Thực tiễn dạy học Tiếng Việt đặc biệt là trong phân môn Học vần ở các trường Tiểu học thuộc các huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc dạy học phát âm
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
ThS VŨ THỊ TUYẾT
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến cô giáo ThS Vũ Thị Tuyết đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em
trong suốt quá trình em làm khóa luận
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những tri thức quý báu trong quá trình học tập tại trường
Mặc dù em đã cố gắng, song khóa luận không tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót Em rất mong nhận được những nhận xét, đánh giá, đóng góp ý kiến quý báu từ các thầy cô giáo cùng các bạn để khóa luận này của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2018 Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Diễm
Trang 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC MƯỜNG HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 1 6
1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí 6
1.1.1.2 Đặc điểm sinh lí 7
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ 9
1.1.2.1 Âm tiết tiếng Việt 9
1.1.2.2 Chuẩn phát âm tiếng Việt 14
1.1.2.3 Tầm quan trọng của việc phát âm chuẩn 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Khái quát về học sinh lớp 1 dân tộc Mường của Trường Tiểu học Xuân Viên và Trường Tiểu học Xuân Thủy huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 15
1.2.2 Thực trạng mắc lỗi phát âm của học sinh lớp 1 dân tộc Mường ở Trường Tiểu học Xuân Viên và Trường Tiểu học Xuân Thủy huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 18
1.2.2.1 Thực trạng mắc lỗi phát âm của giáo viên 26
1.2.2.2 Thực trạng mắc lỗi phát âm của phụ huynh 27
1.2.3 Nguyên nhân mắc lỗi phát âm của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Xuân Thủy và trường Tiểu học Xuân Viên huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 31
1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan 31
Trang 41.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 32
Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC MƯỜNG HUYỆN YÊN LẬP 35
TỈNH PHÚ THỌ 35
2.1 Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 35
2.1.1 Phương pháp luyện phát âm theo mẫu 35
2.1.2 Phương pháp luyện tập tổng hợp, phân tích cách phát âm 36
2.1.3 Phương pháp trò chơi học tập 37
2.1.4 Phương pháp luyện phát âm qua đọc thơ, đọc đồng dao, ca dao, tục ngữ 41
2.1.5 Phương pháp luyện phát âm thông qua trò chuyện 47
2.1.7 Luyện phát âm qua việc sử dụng đồ dùng trực quan 50
2.2 Quy trình sửa lỗi phát âm 52
2.2.1 Sửa lỗi phát âm phụ âm đầu 52
2.2.2 Sửa lỗi phát âm phần vần 54
2.2.3 Sửa lỗi phát âm về thanh điệu 55
Kết luận chương 2 57
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58
3.1 Mục đích thực nghiệm 58
3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 58
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 58
3.2.2 Thời gian thực nghiệm 59
3.3 Kết qủa thực nghiệm 59
Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Trẻ em như tờ giấy trắng” luôn cần được giáo dục một cách đặc biệt
Vì vậy, Giáo dục Tiểu học được xem là nền tảng cốt lõi trong hệ thống giáo dục quốc dân Cũng như khi xây một ngôi nhà cái móng có chắc thì ngôi nhà mới vững Mục tiêu của Giáo dục Tiểu học là giúp các em phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, đào tạo các em trở thành những công dân có ích cho xã hội Thế hệ trẻ là những chủ nhân tương lai của đất nước
mà bậc học tiểu học được xem là những viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng vững chắc đón các em vào đời
Ở tiểu học các em được học các môn học đa dạng trong đó môn Tiếng Việt là một trong những môn học chính, quan trọng và cần thiết Bên cạnh việc học Toán để phát triển tư duy logic, học Tự nhiên và Xã hội giúp các em
mở rộng kiến thức và hiểu biết về tự nhiên, con người,… thì việc học Tiếng Việt sẽ giúp các em hình thành và phát triển tư duy ngôn ngữ Học Tiếng Việt giúp học sinh rèn kĩ năng giao tiếp, nắm chắc kiến thức, kĩ năng về chính âm, ngữ pháp, chính tả và dạy các em biết truyền đạt tư tưởng tình cảm của bản thân Trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học phân môn Học vần có vị trí đặc biệt quan trọng Đây là phân môn mở đầu trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học Mục tiêu của việc dạy học Học vần là giúp học sinh nắm được mặt chữ, biết cách viết chữ, đọc trơn tiếng, từ, câu và đọc trơn toàn bài Qua đó giúp các em có phương tiện để giao tiếp và học tập tốt các môn học khác Thực tiễn dạy học Tiếng Việt đặc biệt là trong phân môn Học vần ở các trường Tiểu học thuộc các huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc dạy học phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số Nguyên nhân chủ yếu là do đặc điểm vùng miền, phong tục tập quán và thói
Trang 6quen phát âm đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát âm lệch chuẩn của học sinh Đặc biệt, việc phát âm lệch chuẩn của các học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 còn diễn ra khá phổ biến trên địa bàn huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ Căn
cứ vào thực tế và nhận thấy tầm quan trọng của việc sửa lỗi phát âm cho học
sinh nên chúng tôi lựa chọn đề tài “Sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân
tộc Mường huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Như đã nói đề cập ở trên, môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn Học vần
có vai trò rất quan trọng đối với học sinh tiểu học Việc phát âm chuẩn sẽ là lợi thế lớn trong vấn đề giao tiếp Điều này có thể giúp các em diễn đạt chính xác nội dung văn bản hay nội dung cuộc giao tiếp giúp người nghe có thể hiểu được Vì vậy việc vận dụng các phương pháp khác nhau để rèn kĩ năng phát
âm chuẩn cho học sinh đặc biệt là phát âm chuẩn ngay từ lớp 1 là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Thứ nhất, tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ
với công trình nghiên cứu “Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại” (NXB Giáo dục,
1977) đã đề cập đến vấn đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường pTuy
có nêu lên một số biện pháp cụ thể liên quan đến việc rèn kĩ năng phát âm nhưng chưa rõ ràng với từng đối tượng cụ thể
Thứ hai là cuốn giáo trình “Ngữ âm Tiếng Việt” của tác giả Hoàng Dũng – Vương Hữu Lễ (NXBGD, 1994) Giáo trình “Ngữ âm Tiếng Việt” của tác
giả Đoàn Thiện Thuật (NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, 1980) Trong đó, các tác giả đã đề cập đến các kiến thức về ngữ âm và ngữ âm học, các đơn vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt
Thứ ba là cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”
của tác giả Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga (NXB ĐHSPHN, 2003) cũng
Trang 7nêu ra cơ sở tâm lí học, cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy học Học vần, một số nguyên tắc và phương pháp dạy học Học vần ở lớp 1
Thứ tư là cuốn sách “Tiếng Việt: Đại cương – Ngữ âm” của tác giả Bùi
Minh Toán, Đặng Thị Lanh (NXB ĐHSPHN, 2006), đã giới thiệu một cái nhìn tổng thể về tiếng Việt và đi sâu vào hai đơn vị cơ bản của ngữ âm tiếng Việt là âm tiết và âm vị Cuốn sách này là căn cứ quan trọng giúp chúng ta tìm ra và xác định các lỗi phát âm mà học sinh thường mắc phải Tuy nhiên, các tác giả chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu lí thuyết chung mà chưa đi sâu vào việc xác định các lỗi phát âm sai của học sinh trên thực tế nên chưa đưa
ra được biện pháp khắc phục cụ thể
Thứ năm, trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên “Phương pháp dạy học tiếng
Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp Tiểu học”của dự án phát triển giáo dục,
(NXB Giáo dục, 2006) đã đề cập đến một số phương pháp dạy học sinh dân tộc thiểu số phát âm đúng tiếng Việt và sửa lỗi trong tiếng Việt, đồng thời giúp các em phát triển ngôn ngữ qua các bài học vần Ngoài ra, các tác giả còn đưa ra nhiều phương pháp dạy học giúp giáo viên nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy nghe – nói và dạy đọc đúng cho đối tượng học sinh dân tộc thiểu số
Một số khóa luận tốt nghiệp về sửa lỗi phát âm của sinh viên trường Đại
học Tây Bắc như: “Một số biện pháp sửa lỗi phát âm trong dạy học Tập đọc
cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số trường Tiểu học Tông Lạnh – Thuận Châu – Sơn La” của sinh viên Bùi Thị Tiệp hay khóa luận tốt nghiệp của sinh viên
Lưu Hạ Dung về “Đề xuất biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân
tộc thiểu số trường Tiểu học Nà Nghịu – Sông Mã – Sơn La” đã đề cập đến
các lỗi phát âm và nêu ra biện pháp sửa lỗi phát âm trong dạy học phân môn Học vần, phân môn Tập đọc của các em học sinh vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Sơn La
Trang 8Một số công trình nghiên cứu trên đây là cơ sở và định hướng quan trọng trong việc sửa lỗi phát âm cho học sinh Tuy nhiên các tác giả chỉ dừng lại ở lí thuyết chung chung mà chưa đưa ra các biện pháp để khắc phục lỗi sai được nêu ra trong quá trình nghiên cứu Chúng tôi nhận thấy rằng chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề phát âm của học sinh dân tộc thiểu số tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ chính vì vậy để kế thừa và phát huy tư tưởng
của các công trình nghiên cứu trên chúng tôi đã thực hiện đề tài “Sửa lỗi phát
âm cho học sinh lớp 1 dân tộc Mường huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ”
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp khắc phục sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc Mường huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1dân tộc Mường huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu về một số lỗi phát âm thường gặp ở học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 trường Tiểu học Xuân Thủy huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ và trường Tiểu học Xuân Viên huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc tìm ra một số lỗi phát âm cho học sinh
lớp 1 dân tộc Mường huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ
- Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân mắc các lỗi phát âm
- Đưa ra một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc
Mường huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ
6 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
Trang 9- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng hợp
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc Mường huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ
Chương 2: Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1dân tộc Mường huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC
MƯỜNG HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 1
Sau khi hoàn thành bậc học mầm non, 6 tuổi các em bắt đầu vào lớp 1 Đây là một bước ngoặt quan trọng của trẻ thơ Môi trường học tập của các em nhanh chóng bị thay đổi một cách căn bản: chuyển từ hoạt động vui chơi là chính sang hoạt động học tập là chủ đạo Thay vì vừa học vừa chơi như ở trường mầm non, các em phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 –
35 phút Nhu cầu nhận thức chuyển từ tính hiếu kì, tò mò sang hứng thú khám phá, ham hiểu biết thế giới xung quanh Bước vào lớp 1 trẻ dần dần phải làm quen với những quy định của nhà trường và lớp học Các em phải kiềm chế tính hiếu động của mình và dường như tất cả điều đó là một thách thức lớn
đối với các em
1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí
Về sự tập trung chú ý: Ở tiểu học, hoạt động học tập đã trở thành một
hoạt động chủ đạo Tuy nhiên là lớp học đầu cấp nên các em còn khá ham chơi và khó có thể tập trung chú ý vào học tập Ở lứa tuổi này chú ý có chủ định còn yếu Trẻ gần như không để tâm đến vấn đề học tập mà thường chú ý đến những âm thanh hay các hoạt động vui nhộn bên ngoài Trẻ chỉ say mê học tập khi trong môn học có sử dụng các đồ dùng trực quan sinh động hay những động cơ mang ý nghĩa tình cảm như: được thầy cô giáo khen, được gia đình, bạn bè động viên, ủng hộ,… Do vậy, người lớn cần phải lập cho trẻ một thời gian biểu khoa học để kích thích quá trình học tập có hiệu quả và tránh gây mệt mỏi cho trẻ
Trang 11Về tri giác: Tri giác của học sinh lớp 1 mang tính đại thể, ít đi sâu vào
chi tiết và mang tính không ổn định Tri giác của trẻ thường gắn với các hình ảnh trực quan vì vậy trong quá trình dạy học rất cần có các hoạt động mới lạ, màu sắc, tính chất đặc biệt để kích thích tri giác của trẻ một cách tích cực và chính xác
1.1.1.2 Đặc điểm sinh lí
Trẻ em là một thực thể tự nhiên không ngừng phát triển Trẻ càng nhỏ thì tốc độ phát triển càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo và chức năng Tuy nhiên mỗi cơ quan và hệ cơ quan khác nhau lại có quá trình phát triển khác nhau Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện này có ảnh hưởng đến quá trình tâm lí của trẻ Vì vậy tính thích nghi và khả năng hoạt động khác của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động khác nhau
Đặc điểm hệ thần kinh của học sinh lớp 1: Hệ thần kinh điều khiển mọi
hoạt động của các cơ quan giúp cơ thể thích nghi được với sự thay đổi của môi trường sống Nhờ có hệ thần kinh mà con người có tư duy và có tâm lí
Vỏ não là cơ sở vật chất của toàn bộ hoạt động tâm lí của con người
Khi ra đời não bộ của trẻ chưa phát triển đầy đủ mặc dù cấu tạo và hình thái không khác so với người lớn Trọng lượng của não trẻ sơ sinh là 370 –
392 gam, khi được 6 tháng trọng lượng não tăng gấp đôi, 3 tuổi tăng gấp 3 và hoàn thiện cơ bản vào năm trẻ 5 – 6 tuổi Sự phát triển của các đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh và tăng lên theo từng lứa tuổi Các phản xạ có điều kiện được hình thành một cách nhanh chóng Chức năng của vỏ bán cầu đại não tăng nhanh hơn so với trung khu dưới vỏ do đó ta thấy hành vi của trẻ có tính tổ chức cao
1.1.1.3 Đặc điểm nhận thức
Nhận thức cảm tính
Trang 12Các cơ quan cảm giác như: thị giác, thính giác, vị giác,… đều phát triển
và đang trong quá trình hoàn thiện
Tri giác của trẻ lớp 1 thường gắn với hành động trực quan, trẻ thích quan
sát những sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng
Trí nhớ: Ở lớp 1, trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ tư
duy – logic Các em có thể ghi nhớ các hình ảnh về sự vật, hiện tượng rất nhanh trong khi để ghi nhớ một định nghĩa hay những lời giải thích dài dòng thì học sinh luôn gặp khó khăn Học sinh lớp 1 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi các em chưa hiểu được ý nghĩa
có trong tài liệu học tập đó Các em học theo từng câu từng chữ mà chưa biết cách sắp xếp lại từ ngữ theo ý hiểu của mình Vì vậy trong quá trình học tập giáo viên cần khái quát hóa, đơn giản hóa mọi vấn đề giúp học sinh và xác định nội dung cần ghi nhớ tạo hứng thú học tập cho các em
Ngôn ngữ: Hầu hết học sinh lớp 1 có ngôn ngữ nói thành thạo tuy nhiên
với học sinh dân tộc thiểu số, ngôn ngữ nói còn hạn chế Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ có khả năng tự học, tự đọc, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Nhờ ngôn ngữ mà tư duy tưởng tượng của trẻ phát triển
Về tư duy: Tư duy của trẻ là tư duy cụ thể dựa vào các đặc điểm trực
quan của đối tượng cụ thể Học sinh dần chuyển từ nhận thức bên ngoài của đối tượng đến những thuộc tính, dấu hiệu bên trong của đối tượng vào tư duy
Trang 13Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải nắm vững những đặc điểm nhận thức của học sinh để có những biện pháp dạy học phù hợp
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ
1.1.2.1 Âm tiết tiếng Việt
a) Khái niệm âm tiết tiếng Việt
Trong ngữ âm học đại cương, đơn vị âm tiết được các nhà ngôn ngữ học khảo sát chủ yếu qua cứ liệu của các ngôn ngữ tổng hợp – thường là phi âm tiết tính Ở các ngôn ngữ này, âm tiết thuần túy là đơn vị phát âm, chỗ ngắt của chuỗi âm thanh diễn ra trong hoạt động lời nói Âm tiết chính là nơi giao nhau giữa kích thước của việc phân đoạn lời nói và khái niệm nội dung ngữ
âm
VD: Câu thơ “Trong đầm gì đẹp bằng sen” có 6 âm tiết
b) Cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt có 5 thành phần và được sắp xếp theo sơ đồ sau:
Trang 14Vị trí thứ nhất trong mô hình trên là phụ âm đầu Vị trí này bao giờ cũng
do các phụ âm đảm nhiệm có chức năng mở đầu âm tiết, tạo ra âm sắc cho âm tiết lúc đầu
Vị trí thứ hai là âm đệm / / có hai con chữ thể hiện là con chữ o và con
chữ u Âm đệm có chức năng làm thay đổi âm sắc của âm tiết lúc mở đầu làm
khu biệt âm tiết này với âm tiết khác
Vị trí thứ ba là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm Âm chính là hạt
nhân của âm tiết và không âm tiết tiếng Việt nào khuyết vị trí này
Vị trí thứ tư là âm cuối, âm cuối có thể là phụ âm hoặc bán âm có chức
năng kết thúc âm tiết và làm cơ sở để phân chia thành các loại hình âm tiết, để nhận ra sự phân bố của thanh điệu
Vị trí thứ năm là thanh điệu Đây là yếu tố siêu đoạn tính có chức năng
khu biệt âm tiết về độ cao Thanh điệu quyết định âm sắc của các nguyên âm làm âm chính, có giá trị phân biệt nghĩa và nhận diện từ Trong tiếng Việt có
6 thanh điệu đó là: thanh ngang, thanh huyền, thanh sắc, thanh nặng, thanh hỏi, thanh ngã
Năm thành tố tạo nên âm tiết tiếng Việt ở dạng đầy đủ nhất luôn có tính chất cố định và không thể đổi chỗ cho nhau đƣợc Trong năm thành tố trên,
âm chính và thanh điệu là hai thành tố bắt buộc và không thể thiếu để nhận diện âm tiết Còn phụ âm đầu, âm đệm và âm cuối thì có thể vắng mặt
Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chia làm 2 bậc:
Âm tiết
Bậc 1: Thanh điệu Âm đầu Phần vần
Trang 15Bậc 2: Âm tiết
Âm đầu Phần vần Thanh điệu
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Thanh điệu là sự thay đổi cao độ những âm tiết: la, lá, lã đối lập với là,
lả, lạ Các âm tiết la, lá, lã được phát âm với cao độ cao; các âm tiết là, lả, lạ
được phát âm với cao độ thấp
Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thì những
âm tiết cao lại đối lập với nhau về sự biến thiên của cao độ Âm tiết “la” được phát âm với cao độ hoàn toàn bằng phẳng; còn âm tiết “lã” được phát âm với đường nét biến thiên, cao độ không bằng phẳng Như vậy, thanh điệu là các đường nét biến thiên về cao độ
Trong tiếng Việt, nguyên âm được coi là âm chính Nguyên âm là những dao động của thanh quản hay những âm mà khi ta phát ra luồng khí từ thanh quản lên môi không bị cản trở Nguyên âm có thể tự đứng riêng biệt, có thể đứng trước hoặc sau các phụ âm để tạo thành tiếng nói Trong tiếng Việt có
16 nguyên âm bao gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi
Phụ âm đảm nhiệm thành phần âm đầu của các âm tiết tiếng Việt Phụ
âm là những âm mà khi phát âm âm thanh phát ra từ thanh quản qua miệng hay những âm khi phát ra luồng khí từ thanh quản lên môi bị cản trở, bị tắc lại trong quá trình phát âm Các phụ âm thường được viết bằng một con chữ tuy nhiên có 9 phụ âm được ghép bởi hai con chữ là: /ph/, /th/, /tr/, /ch/, /gi/, /nh/, /ng/, /kh/, /gh/ Người ta chia phụ âm thành các loại sau:
+ Phụ âm tắc: hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: /b/, /z/, /t/, /ʂ /, /k/, /m/, /z/, /ŋ/
Trang 16+ Phụ âm xát: hơi đi qua kẽ hở miệng: /p/, /v/, /ʂ/, /z/, /l/, /i/, /h/
+ Phụ âm vang: hơi thoát ra ở đầu lưỡi và bên lưỡi: /m/, /n/, /ɲ/
+ Phụ âm ồn: hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn: /b/, /z/, /t/, /k/, /p/, /v/, /h/
+ Căn cứ vào chỗ dây thanh có rung hay không rung người ta chia ra: Phụ âm hữu thanh: dây thanh rung: /z/, /v/, /y/
Phụ âm vô thanh: dây thanh không rung: /t/, /k/, /b/, /ʂ/, /h/
c) Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt
- Âm tiết tiếng Việt có tính độc lập cao:
+ Trong lời nói, âm tiết tiếng Việt bao giờ cũng thể hiện rất rõ ràng, đầy đủ, được tách và ngắt ra thành từng khúc, đoạn riêng biệt
+ Khác với các ngôn ngữ của châu Âu, âm tiết nào của tiếng Việt cũng mang một thanh điệu nhất định
+ Do được xác định rõ ràng như vậy nên việc vạch ranh giới giữa các
âm tiết tiếng Việt trở nên dễ dàng
- Âm tiết tiếng Việt có khả năng biểu hiện ý nghĩa:
+ Ở tiếng Việt, đại đa số các âm tiết đều có ý nghĩa
+ Có thể nói, trong tiếng Việt âm tiết không chỉ là một đơn vị ngữ âm đơn thuần mà còn là một đơn vị từ vựng và ngữ pháp chủ yếu
d) Phân loại âm tiết tiếng Việt
Để phân loại âm tiết tiếng Việt người ta dựa trên hai tiêu chí đó là dựa và
âm đầu, âm đệm và dựa vào âm cuối vần
Tiêu chí thứ nhất: Phân loại âm tiết tiếng Việt dựa và âm đầu và âm đệm:
+ Âm tiết có âm đầu và âm đệm gọi là âm tiết nặng VD: hoa, thoa,…
+ Âm tiết có âm đầu nhưng không có âm đệm gọi là âm tiết nửa nặng
VD: lan, na,…
+ Âm tiết vắng âm đầu, vắng âm đệm gọi là âm tiết nhẹ VD: an, anh,…
Trang 17+ Âm tiết vắng âm đầu, có âm đệm gọi là âm tiết nửa nhẹ VD: oang,
oanh,…
Tiêu chí thứ hai: Phân loại âm tiết tiếng Việt dựa vào âm cuối vần:
+ Âm tiết vắng âm cuối vần gọi là âm tiết mở
VD: lá, má,…
+ Âm tiết có âm cuối vần là bán âm gọi là âm tiết nửa mở
VD: mai, may, cháu, cháo,…
+ Âm tiết có âm cuối vần là phụ âm vang mũi gọi là âm tiết nửa khép
VD: lam, lan, lanh,…
+ Âm tiết có phụ âm cuối vần là phụ âm tắc vô thanh gọi là âm tiết khép
VD: độc lập, bài tập,…
Từ hai tiêu chí trên ta có 16 loại hình âm tiết tiếng Việt khác nhau nhƣ sau:
+ Âm tiết nặng, mở VD: quả,…
+ Âm tiết nặng, nửa mở VD: toại, quay,…
+ Âm tiết nặng, nửa khép VD: hoan, quan,…
+ Âm tiết nặng, khép VD: tuốt,…
+ Âm tiết nửa nặng, mở VD: ta, ca,…
+ Âm tiết nửa nặng, nửa mở VD: cháu, cháo, tai, tay,…
+ Âm tiết nửa nặng, nửa khép VD: lan, tinh,…
+ Âm tiết nửa nặng, khép VD: bát, tốt,…
+ Âm tiết nhẹ, mở VD: ơ, an,…
+ Âm tiết nhẹ, nửa mở VD: áo, ai,…
+ Âm tiết nhẹ, nửa khép VD: em, ăn,…
+ Âm tiết nhẹ, khép VD: át, ốp,…
+ Âm tiết nửa nhẹ, mở VD: oa, oe,…
+ Âm tiết nửa nhẹ, nửa mở VD: oai,…
Trang 18+ Âm tiết nửa nhẹ, nửa khép VD: oang,…
+ Âm tiết nửa nhẹ, khép VD: uất,…
1.1.2.2 Chuẩn phát âm tiếng Việt
Phát âm đúng là phát âm chính xác những thành phần âm tiết, không ngọng, không lặp; biết điều chỉnh âm lượng thích hợp; thể hiện đúng ngữ điệu trong khi nói; biết thể hiện tình cảm qua nét mặt, điệu bộ, cử chỉ; nắm được những đặc điểm của văn hóa giao tiếp
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề chuẩn phát âm tiếng Việt Về cơ bản, phát âm chuẩn là phát âm theo chính âm tiếng Việt của phương ngữ Bắc
Bộ trong đó lấy Hà Nội gốc làm chuẩn phát âm tiếng Việt và bổ sung thêm ba
âm s, r, tr và hai vần ưu, ươu
Đa số ý kiến về hệ thống âm chuẩn đều thống nhất với nhau ở các điểm
đó là hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt gồm có 6 thanh: thanh huyền, thanh sắc, thanh ngã, thanh nặng, thanh hỏi, thanh ngang Hệ thống phụ âm đầu có
các âm quặt lưỡi r, s, tr và không phân biệt r/d/gi và có đầy đủ hệ thống các
vần giống như trên chữ viết
Tuy nhiên, việc xác định chuẩn chính âm như trên gặp phải một số bất cập vì chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm vị nên phải lấy chuẩn chính âm để xác định chuẩn chính tả Nhưng nếu xác định chuẩn chính âm của các âm quặt
lưỡi r, s, tr và các vần ưu, ươu thì chuẩn chính âm lại phải dựa trên chuẩn
chính tả
1.1.2.3 Tầm quan trọng của việc phát âm chuẩn
Dạy học sinh lớp 1 phát âm đúng tiếng Việt là một công việc vô cùng quan trọng Để phát âm chuẩn trước hết các em phải nắm được hệ thống ngữ
âm Bước đầu học phát âm, học sinh phải phát âm được các âm đơn lẻ sau đó mới đến các đơn vị cao hơn là tiếng, từ rồi mới đến câu Cuối cùng là luyện tập cách sử dụng chúng để người khác hiểu thông qua ngôn ngữ nói và viết
Trang 19Mục đích của việc học một loại ngôn ngữ nào đó là để có thêm một phương tiện giao tiếp, để học tập và làm việc Vì vậy, việc học phát âm và phát âm đúng chính là điều kiện cơ bản đầu tiên để đảm bảo cho người học chiếm lĩnh được ngôn ngữ đó Nếu phát âm lệch chuẩn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng giao tiếp, người giao tiếp sẽ không hiểu nội dung các em muốn truyền đạt đến họ là gì và một hệ quả quan trọng khác của việc phát âm lệch chuẩn
đó là sẽ dẫn đến việc viết sai chính tả Như vậy, người học sẽ không sử dụng hiệu quả ngôn ngữ mà mình đang học
Một đứa trẻ bắt đầu bập bẹ tập nói khi nó được một tuổi Ông bà, bố mẹ,
là người dạy cho nó từng câu, từng chữ cho đến khi nó có thể nói được những mẫu câu đơn giản để bày tỏ ý muốn của mình Đến khi vào lớp 1, trẻ đã có một vốn từ khá phong phú để có thể giao tiếp với thầy cô, bạn bè và người thân,… Tuy nhiên, các em học sinh dân tộc thiểu số lại thiệt thòi hơn rất nhiều khi ở nhà tiếng nói các em vẫn thường sử dụng là tiếng nói riêng của dân tộc mình Khi đến trường, các em bắt đầu được làm quen và tiếp xúc với một ngôn ngữ hoàn toàn mới mẻ đó là tiếng Việt Khi ấy, các em phải học đồng thời cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Các em phải làm quen với một
hệ thống ngữ âm hoàn toàn mới so với tiếng mẹ đẻ của mình Với các em thì khâu phát âm đóng vai trò vô cùng quan trọng Bởi vậy cần phải dạy cho các
em cách phát âm chuẩn ngay từ khi học âm vần Việc phát âm đúng sẽ giúp các em học tốt hơn trong môn Tiếng Việt và tất cả các môn học khác Giúp khả năng giao tiếp của các em tốt hơn, các em tự tin vào bản thân hơn để góp phần cống hiến cho xã hội
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát về học sinh lớp 1 dân tộc Mường của Trường Tiểu học Xuân Viên và Trường Tiểu học Xuân Thủy huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
Trang 20a) Vài nét về trường Tiểu học Xuân Viên – xã Xuân Viên – huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
Trường Tiểu học Xuân Viên thuộc địa phận xã Xuân Viên, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ - là một xã nghèo của huyện và hầu hết là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Mường Cuộc sống của người dân nơi đây còn rất nhiều khó khăn song nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước các em nhỏ trên địa bàn huyện Yên Lập đều có điều kiện được đến trường Trường Tiểu học Xuân Viên được thành lập năm 1998 Sau 20 năm hình thành và phát triển, nhà trường đã liên tục phấn đấu trong sự nghiệp giáo dục và đạt được rất nhiều thành tựu trong công tác giảng dạy Khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất, điều kiện giảng dạy, nhà trường đang ngày càng nâng cao chất lượng dạy và học trong những năm qua Tổng số đội ngũ cán bộ công nhân viên của trường là 44 đồng chí Trong đó có 3 cán bộ quản lí, 20 giáo viên chủ nhiệm,
6 giáo viên phụ trách bộ môn và 15 nhân viên Đội ngũ giáo viên trong trường đều được đào tạo cơ bản, có tâm huyết, có ý thức trách nhiệm, có trình độ chuyên môn vững vàng Các thầy cô hầu như đạt trình độ từ cao đẳng trở lên
và có một vài giáo viên đang theo học hệ Đại học vừa làm vừa học chuyên ngành Giáo dục Tiểu học Trường hiện nay có 20 phòng học chính và 5 phòng học bộ môn để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh toàn trường Số học sinh của trường là 725 học sinh được chia vào 20 lớp, trong đó:
Trang 21thống nhiều năm xây dựng và phát triển, trường đạt thành tích 10 năm liền đạt trường tiên tiến xuất sắc cấp huyện, tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh
Hơn 90% học sinh của trường là dân tộc thiểu số nhưng nhờ có sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các em luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập được giao Tuy là ngôi trường nằm ở một xã nghèo của huyện, điều kiện vật chất còn nhiều thiếu thốn nhưng nhà trường vẫn đang từng bước khắc phục nâng cao điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng cho quá trình dạy và học để chèo lái con thuyền tri thức giúp các em học sinh nghèo cập bến bờ tương lai
b) Vài nét khái quát về trường Tiểu học Xuân Thủy – xã Xuân Thủy – huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
Trường Tiểu học Xuân Thủy thuộc xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ Ngôi trường này được thành lập vào năm 1995 và được đặt ở vị trí trung tâm của xã Trải qua bao nhiêu khó khăn vất vả với cơ sở vật chất còn thiếu thốn, trình độ đào tạo, kĩ năng nghề nghiệp còn nhiều bất cập song với lòng yêu nghề, mến trẻ, tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường vẫn luôn hướng theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ duy trì và phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội Nhà trường luôn phát huy những thành tích đã đạt được, đẩy mạnh phòng trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực” phấn đấu đưa phòng trào của trường ngày càng vững mạnh Tính đến nay, nhà trường đã có hơn 800 học sinh đang học tập tại trường dưới sự dìu dắt của 45 cán bộ giáo viên, công nhân viên nhà trường Trong đó
có 3 cán bộ quản lí, 20 giáo viên chủ nhiệm, 7 giáo viên phụ trách bộ môn và
15 nhân viên nhà trường Hầu hết giáo viên trong trường đều tốt nghiệp các trường Cao đẳng Sư phạm trở lên và ngày càng có nhiều thầy cô giáo trẻ, nhiệt huyết và đã tốt nghiệp từ các trường Đại học Sư phạm về giảng dạy nhờ chính sách thu hút nhân tài do huyện Yên Lập đề ra
Trang 22Số học sinh trong trường được chia đều vào 20 lớp và chia thành 5 khối lớp Mỗi khối lớp có 4 lớp chia theo thứ tự A, B, C, D Thành tích học tập và giảng dạy của thầy trò trường Tiểu học Xuân Thủy không ngừng được nâng cao qua từng năm học Năm 2015, nhà trường vinh dự được công nhận danh hiệu trường chuẩn quốc gia mức độ 1
Số học sinh là dân tộc thiểu số của trường chiếm hơn 70% và hầu hết gia đình các em sống tập trung xung quanh khu vực xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ Đa số phụ huynh đều làm nông nghiệp, một số ít phụ huynh làm kinh doanh, buôn bán và giáo viên Là một trong số những trường điểm của huyện nên trường Tiểu học Xuân Thủy được các phụ huynh cũng rất tin tưởng và muốn gửi con em mình học tập vì ở đó các em được sống, được học tập và vui chơi trong một môi trường tương đối đầy đủ, thân thiện và được đảm bảo phát triển về mọi mặt
Cả hai ngôi trường trên đều chiếm phần đông là các em học sinh dân tộc thiểu số theo học Do hoàn cảnh sinh sống, điều kiện gia đình và phong tục tập quán của quê hương nên phần đông các em đều mắc lỗi phát âm trong giao tiếp Chúng tôi chọn trường Tiểu học Xuân Viên và trường Tiểu học Xuân Thủy để tìm hiểu và điều tra về hai trường này qua đó phần nào sẽ cho chúng ta thấy thực trạng về lỗi phát âm của học sinh lớp 1 dân tộc Mường trên địa bàn huyện Yên Lập Từ đó nêu ra được nguyên nhân và đề xuất biện pháp sửa lỗi phát âm cho các em
1.2.2 Thực trạng mắc lỗi phát âm của học sinh lớp 1 dân tộc Mường ở Trường Tiểu học Xuân Viên và Trường Tiểu học Xuân Thủy huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Để tìm hiểu được thực trạng mắc lỗi phát âm của các em học sinh lớp 1 dân tộc Mường trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ chúng tôi đã chọn
ra hai lớp để tiến hành điều tra Vì điều kiện thời gian có hạn nên chúng tôi
Trang 23chỉ tiến hành tìm hiểu lỗi phát âm của 30/35 học sinh ở lớp 1A trường Tiểu học Xuân Viên, xã Xuân Viên, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ và 30/40 học sinh ở lớp 1A trường Tiểu học Xuân Thủy, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Chúng tôi tiến hành điều tra thông qua các cuộc trò chuyện với các em học sinh, điều tra qua các trò chơi trên lớp qua đó ghi chép lại các lỗi phát âm của học sinh vào nhật kí
Qua quá trình khảo sát học sinh lớp 1 ở hai trường tiểu học, chúng tôi sẽ lập ra một bảng từ Trong bảng từ đó chúng tôi đã liệt kê ra tất cả các lỗi mà học sinh hay mắc phải, tương ứng với mỗi lỗi phát âm đó là một từ hay cụm
từ cụ thể được kèm theo bởi hình ảnh biểu đạt nội dung hoặc đồ vật thật, đồ chơi, mô hình
Chúng tôi xuất hiện ở lớp học của các em trong vai trò là một giáo viên
và tổ chức điều tra dưới hình thức trò chơi học tập hoặc trò chơi vận động Khi tiến hành trò chơi chúng tôi sẽ trình chiếu các vật thật, mô hình hay ảnh
về đối tượng và yêu cầu các em suy nghĩ để trả lời xem đó là hình ảnh về cái
gì Trẻ rất hào hứng hòa mình vào trò chơi của chúng tôi đưa ra mà không hề hay biết mình đang bị kiểm tra lỗi phát âm Vì số lượng học sinh khá đông nên chúng tôi chỉ tập trung điều tra trong 10 ngày để không ảnh hưởng đến hoạt động học tập và không gây nhàm chán cho các em
Số lượng học sinh được khảo sát là 60 học sinh Trong đó, lớp 1A trường Tiểu học Xuân Viên, xã Xuân Viên, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ là 30 học sinh và lớp 1A trường Tiểu học Xuân Thủy, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ là 30 học sinh
Phương pháp khảo sát là lắng nghe học sinh phát âm và ghi chép vào nhật kí
Phương tiện khảo sát là những tranh ảnh, vật thật, mô hình về đối tượng
Trang 24Nội dung khảo sát: chúng tôi đã tổ chức khảo sát dựa trên việc sử dụng kết hợp tranh ảnh, vật thật, mô hình,… trong các tiết học rồi lắng nghe học sinh phát âm và ghi vào nhật kí Qua quá trình khảo sát đó chúng tôi đã phát hiện ra những lỗi phát âm mà các em thường mắc như sau:
+ Thanh điệu: Thanh ngã, thanh hỏi
Trang 25Bảng 1: Khảo sát thực trạng phát âm của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Xuân Thủy, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Kết quả Phát âm Tỉ lệ (%)
Thanh
điệu
ngã -> sắc mật mã -> mật má 27 3 90,0 10,0 hỏi -> nặng đau khổ -> đau khộ 28 2 93,3 6,7
ôc -> âc dân tộc -> dân tậc 30 0 100 0
ươ -> iê con hươu -> con hiêu 23 7 76,7 23,3
ưu -> iu quả lựu -> quả lịu 24 6 80,0 20,0
uô -> ô quả chuối -> quả chối 30 0 100 0
yê -> ê nói chuyện -> nói chuện 27 3 90,0 10,0
uô -> ô muộn -> mụn 22 8 73,3 26,7
o -> oo đi học -> đi hoọc 28 2 93,3 6,7
Âm cuối n -> ng con kiến -> con kiếng 29 1 96,7 3,3
Trang 26Bảng 2: Khảo sát thực trạng phát âm của học sinh lớp 1 trường Tiểu học XuânViên, xã XuânViên, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Kết quả Phát âm Tỉ lệ (%)
ôc -> âc dân tộc -> dân tậc 18 12 60,0 40,0
ươ -> iê con hươu -> con hiêu 3 27 10,0 90,0
ưu -> iu quả lựu -> quả lịu 3 27 10,0 90,0
uô -> ô quả chuối -> quả chối 21 9 70,0 30,0
yê -> ê nói chuyện -> nói chuện 25 5 83,3 16,7
uô -> u muộn -> mụn 21 9 70,0 30,0
Trang 27o -> oo đi học -> đi hoọc 20 10 66,7 33,3
Âm cuối n -> ng con kiến -> con kiếng 28 2 93,3 6,7
m -> n con bướm -> con bướn 27 3 90,0 10,0 ich -> ứt thích -> thứt 24 6 80,0 20,0
Âm chính
và âm cuối
êch -> ất lệch hướng -> lật hướng 22 8 73,3 26,7 ach -> ắt cặp sách -> cặp sắt 21 9 70,0 30,0
Trang 28+ Về thanh điệu:
Đối với lỗi phát âm thanh ngã và thanh sắc, học sinh trường Tiểu học Xuân Viên có tỉ lệ phát âm sai cao hơn 40% so với tỉ lệ phát âm sai của học sinh trường Tiểu học Xuân Thủy
Đối với lỗi thanh hỏi và thanh nặng, học sinh trường Tiểu học Xuân Viên có tỉ lệ phát âm sai cao hơn 26,6% so với học sinh trường Tiểu học Xuân Thủy
Trang 29trường đều có sự phát âm lẫn lộn và không thể phân biệt được cách phát âm
của âm “d” và âm “r” Đây là một khó khăn lớn trong quá trình dạy cách
phát âm cho các em
Sự nhầm lẫn phụ âm đầu l/n cũng chiếm tỉ lệ cao Tỉ lệ học sinh phát
âm sai ở cả hai trường chiếm gần 20%
Các phụ âm khác các em học sinh ở cả hai trường đã có sự phát âm tương đối chính xác
+ Âm đệm: Âm đệm ở cả hai trường các em đã phát âm khá chuẩn chỉ có
số ít học sinh phát âm sai Cụ thể là cả hai trường có tỉ lệ phát âm đúng lên tới 96,7% và chỉ có 3,3% học sinh phát âm sai
+ Âm chính: Qua bảng trên cho thấy có 5 âm các em thường phát âm sai
đó là: /ô/, /ươ/, /uô, /o/ và /yê/
Với vần “ôc”, học sinh trường Tiểu học Xuân Thủy không phát âm sai
nhưng học sinh trường Tiểu học Xuân viên lại phát âm sai đến 40% số học sinh được khảo sát
Âm “ươ” học sinh trường Tiểu học Xuân Thủy phát âm sai 23,3% còn
học sinh trường Tiểu học Xuân Viên tỉ lệ học sinh phát âm sai là rất cao, chiếm tới 90%,
Âm “uô” trường Tiểu học Xuân Thủy không có học sinh phát âm sai tuy
nhiên ở trường Tiểu học Xuân viên tỉ lệ học sinh phát âm sai chiếm 30%
Âm “yê” ở cả hai trường đều có học sinh phát âm sai tuy nhiên tỉ lệ sai
không cao Trường Tiểu học Xuân thủy là 10% còn trường Tiểu học Xuân Viên là 16,7% số học sinh được khảo sát
Âm “o” trường Tiểu học Xuân Viên có tỉ lệ học sinh phát âm sai khá
nhiều chiếm 33,3% tổng số học sinh được khảo sát Trường tiểu học Xuân Thủy có tỉ lệ học sinh phát âm sai thấp hơn, chỉ chiếm 6,7%
Trang 30+ Âm cuối: Tỉ lệ học sinh phát âm đúng âm cuối khá cao, cụ thể trường Tiểu học Xuân Thủy có 97,6% số học sinh phát âm đúng âm cuối và trường Tiểu học Xuân Viên có 93,3% học sinh phát âm đúng
Từ bảng khảo sát thực trạng trên chúng tôi thấy rằng có rất nhiều lỗi phát
âm các em học sinh thường xuyên mắc phải trong quá trình giao tiếp Vì vậy rất cần có những biện pháp tối ưu trong việc dạy phát âm cho học sinh vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ để đạt hiệu quả cao Đặc biệt là hai trường tiểu học mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát
1.2.2.1 Thực trạng mắc lỗi phát âm của giáo viên
Khối lớp 1 trường Tiểu học Xuân Thủy do bốn cô giáo chủ nhiệm đó là:
cô Nguyễn Thị Sen (Lớp 1A), cô Nguyễn Thị Dung (Lớp 1B), cô Hà Thanh Nhã (Lớp 1C), cô Lê Vân Anh (Lớp 1D) Trình độ chuyên môn của các cô giáo là Đại học Sư phạm và từng đạt được nhiều danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện và giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh Các cô rất tâm huyết với nghề, luôn học hỏi và trau dồi tri thức để truyền đạt cho các thế hệ học sinh những bài học bổ ích làm hành trang bước vào đời Do lớp học có nhiều học sinh dân tộc thiểu số theo học nên các em thường phát âm sai nhiều, các cô luôn uốn nắn từng li, từng tí cho học sinh trong quá trình sửa lỗi phát âm để các em tự tin trong giao tiếp cũng như trong quá trình học tập các môn học khác
Khối lớp 1 trường Tiểu học Xuân Viên do bốn cô giáo chủ nhiệm đó là:
cô Trịnh Thị Hạnh (Lớp 1A), cô Lê Thị Hương Lan (Lớp 1B), cô Đỗ Thị Tâm (Lớp 1C), cô Đỗ Thị Minh (Lớp 1D) Là những cô giáo trẻ nhiệt tình, sôi nổi, tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm và phương pháp dạy học tích cực đã lôi cuốn tất cả học sinh vào bài giảng của mình Trường nằm ở một xã nghèo vùng sâu vùng xa của huyện Yên Lập nên việc dạy học còn rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả sự vất vả, chúng tôi luôn thấy được lòng yêu nghề và sự nhiệt huyết trong mỗi thầy cô giáo nơi đây
Trang 31Qua quá trình điều tra, khảo sát tại hai trường Tiểu học trong huyện, chúng tôi nhận thấy rằng các cô giáo hầu như phát âm chuẩn Đôi khi có một
số lỗi phát âm nhầm lẫn nhưng các cô đã nhận thấy và sửa sai ngay
1.2.2.2 Thực trạng mắc lỗi phát âm của phụ huynh
Chúng tôi điều tra thực trạng phát âm của phụ huynh học sinh bằng cách sau:
+ Trò chuyện với phụ huynh học sinh qua những lần phụ huynh đưa và đón trẻ tới trường
+ Nhờ phụ huynh đọc một đọan văn hoặc một đoạn thơ ngắn đã chuẩn bị trước
Để có kết quả khảo sát chính xác và khách quan chúng tôi không cho họ biết họ đang được kiểm tra lỗi phát âm Do điều kiện thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ điều tra 60 phụ huynh bao gồm 30 phụ huynh của trường Tiểu học Xuân Thủy và 30 phụ huynh của trường Tiểu học Xuân Viên
Dưới đây là bảng khảo sát thực trạng phát âm của phụ huynh của hai trường tiểu học
Bảng 4: Khảo sát thực trạng phát âm của phụ huynh trường Tiểu học Xuân Thủy, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Kết quả Phát âm Tỉ lệ (%)
Thanh
điệu
ngã -> sắc mật mã -> mật má 29 1 96,7 3,3 hỏi -> nặng đau khổ -> đau khộ 30 0 100 0
tr -> t trong sáng -> tong sáng 29 1 96,7 3,3
kh -> h khách hàng -> hách hàng 28 2 93,3 6,7
Trang 32ôc -> âc dân tộc -> dân tậc 30 0 100 0
ươ -> iê con hươu -> con hiêu 21 9 70,0 30,0
ưu -> iu quả lựu -> quả lịu 24 6 80,0 20,0
uô -> ô quả chuối -> quả chối 30 0 100 0
yê -> ê nói chuyện -> nói chuện 25 5 83,3 16,7
uô -> ô muộn -> mụn 28 2 93,3 6,7
o -> oo đi học -> đi hoọc 29 1 96,7 3,3
Âm cuối n -> ng con kiến -> con kiếng 29 1 96,7 3,3
Trang 33Bảng 5: Khảo sát thực trạng phát âm của phụ huynh trường Tiểu học Xuân Viên, xã XuânViên, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Kết quả Phát âm Tỉ lệ (%)
ôc -> âc dân tộc -> dân tậc 22 8 73,3 26,7
ươ -> iê con hươu -> con hiêu 15 15 50,0 50,0
ưu -> iu quả lựu -> quả lịu 15 15 50,0 50,0
uô -> ô quả chuối -> quả chối 21 9 70,0 30,0
yê -> ê nói chuyện -> nói chuện 26 4 86,7 13,3
uô -> u muộn -> mụn 21 9 70,0 30,0
o -> oo đi học -> đi hoọc 23 7 76,7 23,3
Âm cuối n -> ng con kiến -> con kiếng 29 1 96,7 3,3
m -> n con bướm -> con bướn 28 2 93,3 6,7 ich -> ứt thích -> thứt 27 3 90,0 10,0
Trang 34Âm chính
và âm cuối
êch -> ất lệch hướng -> lật hướng 25 5 83,3 16,7 ach -> ắt cặp sách -> cặp sắt 27 3 90,0 10,0
Từ bảng tổng kết trên cho thấy các phụ huynh của trường Tiểu học Xuân Viên có tỉ lệ phát âm sai cao hơn so với các phụ huynh ở trường Tiểu học Xuân Thủy Cụ thể:
+ Về thanh điệu:
Đối với lỗi phát âm thanh ngã và thanh sắc, phụ huynh trường Tiểu học Xuân Viên có tỉ lệ phát âm sai cao hơn 30% trong khi tỉ lệ phát âm sai của phụ huynh trường Tiểu học Xuân Thủy chỉ có 3,3%
Đối với lỗi thanh hỏi và thanh nặng, phụ huynh trường Tiểu học Xuân Viên có tỉ lệ phát âm sai cao hơn 30% trong khi phụ huynh ở trường Tiểu học Xuân Thủy không phát âm sai
+ Phụ âm đầu:
Dựa vào bảng trên chúng tôi nhận thấy phụ huynh trường Tiểu học Xuân Viên có tỉ lệ phát âm sai cao hơn các phụ huynh ở trường Tiểu học
Xuân Thủy Đặc biệt với phụ âm đầu d/r, 100% phụ huynh ở cả hai trường
đều có sự phát âm lẫn lộn và không thể phân biệt được cách phát âm của âm
“d” và âm “r”
Sự nhầm lẫn phụ âm đầu l/n cũng chiếm tỉ lệ cao Tỉ lệ phụ huynh phát
âm sai ở cả hai trường chiếm hơn 30%
Các phụ âm khác phụ huynh ở cả hai trường đã có sự phát âm tương đối chính xác
+ Âm đệm: phụ huynh ở cả hai trường đều phát âm đúng âm đệm
+ Âm chính: qua bảng trên cho thấy phụ huynh ở cả hai trường thường
phát âm không phân biệt được các âm chính ươ và iê; ưu và iu Tỉ lệ phát âm
sai chiếm 50% số phụ huynh được khảo sát
Trang 35Âm “o” trường Tiểu học Xuân Viên có tỉ lệ phụ huynh phát âm sai khá
cao chiếm 23,3% và trường tiểu học Xuân Thủy có tỉ lệ phụ huynh phát âm sai thấp hơn, chỉ chiếm 3,3%
+ Âm cuối: Tỉ lệ học sinh phát âm đúng âm cuối khá cao, tỉ lệ phụ huynh phát âm đúng ở cả hai trường chiếm hơn 90% số phụ huynh được khảo sát Nhìn một cách tổng quát vào bảng thống kê trên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy phụ huynh của trường Tiểu học Xuân Thủy có tỉ lệ phát âm đúng cao hơn phụ huynh ở trường Tiểu học Xuân Viên
Tất cả những lỗi phát âm mà phụ huynh mắc phải thì con cái của họ có khả năng bị ảnh hưởng rất lớn vì trẻ em dễ bắt chước lối phát âm của người lớn Đây cũng là hạn chế lớn để phát hiện và sửa lỗi phát âm cho học sinh
1.2.3 Nguyên nhân mắc lỗi phát âm của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Xuân Thủy và trường Tiểu học Xuân Viên huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Qua điều tra thực trạng về lỗi phát âm của học sinh hai trường tiểu học trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ có thể thấy rằng các em học sinh dân tộc Mường ở đây dù có sự chênh lệch về điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình, đặc trưng trường lớp, tuy nhiên các em vẫn mắc phải những lỗi phát âm nhất định Chúng tôi thấy do các nguyên nhân sau đây:
1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan
Trước khi vào lớp 1 hầu hết trẻ em dân tộc thiểu số đều nói tiếng dân tộc mình Có trẻ thì sử dụng đồng thời hai thứ tiếng là tiếng mẹ đẻ và tiếng phổ thông Do đó các em phát âm chưa chuẩn tiếng phổ thông
Do độ khó của các phụ âm, nguyên âm và thanh điệu nên trẻ mắc phải những lỗi phát âm nhất định Cụ thể:
+ Về phụ âm đầu: đây là các phụ âm khó tắc – xát, đầu lưỡi – ngạc cứng làm cho trẻ thường nhầm lẫn dẫn đến phát âm sai
Trang 36+ Về phần vần: phần vần được cấu tạo bởi các nguyên âm đôi làm cho cấu tạo âm tiết phức tạp hơn nên các em phát âm khó khăn hơn
+ Về thanh điệu: các em mắc lỗi phát âm hầu hết ở hai thanh đó là thanh hỏi và thanh ngã Đây là hai thanh điệu có cấu tạo phức tạp, âm điệu gãy ở giữa nên việc phát âm hai thanh này là vấn đề khó khăn với trẻ Vì vậy khi phát âm trẻ sẽ thay thế bằng cách phát âm đơn giản hơn tức là làm cho âm điệu không bị gãy ở giữa nên các em dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc
và thanh nặng (thanh ngã => thanh sắc; thanh hỏi => thanh nặng)
1.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Trẻ mới vào lớp 1 nên mọi thứ xung quanh đều mới mẻ và hấp dẫn Trẻ rất ham học hỏi, bắt chước những người xung quanh và bắt chước rất nhanh
Vì vậy khi trẻ sống trong môi trường mọi người thường xuyên phát âm sai hay do thói quen phát âm địa phương thì trẻ rất dễ bị phát âm sai theo
Khi đất nước ngày càng đổi mới và phát triển, khoa học công nghệ tiến
bộ, các hoạt động học tập ngày càng khuyến khích sự chủ động tích cực của học sinh thì các em học sinh dân tộc thiểu số lại có ít cơ hội được tiếp xúc với môi trường học tập hiện đại như thế Các em hầu hết đều còn nhút nhát, rụt rè, thiếu tự tin vào bản thân mình, ngại giao tiếp trước đám đông, ngại bắt chuyện cùng người khác Do đó các em thường không thể tự phát hiện ra lỗi phát âm sai của mình và tự sửa các lỗi đó
Ở độ tuổi bước vào lớp 1, vốn từ của trẻ chưa nhiều, đặc biệt là trẻ em vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cư trú thì vốn từ càng hạn hẹp hơn
Trang 37Vì thế, việc học ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ sẽ gây khó khăn cho việc phát âm của trẻ
Do bệnh lí:
+ Trẻ bị sứt môi, hở hàm ếch: khi trẻ phát âm ngôn ngữ phát ra rất khó hiểu, gây khó khăn trong quá trình giao tiếp với người khác
+ Trẻ bị ngắn lưỡi, đầy lưỡi
+ Trẻ mắc các tật câm điếc (ở mức độ nhẹ) sẽ dẫn đến việc nghe không
rõ nên thường nói ngọng, phát âm sai, đặc biệt là những từ khó
+ Do hậu quả của trẻ bị mắc các bệnh về não như bại não, viêm não, gập các dây thần kinh ngoại biên điều khiển cơ quan phát âm như: miệng, lưỡi, hàm,… kéo theo cả sự co cứng cả cơ mặt, vai, cổ khiến trẻ khó khăn trong quá trình phát âm
Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc phát âm sai của các em học sinh dân tộc thiểu số ở huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ Nguyên nhân có thể
do đặc điểm phát âm địa phương, vùng miền; có thể do các bệnh lí mà các em mắc phải; có thể do độ khó của các nguyên âm, phụ âm và thanh điệu khiến các em chưa phát âm đúng tiếng phổ thông
Kết luận chương 1
Qua chương 1 chúng ta đã có cái nhìn tổng quát về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc Mường của huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, chúng tôi đã đưa ra một số kết luận như sau: Thứ nhất, về cơ sở lí luận, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm tâm lí, đặc điểm sinh lí, đặc điểm nhận thức và cơ sở ngôn ngữ của học sinh tiểu học
Thứ hai, về cơ sở thực tiễn, chúng tôi điều tra thực trạng cách phát âm của giáo viên, phụ huynh và các em học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số cư trú tại địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ và tìm ra nguyên nhân dẫn tới việc phát
âm sai
Trang 38Qua quá trình điều tra thực trạng, chúng tôi nhận thấy rằng các em học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số đã mắc rất nhiều lỗi phát âm trong giao tiếp và rất cần có những biện pháp cụ thể đề áp dụng sữa lỗi phát âm cho các em giúp các em tự tin trong giao tiếp và học các môn học khác Đây là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu các biện pháp sửa lỗi phát âm trong đề tài của chúng tôi
Trang 39CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC MƯỜNG HUYỆN YÊN LẬP
2.1 Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1
2.1.1 Phương pháp luyện phát âm theo mẫu
Từ khi trẻ sinh ra đến khi biết nói, các em đã quan sát và bắt chước người lớn phát âm Khi đến tuổi đi học mẫu giáo, quá trình dạy trẻ phát âm được các cô giáo dạy theo các hợp âm có độ to, nhỏ, nhanh, chậm khác nhau bằng cách cô đọc mẫu và yêu cầu trẻ nói theo
Khi lên lớp 1, các em sẽ củng cố, chính xác hóa lại các âm vị tiếng Việt bằng cách phát âm mẫu rõ ràng, cường độ vừa phải Giáo viên có thể sử dụng các bảng chữ cái làm hình ảnh trực quan đồng thời cũng là nội dung bài học
để các em học tập Trong quá trình học tập, rút ra các lỗi phát âm học sinh thường sai để giáo viên sửa lỗi ngay cho học sinh Khi phát hiện lỗi sai và sửa, giáo viên cần phát âm trước mặt trẻ để trẻ có điều kiện quan sát sự chuyển động của cơ quan phát âm Với lứa tuổi này, trẻ hoàn toàn có thể nhận biết được vị trí của các cơ quan phát âm khi giáo viên chỉ ra cho trẻ như: môi, răng, lưỡi, độ mở của miệng,… (đối với những âm có cấu âm không quá phức tạp) sau đó các em có thể phát âm lại Giáo viên lắng nghe và sửa cho học
sinh
VD: Khi phát âm âm “o” thì tròn môi
Phát âm âm “u” thì chu môi
Trang 40Phát âm âm “n” thì lưỡi uốn cong…
Giáo viên cần quan sát kĩ và lắng nghe để sửa lỗi cho học sinh cụ thể cho từng học sinh Chú ý đến những em thường xuyên phát âm sai để có biện phát sửa lỗi phát âm tốt nhất cho các em
Phương pháp luyện phát âm theo mẫu thường được giáo viên sử dụng trong các giờ học Học vần trên lớp với mục đích giáo viên phát âm mẫu chuẩn để học sinh bắt chước và phát âm theo mẫu Cũng có thể sử dụng khi
ôn tập lại các vần đã học mà giáo viên phát hiện ra học sinh của mình vẫn còn phát âm chưa chuẩn
2.1.2 Phương pháp luyện tập tổng hợp, phân tích cách phát âm
Phương pháp phân tích cách phát âm: là cách mà người giáo viên phân
chia đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những yếu tố cấu thành đơn giản để làm bộc lộ ra những thuộc tính, bản chất của đối tượng từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng Trong việc luyện phát âm, đây là phương pháp
mà người giáo viên chỉ ra lỗi sai cho học sinh bằng cách chỉ ra các bộ phận phát âm không đúng sau đó giáo viên sửa lại theo cách sử dụng các bộ phận phát âm đúng Với phương pháp này, khi sử dụng giáo viên cần phát âm thật chậm để học sinh quan sát cách giáo viên phát âm hoặc giáo viên có thể sử dung mô hình trực quan vẽ các bộ phận phát âm để học sinh quan sát Với học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số trẻ em ít biết nói tiếng Việt thì khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần phải mô tả thật ngắn gọn, dễ hiểu, kết hợp mô
tả bằng hình ảnh trực quan hay các động tác là chủ yếu Phương pháp này đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức về ngữ âm vững vàng để nắm được kĩ thuật phát âm chính xác và có khả năng mô tả chính xác cách phát âm cho học sinh