Kết quả về thực trạng nhận thức mức độ cần thiết của việc sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học .... Mục đích của vi
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI, 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Giảng viên hướng dẫn:
TS LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi không khỏi lúng túng, bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS Lê Thị Lan Anh, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận
với đề tài “Thiết kế trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu lớp 4”
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô khoa Giáo dục Tiểu học, các giáo viên cùng các học sinh lớp 4 trường Tiểu học Xuân Hòa, các giáo viên chủ nhiệm cùng các học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hải Triều,
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2018
Tác giả
Phạm Thị Thúy Quỳnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu và dữ liệu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2018
Tác giả
Phạm Thị Thúy Quỳnh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc khóa luận 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRÒ CHƠI Ô CHỮ TRONG DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4 6
1.1 Cơ sở lí luận về việc xây dựng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 6
1.1.1 Một số vấn đề về trò chơi ô chữ 6
1.1.2 Đặc điểm của học sinh tiểu học 7
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống trò chơi ô chữ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 11
1.2.1 Nhận thức của giáo viên về trò chơi ô chữ 11
1.2.2 Thực trạng sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 12
1.2.3 Chương trình Luyện từ và câu lớp 4 17
Kết luận chương 1 20
Chương 2: THIẾT KẾ HỆ THỐNG TRÒ CHƠI Ô CHỮ TRONG DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4 21
2.1 Nguyên tắc của việc thiết kế hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 21
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 21
Trang 72.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình 21
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo vừa sức và phát triển tính sáng tạo 21
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thẩm mĩ 21
2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 21
2.2 Các biện pháp thiết kế trò chơi ô chữ 22
2.2.1 Thiết kế nội dung 22
2.2.2 Thiết kế hình thức - ứng dụng công nghệ thông tin 27
2.3 Quy trình sử dụngtrò chơi ô chữ 33
2.3.1 Tiêu chuẩn của trò chơi ô chữ 33
2.3.2 Quy tắc sử dụng trò chơi ô chữ 33
Kết luận chương 2 35
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 36
3.1 Mục đích thực nghiệm 36
3.2 Nội dung thực nghiệm 36
3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 37
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 37
3.3.2 Địa bàn thực nghiệm 38
3.4 Phương pháp thực nghiệm 38
3.5 Kết quả thực nghiệm 39
Kết luận chương 3 40
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 45
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Kết quả về thực trạng nhận thức mức độ cần thiết của việc sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học 14 Bảng 1.2 Mục đích của việc sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 ở Tiểu học 14 Bảng 1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 15 Bảng 1.4 Tần suất sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 15 Bảng 3.1 Kết quả thực trạng học sinh nhận thức về trò chơi ô chữ 39
Trang 9Bảng 3.2 Kết quả điểm kiểm tra bài Luyện từ và câu lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 40
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển trên toàn thế giới, đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Ngành giáo dục cũng đã và đang có sự đổi mới về cả nội dung và phương pháp dạy học để đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có những kiến thức kĩ năng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển Tổ quốc
Tiểu học là cấp học nền tảng, xây dựng nền móng cho việc hình thành toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và các cấp học trên Nhiệm vụ của môn Tiếng Việt ở tiểu học nhằm trang bị cho học sinh các kiến thức về hệ thống tiếng Việt, chuẩn tiếng Việt, các kĩ năng nghe - nói - đọc - viết của tiếng mẹ đẻ giúp các em sử dụng trong học tập và giao tiếp Học sinh được góp phần rèn luyện thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, phán đoán và được cung cấp những hiểu biết sơ giản
về tự nhiên, xã hội, con người, văn hóa, văn học trong và ngoài nước Từ đó góp phần hình thành bồi đắp tình yêu cái đẹp, cái thiện, lẽ phải, sự công bằng trong xã hội và hình thành nhân cách người Việt Nam hiện đại tiếp thu những tinh hoa văn hóa giá trị truyền thống dân tộc đồng thời học hỏi sự tiến bộ của nhân loại để theo kịp bước tiến của xã hội Hơn nữa học sinh được bồi dưỡng tình yêu, sự trân quý, niềm tự hào về tiếng mẹ đẻ có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Để giúp các em học sinh biết cách sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp môn Tiếng Việt được phân chia thành nhiều phân môn: Tập làm văn, Chính
tả, Tập viết, Kể chuyện, Tập đọc, Luyện từ và câu Trong đó phân môn Luyện
từ và câu đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ của trẻ, là chìa khóa mở ra kho tàng văn hóa trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội của con người Việc bồi dưỡng và nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu sẽ giúp các em làm giàu vốn từ, vốn tri thức về tâm hồn Từ đó, các em tích luỹ
Trang 11cho mình những kiến thức cần thiết, tạo điều kiện để các em học tốt các phân môn khác trong tiếng Việt cũng như các môn học khác
Trên thực tế việc giảng dạy phân môn Luyện từ và câu vẫn còn khá nặng nề về lí thuyết, những bài tập trong trong sách vở chưa đủ sức cuốn hút các em học sinh say mê và ghi nhớ kiến thức của môn học Chính vì thế dạy học dựa trên trò chơi là một phương pháp gây hứng thú cho người học, kích thích sự tích cực nhận thức Trò chơi học tập bên cạnh việc giải trí còn giúp học sinh tự củng cố kiến thức, có thói quen làm việc một cách hứng thú, học tập với nhiều hình thức (cá nhân, nhóm, cả lớp) Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút sự tập trung của học sinh mà không phương pháp nào sánh được Những kiến thức khô khan bỗng trở nên vô cùng sinh động, hấp dẫn nhờ đó
mà kết quả học tập của các em cũng tăng lên Việc tìm ra đáp án cho “bài toán” trò chơi giúp các em hiểu sâu sắc hơn các kiến thức đã học, rèn luyện thói quen tìm tòi những cách giải quyết trước một vấn đề trong cuộc sống Mặt khác trong trò chơi học tập muốn đạt được nhiệm vụ đặt ra học sinh phải tuân thủ theo các quy tắc của trò chơi, lắng nghe sự hướng dẫn của quản trò, hình thành ý thức chủ định, đồng thời cần phải quyết đoán, sáng tạo, linh hoạt trong các “chiến lược” từ đó góp phần đẩy mạnh sự phát triển năng lực trí tuệ
Trò chơi ô chữ đã không còn xa lạ với mỗi chúng ta, khoa học đã chứng minh việc giải trò chơi ô chữ có tác dụng tuyệt vời đối với bộ não con người Giải đố trò chơi ô chữ không chỉ để giải trí mà còn giúp bộ não hoạt động linh hoạt, tăng vốn hiểu biết
Xuất phát từ những lí do đó, chúng tôi mạnh dạn tập trung nghiên cứu
đề tài Thiết kế trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu lớp 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ lâu việc đưa trò chơi học tập nói chung và trò chơi ô chữ nói riêng vào dạy học đã được nhiều tác giả nghiên cứu
Trang 12Trong cuốn Vui học Tiếng Việt, do trần Mạnh Hưởng chủ biên, tác giả
đã đi sâu nghiên cứu việc dạy học dựa trên trò chơi cho học sinh tiểu học trong đó có trò chơi ô chữ tổ chức cho học sinh thi điền thơ ghép chữ [4] Trong cuốn Vui học tiếng Việt, do Nguyễn Thị Thúy, Lê Minh Thu chủ
biên, tác giả nghiên cứu sâu về việc tổ chức trò chơi ô chữ bằng cách điền chữ vào ô chữ bởi các từ còn khuyết trong câu thơ hay ca dao, tục ngữ [9]
Trong tác phẩm Trò chơi trẻ em, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã đề cập
đến trò chơi trí tuệ Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ Trong tác phẩm này, bà đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ em [11]
Trong cuốn Dạy học thành ngữ, tục ngữ ở Tiểu học qua trò chơi ô chữ,
do Lê Thị Lan Anh chủ biên đã đề cập đến các biện pháp thiết kế trò chơi ô chữ thành ngữ, tục ngữ và đưa ra các trò chơi ô chữ dạy thành ngữ, tục ngữ cho học sinh tiểu học [2]
Một số luận văn, luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học Tuy nhiên, mỗi một tác giả lại xem xét các trò chơi dạy học ở các bộ môn khác nhau, chẳng hạn: Trương Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-
6 tuổi Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi Tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là trẻ lứa tuổi mầm non và lớp đầu Tiểu học
Như vậy, từ lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng ta có thể thấy việc sử dụng trò chơi học tập nói chung và trò chơi ô chữ trong dạy học là một vấn đề đang thu hút được sự quan tâm của nhiều người, nhiều cấp Tuy nhiên, việc
Trang 13nghiên cứu đề tài Thiết kế trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu lớp
4 như một khoảng trống bỏ ngỏ để chúng tôi tìm hiểu và khám phá
3 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống trò chơi ô chữ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
4 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống trò chơi ô chữ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ thời gian cho phép nên ở đề tài này chúng tôi dừng lại nghiên cứu xây dựng hệ thống trò chơi ô chữ với kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học xã Hải Triều - huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định và trường Tiểu học Xuân Hòa - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về việc xây dựng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
- Xây dựng hệ thống các trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
- Thực nghiệm sư phạm
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp hệ thống
8 Cấu trúc khóa luận
Trang 14- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về việc xây dựng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
- Chương 2: Xây dựng hệ thống các ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRÒ CHƠI Ô CHỮ TRONG DẠY HỌC LUYỆN
TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4
1.1 Cơ sở lí luận về việc xây dựng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
1.1.1 Một số vấn đề về trò chơi ô chữ
1.1.1.1 Khái niệm trò chơi ô chữ
Trò chơi ô chữ là một trò chơi trí tuệ đã có từ lâu đời và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới Ngày nay trò chơi ô chữ ngày càng xuất hiện nhiều trong các trò chơi hoạt động nhóm đội, các buổi hoạt động ngoại khóa của học sinh, trên báo chí và cả các chương trình truyền hình
Trò chơi ô chữ đã không còn xa lạ với mỗi chúng ta, khoa học đã chứng minh việc giải trò chơi ô chữ có tác dụng tuyệt vời đối với bộ não con người, giúp phát triển thể chất và trí tuệ, hình thành các quá trình tri giác, chú
ý, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng, sáng tạo Kích thích học sinh biểu hiện tính sáng tạo và tính độc lập Giải đố trò chơi ô chữ không chỉ để giải trí mà còn giúp bộ não hoạt động linh hoạt, tăng vốn hiểu biết, giúp người bản ngữ khám phá thêm cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ, kích thích trí não, phát triển năng lực ngôn ngữ
1.1.1.2 Phân loại trò chơi ô chữ
Trò chơi ô chữ rất đa dạng về cả hình thức và nội dung Có rất nhiều quan niệm khác nhau về cách phân loại trò chơi ô chữ Qua quá trình tìm tòi, phát hiện chúng tôi thấy rằng phổ biến nhất là trò chơi ô chữ với hình thức người tổ chức đưa ra những ô vuông để trống yêu cầu người chơi phải giải mã
ô chữ hàng dọc bằng cách giải mã từng ô chữ hàng ngang qua các gợi ý Mỗi
ô chữ hàng ngang sẽ có một chữ cái liên quan đến ô chữ hàng dọc Đây là
Trang 161.1.2 Đặc điểm của học sinh tiểu học
1.1.2.1 Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học
Quá trình phát triển tư duy của học sinh tiểu học: Tư duy là hoạt động nhận thức và phản ánh nhận thức của con người về hiện thực khách quan Quá trình tư duy của con người trải qua hai giai đoạn: tư duy cảm tính (nhận thức, phản ánh nhận thức về hiện thực khách quan bằng trực quan sinh động) và tư duy trừu tượng (nhận thức, phản ánh nhận thức bằng khái niệm, phán đoán, suy luận thông qua phân tích, tổng hợp…)
Đối với học sinh tiểu học, tư duy hình thành và phát triển liên tục theo từng giai đoạn cụ thể
Ở các lớp đầu cấp (lớp 1, 2, 3) trẻ chủ yếu tư duy cảm tính bằng tri giác, tri giác của các em thường gắn với hành động, hoạt động trực quan của trẻ, các em vừa chuyển từ tư duy cảm giác - vận động sang tư duy biểu tượng và nhận thức đối tượng chủ yếu trực tiếp thông qua các giác quan Tư duy của trẻ
đã được chuyển từ tiền hoạt động sang thời kì hoạt động cụ thể, từ tiền thao tác sang thao tác Trong giai đoạn này trẻ chủ yếu hành động trên đồ vật và hành động tri giác với sự kết hợp của các giác quan Thực chất của loại tư duy này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, đối chiếu, so sánh các sự vật hiện tượng
Trong giai đoạn tiếp theo, ở các lớp cuối cấp (lớp 4,5) tư duy trừu tượng bằng khái niệm và phán đoán cũng như khả năng phân tích, tổng hợp của các em dần dần được phát triển Trẻ đã chuyển được các hành động phân tích, đối chiếu, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong mặc
dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động đối với đối tượng thực Đặc biệt ở giai đoạn này tư duy của trẻ xuất hiện sự phân loại, có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng tuy nhiên vẫn còn hạn chế Nhưng trong quá trình học tập, rèn luyện khả năng phân tích – tổng hợp, trừu tượng hóa – khái
Trang 17quát hóa của trẻ dần được phát triển và có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ
1.1.2.2 Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ của học sinh tiểu học
Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
Tưởng tượng: Nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn, tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học, thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền
vững và dễ thay đổi
Trang 18Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ
những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các
em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lí tính của mình một cách toàn diện
1.1.1.3 Đặc điểm sinh lí của học sinh tiểu học
- Hệ cơ: Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, cơ phát triển còn thiếu cân đối nên khả
năng phối hợp vận động còn kém, khi thực hiện động tác sẽ có nhiều cử động thừa, tốn sức, kém hiệu quả, gây mệt mỏi và sự chán nản trong tập luyện
- Hệ xương: Ở lứa tuổi này, cấu trúc xương và khớp chưa phát triển hoàn
chỉnh, các đốt xương ở cột sống đang trong giai đoạn hình thành đường cong sinh lí nên dễ bị cong vẹo cột sống, gây ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển của lồng ngực và cấu trúc cân đối toàn cơ thể
- Hệ tuần hoàn: Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, nhịp tim nhanh (85-90 lần/phút)
Khi hoạt động vận động hoặc có trạng thái lo lắng thì tim đập nhanh hơn, dồn dập hơn
- Hệ hô hấp: Hệ hô hấp đang thời kì hoàn thiện, các em đang dần dần tạo thói
quen chuyển từ thở kiểu bụng sang thở kiểu ngực, lồng ngực phát triển chưa hoàn thiện
- Hệ thần kinh: Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, hoạt động phân tích và tổng hợp
của học sinh kém nhạy bén, nhận thức các hiện tượng biến đổi của xã hội còn
Trang 19mang tính chủ quan, cảm tính, bị động Các em có khả năng bắt chước một cách máy móc, khả năng phân biệt, tính sáng tạo còn hạn chế
1.1.1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
- Học sinh tiểu học lứa tuổi từ 6 - 11 tuổi, ở lứa tuổi này các em có những biến đổi quan trọng trong cuộc sống, lao động, học tập, do đó đặc điểm tâm lí thể hiện qua các hoạt động về nhận thức, tình cảm, cảm xúc có những thay đổi cơ bản
- Đối với lứa tuổi tiểu học, học tập đã trở thành một hoạt động chủ đạo
- Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu về chi tiết và nặng
Ở các lớp cuối cấp, việc ghi nhớ được hình thành và phát triển
- Học sinh chưa chủ động, các em thường trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác khi gặp khó khăn, vì vậy hoạt động giáo dục cần có các yêu cầu mới phù hợp với khả năng của trẻ để gây dựng cho các em lòng say mê và sáng tạo
1.1.1.5 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4
Ở học sinh lớp 4 các em có sự phát triển cao về tâm lí
- Tâm lí của các em học sinh lớp 4 cũng đã có sự phát triển một số mặt như: ý thức, tự đánh giá, lòng tự trọng và dễ tự ái Thế giới nội tâm của các em phong phú hơn, có sự riêng tư
- Sự phát triển trí tuệ: ở học sinh lớp 4 các cơ quan cảm giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện Các em bắt đầu tri giác có chủ định hơn, biết lập kế hoạch, phương hướng rõ rang
- Tư duy: các em đã bắt đầu biết khái quát hóa lí luận
Trang 20- Tưởng tượng: ở học sinh lớp 4, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ học sinh đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển và gắn liền với những cảm xúc của các em
- Về chú ý: chú ý có chủ định dần phát triển và ngày càng chiếm ưu thế
- Về trí nhớ: ghi nhớ có chủ định phát triển Học sinh ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống trò chơi ô chữ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
1.2.1 Nhận thức của giáo viên về trò chơi ô chữ
Việc sử dụng trò chơi ô chữ trong dạy học cũng đã có nhiều giáo viên
sử dụng trong tiết dạy của mình Tuy nhiên để thiết kế được một ô chữ cho một tiết học không hề đơn giản Giáo viên cần tìm hiểu các thông tin để xây dựng nội dung cho các từ khóa hàng dọc, từ đó phát triển các ô chữ hàng ngang sau khi đã phác thảo được nội dung sẽ thiết kế ô chữ bằng phần mềm Violet hoặc PowerPoint Không chỉ phải dày công tìm tòi, nghiên cứu nội dung mà nhiều thầy cô còn gặp khó khăn trong việc sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế bài giảng điện tử Khi đã áp dụng dạy học bằng công nghệ thông tin thì mỗi giáo viên cần phải trang bị cho bản thân máy vi tính (nếu máy tính xách tay thì càng thuận tiện) Đây là điều không dễ dàng gì với nhiều giáo viên, nhất là giáo viên trẻ mới ra trường hay giáo viên vùng núi, nông thôn bởi đồng lương còn eo hẹp, ít ỏi trong khi giá cả leo thang và bộn
bề công việc cần phải lo toan thì việc bỏ ra ngót chục triệu đồng để mua một chiếc máy vi tính hàng bình dân cũng là một điều khó khăn, không phải giáo viên nào cũng thực hiện được Ngay cả khi đã có trong tay máy vi tính thì không phải giáo viên nào cũng có thể làm chủ trình độ tin học trong giảng dạy Kĩ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, nhất
là giáo viên lớn tuổi thường giảng dạy theo lối mòn cũ, né tránh sử dụng công nghệ, e ngại học hỏi giáo viên trẻ với suy nghĩ “tầm sư học đạo” Việc trang
Trang 21bị cơ sở vật chất máy trình chiếu cho hoạt động giảng dạy và tập huấn hướng dẫn giáo viên cách sử dụng công cụ đắc lực này cũng còn hạn chế Ở nhiều trường đặc biệt là nông thôn, vùng sâu vùng xa vùng kinh tế còn khó khăn số lượng máy chiếu khá khiêm tốn, để chuẩn bị cho một tiết học có bài giảng điện tử, giáo viên khá vất vả trong khâu chuẩn bị và không ít người lúng túng khi đứng trước thiết bị này
1.2.2 Thực trạng sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Trong nhiều năm qua, mặc dù đã đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt nhưng một số giáo viên vẫn còn nặng tâm lí đây là môn học chính nên trong quá trình giảng dạy họ rất chú trọng việc truyền thụ kiến thức với mục đích giúp học sinh học tốt môn này Việc sử dụng trò chơi học tập đối với một
số giáo viên còn là hình thức hoặc sử dụng một cách khiên cưỡng Mặt khác, còn một số giáo viên khi sử dụng các trò chơi học tập thì chưa chọn lọc kĩ, không có tác dụng thiết thực phục vụ mục tiêu của bài học nên việc tổ chức trò chơi chưa đạt hiệu quả Thực tế cho thấy, vẫn còn một số đối tượng học sinh thụ động, tự ti, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động học tập
Trước thực trạng đó, chúng tôi thiết nghĩ mình cần phải thay đổi một cách thức dạy học mới sao cho học sinh hứng thú, say mê và tích cực chủ động hơn khi học Tiếng Việt Qua đó, những kĩ năng giao tiếp ở các em sẽ ngày càng hoàn thiện và phát triển Và việc vận dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt là hết sức cần thiết Các trò chơi có nội dung học tập lí thú và
bổ ích phù hợp với việc nhận thức của các em Thông qua trò chơi, các em sẽ lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng, củng cố khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập, trong việc làm Trò chơi ô chữ chính là một trong những kiểu trò chơi học tập Vì vậy, chúng tôi sẽ tìm hiểu khảo sát việc sử dụng trò chơi học tập trong đó là trò
Trang 22chơi ô chữ với kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Để sử dụng được trò chơi học tập vào dạy học trong nhà trường thì trước tiên giáo viên phải có những hiểu biết hay nhận thức đúng về vấn đề này; tìm
ra những ưu, nhược điểm của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học để phối hợp các phương pháp dạy học nhằm đạt được hiệu quả dạy học
1.2.2.1 Đối tượng và nội dung khảo sát
Tôi thực hiện việc khảo sát tại 2 trường Tiểu học (đã trình bày ở trên, tổng số: 35 GV)
Đối tượng khảo sát đó là thăm dò ý kiến giáo viên trong trường
Nội dung khảo sát là tổng hợp ý kiến về một số mặt:
- Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 (mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng, thuận lợi, khó khăn)
- Thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên
Phương pháp khảo sát:
- Trong quá trình nghiên cứu và khảo sát tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp
1.2.2.2 Kết quả khảo sát
Tôi đã đưa ra 3 mức độ cần thiết sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, tìm hiểu giữa các giáo viên trong trường để xác định mức độ mà giáo viên Tiểu học cho là phù hợp
Ba mức độ là: (i) Rất cần thiết; (ii) Cần thiết; (iii) Không cần thiết Tìm hiểu
35 giáo viên tôi thu hoạch được kết quả như sau:
Trang 23Bảng 1.1 Kết quả về thực trạng nhận thức mức độ cần thiết của việc sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học
Mức độ cần thiết Số phiếu Ý kiến giáo viên (%)
Bảng 1.2 Mục đích của việc sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 ở Tiểu học
Số phiếu Tỉ lệ (%)
2 Tạo hứng thú học tập, thay đổi không
Trang 24Bảng 1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Số phiếu Tỉ lệ (%)
3 Năng lực thiết kế trò chơi ô chữ còn hạn chế 33 94,3
4 Năng lực tổ chức trò chơi của giáo viên còn
hạn chế
Kết quả trên cho thấy nguyên nhân chủ yếu của việc giáo viên ít sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 chủ yếu là do năng lực thiết kế trò chơi ô chữ còn hạn chế, các bước xây dựng hệ thống trò chơi chưa được cụ thể, khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong thiết kế trò chơi ô chữ còn hạn chế, các trò chơi còn mang tính cảm tính của giáo, cách tổ chức theo ngôn ngữ nói của giáo viên, cách tổ chức chưa được thống nhất
Bảng 1.4 Tần suất sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Trang 25Việc sử dụng hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học phân môn Luyện từ
và câu cho học sinh lớp 4 là cần thiết tuy nhiên tần suất sử dụng vẫn còn rất hạn chế
Qua phỏng vấn trực tiếp, tôi cũng thu nhận được một số thông tin sau:
- Hứng thú của học sinh khi chơi trò chơi ô chữ:
+ Với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, học sinh tiểu học rất thích học thông qua trò chơi ô chữ
+ Trò chơi ô chữ là trò chơi trí tuệ nên rất nhiều em cố gắng học hỏi để tham gia
- Những khó khăn của giáo viên khi muốn tổ chức cho học sinh chơi trò chơi
ô chữ:
+ Không có hệ thống trò chơi sẵn theo mục đích sử dụng
+ Giáo viên chưa biết cách thiết kế nội dung trò chơi ô chữ
+ Giáo viên yếu về công nghệ thông tin
+ Khả năng tổ chức các trò chơi của giáo viên còn hạn chế
Các giáo viên chia sẻ rất chân thật: Chúng tôi đều biết ý nghĩa của trò chơi học tập nói chung và trò chơi ô chữ trong kiểu bài mở rộng vốn từ phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 nói riêng đặc biệt là rất muốn tạo hứng thú trong học tập cho học sinh nhưng thực sự chúng tôi rất cần những bản thiết kế, hướng dẫn để chúng tôi chủ động xây dựng các trò chơi ô chữ trong những giờ dạy kiểu bài mở rộng vốn từ phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 và những hoạt động giáo dục khác nữa
Qua phân tích thực trạng về sử dụng trò chơi học tập nói chung và trò chơi ô chữ trong kiểu bài mở rộng vốn từ phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 nói riêng cho thấy:
Phương pháp giảng dạy của giáo viên chủ yếu là thuyết trình, giảng giải học sinh ít có cơ hội thể hiện năng lực của mình Do vậy, việc ghi nhớ và tái
Trang 26hiện lại nội dung bài học là thao tác cơ bản trong hoạt động nhận thức của học sinh
Hầu hết các giáo viên đều nhận thấy tầm quan trọng của việc sử dụng trò chơi học tập, trò chơi ô chữ trong dạy học đặc biệt trong việc phát triển,
mở rộng vốn từ cho học sinh; có nhận thức đúng đắn về vai trò của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học nói chung và trò chơi ô chữ trong kiểu bài
mở rộng vốn từ phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 nói riêng Bởi
vì, dạy học theo hướng sử dụng trò chơi học tập cho phép nâng cáo tính tích cực của học sinh, giúp học sinh học tập hào hứng hơn, lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng một cách hiệu quả, giúp giáo viên kịp thời thu nhận thông tin phản hồi để có những điều chỉnh hợp lí, làm cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao hơn Qua đó, góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, cải thiện không khí lớp học
Vấn đề sử dụng trò chơi ô chữ trong kiểu bài mở rộng vốn từ phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 nhằm phát triển vốn từ, khả năng xử lí tình huống, phán đoán linh hoạt cho học sinh ở trường tiểu học hiện nay hầu hết chưa được áp dụng mặc dù nhà trường đã có những nhận thức rất đúng đắn Do nhiều nguyên nhân: do giáo viên chưa đầu tư thời gian cho việc thiết
kế cũng như tổ chức trò chơi; chưa có bản thiết kế sẵn các trò chơi; năng lực
tổ chức trò chơi của giáo viên còn nhiều hạn chế,…
1.2.3 Chương trình Luyện từ và câu lớp 4
Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh
và trang bị cho các em một số kiến thức về từ và câu Ở lớp 2 và lớp 3 chỉ trình bày các kiến thức học sinh cần làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài tập thực hành thì ở lớp 4 và lớp 5, các kiến thức lí thuyết được học thành tiết riêng Đó là các nội dung như từ và cấu tạo từ, các lớp từ (đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiều nghĩa), từ loại, câu, các kiểu câu, thành phần
Trang 27câu, biện pháp liên kết câu Ngoài ra chương trình còn cung cấp cho học sinh một số kiến thức ngữ âm - chính tả như tiếng, cấu tạo tiếng
Những nội dung trên được phân bố theo các lớp Ở đây, tôi chỉ xem xét đến nội dung chương trình về vốn từ
Nội dung vốn từ cung cấp cho học sinh: ngoài các từ ngữ được dạy qua các bài tập đọc, chính tả, tập viết,… học sinh được cung cấp vốn từ một cách
có hệ thống trong các bài từ ngữ theo chủ đề Chương trình đã xác định vốn từ cần cung cấp cho học sinh Đó là những từ ngữ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh như công việc của học sinh ở trường và ở nhà, tình cảm gia đình và vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, những phẩm chất và hoạt động của con người, … Những từ ngữ được dạy ở tiểu học gắn với việc giáo dục cho học sinh tình yêu gia đình, nhà trường, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động… Chúng làm giàu nhận thức, mở rộng tầm mắt của học sinh, giúp các
em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người, dạy các em biết yêu và ghét Nội dung chương trình từ ngữ ở Tiểu học phải phù hợp với yêu cầu phát triển ngôn ngữ của học sinh đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc giáo dục trong dạy từ
Trong chương trình lớp 4 học sinh học thêm khoảng 500 - 550 từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ và một số yếu tốc gốc Hán thông dụng) theo các chủ đề: nhân hậu, đoàn kết; trung thực, tự trọng; ước mơ, ý chí nghị lực; trò chơi, đồ chơi; tài năng, sức khỏe, cái đẹp, dũng cảm, khám phá, phát minh; du lịch, thám hiểm; lạc quan
Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 (62 tiết gồm 32 tiết học kì 1 và 30 tiết học kì 2) bao gồm các nội dung sau:
a) Mở rộng vốn từ (19 tiết)
Phần này mở rộng và hệ thống hóa từ ngữ theo chủ điểm của từng đơn
vị học, cụ thể là:
Trang 28- Ở học kì 1 (19 tiết), từ ngữ đƣợc mở rộng và hệ thống hóa theo các chủ điểm: Nhân hậu - Đoàn kết (tuần 2, 3); Trung thực - Tự trọng (tuần 5, 6); Ƣớc
mơ (tuần 9); Ý chí - Nghị lực (tuần 12, 13); Đồ chơi - Trò chơi (tuần 15, 16)
- Ở học kì 2 (10 tiết), từ ngữ đƣợc mở rộng và hệ thống hóa theo các chủ điểm: Tài năng (tuần 19); Sức khỏe (tuần 20); Cái đẹp (tuần 22, 23); Dũng cảm (tuần 25, 26); Du lịch - Thám hiểm (tuần 29, 30); Lạc quan - Yêu đời (tuần 33, 34)
b) Cấu tạo của tiếng, cấu tạo từ (5 tiết)
Phần này cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ: Cấu tạo của tiếng (tuần 1: 2 tiết); Từ đơn và từ phức (tuần 3: 1 tiết); Từ ghép và từ láy (tuần 4: 2 tiết)
Phần này cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công dụng và cách
sử dụng các kiểu câu: Câu hỏi (tuần 13, 14, 15: 4 tiết); Câu kể (tuần 16, 17,19,
20, 21, 22, 24, 25, 26: 12 tiết, bao gồm các kiểu câu: Ai làm gì?, Ai thếnào?,
Ai là gì?); Câu khiến (tuần 27, 29: 3 tiết); Câu cảm (tuần 30: 1 tiết); Thêm trạng ngữ cho câu (tuần 31, 32, 33, 34: 6 tiết)
e) Dấu câu (3 tiết)
Phần này cung cấp kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng cácdấu câu: Dấu hai chấm (tuần 2: 1 tiết); Dấu ngoặc kép (tuần 8: 1 tiết); Dấu chấm hỏi (tuần 13 - học cùng Câu hỏi); Dấu gạch ngang (tuần 23: 1 tiết)
Trang 29Kết luận chương 1
Hầu hết các cán bộ quản lí và giáo viên đều nhận thấy tầm quan trọng của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học, có nhận thức đúng đắn về vai trò của việc sử trò chơi học tập trong dạy học nói chung và sử dụng trò chơi ô chữ trong dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu nói riêng Bởi vì, dạy học theo hướng sử dụng trò chơi học tập cho phép nâng cao tính tích cực của học sinh, giúp học sinh học tập hào hứng hơn, lĩnh hội tri thức và rèn kĩ năng một cách hiệu quả, giúp giáo viên kịp thời thu nhận thông tin phản hồi để có những điều chỉnh hợp lý, làm cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao hơn Qua đó, góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, cải thiện không khí lớp học
Vấn đề sử dụng trò chơi ô chữ trong dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu nhằm mục đích rèn kĩ năng sử dụng vốn từ
và hợp tác khi làm việc nhóm ở nhà trường hiện nay hầu hết chưa được áp dụng và hiệu quả rất thấp do nhiều nguyên nhân: do trò chơi chưa được xây dựng một cách hệ thống, do năng lực tổ chức trò chơi của giáo viên còn nhiều hạn chế
Chính vì vậy, trong chương 2 của khóa luận tôi đã tìm hiểu các biện pháp thiết kế trò chơi ô chữ thành một hệ thống để giúp giáo viên có thể sử dụng trò chơi ô chữ một cách thuận tiện và tổ chức trò chơi một cách dễ dàng
Trang 30Chương 2: THIẾT KẾ HỆ THỐNG TRÒ CHƠI Ô CHỮ TRONG DẠY
HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4
2.1 Nguyên tắc của việc thiết kế hệ thống trò chơi ô chữ trong dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích
Thiết kế trò chơi ô chữ trong dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 phải mở rộng và phát triển được vốn từ cho học sinh
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình
Thiết kế trò chơi ô chữ phải phù hợp với nội dung chương trình bài dạy lớp 4 đồng thời cần có sự tích hợp các kiến thức liên môn, kiến thức xã hội để trò chơi ô chữ sinh động, hấp dẫn trẻ
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo vừa sức và phát triển tính sáng tạo
Mỗi một độ tuổi có những nhận thức khác nhau, học sinh càng lớn thì đặc điểm nhận thức của các em càng cao, đặc điểm tâm sinh lí cũng khác với
độ tuổi trước Chính vì vậy phải đưa ra trò chơi đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với lứa tuổi đồng thời phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo của học sinh để các em không cảm thấy bị nhàm chán mà càng say mê học tập
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thẩm mĩ
Trò chơi ô chữ phải có tính thẩm mĩ cao để có thể cuốn hút, lôi cuốn học sinh Thẩm mĩ về hình thức (sự bố trí ô chữ, màu sắc chữ) và thẩm mĩ về mặt nội dung (ngôn từ phải chính xác, trong sáng) Từ đó, giúp học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học để tiếp thu kiến thức tốt nhất từ trò chơi
2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Thiết kế trò chơi ô chữ phải mang tính khả thi Các thao tác thiết kế cụ thể, chi tiết, dễ thực hiện, có sự tương tác và sinh động Cách tổ chức trò chơi
rõ ràng, dễ tổ chức cho học sinh chơi
Trang 312.2 Các biện pháp thiết kế trò chơi ô chữ
Để thiết kế thành trò chơi ô chữ đòi hỏi sự công phu, tâm huyết và những hiểu biết cả về mặt kiến thức ngôn ngữ và cả những kiến thức về công nghệ thông tin Thực tế, trong đề tài này, chúng tôi xác định chỉ dừng lại ở việc thiết kế nội dung các ô chữ song với mong muốn xa hơn là mỗi giáo viên tiểu học có một cẩm nang làm ô chữ đặc biệt là ô chữ trong dạy học kiểu bài
mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 nên chúng tôi đề xuất các biện pháp xây dựng trò chơi ô chữ kể về cả nội dung và ứng dụng công nghệ thông tin
2.2.1 Thiết kế nội dung
Chúng tôi tập trung nghiên cứu về trò chơi ô chữ có từ khóa
Bước 1 Chọn từ khóa có nội dung phù hợp với nội dung, chủ điểm của bài
dạy
Bước 2 Viết dọc từ khóa, tách từng chữ cái vào từng ô chữ dọc
Bước 3 Tìm những từ ngữ có chứa chữ cái của ô chữ hàng dọc (từ khóa) Bước 4 Vẽ ô chữ, sắp xếp sao cho các ô chữ hàng dọc ghép thành từ khóa
thẳng nhau
Bước 5 Thay các tiếng, từ ngữ cần tìm (để trong đáp án) bằng dấu (…)
hoặc là câu trả lời cho câu đố, câu hỏi
Bước 6 Kiểm tra lại nội dung, độ khó, hình thức của ô chữ vừa thiết lập
Bước 1: Chọn từ khóa có nội dung phù hợp với nội dung, chủ điểm của
bài dạy
Ví dụ: Từ khóa: đoàn kết, dũng cảm, gan dạ
Bước 2: Viết dọc từ khóa, tách từng chữ cái vào từng ô chữ dọc
Trang 32Bước 4: Vẽ ô chữ, sắp xếp sao cho các ô chữ hàng dọc ghép thành từ
khóa thẳng nhau từ bước 1
Bước 5: Thay các tiếng hoặc từ ngữ cần tìm (để trong đáp án) bằng dấu
(…) hoặc là đáp án của các câu đố
Bước 6: Kiểm tra lại nội dung, độ khó, hình thức của ô chữ vừa thiết lập
Trang 334 Nuôi con chẳng … chi thân
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo mẹ để con lăn
5 Đói ăn …, túng làm liều
6 Buôn có …, bán có phường
7 … học lễ, hậu học văn