1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện lớp 4, 5

77 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một GV trong tương lai với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của những giờ học kể chuyện thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan, để HS có thể phát huy được tính tíc

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

HOÀNG HẢI ANH

SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN LỚP 4, 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

HOÀNG HẢI ANH

SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN LỚP 4, 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

ThS VŨ THỊ TUYẾT

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo đặc biệt là Ths GV Vũ Thị Tuyết Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô, người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm khóa luận

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới phòng Đào tạo Trường ĐHSP Hà Nội 2, tới các thầy, cô giáo trong khoa GDTH, thầy và trò Trường Tiểu học Thị trấn A – Đông Anh – Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ để khóa luận của chúng tôi được hoàn thành

Lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, emrất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, sửa chữa của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn nữa

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc của khóa luận 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN LỚP 4, 5 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học lớp 4, 5 5

1.1.2 Đồ dùng trực quan 8

1.1.3 Vài nét về kể chuyện 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn kể chuyện 14

1.2.2 Vai trò của phân môn kể chuyện 16

1.2.3 Các dạng bài học kể chuyện lớp 4, 5 17

1.2.4 Nội dung, chương trình phân môn kể chuyện lớp 4, 5 18

1.2.5 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Kể chuyện lớp 4, 5 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN LỚP 4, 5 33

2.1 Nguyên tắc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện 33

2.2 Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện lớp 4, 5 35

2.2.1 Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học dạng bài kể chuyện nghe thầy cô kể trên lớp 35

Trang 6

2.2.2 Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học dạng bài kể chuyện đã nghe,

đã đọc, đã chứng kiến, tham gia 40

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43

3.1 Mục đích thực nghiệm 43

3.2 Thời gian, địa điểm thực nghiệm 43

3.4 Phương pháp thực nghiệm 44

3.5 Nội dung thực nghiệm 44

3.6 Tiêu chí đánh giá 44

3.7 Kết quả thực nghiệm 45

3.8 Thiết kế giáo án thực nghiệm 47

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 63

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngay từ rất sớm trẻ em đã được làm quen với những câu chuyện qua lời

kể của bà, của mẹ Cũng chính vì lẽ đó mà từ lâu kể chuyện đã ăn sâu vào tiềm thức và trở thành một nhu cầu không thể thiếu, đặc biệt là đối với học sinh lứa tuổi tiểu học Mỗi câu chuyện là một thế giới riêng đưa các em qua những cuộc phiêu lưu, những hiểu biết đầy mới mẻ, thú vị từ đó khơi gợi tình yêu quê hương đất nước, nuôi dưỡng tâm hồn và hình thành những tình cảm trong sáng, phẩm chất tốt đẹp trong các em

Trong chương trình tiểu học, cùng với môn Toán và các môn học khác, Tiếng Việt là môn học có vai trò rất quan trọng Dạy Tiếng Việt ở tiểu học là tạo cho HS những kĩ năng sử dụng tiếng Việt thành thạo để phục vụ học tập

và giao tiếp hàng ngày Môn Tiếng Việt có bảy phân môn (học vần, tập đọc, chính tả, tập viết, tập làm văn, luyện từ và câu, kể chuyện) mỗi phân môn có một vai trò và nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có mối liên quan chặt chẽ, hỗ trợ nhau

Để một câu chuyện trở nên hấp dẫn thu hút sự chú ý của HS ngoài những yếu tố: giọng kể, điệu bộ, cử chỉ, nội dung câu chuyện thì việc sử dụng đồ dùng trực quan để minh họa cho câu chuyện là vô cùng cần thiết Nó góp phần tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyện, thu hút sự chú ý của người nghe, đặc biệt là đối với HSTH nhất là học sinh lớp 4, 5 bởi ở giai đoạn này tư duy

cụ thể của các em vẫn tiếp tục phát triển, tư duy trừu tượng đang dần hình thành và chiếm ưu thế, các em có khả năng thực hiện các thao tác trí tuệ với ngôn ngữ và các loại kí hiệu để lĩnh hội kiến thức HS tiếp thu bài giảng một cách tổng thể thông qua các giác quan: thính giác, thị giác, xúc giác Do vậy

sử dụng đồ dùng trực quan như: tranh ảnh, băng hình sẽ giúp các em tiếp thu bài học nhanh hơn và dễ dàng hơn

Trang 8

2

So với các câu chuyện ở lớp 1, 2, 3 thì các câu chuyện ở lớp 4, 5 có độ dài lớn hơn, tình tiết phức tạp và có nội dung sâu sắc hơn đòi hỏi HS nhận thức ở mức độ cao hơn, sáng tạo cao hơn Vì vậy đi sâu tìm hiểu nghiên cứu

về vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan trong kể chuyện lớp 4,5 là vô cùng cần thiết

Là một GV trong tương lai với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của những giờ học kể chuyện thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan, để HS có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập; chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện lớp 4, 5” Hy vọng với đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần giúp tôi và các đồng nghiệp của tôi sau này sử dụng đồ dùng trực quan một cách có hiệu quả và triệt để, để mỗi tiết kể chuyện trở nên hấp dẫn

và ý nghĩa với các em HS

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử giáo dục, từ lâu vấn đề dạy học trực quan đã được quan tâm và nghiên cứu Đặc biệt có nhiều tài liệu giá trị được công bố

- Cuốn “Hướng dẫn sử dụng và tự làm thiết bị dạy học môn Tiếng Việt bậc

Tiểu học” (Đàm Hồng Quỳnh) đã nêu lên một số công thức giảng dạy các

phân môn bằng thiết bị dạy học sẵn có hoặc GV tự làm

- Cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” (Lê Phương Nga-

NXB Đại học Sư phạm) cung cấp những kiến thức, hiểu biết về vị trí, nhiệm

vụ, cơ sở khoa học và nguyên tắc dạy học của phân môn kể chuyện

- Cuốn “Vấn đề trực quan trong dạy học” (Phan Trọng Ngọ, Dương Triệu

Hoa, Lê Tràng Địch) đề cập đến vấn đề phân loại và cách sử dụng phương tiện dạy học

- Cuốn “Dạy học kể chuyện ở trường Tiểu học” xuất bản năm 2000 (Chu

Huy) đưa ra những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy kể chuyện, về

Trang 9

3

nhu cầu kể chuyện của trẻ, ngoài ra tác giả chú ý đến những biện pháp dạy phân môn kể chuyện được hấp dẫn

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của sinh viên Trường Đại

học Sư phạm Hà Nội 2 về vấn đề trực quan trong dạy học kể chuyện như:“Sử

dụng biện pháp trực quan trong dạy học phân môn kể chuyện lớp 4”, Nguyễn

Thị Hương (Khóa luận tốt nghiệp) đề cập đến một số biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện lớp 4

Qua tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học chúng tôi nhận thấy có rất nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về việc sử dụng trực quan trong dạy học ở Tiểu học, tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện, cụ thể là kể chuyện lớp 4, 5 Chính vì vậy chúng tôi khẳng định rằng đề tài của chúng tôi đưa ra là hoàn toàn mới, không trùng lặp với bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu đồ dùng trực quan được sử dụng trong dạy học kể chuyện lớp 4, 5

4 Đối tượng nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Sử dụng đồ dùng trực quan

trong dạy học kể chuyện lớp 4, 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận của chúng tôi nghiên cứu trong phạm vi Chương trình phân môn kể chuyện trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện lớp 4,5

- Tìm hiểu, giới thiệu một số đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện lớp

4, 5

- Thiết kế giáo án thực nghiệm kết quả nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

4

Để thực hiện đề tài nghiên cứu: “Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy

học Kể chuyện lớp 4, 5” chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện lớp 4, 5

Chương 2: Một số đồ dùng trực quan được sử dụng trong dạy học kể chuyện lớp 4, 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN LỚP 4, 5

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học lớp 4, 5

Học sinh tiểu học có độ tuổi từ 6 – 11 tuổi, các em là những thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Khi vào lớp 1, các em rất bỡ ngỡ với các hoạt động học tập vốn quy củ của nhà trường Nhưng sự bỡ ngỡ đó sẽ dần được xóa bỏ qua các năm học từ lớp 2 đến lớp 5, đặc biệt là khi các em học lớp 4,

5

1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí

Theo tâm lý học, mỗi biểu hiện của tình cảm đều gắn với động cơ hoạt động của con người Tình cảm không tự nhiên mà có mà nó thường bộc lộ trong một điều kiện cụ thể, có tính xác định Từ những hoàn cảnh “có vấn đề”, cảm xúc của HS được hình thành

Đối với HSTH, tình cảm và cảm xúc được hình thành từ những cái gần gũi, thân thuộc với các em Một đặc điểm nổi bật trong đời sống tình cảm của HSTH đó là sự yêu thích cái mới, cái ngộ nghĩnh, rung động trước cái đẹp Chính tình cảm, cảm xúc đã góp phần không nhỏ vào việc giúp HSTH liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo để có những biểu tượng mới đẹp hơn, khái quát hơn những biểu tượng đã có

Trang 12

6

Ở đầu cấp tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan.Đến cuối cấp tiểu học, tri giác của trẻ bắt đầu mang tính xúc cảm, có phương hướng và mục đích rõ ràng Nhờ đó, trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập theo mức độ khác nhau…

- Về sự tập trung chú ý: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định, lúc này các em chỉ quan tâm đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi…Sự tập trung chú ý yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài, dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Giai đoạn lớp 4, 5 HSTH dần hình thành kỹ năng tổ chức, điều chỉnh theo chú

ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, các em có sự

nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát…Sự chú ý đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào

đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

- Trí nhớ: Với HSTH loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic

Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên,

Trang 13

7

hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tính tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú

- Tưởng tượng: Tưởng tượng của HSTH đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dặn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu cấp học tiểu học tưởng tượng của các em còn đơn giản, chưa bền vững

và dễ thay đổi Đến cuối cấp tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Đồng thời trong giai đoạn này, tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh…Đặc biệt, tưởng tượng của các em ở lứa tuổi tiểu học bị chi phối mạnh mẽ bởi các cảm xúc, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với những rung động

- Ngôn ngữ: Con người có khả năng truyền đạt, giao tiếp, trao đổi … với nguời khác chính là nhờ ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ,

là một phương tiện giao tiếp và là công cụ của tư duy Hầu hết HSTH có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến giai đoạn lớp 4, 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả, ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính

và lí tính của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể qua ngôn ngữ và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ có thể thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

1.1.1.3 Đặc điểm sinh lí

Lứa tuổi HSTH gồm các em HS đang theo học từ lớp 1 đến lớp 5, từ 6 - 7 tuổi đến 11 – 12 tuổi Độ tuổi này các em phất triển về chiều cao và trọng

Trang 14

8

lượng không nhanh như mẫu giáo, nhưng hệ xương đang ở thời kì cốt hóa, hệ xương đang phát triển do vậy các em thích đùa nghịch hơn là là làm những công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ cẩn thận

So với mẫu giáo thì não và thần kinh của HSTH đã có biến đổi về khối lượng và chức năng Não của trẻ lên 7 đạt 90% trọng lượng não người lớn Khi trẻ 11 – 12 tuổi thì phát triển tương đương trọng lượng não của người lớn

Do sự phát triển về cấu tạo và chức năng của não không đồng đều nên khả năng kiềm chế còn yếu, hưng phấn mạnh vì vậy ở độ tuổi này các em rất hiếu động Ở giai đoạn này hệ thần kinh cấp cao đang dần hoàn thiện nhưng có sự mất cân đối giữa tín hiệu tư duy trừu tượng và tư duy cụ thể

1.1.2 Đồ dùng trực quan

1.1.2.1 Khái niệm trực quan

Theo từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2004: “Trực quan là những vật

dụng cụ thể hay ngôn ngữ cử chỉ làm cho HS có được những cụ thể về những điều được học” [13]

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ, Lê Tràng Địch, Dương Diệu Hoa trong

cuốn “Những vấn đề trực quan trong dạy học” được nghiên cứu dưới phương pháp luận biện chứng của triết học Mác – Lê nin cho rằng: “Trực quan theo

đúng nghĩa của nó không đơn giản chỉ là quan sát sự vật bằng các giác quan,

mà là hành động tác động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cho cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng được phơi bày một cách cảm tính” [8]

1.1.2.2 Khái niệm đồ dùng trực quan

Trong mọi hoạt động nhận thức của con người thì quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.Ở đây, trực quan được hiểu một cách rộng rãi là sự tiếp xúc của con người với các sự vật và hiện tượng ở thế giới bên ngoài nhờ vào các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác

Trang 15

9

Trong dạy học sự nhận thức học tập của HS cũng đòi hỏi tính trực quan sinh động Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc giảng dạy GV nên sử dụng đồ dùng trực quan để bài giảng trở nên sinh động và hấp dẫn với HS Có thể biết đến đồ dùng trực quan như một tập hợp những đối tượng vật chất, thiết bị kỹ thuật được GV sử dụng để hướng dẫn HS quan sát sự vật, hiện tượng hay hình ảnh trên cơ sở quan sát hình thành khái niệm, biểu tượng và

có cái nhìn sâu sắc về đối tượng

Để có thể sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học một cách có hiệu quả và thực sự hấp dẫn với HS qua từng tiết dạy đòi hỏi GV cần phải lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp GV cần sử dụng phối hợp nhiều PPDH khác nhau, một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong dạy học hiện nay chính là PPDH trực quan

1.1.2.3 Phương pháp trực quan

Để làm rõ khái niệm phương pháp trực quan, trước hết cần phải hiểu một

số khái niệm có liên quan như: khái niệm về phương pháp, phương pháp dạy học trực quan

Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là con đường, cách thức, phương tiện để đạt đến mục đích Vì vậy trong mọi hoạt động thực tiễn nếu con người có phương pháp đúng, biết sử dụng đúng phương pháp sẽ đem đến kết quả như mong muốn, đạt được mục đích đề ra

 Khái niệm:

Về khái niệm phương pháp trực quan, tác giả Thái Duy Tiên cho rằng: Phương pháp trực quan “là một loại PPDH có đặc điểm là học sinh tiếp thu kiến thức nhờ các giác quan tri giác trực tiếp các sự vật và hiện tượng trong thực tế.” [11]

Trang 16

10

Theo tác giả Phùng Văn Bộ trong cuốn Một số vấn đề về phương pháp

giảng dạy và nghiên cứu triết học (2001) thì phương pháp trực quan thực chất

cũng là một loại phương pháp dạy học, trong đó “ GV sử dụng các đồ dùng dạy học, các phương tiện nhằm mục đích minh họa bổ sung thêm cho kiến thức bài giảng Phương pháp trực quan phù hợp với tâm lý nhận thức của HS, làm cho bài giảng sinh động, phong phú và hấp dẫn người học” hoạt động một cách tích cực [1]

Theo tác giả Bùi Thị Mùi, Trường Đại học Cần Thơ trong Giáo trình Lý

luận dạy học (2007) thì PPDH trực quan “là phương pháp được xây dựng trên

cơ sở quán triệt nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học Trong quá trình dạy học GV hướng dẫn HS thực hiện các biện pháp quan sát

sự vật, hiện tượng hay hình ảnh của chúng, trên cơ sở đó mà hình thành khái niệm.” [6]

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm phương pháp trực quan trong

dạy học Tuy nhiên có thể hiểu khái niệm về phương pháp trực quan như sau:

Phương pháp trực quan có thể coi là một PPDH, trong đó GV sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học giúp HS tri giác trực tiếp sự vật, hiện tượng một cách sinh động và gây hứng thú cho HS, trên cơ sở đó hình thành khái niệm

Phương pháp trực quan có vị trí rất quan trọng trong dạy học ở tiểu học Nó giúp học sinh tích lũy được những tài liệu cụ thể của các đối tượng quan sát

để tạo cho quá trình trừu tượng hóa

 Hình thức thể hiện: Phương pháp trực quan được thể hiện dưới hai hình thức: minh họa và trình bày

Minh họa là trưng bày những đồ dùng trực quan như bản mẫu, bản đồ, tranh

vẽ, hình ảnh…

Trình bày gắn liền với các thiết bị kĩ thuật, chiếu phim, trình bày đồ dùng trực quan như vật thật, vật tượng trưng, vật tạo hình…

Trang 17

11

1.1.2.4 Một số đồ dùng trực quan được sử dụng trong dạy học ở Tiểu học

Để sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học một cách có hiệu quả, trước hết GV cần nắm được các loại đồ dùng trực quan và tác dụng của nó trong việc khai thác kiến thức ở từng môn học, từng bài học

Đồ dùng trực quan trong giảng dạy bao gồm: Vật thật, mô hình, tranh vẽ… + Vật thật là những đồ vật có thật, ở xung quanh chúng ta và gần gũi với đời sống hàng ngày như sách vở, thước kẻ, bàn ghế…

+ Đồ dùng hình tượng là những hình vẽ, băng, đĩa…

+ Vật thay thế là mô hình bằng nhựa hoặc đất sét…

Đồ dùng trực quan phục vụ cho việc giảng dạy giúp HS dễ hiểu và tiếp nhận kiến thức dễ dàng hơn Trong tiết học có sử dụng đồ dùng trực quan GV đóng vai trò là người chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ HS quan sát; HS chủ động quan sát qua đó tìm hiểu, nghiên cứu nội dung kiến thức của bài học Sau khi tiến hành quan sát, GV là người hướng dẫn gợi ý để HS xây dựng và hướng tới nội dung chính, kiến thức trọng tâm của bài

Khi sử dụng đồ dùng trực quan, GV phải nghiên cứu nội dung bài học trước để có thể chuẩn bị đồ dùng cho phù hợp với nội dung tiết dạy; khi đồ dùng được sử dụng một cách triệt để tiết dạy đó sẽ đạt hiệu quả cao hơn Và như vậy đồ dùng trực quan mới thực sự có giá trị để học sinh khai thác và tìm hiểu kiến thức tốt hơn trên cơ sở quan sát, tìm hiểu của mình.Vì vậy, đối với

GV việc chuẩn bị đồ dùng dạy học là một vấn đề quan trọng không thể thiếu,

nó quyết định đến thành công của tiết dạy và cả quá trình dạy học Việc xây dựng kế hoạch dạy học và lựa chọn đồ dùng trực quan không chỉ căn cứ vào đặc thù môn học, nội dung bài học mà còn dựa vào đặc điểm học sinh ở từng giai đoạn, lứa tuổi

1.1.3 Vài nét về kể chuyện

1.1.3.1 Khái niệm kể chuyện

Kể là một động từ biểu thị hành động nói

Trang 18

Theo tác giả Chu Huy trong cuốn Dạy Kể chuyện ở trường Tiểu học, NXB

GD kể chuyện bao hàm bốn phạm trù ngữ nghĩa sau:

Một là: Chỉ loại hình tự sự trong văn học (Phân biệt với loại hình trữ tình, loại hình kịch) - còn gọi là truyện hoặc tiểu thuyết Văn kể chuyện là văn trong truyện hoặc trong tiểu thuyết Do đó, đặc điểm của văn kể chuyện cũng

là đặc điểm của truyện Đặc trưng cơ bản của truyện là tình tiết, tức là có sự việc đang xảy ra, đang diễn biến, có nhân vật với ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách riêng

Hai là: Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng Kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh động bằng lời nói Khi cần thay đổi hình thức diễn giảng nhằm thu hút sự chú ý của người nghe, người ta cũng xen kẽ phương pháp kể chuyện Với các môn khoa học tự nhiên, kể chuyện thường đươc dùng trong phần kể về tiểu sử tác giả, miêu tả quá trình phát minh, sáng chế, quá trình phản ứng hóa học

Ba là: Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong môn Tập làm văn Văn kể chuyện là một loại văn mà HS phải được luyện tập diễn đạt bằng miệng hoặc bằng viết thành bài theo những quy tắc nhất định Vì tính chất phổ biến và ứng dụng rộng rãi của loại văn bản này nên nó trở thành loại hình cần được rèn kỹ năng, kĩ xảo bên cạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghị luận

Bốn là: Chỉ tên một phân môn được học ở các lớp trong trường tiểu học Kể chuyện là một môn học của các lớp Tiểu học trường Phổ thông Có người hiểu đơn giản kể chuyện chỉ là kể chuyện dân gian, kể chuyện cổ tích Thực

ra không hẳn như vậy, kể chuyện ở đây bao gồm việc kể nhiều loại truyện

Trang 19

Như vậy có thể hiểu kể chuyện qua nhiều cách giải thích như trên Theo tôi:

Kể chuyện là một hoạt động của lời nói nhằm trình bày lại một sự việc có hình thức hoàn chỉnh có mở đầu, diễn biến và kết thúc

1.1.3.2 Đặc trưng của truyện

Truyện là một thể loại của văn học, được truyền và lưu giữ bằng văn bản chữ Nhắc đến truyện không thể không nhắc đến cốt truyện, nhân vật và lời

kể

Cốt truyện: Là một sự việc có mở đầu, có diễn biến và có kết cục và nó phải mang ý nghĩa nào đó với đời sống Cốt truyện bao giờ cũng liên quan đến: một người, một gia đình, một mối quan hệ nào đó Tuy nghiên ý nghĩa của nó vượt qua một người, một gia đình, một quan hệ mà nó mang ý nghĩa chung cho mọi người, cho xã hội Vì vậy mỗi câu chuyện là một bài học đạo đức, là những kinh nghiệm sống, những lời khuyên được đúc kết lại để gió dục HS Cốt truyện được phân ra từng đoạn Mỗi đoạn có tả, có kể, có đối thoại và có cả bàn luận, tức là được thể hiện qua những phương thức biểu đạt khác nhau Do vậy đòi hỏi người đọc truyện phải nhận ra cá phwuong thúc biểu đạt của đoạn Để thể hiện nội dung của một đoạn cần có những chi tiết về: thời gian, màu sắc, âm thanh, thiên nhiên, con người Để kể chuyện hay và hấp dẫn phải nhớ các chi tiết từ đó rút ra ý nghĩa, bài học từ câu chuyện

Nhân vật là trung tâm của truyện, do vậy có thể đặt tên cho câu chuyện trùng với tên nhân vật như: Sơn Tinh, Thủy Tinh; Tấm Cám; Thạch Sanh…Nhân vật của truyện có thể là người, là vật, là loài vật, trong truyện ngụ ngôn nhân vật thường là con vật Dù là nhân vật những cũng là con người, là người mang lốt loài vật, có thể có tên hoặc không tên Nhân vật

Trang 20

ở đây người kể sẽ giấu mình đi, không trực tiếp lộ diện nhưng thực ra sẽ có mặt ở khắp nơi đê chứng kiến và kể lại câu chuyện Kể theo ngôi thứ nhất, nghĩa là người kể chuyện sẽ xưng hô “tôi” để kể lại câu chuyện đó Cách kể theo ngôi thứ nhất sẽ tạo cho câu chuyện có độ tin cậy cao, câu chuyện trở nên sinh động hơn Lời kể về mặt kết câu được chia thành ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn kể chuyện

1.2.1.1 Vị trí của phân môn Kể chuyện

Cùng với các phân môn khác của môn Tập đọc, kể chuyện có vị trí quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ Trước hết, vì hành động kể là một hành động

“nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để học sinh rèn luyện một cách tổng hợp kĩ năng Tiếng Việt như: nghe, đọc, nói trong hoạt động giao tiếp Khi nghe thầy giáo kể chuyện, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học dạng lời nói có âm thanh Khi học sinh kể chuyện các em tái sản sinh hay sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói

Trang 21

15

Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có cả sức mạnh văn học Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Sự hiểu biết về con người, về cuộc sống, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo đi biết bao nếu không có môn Kể chuyện trong trường học

Vì vai trò của hành động kể và sản phẩm truyện, phân môn Kể chuyện có vị trí rất quan trọng trong dạy học Tiếng Việt

1.2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn kể chuyện

Phân môn Kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện

ở trẻ em, phát triển ngôn ngữ đặc biệt là kĩ năng nghe – nói, đồng thời phát triển tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho học sinh

chuyện phát triển kĩ năng nói: Giờ kể chuyện rèn cho học sinh kĩ năng nói trước đám đông dưới dạng độc thoại thành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật Đồng thời với nói các kĩ năng nghe, đọc, kĩ năng ghi chép cũng được phát triển trong quá trình kể lại chuyện đã nghe, kể lại chuyện đã đọc

học sinh: Cùng với sự rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ, tư duy cũng được phát triển Đặc biệt sống trong thế giới các nhân vật, thâm nhập vào các tình tiết của truyện, tiếp xúc với nghệ thuật ngôn từ kể chuyện,

tư duy hình tượng và cảm xúc thẩm mỹ của học sinh cũng được phát triển

giúp học sinh tiếp xúc với các tác phẩm văn học Học sinh được tiếp xúc với các truyện ở ở nhiều thể loại văn học khác nhau Đó là những tác phẩm có giá trị của cả Việt Nam và thế giới, từ truyện cổ tích đến

Trang 22

16

truyện hiện đại Nhờ đó, vốn sống văn học của các em được tích lũy dần, là những hành trang quý sẽ theo các em trong suốt cuộc đời mình Ngoài ra, giờ Kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khơi gợi trí tưởng tượng

ở các em Qua từng câu chuyện, thế giới muôn sắc màu mở rộng trước mắt các em Các em tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tạp quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từ những thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người trong muôn vàn trường hợp khác nhau Truyện kể đã làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài người xưa và nay cho học sinh Truyện kể còn chắp cánh cho trí tưởng tượng và ước mơ của HS, thức đẩy sự sáng tạo của các em

1.2.2 Vai trò của phân môn kể chuyện

Đối với học sinh tiểu học phân môn Kể chuyện có một vị trí quan trọng được xếp liền ngay sau phân môn Tập đọc của bộ môn Tiếng Việt

Phân môn Kể chuyện bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển ngôn ngữ và tư duy cho trẻ Xuất phát từ chỗ truyện là những sáng tác mang tính chất văn học nên tác dụng của truyện đối với trẻ em cũng là tác dụng văn học nói chung Hơn bất kì loại hình nào khác, truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn con người đặc bệt đối với trẻ em Suốt những năm học tiểu học, nếu các em được nghe và học kể chuyện thì phân môn kể chuyện sẽ góp phần làm cho tâm hồn các em giàu có thêm bằng biết bao câu chuyện bổ ích và lí thú, những hình tượng quen thuộc của truyện sẽ trở thành vốn văn học tích lũy đầu tiên và sau này khi có điều kiện gặp lại qua

bộ môn văn học ở các lớp THCS và THPT Đó sẽ là những khuôn mẫu ngôn ngữ đầu tiên giúp học sinh phát triển tư duy Mặt khác, nhiều từ ngữ ban đầu thực ra chỉ xuất hiện trong truyện cổ và chỉ có trong truyện cổ Các em khi tiếp xúc với truyện cổ sẽ không quên những từ ngữ đó Khi tập kể lại, các em học sinh có điều kiện sử dụng ngôn ngữ của mình để kể lại, do đó cùng với tư duy, ngôn ngữ cũng phát triển

Trang 23

17

Như vậy nhiệm vụ giáo dục của phân môn Kể chuyện lại trở nên đa dạng phong phú Dạy tốt tiết kể chuyện giáo viên sẽ tạo điều kiện tốt cho sự phát triển năng khiếu ở HS, tạo điều kiện ươm mầm cho những nhân tài mai sau Học kể chuyện các em không những được học những thứ có trong sách vở, những câu chuyện được sáng tác bởi các nhà văn, nhà thơ mà các em còn được tiếp xúc với nhiều thể loại truyện khác nhau Có những câu chuyện diễn

ra trong đời sống hàng ngày, các em chứng kiến, trực tiếp tham gia vào câu chuyện đó Điều đó đã góp phần phát triển tính sáng tạo, rèn cho các em bước đầu biết cách ghi chép các sự kiện một cách logic, có hệ thống

ý dưới tranh

- Dạng bài kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc yêu cầu HS phải tự sưu tầm trong sách báo hoặc trong đời sống hàng ngày (nghe người thân hoặc ai đó kể) để kể lại Dạng bài này trước đây chỉ có trong giờ Tập làm văn Bên cạnh mục đích chung là rèn kỹ năng nói cho HS, nó còn có mục đích kích thích HS ham đọc sách

- Dạng bài kể lại câu chuyện đã được chứng kiến, tham gia yêu cầu HS kể lại những câu chuyện người thật, việc thật có trong cuộc sống xung quanh mà các em đã biết, đã thấy, cũng có khi chính các em là nhân vật chính của câu

Trang 24

18

chuyện Dạng bài này trước đây chỉ có trong giờ Tập làm văn Các bài kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia rất đa dạng vì chúng gắn với các chủ điểm của sách Bên cạnh mục đích rèn luyện kỹ năng nói, dạng bài này còn có mục đích rèn cho học sinh thói quen quan sát, ghi nhớ

So với các câu chuyện ở lớp 2, 3 thì các câu chuyện ở lớp 4, 5 có độ dài lớn hơn, tình tiết phức tạp hơn, nội dung sâu sắc hơn Những câu chuyện này nói về những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần phải rèn luyện gắn với các chủ điểm học tập

1.2.4 Nội dung, chương trình phân môn kể chuyện lớp 4, 5

Kể chuyện

đã nghe, đã đọc

Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

Trang 25

19

những ước mơ đẹp hoặc những ước mơ viển vông, phi lí

X

em hoặc của bạn bè, người thân

X

16 Kể một câu chuyện có

liên quan đến đồ chơi của trẻ em hoặc của các bạn xung quanh

Trang 26

20

21 Kể một câu chuyện về

người có khả năng hoặc sức khỏe đặc biệt mà em biết

X

24 Kể một câu chuyện về

việc em (hoặc người xung quanh) đã làm gì để góp phần giữ gìn xóm làng, đường phố, trường học xanh, sạch, đẹp

Trang 27

21

cắm trại mà em được tham gia

đã nghe thầy cô

kể trên lớp

Kể chuyện

đã nghe,

đã đọc

Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

X

3 Kể việc làm tốt góp

phần xây dựng quê hương đất nước của một người mà em biết

X

Trang 28

22

5 Kể một câu chuyện ca

ngợi hòa bình chống chiến tranh

X

6 Chọn một trong hai đề:

Kể một câu chuyện em

đã chứng kiến hoặc một việc em đã làm thể hiện tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước/ Nói về một nước

mà em được biết qua truyền hình, phim ảnh

X

8 Kể một câu chuyện nói

về quan hệ của con người với thiên nhiên

X

9 Kể một câu chuyện về

một lần em đi thăm cảnh đẹp ở địa phương

Trang 29

23

xung quanh bảo vệ môi trường/ Kể về một hành động dũng cảm bảo vệ môi trường

15 Kể một câu chuyện về

những người đã góp sức mình chống lại đói nghèo, lạc hậu, vì hạnh phúc của nhân dân

X

21 Chọn một trong các đề

bài sau: Kể một việc làm của những công dân nhỏ thể hiện ý thức bảo

vệ các công trình công cộng, các di tích lích sử,

X

Trang 30

24

văn hóa/ Kể một việc làm thể hiện ý thức chấp hành luật giao thông/

Kể một việc làm thể hiện lòng biết ơn các thương binh, liệt sĩ

X

24 Kể một việc làm tốt góp

phần bảo vệ trật tự an ninh nơi làng xóm, phố phường

X

26 Kể một câu chuyện nói

về truyền thống hiếu học hoặc truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam

X

27 Chọn một trong hai đề

bài sau: Kể một câu chuyện trong đời sống nói lên truyền thống Tôn sư trọng đạo của người Việt Nam/ Kể một kỉ niệm về thầy

X

Trang 31

25

giáo hoặc cô giáo của

em, qua đó thể hiện lòng biết ơn của em với thầy cô giáo

em thực hiện bổn phận với gia đình, nhà trường

X

Trang 32

26

Ba kiểu bài trên thường được dạy đan xen nhau trong mỗi đơn vị học Nội dung bài kể chuyện xoay quanh chủ điểm giúp học sinh dễ dàng học và học một cách có hệ thống hơn

Ở lớp 4, kiểu bài Kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia học ít tiết hơn, vì kiểu bài này còn mới lạ và khó với HS nên ngay học kì I HS lớp 4 chỉ học 3 tiết Còn ở lớp 5, cả 3 kiểu bài trên phân bố đồng đều hơn

1.2.5 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Kể chuyện lớp 4, 5

Kể chuyện không chỉ đơn thuần là việc truyền đạt lại một câu chuyện qua lời kể mà kể chuyện là cách thức giúp người nghe tiếp nhận câu chuyện một cách sâu sắc và trọn vẹn cả về nội dung và ý nghĩa của truyện kể Vì vậy, để

có thể truyền tải câu chuyện một cách sinh động nhất đến người nghe thì việc

sử dụng đồ dùng trực quan vô cùng cần thiết Trong dạy học nói chung và dạy học kể chuyện nói riêng thì đồ dùng trực quan đã và đang được sử dụng một cách rộng rãi

1.2.5.1 Thực trạng sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học kể chuyện lớp

4, 5

Phân môn kể chuyện là một phân môn có vị trí quan trọng trong chương trình Tiếng Việt tiểu học Kể chuyện bồi dưỡng tâm hồn, phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn kĩ năng nghe, nói và khả năng giao tiếp cho trẻ Mặt khác, nó còn hình thành ở trẻ những phẩm chất như: “có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, yêu quý anh chị em, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp đỡ bạn bè, yêu các em nhỏ, yêu lao động, có kỉ luật, có nếp sống văn hoá, có thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh, yêu quê hương đất nước”

Thực tế dạy học cho thấy trong quá trình tiến hành dạy học kể chuyện để HS

có thể hình dung và có cái nhìn sâu sắc về câu chuyện cũng như để tiết Kể chuyện đạt hiệu quả cao thì việc sử dụng đồ dùng trực quan vô cùng cần thiết Tuy nhiên việc dạy học kể chuyện có sử dụng đồ dùng trực quan hiện nay còn

Trang 33

- Đông Anh - Hà Nội

Thực tập ở trường Tiểu học Thị Trấn A - một ngôi trường có đội ngũ GV tận tình với công việc, có chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm đạt chuẩn và trên chuẩn Với nhiều thành tích cao mà thầy và trò nhà trường đã đạt được trong

đó không thể không nhắc đến thành tích trong Hội thi giáo viên giỏi cấp Thành phố môn Kể chuyện của giáo viên tổ 4…và nhiều thành tích nổi bật khác mà thầy và trò đã đạt được Để có được thành tích kể trên không thể thiếu những nỗ lực của thầy và trò nhà trường Cụ thể là sự chuẩn bị của GV

và khả năng tiếp nhận của HS trong việc dạy học nói chung và việc dạy học môn Kể chuyện nói riêng, đặc biệt là Kể chuyện lớp 4, 5

vô cùng hào hứng mỗi khi đến tiết kể chuyện

Bên cạnh việc truyền đạt nội dung câu chuyện qua giọng kể hấp dẫn, lôi cuốn các GV trường Tiểu học Thị trấn A đều có sự chuẩn bị, đầu tư kĩ lưỡng cho từng tiết Kể chuyện của mình

Trang 34

28

Đối với dạng bài nghe thầy cô kể trên lớp ngoài sự chuẩn bị theo bộ tranh kể chuyện trong chương trình học (Bộ tranh 11 tờ (khổ 54 cm x 79 cm), in 4 màu; mỗi tờ có 4 đến 5 tranh minh hoạ cho nội dung câu chuyện), chuẩn bị ảnh, một số GV còn ứng dụng công nghệ thông tin như máy ghi âm, máy chiếu, thiết kể bài giảng E-learning…để minh họa cho câu chuyện

Với hai dạng bài còn lại ngoài việc nắm chắc quy trình chung thì mỗi cô đều

có cách thức truyền đạt riêng, một số GV hướng dẫn HS cách sử dụng sơ đồ

tư duy để sắp xếp ý khi kể lại câu chuyện Qua đó các em biết cách kể theo một trình tự lô-gic, lôi cuốn và hấp dẫn người nghe

Thông qua kế hoạch bài giảng GV có sự chuẩn bị giúp HS về hình ảnh để minh họa câu chuyện của HS sẽ kể trong tiết hoặc GV dặn dò HS chuẩn bị bài học theo nhóm, theo tổ hoặc chuẩn bị cá nhân…trước khi đến lớp

Việc GV chuẩn bị kĩ lưỡng từ nội dung bài học, chuyên môn nghiệp vụ đến

đồ dùng trực quan sẽ góp phần làm cho tiết học hấp dẫn, sinh động, HS tiếp thu bài học dễ dàng và hứng thú nhất

1.2.5.2.2 Thực tiễn tiếp nhận của HS

Ở Trường Tiểu học Thị Trấn A ngoài việc HS ham thích đọc sách, đọc truyện, chơi thể thao….Các em đặc biệt yêu thích và hào hứng đến tiết học kể chuyện Trong giờ học kể chuyện các em không chỉ được nghe kể những câu chuyện mới, được học kể mà còn được tự mình kể chuyện cho các bạn trong lớp, được thể hiện mình và rèn khả năng tự tin, kĩ năng kể mà các cô đã hướng dẫn ở lớp dưới Khi tiến hành kể câu chuyện các em kể theo trình tự rất

cụ thể từ giới thiệu bản thân, giới thiệu tên câu chuyện, cách chỉ tranh minh họa đến cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…mọi thứ đều được các em thể hiện vô cùng chuyên nghiệp và tự tin Không chỉ đối với các bạn lên kể mà các bạn nghe cũng hết sức chuyên nghiệp Khi các em nghe thầy cô kể hoặc bạn bè kể chuyện, các em đều rất tập trung, hào hứng lắng nghe, có khả năng ghi nhớ nhanh về nhân vật, diễn biến và các chi tiết trong truyện,…Đặc biệt sau lần kể

Trang 35

29

chuyện giữa người nghe và người kể có sự tương tác vô cùng sôi nổi xoay quanh câu chuyện như: Câu chuyện gồm mấy nhân vật? Đó là những nhân vật nào? Nhân vật chính trong câu chuyện là ai? Nội dung của câu chuyện nói về điều gì? Bạn thích nhất chi tiết nào trong câu chuyện, vì sao? Việc tương tác giúp các em nắm nội dung câu chuyện tốt hơn, biết cách tái hiện thông tin thông quan nghe và quan sát để chuyển qua ngôn ngữ nói, đồng thời bước đầu rèn kỹ năng tự tin, khả năng phản biện và phát hiện lỗi sai ở HS

Ngoài ra, đằng sau mỗi câu chuyện là những bài học đạo đức quý giá góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, tình cảm trong sáng ở lứa tuổi tiểu học cho các em

Với các em HS Trường Tiểu học Thị Trấn A môn học Kể chuyện thực sự hấp dẫn, bổ ích, giúp các em rất nhiều về kỹ năng cần thiết như: khả năng diễn đạt ngôn ngữ, cách trình bày câu chuyện, sự tự tin khi trước đám đông…

Có thể thấy kể chuyện không chỉ đơn thuần là một môn học trong chương trình Tiểu học mà nó đã và đang thực sự trở thành một sân chơi bổ ích giúp các em phát huy khả năng và thể hiện mình trước đám đông

1.2.5.2.3 Thực tiễn dạy học kể chuyện

Trong giờ học Kể chuyện giữa cô và trò có sự tương tác với nhau rất tích cực Tuy nhiên bên cạnh những tích cực vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định, như sau:

Trong dạy học Kể chuyện không phải GV nào cũng chuẩn bị đầu tư kĩ lưỡng về đồ dùng dạy học Nhiều GV vẫn dạy theo hình thức cũ: GV giảng bài và HS quan sát tranh minh họa trong SGK Trong khi đó có rất nhiều đồ dùng trực quan hỗ trợ cho việc giảng dạy Kể chuyện như: máy chiếu, máy ghi âm,…

Một số GV có sử dụng các đồ dùng trực quan nhưng đôi khi lạm dụng quá mức, quá tập trung vào đồ dùng dẫn đến giờ học bị thiếu thời gian, chất lượng giờ học không cao

Trang 36

30

GV có sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Kể chuyện nhưng lại chưa phát huy được mặt tích cực của đồ dùng để minh họa cho câu chuyện, đôi khi sử dụng đồ dùng chưa hợp lí

Cuối cùng là vấn đề về thời gian Với những câu chuyện dài thuộc kiểu bài Nghe thầy cô kể trên lớp Khi sử dụng đồ dùng trực quan vào dạy học GV thường bị cháy giáo án, thiếu thời gian Do thời gian GV tập trung nhiều vào việc khởi động, sử dụng các đồ dùng dạy học như: Máy chiếu, máy ghi âm, video…đồng thời tốn thời gian vào việc ổn định trật tự lớp học Thông thường đối với HSTH khi bắt gặp những thứ mới lạ, hấp dẫn các em thường tập trung nhiều vào những thứ đó mà không tập trung vào bài giảng Vì vậy mất ổn định tổ chức lớp học Đó cũng là một trong những hạn chế cần chú ý trong giờ dạy Kể chuyện

Về phía HS bên cạnh những HS tích cực tương tác, chú ý vào bài giảng không tránh khỏi việc HS chưa thực sự chú tâm vào bài học, cũng như việc sử dụng đồ dùng trực quan dễ làm các em bị phân tán tập trung chú ý

Ở chương trình kể chuyện lớp 4, 5 có 3 kiểu bài: Dạng bài kể chuyện đã nghe, đã đọc; dạng bài kể chuyện nghe thầy cô kể trên lớp và dạng bài kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia Qua việc dự giờ các tiết kể chuyện chúng tôi nhận thấy mỗi kiểu bài có đặc thù riêng Do vậy các em gặp những khó khăn nhất định khi tiếp nhận kiến thức của bài học, cụ thể:

Với dạng bài kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp, mặc dù có sự hỗ trợ của tranh minh họa cho câu chuyện nhưng nhiều em vẫn lúng túng khi tiến hành kể lại câu chuyện

Với dạng bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc Trong tiết học này các em phải

kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc trong sách, báo hoặc câu chuyện mà các em sưu tầm được GV không phải kể cho HS nghe mà chỉ nghe HS kể chuyện Hoặc GV hướng dẫn các em trao đổi vắn tắt về cách kể chuyện và ý nghĩa câu chuyện HS hoàn toàn làm chủ trong tiết học, điều này giúp các em có thể rèn

Trang 37

31

luyện khả năng tự tin, kĩ năng trình bày trước đám đông Tuy nhiên các em vẫn gặp khó khăn khi kể lại câu chuyện trước lớp Thông thường các em thường mắc các lỗi như: Sắp xếp các chi tiết trong truyện không theo trình tự lô-gic, quên nhân vật hoặc nội dung câu chuyện…dẫn đến các bạn khác khi nghe câu chuyện khó có thể hình dung một cách rõ ràng, chân thực

Với dạng bài kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia chính các em là người trực tiếp chứng kiến câu chuyện hoặc đôi khi là nhân vật chính trong câu chuyện đó Các em sẽ hình dung, mường tượng lại câu chuyện thông qua trình tự hợp lí về thời gian, địa điểm, diễn biến, kết quả…và kể lại câu chuyện trước lớp GV có nhiệm vụ định hướng để các em lựa chọn câu chuyện đúng theo yêu cầu đề bài, hướng dẫn HS sắp xếp ý, sắp xếp chi tiết của câu chuyện theo trình tự hợp lí và lô - gic, hướng dẫn các em cách trình bày câu chuyện… Đồng thời sau mỗi câu chuyện GV tổ chức cho HS trong lớp tiến hành thảo luận, trao đổi về câu chuyện Ở dạng bài này, HS là người làm chủ, GV chỉ quan sát và hướng dẫn các em So với 2 dạng trước, dạng bài này đòi hỏi HS phải phát huy hết năng lực của mình từ việc ghi nhớ các chi tiết đến việc huy động vốn ngôn ngữ để truyền tải câu chuyện một cách sinh động nhất tới người nghe

Trang 38

32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Ở chương 1, chúng tôi xác định những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cần thiết cho đề tài nghiên cứu Đó là những cơ sở lí luận về đồ dùng trực quan, đặc điểm của HSTH, khái niệm về kể chuyện,…Bên cạnh đó chúng tôi xác định cơ sở thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Kể chuyện lớp 4, 5 qua việc khảo sát chương trình kể chuyện trong SGK và thực trạng dạy học kể chuyện tại trường Tiểu học Thị trấn A - Đông Anh - Hà Nội Những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đó là những căn cứ, tài liệu để

chúng tôi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cho đề tài của mình

Ngày đăng: 23/12/2019, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w