hình thức kiểm tra đánh giá truyền thống trong hoạt động dạy học nặng nề đánh giá khả năng ghi nhớ, trình bày lại những nội dung mà người dạy truyền thụ, đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế trong việc nâng cao tính tích cực học tập và khả năng

Trang 8

vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng của người học trong các tình huống thực tế đa dạng

Để khắc phục các hạn chế trên, trên thế giới đã xây dựng rất nhiều cách đánh giá khác nhau Năm 2012, Việt Nam tham gia PISA đánh giá trên ba lĩnh vự Toán học, Đọc hiểu, Khoa học cho học sinh lứa tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia Riêng về Toán học PISA chú trọng kiến thức, kĩ năng và khả năng vận dụng các kiến thức ấy vào giải quyết các tình huống trong đời sống Đây cũng là điểm khác biệt của đánh giá theo thông tư 22 và 30 chưa làm được Từ sự đánh giá của PISA mà ta có thể có cái nhìn tổng quát và đầy đủ hơn về những năng lực mà học sinh cần đạt

1.3 Thực tiễn đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 hiện nay

Trong nhà trường Tiểu học hiện nay, việc đánh giá còn nhiều hạn chế như: nội dung đánh giá còn phiến diện, chưa toàn diện, tiêu chí đánh giá chủ yếu dựa vào khả năng ghi nhớ, kiểm tra đánh giá chú trọng mục tiêu dạy chữ,… Trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập, chỉ chủ yếu kiểm tra đánh giá

về kiến thức lí thuyết, chỉ chú trọng nội dung môn học Khi xây dựng đề thi, giáo viên thường chỉ quan tâm các câu hỏi thể hiện được các kiến thức học sinh đã được học, ít khi đánh giá các kiến thức Toán học đó học sinh có thể vận dụng được gì trong đời sống hàng ngày Vì vậy, đề thi có dạng bài thi trắc nghiệm và tự luận luôn sát với những nội dung các em đã được ôn, những dạng rất quen thuộc mà các em đã được gặp rất nhiều lần nhưng đó chỉ là lí thuyết Việc đánh giá này chưa mang tính khách quan, thực tế, nặng trình bày lại nội dung mà người dạy truyền thụ và không có sự linh hoạt trong tư duy Học sinh làm bài theo kiểu ghi nhớ máy móc, từng bước làm mà không hiểu

rõ bản chất vấn đề trong từng câu hỏi, không hiểu rõ kiến thức ấy có thể vận dụng vào trong thực tế như thế nào

Trang 9

Những yêu cầu về lí luận và thực tiễn ở trên đặt ra vấn đề phải nghiên cứu về các công cụ đánh giá kết quả học tập phù hợp với học sinh lớp 4 để các em phát triển tư duy linh hoạt và biết cách vận dụng các kiến thức ấy vào trong thực tế hằng ngày Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn

đề tài: “Xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA”

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 theo cách

tiếp cận PISA

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán theo tiếp cận PISA

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống bài tập để đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên thì nhiệm vụ nghiên cứu được đề ra như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

- Tìm hiểu thực trạng về đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

- Xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp

4 theo cách tiếp cận PISA

- Đề xuất một số biện pháp sử dụng công cụ đánh giá kết quả học tập

môn Toán của học sinh lớp 4

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp thống kê

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của khóa luận bao gồm hai chương sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

Chương 2: Xây dựng công cụ đánh giá kết quả môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

Trang 11

Chương 1

Cơ sở lí luận và thực tiễn của hoạt động đánh giá kết quả học tập môn

Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4

1.1.1.1 Quan niệm

* Đánh giá

Khái niệm “đánh giá” được định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau:

Theo tác giả Nguyễn Bá Kim: “Đánh giá là quá trình hình thành những

nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [8]

Tác giả Trần Bá Hoành đưa ra định nghĩa: “Đánh giá là quá trình hình

thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề

ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả của công việc” [6]

Trang 12

Theo Trần Kiều “Có thể coi đánh giá kết quả học tập của học sinh là xác

định mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng, thái độ của người học đối chiếu với mục tiêu chương trình môn học” [9]

Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc: “Đánh giá kết quả học tập là

quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo

cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn” [11]

* Đánh giá kết quả học tập môn Toán

- Đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh là một quá trình thu thập các thông tin về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh một cách đầy đủ, đúng đắn, chính xác với năng lực học toán của học sinh Từ đó hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của việc học toán, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra

* Đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4

Kế thừa quan niệm về đánh giá, đánh giá kết quả học tập và đánh giá kết quả học tập môn Toán của các tác giả, chúng tôi xin đưa ra quan niệm về đánh giá kết quả học tập môn Toán của lớp 4 như sau:

Đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập môn toán của học sinh lớp 4

1.1.1.2 Vai trò

Đánh giá kết quả học tập của học học sinh được trải qua một chu trình khép kín Việc đánh giá kết quả học tập các môn học nói chung và môn toán nói riêng là rất cần thiết Gồm 3 chức năng sau:

* Chức năng 1: Quản lý

Trang 13

- Xếp loại hoặc tuyển chọn học sinh: Phân loại học sinh là mục đích của việc đánh giá kết quả học tập Học sinh được phân loại về trình độ nhận thức, năng lực tư duy kiến thức, kỹ năng và phẩm chất thái độ từ đó sẽ đưa ra được cách dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh

- Duy trì và phát triển chất lượng: Đánh giá kết quả học tập là tiến trình xem xét học sinh có đạt được yêu cầu tối thiểu của mục tiêu dạy học đã đề ra

* Chức năng 2: Kiểm soát và điều chỉnh hoạt động dạy học

- Đây là một chu trình: Dạy học rồi kiểm tra, đánh giá nhằm kiểm soát việc dạy học, rồi điều chỉnh cải tiến dạy học nhằm phát triển chất lượng dạy học

- Học sinh: Thông tin đánh giá nhận được (điểm số, nhận xét) từ giáo viên và tự đánh giá bản thân và điều chỉnh việc học của mình

* Chức năng 3: Giáo dục và phát triển học sinh Thực hiện tốt chức năng này là góp phần hình thành động cơ học tập và phát triển nhân cách của học sinh

- Động viên học sinh: Quá trình đánh giá kết quả học tập được thực hiện một cách hiệu quả có tác dụng phát triển động cơ học tập của học sinh Trên thực tế nếu đề cao các biện pháp khích lệ này một cách thái quá thì học sinh

có thể học về điểm số hay muốn được xếp hạng cao Nên giáo viên phải giúp học sinh hiểu rõ hơn về bản thân các em và từ đó học sinh dần tự tin hơn vào bản thân, muốn như vậy hoạt động kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên và thông tin làm căn cứ cho đánh giá phải cụ thể, đa dạng và phong phú

- Góp phần phát triển toàn diện để chuẩn bị cho học sinh vào đời: Khi đánh giá học sinh cần nhận thức sâu sắc về quan điểm giáo dục toàn diện Muốn như thế thì những điều dưới đây cần được thực hiện một cách có hệ thống và nhất quán:

Trang 14

+ Quá trình dạy học phải xác định được khối lượng học tập hợp lý cho học sinh để không đẩy các em vào thế phải học thuộc lòng, hay học đối phó, học chỉ để có điểm và học chỉ để biết chứ không phải học để hiểu và áp dụng + Kết quả học tập cần được đánh giá một cách hiệu quả, đáng tin cậy để

có tác dụng hướng dẫn và khuyến khích các phương pháp học tập tích cực + Phương pháp, công cụ đánh giá cần đa dạng để kích thích học sinh tự

bổ sung, phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống về sau Ngoài ra đánh giá kết quả học tập góp phần phát triển cho học sinh những kỹ năng sống và phẩm chất xã hội như kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm,

Từ các chức năng trên cho thấy, việc đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 sẽ giúp giáo viên quản lí được kết quả học của học sinh để từ đó thay đổi phương pháp dạy học phù hợp cho từng lớp, từng cá nhân đồng thời học sinh có thể tự đánh giá bản thân để tự điều chỉnh và có thái độ học tập tốt hơn

1.1.1.3 Nội dung đánh giá

* Dựa trên tiêu chí nội dung học toán ở lớp 4, chúng ta có thể xác định nội dung đánh giá gồm:

+ Kết quả học tập nội dung Số học và phép tính

+ Kết quả học tập nội dung Yếu tố Hình học

+ Kết quả học tập nội dung Yếu tố thống kê mô tả

+ Kết quả học tập nội dung Đại lượng và đo đại lượng

+ Kết quả học tập nội dung Giải toán có lời văn

* Dựa trên các mục tiêu dạy học toán ở lớp 4, chúng ta có thể xác định nội dung đánh giá gồm:

+ Kiến thức môn toán lớp 4

+ Kỹ năng môn toán lớp 4

+ Thái độ học tập môn toán lớp 4

Trang 15

Lớp 4 là giai đoạn học sinh học tập sâu, ở lớp 4 kiến thức toán của học sinh gần như hoàn thiện theo chương trình bậc Tiểu học, lượng kiến thức ở giai đoạn này rộng và sâu hơn so với các lớp dưới như: phạm vi vòng số vượt quá số có 6 chữ số, thực hiện các phép tính trong phạm vi lớn, bài toán có lời văn giải bằng nhiều cách hoặc thực hiện nhiều bước giải,… Kiến thức toán học của lớp 4 sẽ là nền tảng để học sinh học tập lớp 5 dễ dàng hơn

1.1.1.4 Hình thức đánh giá

Theo thông tư 22, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 có 2 hình thức:

- Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện

về kiến thức, kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của môn học và các hoạt động giáo dục Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học

- Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh Đánh giá định kì môn toán lớp 4 mỗi năm học có 4 bài kiểm tra: giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II, cuối học kì II

1.1.1.5 Phương pháp đánh giá

a) Phương pháp kiểm tra viết

“Kiểm tra viết là phương pháp kiểm tra đánh giá mà trong đó học sinh

viết câu trả lời cho các câu hỏi hoặc vấn đề vào giấy” [10]

Trang 16

Đây là phương pháp truyền thống và được giáo viên sử dụng thường xuyên Kĩ thuật đánh giá bằng kiểm tra viết bao gồm hai hình thức phổ biến: trắc nghiệm đa lựa chọn và bài luận

Các câu hỏi trắc nghiệm đa lựa chọn, câu hỏi kiểm tra đúng/sai và câu hỏi kiểm tra ghép đôi được gọi là câu hỏi lựa chọn Đây là các câu hỏi đóng, với câu hỏi này đã có đáp án sẵn yêu cầu học sinh lựa chọn Nếu trong bài kiểm tra sử dụng nhiều các câu hỏi dạng này sẽ không phát huy hết được khả năng hiểu bài của học sinh và giáo viên sẽ không theo dõi được mức độ hiểu bài của học sinh vì học sinh không hiểu vẫn có thể làm đúng

Câu hỏi dạng mở đòi hỏi học sinh phải tự trả lời Độ dài các câu trả lời

có thể thay đổi đáng kể

Ưu điểm của dạng câu hỏi này là có thể kiểm tra mức độ hiểu của học sinh rất thích hợp với các bài toán có lời văn, bài tính,… Tuy nhiên, trong một bài kiểm tra không thể sử dụng nhiều các bài toán dạng này vì không đủ thời gian và không kiểm tra được nhiều kiến thức mà học sinh đã được học

b) Phương pháp quan sát

Quan sát là nhóm phương pháp chủ yếu thứ hai mà giáo viên thường sử dụng để thu thập dữ liệu kiểm tra đánh giá Quan sát đề cập đến việc theo dõi hoặc lắng nghe học sinh thực hiện các hoạt động (quan sát quá trình) hoặc nhận xét một sản phẩm do học sinh làm ra

Thông thường trong quá trình quan sát, giáo viên có thể sử dụng ba loại công cụ để thu thập thông tin Đó là ghi chép các sự kiện thường nhật, thang đo/phiếu quan sát và bảng kiểm tra (bảng điểm)

* Ghi chép thường nhật

Hằng ngày, giáo viên quan sát học sinh ghi lại các hoạt động thường nhật của các em Khi ghi chép giáo viên cần ghi rõ ràng tên học sinh, thời

Trang 17

điểm, các hoạt động sau đó giáo viên đưa ra nhận xét cá nhân đối với các hành động đó

Ưu điểm của việc ghi chép thường nhật đó là mô tả lại những hành vi của học sinh trong tình huống tự nhiên Nhờ vậy, kết quả quan sát có thể đem đối chiếu lại với kết quả kiểm tra và vấn đáp của học sinh Tuy nhiên, các nhận xét của giáo viên còn mang tính chủ quan chưa xác thực và việc ghi chép đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian, công sức vì hành vi của học sinh thường có xu hướng không ổn định

Để việc ghi chép thường nhật của học sinh có hiệu quả, giáo viên cần tuân theo một số yêu cầu sau:

- Xác định trước những sự kiện cần quan sát nhưng cũng cần chú ý đến những sự kiện bất thường

- Quan sát và ghi chép đầy đủ về sự kiện đặt trong một tình huống cụ thể

để sự kiện trở nên có ý nghĩa hơn Sự kiện xảy ra cần phải ghi chép lại càng sớm càng tốt

- Tách riêng phần mô tả chân thực sự kiện và phần nhận xét của cá nhân giáo viên Cần ghi chép cả những hành vi tích cực và hành vi tiêu cực

- Cần thu thập đầy đủ thông tin trước khi đưa ra những nhận xét, đánh giá về hành vi, thái độ của học sinh

- Việc ghi chép sự kiện cần phải được luyện tập và huấn luyện cho giáo viên một cách bài bản để việc ghi chép mang tính khoa học, hệ thống và giúp ích cho hoạt động dạy học và giáo dục

* Thang đo/phiếu quan sát

Nếu việc ghi chép không có cấu trúc thì thang đo/phiếu quan sát cho phép giáo viên đưa ra những nhận định của mình theo một trình tự có cấu trúc

Trang 18

Thang đo là một công cụ để thông báo kết quả đánh giá thông qua quan sát hoặc tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng Thang đo đòi hỏi người đánh giá chỉ ra mức độ biểu hiện của một phẩm chất hoặc mức độ thường xuyên của một hành vi

Thang đo có nhiều loại như: thang đo dạng số, thang đo dạng đồ thị,…

* Bảng kiểm tra

Bảng kiểm tra (bảng kiểm) có hình thức và sử dụng gần giống như thang

đo Tuy nhiên, thang đo đời hỏi người đánh giá chỉ ra mức độ biểu hiện của một phẩm chất hoặc mức độ thường xuyên của một hành vi, còn bảng kiểm trả chỉ yêu cầu người đánh giá trả lời câu hỏi đơn giản Có - Không

c) Phương pháp đặt câu hỏi vấn đáp

Vấn đáp là nhóm phương pháp chủ yếu thứ ba mà giáo viên thường sử dụng để thu thập dữ liệu trong kiểm tra đánh giá trên lớp Đây là phương pháp giáo viên đặt câu hỏi và học sinh trả lời câu hỏi (hoặc ngược lại), nhằm rút ra những kết luận, những tri thức mới mà học sinh cần nắm được, hoặc nhằm tổng kết, củng cố, kiểm tra mở rộng, đào sâu những tri thức mà học sinh đã học

Phương pháp này được giáo viên thường xuyên sử dụng khi kiểm tra kiến thức cũ, tìm hiểu kiến thức mới,…, nó được sử dụng trong suốt quá trình dạy

Nếu vận dụng khéo léo, phương pháp vấn đáp có những ưu điểm sau:

- Kích thích tính tích cực, độc lập tư duy ở học sinh để tìm ra câu trả lời tối ưu trong thời gian ngắn nhất

- Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời nói; bồi dưỡng hứng thú học tập qua kết quả trả lời

Trang 19

- Giúp giáo viên thu tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh gọn để kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình; mặt khác, có điều điện quan tâm đến từng học sinh, nhất là những học sinh giỏi và kém

- Tạo không khí làm việc sôi nổi, sinh động trong giờ học

Nếu sử dụng không khéo léo, phương pháp vấn đáp có một số hạn chế:

- Mất nhiều thời gian để học sinh tìm câu trả lời

- Không gây hứng thú học tập cho học sinh, làm cho các em cảm thấy nhàm chán khi liên tục sử dụng các câu hỏi gần như giống nhau

- Chỉ có thể kiểm tra cho một vài đối tượng không mang tính bao quát cả lớp

1.1.1.6 Công cụ đánh giá

Công cụ đánh giá trong giáo dục nói chung hay đánh giá trong dạy học nói riêng được hiểu là một phương pháp, phương tiện hay một kĩ thuật được

sử dụng trong quá trình đánh giá nhằm đạt được mục đích đánh giá

* Ghi chép ngắn: Một hình thức đánh giá thường xuyên thông qua việc

quan sát người học trong lớp học Những ghi chép không chính thức này cung cấp cho giáo viên thông tin về mức độ người học xử lí thông tin, phối hợp với nhóm bạn học như những quan sát tổng hợp về cách học và cũng như những quan sát tổng hợp về thái độ và hành vi học tập

* Bài kiểm tra

Bài kiểm tra là một phép lượng giá cụ thể mức độ, khả năng, thể hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một người

Đánh giá qua bài kiểm tra được chia làm ba loại:

- Quan sát: Giúp đánh giá các thao tác, hành vi, kĩ năng thực hành, nhận thức, phản ánh vô thức

- Kiểm tra vấn đáp: Có tác dụng đánh giá khả năng, đáp ứng câu hỏi được nêu trong tình huống

Trang 20

- Bài viết: Kiểm tra một lúc được nhiều học sinh, giúp đánh giá học sinh

ở trình độ cao Gồm: câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm

* Hồ sơ học tập: Một tập hợp đại diện sản phẩm học tập của người học,

thường bao gồm những sản phẩm tốt nhất cho tới nay và một số sản phẩm đang được hoàn thành để thể hiện quá trình nỗ lực học tập của người học

Hồ sơ học tập là cầu nối giữa giáo viên - học sinh, học sinh - học sinh, phụ huynh - giáo viên, phụ huynh - học sinh Có nhiều loại hồ sơ học tập:

- Hồ sơ tiến bộ là hồ sơ ghi lại sự tiến bộ của học sinh thông qua các bài kiểm tra trên lớp để khích lệ thái độ học tập của học sinh

- Hồ sơ quá trình là hồ sơ ghi lại quá trình học tập của học sinh một cách

cụ thể, thấy được những kiến thức, kĩ năng, thái độ nào mà học sinh đã đạt được và chưa đạt được

- Hồ sơ mục tiêu là học sinh tự xây dựng mục tiêu học tập dựa trên năng lực của bản thân có thể được, ghi chép lại vào hồ sơ để các em có định hướng cho mình trong quá trình học để đạt được kết quả tốt hơn

- Hồ sơ thành tích là hồ sơ ghi lại các thành tích nổi trội của học sinh giúp các em biết phát huy và duy trì các thành tích nổi trội ấy

Từ các công cụ nêu ở trên, theo chúng tôi công cụ bài kiểm tra là hiệu quả nhất bởi vì giáo viên có thể kiểm tra kết quả của nhiều học sinh và đưa ra được nhiều dạng bài khác nhau cùng trong một khoảng thời gian vừa phải,

Trang 21

cạnh các ưu điểm đó còn có các nhược điểm sau: học sinh làm bài không phải thực lực của mình, nhìn bài hoặc lựa chọn bừa đáp án nhưng vẫn đúng

- Bước 2: Xác định hệ thống tiêu chí cơ bản để đánh giá

Giáo viên phải đưa các đơn vị kiến thức làm thành các tiêu chí theo các mức độ tăng dần từ thấp đến cao Dựa vào thang năng lực nhận thức Bloom ta

có 6 mức độ: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá, đến năm

1990 đã có sự điều chỉnh: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo

- Bước 3: Xác định hình thức đánh giá

Lựa chọn hình thức đánh giá phù hợp dựa trên đặc điểm của đối tượng

- Bước 4: Xác định thước đo đánh giá

Xác định biểu điểm dựa trên các tiêu chí dã đề ra và xác định các mức độ làm bài để nhận xét

- Bước 5: Tiến hành đánh giá

Giáo viên cho học sinh làm bài theo các hình thức đã sử dụng sau đó tiến hành phân tích, nhận xét đưa ra kết luận

1.1.2 Đánh giá năng lực Toán học của PISA

1.1.2.1 Một số thông tin về PISA

a) PISA - Chương trình “Đánh giá chất lượng học sinh quốc tế”

Trang 22

PISA - Chương trình “Đánh giá chất lượng học sinh quốc tế”, là bộ phận

chính của một hệ thống định hướng quy mô lớn được thực hiện bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Hệ thống này phục vụ cho mục đích cung cấp thông tin cho các nước thành viên của tổ chức OECD về những ưu điểm và nhược điểm của nền giáo dục nước họ

Được tổ chức định kì 3 năm một lần (bắt đầu từ năm 2000) PISA kiểm tra, đánh giá sự chuẩn bị của nhà trường dành cho học sinh để bước vào tri thức, nói cách khác là khả năng thích nghi của học sinh đối với những thách thức của xã hội tri thức PISA đánh giá học sinh ở giai đoạn chuẩn bị kết thúc thời gian học tập bắt buộc về kiến thức và kĩ năng cần thiết cho việc sống và làm việc trong xã hội, tập trung vào ba mảng kĩ năng: khoa học, đọc hiểu, toán học PISA tập trung vào những năng lực cơ bản và mang tính trung tâm, những năng lực không chỉ quan trọng cho việc học tập và đời sống của mỗi cá nhân

mà còn quan trọng cho sự phát triển về mặt xã hội, chính trị và kinh tế

b) Mục đích của PISA

Mục tiêu tổng quát của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến

độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc một học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào Ngoài ra

chương trình đánh giá PISA còn hướng vào các mục đích cụ thể sau:

- Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu, Toán học và Khoa học của học sinh ở độ tuổi 15

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của học sinh

- Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy - học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh

c) Năng lực Toán học theo đánh giá PISA

Thuật ngữ năng lực (literacy) trong PISA bao hàm cả hai khái niệm kiến

Trang 23

học sinh ở tuổi 15 có thể kích hoạt các quy trình nhận thức giúp họ tận dụng các kiến thức và kỹ năng đọc hiểu, toán học và khoa học tích lũy được ở trường học vào các bối cảnh, tình huống thực trong đời sống

Năng lực Toán học là khả năng của một cá nhân có thể nhận biết và hiểu vai trò của toán học trong đời sống, phán đoán và lập luận dựa trên cơ sở vững chắc, sử dụng và hình thành niềm đam mê tìm tòi khám phá toán học để đáp ứng những nhu cầu trong đời sống của cá nhân đó với vai trò là một công dân có ý thức, có tính xây dựng, và có hiểu biết

Năng lực Toán học không phải là một hệ thống kiến thức toán học phổ thông truyền thống mà là được hiểu đây là kiến thức toán học được sử dụng như thế nào? Hay khả năng suy xét, lập luận và hiểu được ý nghĩa của toán học Trong PISA người ta xem xét ba cấp độ của năng lực Toán học:

Bảng thể hiện đặc điểm của ba cấp độ năng lực Toán học

Cấp độ 1

Ghi nhớ, tái hiện

- Nhớ lại các đối tượng, khái niệm, định nghĩa và tính chất toán học

- Thực hiện được một cách làm quen thuộc

- Áp dụng một thuật toán tiêu chuẩn

- Nhận biết nội dung toán học trong tình huống có

Trang 24

Cấp độ 3

Khái quát hóa, toán

học hóa

vấn đề phải giải quyết

- Vận dụng kiến thức toán học để giải quyết các vấn

đề thực tiễn

- Biết phân tích, tổng hợp, suy luận, lập luận, khái quát hóa trong chứng minh toán học

d) Nguyên tắc đánh giá trong PISA

- Về độ tuổi học sinh, kỳ thi PISA đánh giá năng lực Đọc hiểu, Toán học

và Khoa học của học sinh ở độ tuổi tuổi từ 15 tuổi 3 tháng đến 16 tuổi 2 tháng tính đến thời điểm bắt đầu giai đoạn đánh giá, đang theo học mọi hình thức đào tạo (trừ các học sinh được dạy học ở nhà)

- Về phương thức đánh giá, PISA hướng tới đánh giá ở học sinh các năng lực sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ và thách thức thường nhật Kỳ thi này không chỉ đánh giá kiến thức của học sinh ở một môn học cụ thể, mà còn đánh giá năng lực suy luận và sử dụng những kiến thức đã học trong một môi trường mới

- Về nội dung đánh giá, PISA tập trung vào những điều mà học sinh ở độ tuổi 15 cần cho tương lai và đánh giá năng lực học tập suốt đời của học sinh thông qua quá trình học sinh sử dụng những kiến thức đã học ở trường để giải quyết các vấn đề trong đời sống

Trang 25

e) Quy trình đánh giá PISA

Quy trình đánh giá của PISA được thiết lập như sau

Xác định thời điểm tiến hành đánh giá

Xác định đối tượng chọn mẫu

Khung chọn mẫu

Xác định cách thức đánh giá và nội dung

Điều chỉnh các tài liệu phục vụ đánh giá (OECD và các nước)

Công cụ và tài liệu đánh giá

Tiến hành đánh giá

Gửi giữ liệu cho PISA OECD

Nhận các kết quả phân tích từ phía PISA OECD

Trang 26

1.1.2.2 Cấu trúc đề thi và đặc điểm công cụ đánh giá của PISA

+ Phần 2: Các câu hỏi (Items)

- Thông thường sẽ có nhiều câu hỏi ứng với một tình huống được đưa ra Bài tập của PISA xoay quanh những tình huống nội bộ toán học cũng như những tình huống thực tế mô tả khái niệm, cấu trúc hoặc ý tưởng về toán học

Trong PISA những điều này được gọi là “ý tưởng bao trùm” (Overarching

ideas)

b) Một số dạng câu hỏi thường gặp trong PISA

- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (Multiple choice);

- Câu hỏi Có - Không, Đúng - Sai phức hợp (Yes - No; True - False complex);

- Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời (dựa trên những trả lời có sẵn) (Close - constructed response question);

- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn (Short response question);

- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài (khi chấm sẽ phải tách ra từng phần để cho điểm) (Open - constructed response question);

Cụ thể:

Trang 27

Bảng tỉ lệ các nội dung toán học trong chương trình PISA

PISA (32 câu hỏi)

Phân tích dữ liệu, số liệu và xác suất 31 10

Bảng các dạng câu hỏi toán học trong chương trình PISA

Câu hỏi nhiều

lựa chọn Câu hỏi trả lời

Cho phép nhiều câu trả lời

Số câu hỏi

Phần trăm

Số câu hỏi

Phần trăm

Số câu hỏi

Phần trăm

Số câu hỏi

Đến chu kỳ PISA 2015, bài thi trên máy tính đánh giá các lĩnh vực: Đọc hiểu, Toán học, Khoa học, năng lực giải quyết vấn đề hợp tác, năng lực tài

Trang 28

chính, năng lực sử dụng máy tính Riêng lĩnh vực Khoa học, lĩnh vực trọng tâm của kỳ thi PISA 2015, bài thi trên máy tính có nhiều câu hỏi mới hiện đại hơn các câu hỏi thi trên giấy

Trong PISA, người ta nghiên cứu về 3 lĩnh vực đánh giá trên giấy mà học sinh Việt Nam sẽ tham gia Các khung đánh giá năng lực Toán học, Khoa học, Đọc hiểu của PISA 2015 đã có thay đổi, phát triển ở tầm cao hơn so với khung đánh giá các lĩnh vực này ở chu kỳ PISA 2012

Quyển đề thi PISA (Booklet) bao gồm nhiều bài tập (Unit), mỗi bài tập gồm một hoặc một số câu hỏi (Items) Trung bình mỗi quyển đề thi có khoảng 50-60 câu hỏi Tổng số bài tập trong toàn bộ đề thi PISA sẽ được chia ra thành các đề thi khác nhau để đảm bảo các học sinh ngồi gần nhau không làm cùng một đề và không thể trao đổi hoặc nhìn bài nhau trong quá trình thi Mỗi

đề thi sẽ đánh giá một số nhóm năng lực nào đó của một lĩnh vực nào đó và

được đóng thành "Quyển đề thi PISA" để phát cho học sinh Thời gian để học

sinh làm một quyển đề thi là 120 phút Học sinh phải dùng bút chì để làm trực

tiếp vào "Quyển đề thi PISA" (học sinh được phép sử dụng các đồ dùng khác

như giấy nháp, máy tính bỏ túi, thước kẻ, com-pa, thước đo độ, theo sự cho phép của người coi thi)

Năng lực phổ thông của PISA được đánh giá qua các Unit (bài tập) bao

gồm phần dẫn “stimulus material” (có thể trình bày dưới dạng chữ, bảng, biểu

đồ,…) và theo sau đó là một số câu hỏi (Items) được kết hợp với tài liệu này Đây là một điểm quan trọng trong cách ra đề Nó cho phép các câu hỏi đi sâu hơn (so với việc sử dụng các câu hỏi hoàn toàn riêng rẽ - mỗi câu hỏi lại đặt trong một bối cảnh mới hoàn toàn) Điều này cũng cho phép học sinh có thời gian suy nghĩ kĩ càng tài liệu (do ít tình huống hơn) mà sau đó có thể được sử dụng trong đánh giá ở những góc độ khác nhau Nó cũng cho phép thuận lợi

Trang 29

hơn trong việc gắn với tình huống thực trong cuộc sống Việc cho điểm của các câu trong một Unit là độc lập

* Phiếu hỏi

Đánh giá PISA đưa ra các loại phiếu hỏi khác nhau để điều tra về điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường, của gia đình bao gồm:

- Phiếu hỏi nhà trường (Hiệu trưởng trả lời; bắt buộc cho các nước)

- Phiếu hỏi học sinh (bắt buộc cho các nước, thời gian 40 phút)

- Phiếu hỏi phụ huynh (tự chọn, 2015 Việt Nam không đăng kí tham gia)

1.1.3 Công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

1.1.3.1 Mục đích công cụ

Nội dung trọng tâm của môn Toán lớp 4 là ôn tập và bổ sung về số tự nhiên; tìm số trung bình cộng; giải toán liên quan đến tìm hai số khi biết tổng

và hiệu, tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó, tìm hai số khi biết hiệu và

tỉ số của hai số đó; bảng đơn vị đo khối lượng; các phép tính với phân số; hình học; số đo thời gian

Vì vậy, đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 4 theo cách tiếp cận PISA là đánh giá năng lực Toán học của học sinh theo 3 cấp độ của năng lực Toán học Việc đánh giá PISA khác với đánh giá truyền thống, đòi hỏi không chỉ chú ý đến kiến thức học sinh đã tiếp thu được, mà còn chú trọng đánh giá những năng lực, quá trình hình thành các kĩ năng (proceesses) cho học sinh Vì vậy, khi xây dựng khung đánh giá kết quả học tập Toán cho học sinh lớp 4 theo cách tiếp cận PISA cần phải chú ý đến 3 cấp độ của năng lực Toán học: Ghi nhớ, tái hiện; kết nối tích hợp; khái quát hoá, toán học hoá

1.1.3.2 Đặc điểm công cụ

Trang 30

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ tìm hiểu về cấu trúc của câu hỏi Câu hỏi theo PISA phải đảm bảo có hai phần là phần dẫn và phần hỏi

* Phần dẫn là những tình huống, bối cảnh toán học Đề thi PISA gồm 4 loại tình huống: tình huống cá nhân, tình huống giáo dục/nghề nghiệp, tình huống công cộng và tình huống khoa học Bối cảnh của một bài toán là môi trường cụ thể hơn trong tình huống mà bài toán được đặt ra

* Phần hỏi gồm nhiều câu hỏi ứng với tình huống được đưa ra Bài tập của PISA xoay quanh những tình huống nội bộ toán học cũng như những tình huống thực tế mô tả khái niệm, cấu trúc hoặc ý tưởng về toán học

* Công cụ đánh giá mới theo cách tiếp cận PISA phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích : Độ giá trị về mục đích cho biết tính chính xác của phép đo Vì vậy, công cụ đánh giá cần được xây dựng theo nguyên tắc đảm bảo độ giá trị về mục đích Tức là công cụ đánh giá phải giúp giáo viên thu thập được những thông tin chính xác về mức độ nhận biết và hiểu vai trò của toán học trong đời sống hằng ngày của học sinh Những thông tin này phản ánh chính xác mức độ nhận biết, hiểu mà học sinh đạt được

- Nguyên tắc đảm bảo độ tin cậy: Độ tin cậy cho biết mức độ ổn định của phép đo Nghĩa là công cụ đánh giá phải ổn định khi thu thập những thông tin

để đánh giá kết quả học tập của học sinh Trong quá trình thu thập thông tin công cụ này không chịu sự chi phối của người đánh giá, các yếu tố khách quan bên ngoài…

- Nguyên tắc đảm bảo trình tự logic: Công cụ được xây dựng phải tuân thủ theo trình tự logic Tức là mảng kiến thức đánh giá phải liên quan chặt chẽ với nhau và kiến thức được sắp xếp theo các mức độ từ dễ đến khó, từ đơn

Trang 31

Cô giáo lớp 4A phải mua 1659 quyển sách và 1832 quyển vở cho cả khối

4 Giá của mỗi quyển vở là 8000 đồng

Câu hỏi 1: Cô giáo phải mua tất cả bao nhiêu quyển? Em hãy trình bày lời giải của mình

………

……… Câu hỏi 2: Cô giáo đưa cho người bán hàng 15 000 000 đồng để trả tiền mua vở Vậy người bán hàng phải trả lại cô bao nhiêu tiền? Em hãy trình bày lời giải của mình

Ví dụ: Sau khi học bài về chia cho số có ba chữ số, chúng ta có thể xây dựng bài tập như sau:

Bài tập:

Trang 32

Có hai cửa hàng, mỗi cửa hàng đều nhận về 7128m vải Trung bình mỗi ngày cửa hàng thứ nhất bán được 264m vải, cửa hàng thứ hai bán được 297m vải

Câu hỏi 1: Trung bình mỗi ngày cửa hàng nào bán được nhiều mét vải hơn?

Trung bình mỗi ngày cửa hàng……bán được nhiều hơn…… m vải Câu hỏi 2: Cửa hàng thứ nhất bán hết số vải đó trong bao nhiêu ngày?

Em hãy trình bày lời giải của mình

………

…….……… Câu hỏi 3: Cửa hàng nào bán hết số vải đó sớm hơn?

A Cửa hàng thứ nhất B Cửa hàng thứ hai

1.2 Cơ sở thực tiễn: Thực trạng đánh giá kết quả học tập môn Toán trong nhà trường tiểu học theo cách tiếp cận PISA

1.2.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực trạng việc đánh giá trong môn Toán lớp 4 và việc sử dụng công cụ đánh giá trong dạy học môn Toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

1.2.2 Nội dung điều tra

Những thông tin thu thập được qua điều tra có liên quan tới việc đánh giá môn Toán lớp 4 và việc sử dụng một số công cụ đánh giá trong dạy học môn Toán theo cách tiếp cận PISA gồm những nội dung sau:

- Thực trạng việc đánh giá môn Toán lớp 4 hiện nay (hiệu quả của việc đánh giá, các công cụ sử dụng để đánh giá,…)

- Việc sử dụng công cụ để đánh giá môn toán lớp 4 theo cách tiếp cận PISA

1.2.3 Đối tượng điều tra

Trang 33

Tiểu học Trưng Nhị (Thành phố Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc), Tiểu học Phù

Lỗ A (Huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà Nội)

- Số lượng: 15

1.2.4 Thời gian điều tra

Thời gian điều tra: Từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2018

1.2.5 Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra (bằng phiếu điều tra)

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp thống kê toán học

1.2.6 Kết quả điều tra

Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra cho các giáo viên dạy toán lớp

4 ở ba trường tiểu học để thu thập thông tin Kết quả thu được như sau:

1.2.6.1 Nhận thức của giáo viên lớp 4 về việc đánh giá kết quả học tập môn Toán theo tiếp cận PISA

a) Vai trò của đánh giá kết quả học tập môn Toán

Kết quả thu thập được từ các phiếu điều tra được chúng tôi tổng hợp trong bảng sau:

Ý kiến Rất quan

trọng Quan trọng Bình thường

Không quan trọng

Kết quả từ bảng thống kê cho thấy, 100% giáo viên được hỏi đều khẳng định tầm quan trọng của đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 Điều đó cho thấy sự nhận thức đúng đắn của giáo viên lớp 4 về vấn đề này

b) Việc sử dụng công cụ đánh giá của PISA trong đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4

Ngày đăng: 23/12/2019, 11:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Tài liệu tập huấn PISA 2015 và các câu hỏi do OECD phát hành lĩnh vực Toán học (2015), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn PISA 2015 và các câu hỏi do OECD phát hành lĩnh vực Toán học
Tác giả: Tài liệu tập huấn PISA 2015 và các câu hỏi do OECD phát hành lĩnh vực Toán học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2015
[3]. Lê Thị Mỹ Hà, Đánh giá trên diện rộng và PISA (2014), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trên diện rộng và PISA
Tác giả: Lê Thị Mỹ Hà, Đánh giá trên diện rộng và PISA
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2014
[4]. Phạm Việt Hà (2014), Đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 5 thông qua các bài tập tình huống thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 5 thông qua các bài tập tình huống thực tiễn
Tác giả: Phạm Việt Hà
Năm: 2014
[5]. Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ Hải Hòa (chủ biên) (2014), PISA và những vấn đề của giáo dục Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PISA và những vấn đề của giáo dục Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ Hải Hòa (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2014
[6]. Trần Bá Hoành (1996), Đánh giá trong giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
[7]. Nguyễn Công Khanh (chủ biên) (2015), Kiểm tra đánh giá trong giáo dục, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Công Khanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
[8]. Nguyễn Bá Kim (2011), Phương pháp dạy học môn toán, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2011
[9]. Trần Kiều (Chủ biên) (2004), Bước đầu đổi mới kiểm tra kết quả học tập các môn học của học sinh lớp 7, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đổi mới kiểm tra kết quả học tập các môn học của học sinh lớp 7
Tác giả: Trần Kiều (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
[10]. Nguyễn Đức Minh (2015), Một số vấn đề về đánh giá kết quả học tập dựa theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và đánh giá năng lực của học sinh, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đánh giá kết quả học tập dựa theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và đánh giá năng lực của học sinh
Tác giả: Nguyễn Đức Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2015
[11]. Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc (2008), Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông, Chương trình hoa học cấp nhà nước KX-07-08, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông
Tác giả: Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc
Năm: 2008
[12]. Lâm Quang Thiệp (2006), Lý thuyết và thực hành về đo lường và đánh giá trong giáo dục, Tài liệu tập huấn, Edtech, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành về đo lường và đánh giá trong giáo dục, Tài liệu tập huấn
Tác giả: Lâm Quang Thiệp
Năm: 2006
[13]. Nguyễn Thị Thu Thủy (2010), Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
[14]. Dương Thiệu Tống (1995), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập
Tác giả: Dương Thiệu Tống
Năm: 1995
[15]. Nguyễn Thị Thanh Trà (2016), Đánh giá kết quả học tập môn giáo dục học của sinh viên đại học sư phạm theo tiếp cận năng lực, Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập môn giáo dục học của sinh viên đại học sư phạm theo tiếp cận năng lực
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Trà
Năm: 2016
[16]. Phan Thị Hồng Xuân (2008), Vấn đề đánh giá năng lực tiếng Việt của học sinh lớp 6, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đánh giá năng lực tiếng Việt của học sinh lớp 6
Tác giả: Phan Thị Hồng Xuân
Năm: 2008
[2]. Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w