LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh” là công trình nghiên cứu của riên
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
N ư ư ọ GS TS V A T ấn
TS P Đặ X â Hươ
Trang 2LÍ THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
N ư ư ọ
TS Nguyễn Thị Hươ
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Văn Hưng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Thiết kế hoạt động trải
nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi, trên cơ sở giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và tham khảo các tài liệu có liên quan Kết quả nghiên cứu của tác giả không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của bất kì tác giả nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Nguyễ V Hƣ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Khách thể nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Phương pháp nghiên cứu 3
9 Cấu trúc khoá luận 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THEO LÍ THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Lí thuyết về hoạt động trải nghiệm 5
1.1.2 Lí thuyết về thuyết Đa trí thông minh 13
1.1.3 Đặc điểm của học sinh tiểu học 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Mục đích điều tra 19
1.2.2 Nội dung điều tra 19
1.2.3 Đối tượng điều tra 19
1.2.4 Phương pháp điều tra 20
1.2.5 Kết quả điều tra 20
Kết luận chương 1 30
Chương 2 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THEO LÍ THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH 31
2.1 Nguyên tắc thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh 31
Trang 62.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu, nội dung bài học 31
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo khai thác tối đa vốn kinh nghiệm cá nhân của học sinh 31
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tổng hợp các loại hình trí thông minh cho học sinh 32
2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa lí luận và thực tiễn 32
2.2.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ thể tích cực, tự giác học tập của học sinh và vai trò tổ chức, hướng dẫn của giáo viên 33
2.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 33
2.2 Quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lý thuyết Đa trí thông minh 33
2.3 Ví dụ minh họa thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh 36
2.3.1 Ví dụ minh họa thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 36
2.3.2 Thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh theo hướng tích hợp 41
Kết luận chương 2 46
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọ đề tài
Giáo dục được coi là chiếc chìa khoá vàng tiến tới tương lai, một đất nước muốn phát triển được thì nhất định phải đầu tư vào con người Mà đầu tư vào con người chính là đầu tư vào văn hoá, giáo dục Đặc biệt là trong bối cảnh thế giới đang bước vào xu thế toàn cầu hoá và sự bùng nổ của khoa học công nghệ thì giáo dục lại càng quan trọng Hiểu rõ vai trò của giáo dục trong phát triển đất nước, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu nước, thương người, xây dựng một thế hệ đủ đức đủ tài để xây dựng đất nước vững mạnh Đặc biệt, việc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ cấp Tiểu học được ưu tiên đặt lên hàng đầu
Chương trình giáo dục cấp Tiểu học giúp phát triển hài hoà về thể chất, tinh thần, phẩm chất, trình độ học vấn và năng lực chung cho học sinh tiểu học Điều này đã được nêu rõ trong mục tiêu giáo dục phổ thông Một trong những điểm mới của nền giáo dục hiện nay là đưa hoạt động trải nghiệm vào trong chương trình để giáo dục học sinh tiểu học phát triển toàn diện Đây là một bước tiến quan trọng về nhận thức giáo dục kỹ năng sống và giáo dục kiến thức, phẩm chất học sinh thông qua hoạt động thực tế
Ở cấp Tiểu học, hoạt động trải nghiệm nhằm hình thành những thói quen tự phục vụ, kỹ năng học tập, kỹ năng giao tiếp cơ bản và giúp học sinh bắt đầu có các
kỹ năng xã hội để tham gia các hoạt động xã hội Đây được coi là hoạt động vô cùng quan trọng trong việc giáo dục nhân cách, bồi dưỡng và phát triển năng lực, phẩm chất thông qua việc học sinh trở thành chủ thể của quá trình tìm kiếm tri thức Hầu hết ở các trường Tiểu học hiện nay, hoạt động trải nghiệm được tổ chức một cách đơn thuần, chưa có tính khoa học cao Đa phần chỉ đáp ứng yêu cầu nhận thức của một số học sinh vì nó chưa gây được hứng thú với toàn bộ số học sinh tham gia Vì vậy nhiệm vụ đặt ra là phải tìm ra các phương pháp, hình thức để thiết
kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học đạt hiệu quả cao nhất
Trang 8Học thuyết Đa trí thông minh của Giáo sư Howard Gardner thuộc Đại học Harvard chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều thông minh và tồn tại rất nhiều loại hình trí thông minh đa dạng Nghiên cứu của Howard Gardner về trí thông minh đa dạng đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ của giáo viên và những nhà hoạt động giáo dục Chúng ta cần biết về chính bản thân mình để có thể hiểu mình và biết bản thân có thể làm được những gì Học sinh tiểu học cũng vậy, các
em cần có những hiểu biết về khả năng của chính mình khi tham gia các hoạt động học tập Giáo viên cũng cần nắm rõ được nhu cầu, điểm mạnh, điểm yếu của học sinh để thiết kế các hoạt động trải nghiệm phù hợp và hiệu quả
Việc vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào việc thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học được coi là một hướng đi tích cực, giúp học sinh phát huy được những thế mạnh riêng của bản thân, nâng cao hiệu quả bài học, ghi nhớ tốt hơn Vận dụng lí thuyết này trong việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm hoàn toàn phù hợp với đặc điểm học sinh tiểu học, xu thế chung ở trong nước và trên thế giới
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh”
2 Mụ đí ứu
Đề xuất quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh nhằm nâng cao hiệu quả khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học
3 Đ tƣợng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa lí thuyết Đa trí thông minh với bản chất việc thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học
4 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm phù hợp với đặc điểm học sinh lứa tuổi tiểu học, phù hợp với đặc trưng của từng môn học cụ thể,
Trang 9đồng thời phát huy được các ưu thế của lí thuyết Đa trí thông minh và phù hợp với điều kiện thực tiễn dạy học thì sẽ nâng cao được chất lượng tổ chức hoạt động và hiệu quả dạy học ở trường Tiểu học hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng lí thuyết Đa trí thông minh vào thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học
- Đề xuất quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh
7 Ph m vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung:
+ Đề tài tập trung nghiên cứu thiết kế hoạt động trải nghiệm theo lí thuyết Đa trí thông minh cho đối tượng là học sinh tiểu học
+ Đề tài tập trung nghiên cứu thiết kế hoạt động trải nghiệm theo lí thuyết Đa trí thông minh trong môn Tự nhiên và Xã hội
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ, chọn lọc thông tin
- Phương pháp xử lí số liệu và đánh giá bằng thống kê toán học
9 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được cấu trúc thành 2 chương:
Trang 10Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lý thuyết Đa trí thông minh
Chương 2: Đề xuất quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh
Trang 11C ƣơ 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THEO LÍ
THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH 1.1 Cơ ở lí luận
1.1.1 Lí thuyết về hoạt động trải nghiệm
1.1.1.1 Trải nghiệm
Theo Wikipedia: Trải nghiệm (experience) hay kinh nghiệm là tri thức hay sự thông thạo về một sự kiện một chủ đề có được thông qua tham gia sự can dự hay tiếp xúc trực tiếp với các sự vật hiện tượng
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Trải nghiệm” được diễn giải theo 2 nghĩa: Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất “là bất kì một trạng thái xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lí của nhiều người” Theo nghĩa hẹp Trải nghiệm là những tín hiệu bên trong, nhờ đó các sự kiện diễn ra đối với cá nhân được ý thức chuyển thành ý kiến cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân”
Từ điển mở Wiktionary định nghĩa Trải nghiệm là sự hiểu biết do đã từng trải công việc, đã thấy được kết quả khiến cho có thể phát huy được mặt tốt và khắc phục được mặt chưa tốt
Theo từ điển Tiếng Việt: Trải nghiệm là từng qua, từng biết, từng chịu đựng Theo quan điểm triết học, sự trải nghiệm được hiểu là sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan Nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế, là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Qua nghiên cứu các tài liệu triết học, người ta đưa ra được một số cách để định nghĩa về trải nghiệm:
Trang 12- Trải nghiệm là một phạm trù của triết học, được đúc rút từ toàn bộ các hoạt động của con người ở mọi mặt, như một thể thống nhất giữa kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí Đặc trưng bằng cơ chế kế thừa di sản xã hội, lịch sử, văn hóa
- Trải nghiệm là một phạm trù của nhận thức luận, được đúc kết từ sự thống nhất của hoạt động tình cảm, nhận thức
- Trải nghiệm là kiến thức mà ngay lập tức cho chủ thể ý thức được và có cảm giác tiếp xúc trực tiếp với thực tế, cho dù đó là một thực tế bên ngoài của các đối tượng và tình huống (nhận thức), hoặc các thực tại của trạng thái ý thức (quan niệm, những kỷ niệm, xúc động…)
1.1.1.2 Hoạt động trải nghiệm
“Hoạt động trải nghiệm bản chất là những hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị,
kỹ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại Nội dung của hoạt động trải nghiệm được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở Hình thức và phương pháp tổ chức
đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng… để học sinh có nhiều cơ hội tự trải nghiệm” [11, tr 9]
Khi đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã đưa ra quan niệm: “Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới
sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình”.
PGS TS Đinh Thị Kim Thoa - chủ nhiệm khoa Các khoa học giáo dục Trường Đại học Giáo dục (ĐHQGHN) trong một bài phát biểu thì cho rằng: “Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn của các nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó
Trang 13phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất và nhân cách, phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân mình”.
Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động
cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề
1.1.1.3 Vai trò
Hoạt động trải nghiệm có ý nghĩa đối với không chỉ học sinh mà còn mang lại giá trị to lớn đối với những người làm giáo dục Bởi lẽ, hoạt động trải nghiệm vừa giúp học sinh phát triển bản thân, vừa giúp giáo viên hiểu học sinh hơn trong nhiều
các hoạt động thực tiễn
Đối với học sinh, hoạt động trải nghiệm có những vai trò như sau:
Về việc làm giàu kiến thức khoa học và kiến thức thực tiễn cho học sinh:hoạt động trải nghiệm giúp cho học sinh tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng tự nhiên, tình huống mới, do đó học sinh sẽ nhận được nhiều kiến thức khoa học không chỉ ở sách vở mà còn từ trong chính hoạt động của mình Hơn nữa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp học sinh lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được
Về việc hình thành năng lực cho học sinh: hoạt động trải nghiệm thúc đẩy hình thành và bồi dưỡng cho người học các năng lực đặc thù sau:
+ Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động
+ Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống
Trang 14+ Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân
+ Năng lực định hướng nghề nghiệp
+ Năng lực khám phá và sáng tạo
Về việc rèn luyện, trau dồi các phẩm chất quý báu của con người hiện đại: hoạt động trải nghiệm nuôi dưỡng và phát triển đời sống tình cảm, ý chí tạo động lực hoạt động, tích cực hóa bản thân…
Về việc giúp học sinh hiện thực hóa lí thuyết vào thực tiễn: Hoạt động trải nghiệm là con đường quan trọng để giúp học sinh gắn học với hành, lí thuyết với thực tiễn Học từ trải nghiệm tương đồng với học thông qua làm, qua thực hành nhưng học qua làm là nhấn mạnh về thao tác kỹ thuật còn học qua trải nghiệm giúp người học có năng lực giải quyết vấn đề, rèn luyện cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lý khác Hơn nữa, học qua làm chú ý đến những quy trình, động tác, kết quả chung cho mọi người học nhưng học qua trải nghiệm phải gắn với kinh nghiệm sống và cảm xúc cá nhân
Ngoài ra, hoạt động trải nghiệm được coi như một hình thức giải trí, mang lại nhiều niềm vui cho học sinh, xua tan đi những giờ học lí thuyết khô khan giúp các
em ngày càng yêu thích môn học hơn
Đối với giáo viên, hoạt động trải nghiệm mang lại giá trị: Hoạt động trải nghiệm giúp giáo viên hiểu rõ về học sinh của mình hơn, do đó sẽ có những điều chỉnh, thay đổi, định hướng hoạt động dạy tốt hơn Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh, giáo viên phải phối hợp với các giáo viên khác (chủ yếu là giáo viên âm nhạc, mĩ thuật, tổng phụ trách đội), với phụ huynh và các nhà quản lí giáo dục để thực hiện hoạt động hiệu quả Sau mỗi hoạt động sẽ giúp giáo viên có nhiều kinh nghiệm thực tế và mở rộng được mối quan hệ với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh
Đối với các nhà quản lí giáo dục, hoạt động trải nghiệm có tác dụng: Hoạt động trải nghiệm giúp giáo dục thực hiện được mục đích tích hợp và phân hóa của mình nhằm phát triển năng lực thực tiễn và cá nhân hóa, đa dạng hóa tiềm năng sáng tạo Thông qua những hoạt động thực tế, các nhà quản lí giáo dục đánh giá
Trang 15được hiệu quả của chương trình giáo dục và có những thay đổi, điều chỉnh chương trình giáo dục phù hợp với học sinh tiểu học
Đặc biệt, hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn là cầu nối nhà trường, kiến thức các môn học với thực tiễn cuộc sống một cách có tổ chức, có định hướng góp phần tích cực vào hình thành và củng cố năng lực, phẩm chất nhân cách
1.1.1.4 Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm
Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm rất đa dạng, mỗi hình thức lại có những ý nghĩa giáo dục học sinh nhất định Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm chủ yếu trong nhà trường Tiểu học là:
a Sân khấu hóa
Là hình thức mà các em học sinh sẽ diễn một vở kịch hoặc sân khấu hóa một tác phẩm trong chương trình học Trong đó giáo viên sẽ đưa ra cho học sinh một tình huống mở đầu Nhiệm vụ của các em là sẽ phân chia vai diễn, xử lý các tình huống đã cho theo những cách sáng tạo Thông qua vai diễn để chia sẻ những hiểu biết, suy nghĩ, cảm xúc của bản thân về vấn đề được đưa ra Mục đích chính là giúp tăng cường sự tương tác, khả năng nhạy bén, linh hoạt khi đưa các kiến thức trong sách vở vào thực tiễn cuộc sống Từ đó phát triến kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng ra quyết định và ứng phó với những tình huống bất ngờ trong cuộc sống hàng ngày
b Tổ chức tham quan, dã ngoại
Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế có sức thu hút đối với học sinh Nó giúp các em được quan sát, tiếp xúc, tìm hiểu và học hỏi được kiến thức từ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, nhà máy xí nghiệp Tham quan, dã ngoại bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu thiên nhiên, đất nước, con người, biết quý trọng những nét truyền thống quý báu của dân tộc, biết bảo vệ những thành quả mà ông cha ta đã gây dựng… Qua hoạt động tham quan, dã ngoại, học sinh có cơ hội được đối chiếu những kiến thức trong nhà trường với thực tiễn,
từ đó các em có những trải nghiệm thực tế, rèn luyện kĩ năng phân tích tổng hợp một cách sâu sắc
Trang 16c Trò chơi học tập
Trò chơi là một trong những phương pháp quan trọng và hiệu quả trong việc dạy học trải nghiệm cho học sinh tiểu học Trò chơi có thể tiến hành vào phần khởi động mỗi tiết học hoặc dùng để củng cố nội dung bài học vào cuối buổi Nội dung của trò chơi phải được xây dựng từ mục tiêu bài học Trò chơi có thành công hay không phụ thuộc chủ yếu vào khả năng xây dựng và điều khiển của giáo viên Trò chơi giúp các em học sinh có hứng thú học bài, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, khéo léo, tạo không khí vui vẻ, sôi động để tiếp thu những kiến thức mới, củng cố, khắc sâu những kiến thức đã học cho các em
d Câu lạc bộ trải nghiệm
Câu lạc bộ là tên gọi của một nhóm học sinh được sắp xếp và phân chia bởi giáo giáo viên hoặc do các em học sinh có chung sở thích, nhiệm vụ tạo thành Câu lạc bộ tạo ra môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau, giữa học sinh với giáo viên và những người quan tâm khác Hoạt động dưới hình thức câu lạc bộ giúp học sinh được trải nghiệm thực tế, được chia sẻ, học hỏi kiến thức lẫn nhau, rèn cho các em tinh thần đoàn kết, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác nhóm… Câu lạc bộ có tên gọi riêng, có quy định và lịch sinh hoạt riêng trên cơ sở
tự nguyện, thống nhất của các thành viên Ở trường Tiểu học thường có một số câu lạc bộ như: Câu lạc bộ văn hóa văn nghệ, câu lạc bộ trải nghiệm, câu lạc bộ học thuật, câu lạc bộ cờ vua
Tóm lại, các mô hình học tập trải nghiệm trên đóng vai trò là sợi dây liên kết người học với người dạy, người học với nhà trường vừa là cầu nối giúp học sinh phát triển năng lực, hoàn thiện kĩ năng sống cần thiết để có hành trang vững chắc bước vào đời
1.1.1.5 Đặc trưng của hoạt động trải nghiệm
a Hoạt động trải nghiệm mang tính tích hợp và phân hóa cao
Nội dung hoạt động trải nghiệm rất phong phú và đa dạng Các chủ đề tổ chức cho học sinh có tính giáo dục và tính thời sự cao như: Giáo dục thể chất, giáo dục giới tính, giáo dục lao động, bảo vệ môi trường, phòng tránh tai nạn… Nội dung của
Trang 17hoạt động trải nghiệm bao gồm tổng hợp các kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học
và nhiều lĩnh vực học tập Ngoài ra, các nhà giáo dục còn thiết kế, lựa chọn những hoạt động chuyên biệt để đào tạo, giáo dục phù hợp với năng lực, hứng thú của các đối tượng học sinh khác nhau
b Hoạt động trải nghiệm được thực hiện bằng nhiều phương pháp và hình thức đa dạng
Hội thi, trò chơi, sân khấu hóa… thường là những hình thức được sử dụng để
tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học Đây đều là những hình thức tiến bộ đem lại hiệu quả cao khi thực hiện Mỗi hình thức đều có khả năng giáo dục, phân hóa học sinh Tùy theo mục đích và điều kiện thực tế mà giáo viên lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm cho phù hợp
c Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh lĩnh hội được những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được
Học sinh tiểu học thường lĩnh hội những tri thức thông qua việc nghe giáo viên truyền đạt, học thuộc, nghiên cứu sách, báo tham khảo Nguồn tri thức đó là sự tổng hợp, đúc kết kinh nghiệm của loài người trải qua hàng ngàn năm.Tuy nhiên có những kinh nghiệm chỉ có thể lĩnh hội được thông qua trải nghiệm thực tiễn Ví dụ việc học sinh cảm nhận sự vui sướng khi thực hiện thành công một thí nghiệm, phân biệt mùi vị, phác họa chân dung gia đình theo góc nhìn của bản thân… Học sinh sẽ không bao giờ có kinh nghiệm nếu không được trực tiếp hoạt động
d Hoạt động trải nghiệm là hình thức học tập tiến bộ, tích cực, hiệu quả, sáng tạo Hình thức dạy học truyền thống chưa mang lại hiệu quả cao đòi hỏi các nhà giáo dục phải tìm ra các hình thức dạy học mới phù hợp hơn Dạy học thông qua trải nghiệm chính là một trong những hình thức dạy học tiến bộ và hiệu quả Nếu thực hiện hiệu quả thì sẽ giúp giải quyết nhiệm vụ truyền đạt tri thức, nâng cao năng lực cho học sinh, đồng thời giúp học sinh có hứng thú học bài, giảm áp lực trong nhiệm vụ học tập của mình
e Hoạt động trải nghiệm đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
Trang 18Không giống như hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm cần nhận được sự quan tâm, tham gia, phối hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường như: Giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách đội, phụ huynh học sinh… Tùy mức độ và phạm vi của hoạt động trải nghiệm mà huy động sự tham gia của các lực lượng giáo dục cho phù hợp Mục đích cuối cùng vẫn là tạo điều kiện cho học sinh được học tập, giao tiếp rộng rãi với các lực lượng giáo dục khác nhau để học tập được nhiều hơn, sâu sắc hơn
1.1.1.6 Mô hình học thông qua trải nghiệm Kolb
Năm 1970, Tiến sĩ David Kolb đã công bố chu trình “học thông qua kinh nghiệm”, nhằm khái quát hóa chu kỳ học tập của người lớn Mô hình gồm có 4 phương pháp học tập chính: làm cụ thể, quan sát và tự rút kinh nghiệm, học lý thuyết (khái quát hóa) và thử nghiệm Chu trình này không yêu cầu người học phải bắt đầu từ một điểm cụ thể nào và có thể linh hoạt điều chỉnh, miễn là nó phù hợp với đặc điểm của học sinh tiểu học
Sau đây là chu trình học thông qua trải nghiệm của tiến sĩ David Kolb:
Kinh nghiệm rời rạc,
cụ thể (Concrete Experience)
Chu trình học thông qua trải nghiệm của tiến sĩ David Kolb
Trang 191.1.2 Lí thuyết về thuyết Đa trí thông minh
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Trí thông minh hay trí năng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bao gồm khả năng logic, trừu tượng, sự hiểu biết, tự nhận thức, học tập, có trí tuệ xúc cảm, trí nhớ, kế hoạch, và giải quyết vấn đề Trí thông minh được nghiên cứu rộng rãi ở loài người, nhưng cũng được quan sát ở động vật và thực vật Trí tuệ nhân tạo là sự mô phỏng trí thông minh ở máy móc
Trong cuốn sách Học thuyết trí tuệ tổng quát (General Intelligence), nhà Tâm
lý học người Anh Charles Spearman cho rằng trí thông minh là một khả năng tổng quát về mặt nhận thức có thể đo lường và thể hiện bằng điểm số
Tiến sĩ Howard Gardner - tác giả của cuốn sách Frames of Mind cho rằng trí thông minh (intelligence) là “khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa”
1.1.2.2 Nội dung của thuyết Đa trí thông minh
Tiến sĩ Howard Gardner đã chỉ ra rằng mọi người trên thế giới đều thông minh Ông đã nghiên cứu và gọi tên 7 loại trí thông minh cơ bản sau:
- Trí thông minh về toán học/logic: những người có trí thông minh này thường
có thiên hướng lập luận logic, thích toán học, thích lập luận…
- Trí thông minh về ngôn ngữ/ lời nói: những người có trí thông minh này thích học tập thông qua việc nói,viết, thích đọc, chơi trò chơi ô chữ…
- Trí thông minh về thị giác/không gian: những người có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua hình ảnh, đồ vật trực quan, có khả năng sử dụng tốt bản đồ và định hướng tốt trong không gian…
- Trí thông minh về vận động: những người có trí thông minh này có khả năng học tập thông qua cách vận động và sử dụng động tác, cảm thấy thích thú khi vận động cơ thể, chơi thể thao, linh hoạt trong việc phối hợp các bộ phận trên cơ thể…
Trang 20- Trí thông minh về âm nhạc/giai điệu: những người có trí thông minh này có khả năng cảm thụ cực tốt những giai điệu, âm nhạc, thích chơi nhạc cụ, hát, đọc truyền cảm các tác phẩm…
- Trí thông minh hướng ngoại: những người sở hữu trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua sử dụng các kỹ năng xã hội, giao tiếp, hợp tác làm việc với người khác, thích gặp gỡ và trò chuyện, có khả năng thông hiểu người khác, nhanh nhẹn, linh hoạt trong hợp tác…
- Trí thông minh hướng nội: những người có trí thông minh này có tình cảm, cảm giác, điều khiển và làm chủ tốt việc học của mình, hiểu rõ các suy nghĩ của bản thân, từ đó có thể hiểu được cảm xúc, tình cảm của người khác, thường là những người sống nội tâm
Sau khi nghiên cứu và khảo sát trên quy mô rộng lớn hơn về các loại hình trí thông minh, Howard Gardner cùng đồng nghiệp của mình đã bổ sung thêm 2 loại hình trí thông minh, đó là:
- Trí thông minh hướng về thiên nhiên: Những người có khả năng học tập thông qua hệ thống sắp xếp, phân loại, quan sát tinh tế, yêu thích thiên nhiên, các hoạt động ngoài trời…
- Trí thông minh về sự tồn tại: người có khả năng học tập thông qua việc nhìn nhận bức tranh tổng thể, luôn đặt ra những câu hỏi để tự tìm lời giải đáp như “Tại sao chúng ta tồn tại ở đây?”, “Vai trò của tôi trong thế giới này là gì?”, “Vai trò của tôi trong gia đình, nhà trường và cộng đồng là gì?” Loại trí tuệ này tìm kiếm sự kết nối giữa những kiến thức mới học với các ứng dụng, các kiến thức trong thực tế Nghiên cứu của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh trên những sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người Thực tế, trong trường học thông thường chỉ đánh giá một học sinh thông qua hai loại trí thông minh là trí thông minh về ngôn ngữ và trí thông minh về logic/toán học, điều này là không chính xác Trường học đã dạy các em theo thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp… làm cho mọi học sinh đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và phán xét Nhiều học
Trang 21sinh đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của bản thân mình
Thuyết Đa trí thông minh đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi học sinh: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi học sinh đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội Nếu làm được điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi học sinh tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng
1.1.2.3 Vai trò của thuyết Đa trí thông minh trong dạy học trải nghiệm cho học sinh tiểu học
Nghiên cứu của tiến sĩ Howard Gardner về trí thông minh của loài người đã tạo một bước ngoặt vô cùng lớn trong việc nhận thức về khả năng của một con người Học thuyết này đã làm thay đổi suy nghĩ của con người về trí thông minh, đặc biệt là đối với học sinh tiểu học Nó đặt nền móng vô cùng vững chắc cho các nhà quản lý, giáo viên trong việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm phù hợp với học sinh lứa tuổi tiểu học
Thuyết Đa trí thông minh giúp giáo viên suy ngẫm, chọn lựa và tìm ra phương pháp dạy học hay nhất và phù hợp nhất với bản thân họ Đồng thời giúp giáo viên
áp dụng linh hoạt hơn các phương pháp giáo dục và kĩ năng sử dụng các tài liệu, các thiết bị dạy học đa dạng, phong phú hơn Trong lớp học Đa trí thông minh, giáo viên phải linh hoạt thay đổi phương pháp và khéo léo chuyển từ lối dạy ngôn ngữ sang lối dạy không gian rồi sang lối dạy âm nhạc hay vận động, giao tiếp…
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tích cực triển khai tổ chức dạy học bằng áp dụng linh hoạt, tổng hợp các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực như: bàn tay nặn bột, khăn trải bàn, bể cá, bản đồ tư duy… sẽ tạo ra môi trường học tập đa trí tuệ rất hiệu quả
Thuyết Đa trí thông minh đem đến cái nhìn khách quan và cần thiết nhằm kêu gọi các nhà quản lý giáo dục và giáo viên trong nhà trường coi trọng sự đa dạng về
Trang 22trí tuệ của trẻ Đứa trẻ nào cũng thông minh nhưng sự thông minh đó không đồng nhất mà theo các thiên hướng khác nhau Do vậy nhà trường và giáo viên cần hiểu
rõ những thế mạnh của từng đứa trẻ để có các biện pháp thiết kế và tổ chức các hoạt động trải nghiệm nhằm khơi gợi tiềm năng, giúp đỡ tạo điều kiện để các em học sinh tiểu học ngày càng thành công trong cuộc sống
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Hoạt động này yêu cầu học sinh sử dụng các kiến thức tổng hợp cùng các kĩ năng khác nhau để giải quyết vấn đề theo những cách sáng tạo, thông minh Thuyết Đa trí thông minh là nền tảng cơ sở lí luận tuyệt vời để giáo viên xây dựng các hoạt động trải nghiệm theo hướng phát huy thế mạnh của từng học sinh Học sinh sẽ có môi trường phù hợp để tận dụng những thế mạnh về loại hình trí thông minh mà mình có, đồng thời rèn luyện các loại hình trí thông minh khác đạt tới một trình độ mới
1.1.2.4 Ưu thế của thuyết Đa trí thông minh trong việc thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học
Thuyết Đa trí thông minh cho thấy con người có thể tiếp nhận tri thức xung quanh theo những cách khác nhau Do vậy khi tổ chức hoạt động trải nghiệm, giáo viên có thể dựa vào những loại hình “trí thông minh” của học sinh trong lớp để tạo nên những hoạt động trải nghiệm thú vị, kích thích trí tò mò, khả năng xử lí tình huống sáng tạo của các em
Bản chất của Thuyết Đa trí thông minh là nhìn nhận trẻ theo hướng tích cực Nghĩa là đứa trẻ nào cũng thông minh Do vậy, giáo viên sẽ không bị gò bó, cứng nhắc, khuôn khổ khi thiết kế hoạt động Các phương pháp và hình thức tổ chức theo
lí thuyết Đa trí thông minh cũng hết sức phong phú, góp phần rất lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường tiểu học
1.1.2.5 Đánh giá học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh
Đánh giá học sinh tiểu học theo lí thuyết Đa trí thông minh đem đến cho học sinh những điều tích cực nhất Học sinh đều được công nhận là những đứa trẻ thông minh, tài giỏi Giáo viên có thể quan sát, phân tích được thế mạnh của từng đứa trẻ
Trang 23để xác định được loại hình trí thông minh vượt trội ở chúng, từ đó có những cách thức tác động phù hợp Thông qua những ý kiến đánh giá, nhận xét của giáo viên
mà học sinh nhận ra được khả năng và hạn chế của bản thân để điều chỉnh việc học tập và rèn luyện theo hướng có lợi nhất Và còn điều gì hạnh phúc hơn với những đứa trẻ khi mà gia đình, nhà trường, xã hội đều động viên khích lệ và nhìn nhận chúng đều là những học sinh thông minh tài giỏi Đó chính là động lực để các em tự
tin vào khả năng của bản thân và phát triển một cách vượt bậc
1.1.3 Đặc điểm của học sinh tiểu học
1.1.3.1 Đặc điểm tư duy
Theo Tâm lí học, tư duy của học sinh tiểu học mang tính đột biến Chuyển dần
từ tư duy trực quan cụ thể (lớp 1,2,3) sang tư duy trừu tượng (lớp 4,5) Sự thay đổi này là do trẻ tiếp xúc với thế giới xung quanh Trong giai đoạn đầu cấp Tiểu học, tư duy chủ yếu diễn ra khi trẻ tiếp xúc với các đồ vật, tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật Về bản chất, trẻ chưa có các thao tác tư duy với tư cách là các thao tác trí óc bên trong
Trong giai đoạn từ lớp 3 đến lớp 5, trẻ đã chuyển các hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong, mặc dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động với đối tượng thực, chưa thoát ly hoàn toàn khỏi chúng Đó là các thao tác tư duy cụ thể Biểu hiện rõ nhất của bước phát triển này trong tư duy là các em đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng duy trì sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng
Như vậy, hoạt động trải nghiệm sáng tạo tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc nhiều với thế giới xung quanh, buộc trẻ phải tư duy trong những tình huống cụ thể, bất ngờ Từ đó thúc đẩy tư duy trẻ ngày càng phát triển và hoàn thiện
1.1.3.2 Đặc điểm tâm lí - xã hội
Đặc điểm tâm lí, nhận thức: Tâm lí của các em chưa có tính ổn định Các em rất giàu tình cảm, ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng Các em rất dễ xúc động và thay đổi tâm trạng Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo vệ, giúp đỡ của người lớn,
Trang 24của giáo viên, của gia đình, nhà trường và toàn xã hội Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Khi các em tham gia vào các hoạt động trải nghiệm sẽ giúp các em bộc lộ tính cách, tình cảm, cảm xúc của mình với những người xung quanh hay với chính tình huống đặt ra Từ đó giáo viên nắm bắt được thái độ và tính cách của trẻ để có phương pháp uốn nắn cho phù hợp
Hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học là hoạt động học tập Các em thường xuyên chú ý và quan sát những thay đổi của sự vật, hiện tượng trong xã hội Hoạt động tri giác đó chính là các em đang tự mình trải nghiệm, tự đặt ra câu hỏi và giải quyết chúng Nhờ đó mà các kĩ năng và năng lực của học sinh được rèn luyện có hiệu quả
Đặc điểm giao tiếp xã hội: Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu của loài
người nói chung Đối với học sinh tiểu học, giao tiếp là con đường giúp các em trưởng thành và phát triển Các em giao tiếp với mọi người để trao đổi ý kiến, bày
tỏ quan điểm tình cảm, nêu yêu cầu đề nghị chính đáng của bản thân Giao tiếp là cầu nối để học sinh làm quen với những người bạn mới, thầy cô giáo mới, làm việc
hợp tác để giải quyết các nhiệm vụ học tập, giao tiếp trong các tổ chức, đoàn thể
Muốn giao tiếp được thì cần có ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp, do đó nó đóng vai trò không thể thay thế Đa số học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu tiếp xúc ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì đã thành thạo ngôn ngữ viết và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ
âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có thể tự đọc, tự học, tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua các nguồn thông tin khác nhau
Khi học môn Tự nhiên và Xã hội, ngôn ngữ lại càng đóng vai trò vô quan trọng trong quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ được phát triển dễ dàng
Hoạt động trải nghiệm sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện ngôn ngữ Khi trẻ làm việc trẻ phải giao tiếp, tương tác bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ hình thể với bạn bè, với mọi người xung quanh Hơn nữa, thông qua khả năng ngôn ngữ
Trang 25của trẻ, ta có thể đánh giá được mức độ tiếp thu kiến thức của trẻ trong các hoạt động thảo luận nhóm, bày tỏ ý kiến cá nhân, đánh giá, nhận xét…
Khả năng thích ứng xã hội: Khi chuyển từ mầm non sang cấp Tiểu học, học sinh phải làm quen một môi trường mới Ở đó có những người bạn mới, thầy cô giáo mới và các quy tắc học tập mới Điều này yêu cầu học sinh phải làm quen và bắt kịp với nhịp độ học tập ở trường Trải nghiệm là cách duy nhất để giúp các em
tự tin, năng động, hòa nhập với môi trường mới tốt hơn
1.1.3.3 Đặc điểm sinh học
Học sinh tiểu học có sự phát triển nhanh chóng về thể hình, thể lực, sức khỏe tăng lên rõ rệt so với lứa tuổi mầm non Các hệ cơ quan trong cơ thể (hệ cơ, hệ xương, hệ hô hấp…) phát triển mạnh kéo theo nhu cầu về hoạt động thể chất Do đó học sinh tiểu học thích tham gia hoạt động trải nghiệm (lao động, vui chơi, xã hội…), sẵn sàng khám phá thế giới xung quanh để tìm ra những tri thức mới Hệ thần kinh cấp cao có bước phát triển vượt trội, học sinh biết suy nghĩ, liên kết logic, đầy đủ chặt chẽ hơn Nhờ đó mà học sinh có khả năng phản ánh những trải nghiệm của bản thân với người khác trở nên sinh động và đầy đủ hơn
1.2 Cơ ở thực tiễn
1.2.1 Mục đích điều tra
Điều tra thực trạng thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm theo lí thuyết
Đa trí thông minh cho học sinh tiểu học tại một số trường Tiểu học
1.2.2 Nội dung điều tra
- Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học ở trường Tiểu học
- Tìm hiểu mức độ nhận thức của giáo viên về việc thiết kế hoạt động trải nghiệm theo lí thuyết Đa trí thông minh cho học sinh tiểu học
1.2.3 Đối tượng điều tra
- Đối tượng: Giáo viên dạy tại trường Tiểu học:
+ Trường Tiểu học Lê Ngọc Hân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
+ Trường Tiểu học Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 26- Số lượng: 32 giáo viên
Số lượng cụ thể ở từng trường như sau:
Bảng 1.1 S lƣợ á v đ ều tra ở á trƣ ng Tiểu học
Trƣ ng Tiểu học Khai Quang Tiểu học Lê Ngọc Hân
1.2.5 Kết quả điều tra
1.2.5.1 Thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học học sinh ở trường tiểu học
a Vai trò của hoạt động trải nghiệm
Ý kiến của 32 giáo viên được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 1.2 Nhận thức của giáo viên về vai trò của ho t động trải nghiệm đ i v i
Trang 27Biề đồ 1 Thể hiện mứ độ nhận thức của giáo viên về vai trò của ho t động
trải nghiệ đ i v i học sinh tiểu học
Kết quả của bảng 1.2 và biểu đồ 1 cho thấy những giáo viên được hỏi đều đánh giá tích cực về vai trò của hoạt động trải nghiệm đối với học sinh tiểu học Trong đó, gần 85% giáo viên được hỏi cho rằng hoạt động trải nghiệm là quan trọng và rất quan trọng, không có giáo viên nào cho rằng hoạt động trải nghiệm là không quan trọng Điều đó chứng tỏ rằng giáo viên đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm đối với học sinh tiểu học
b Nhận thức của giáo viên về các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học
Trang 28Bảng 1.3 Nhận thức của giáo viên về các hình thức tổ chức ho t động trải
nghiệm cho học sinh tiểu học
3 Tổ chức cuộc thi/ hội thi 25 78,13
Biể đồ 2 Thể hiện mứ độ nhận thức của giáo viên về các hình thức tổ chức
ho t động trải nghiệm trong d y học cho học sinh tiểu học
Kết quả bảng 1.3 và biểu đồ 2 cho thấy phần lớn giáo viên được hỏi đều chủ yếu biết đến các hình thức tổ chức hoạt động quen thuộc như: Tổ chức trò chơi (53,13%),
Tổ chức cuộc thi/ hội thi Diễn đàn
Giao lưu Sân khấu hóa
Tổ chức sự kiện
Trang 29một số ít giáo viên biết đến một số hình thức khác phù hợp để tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh như: Sân khấu hóa, diễn đàn, tổ chức sự kiện, giao lưu… Cũng có thể do nếu có tổ chức hoạt động thì họ chỉ thường dùng trò chơi, cuộc thi, hội thi… để áp dụng trực tiếp vào bài dạy mà chưa từng tìm hiểu hay vận dụng các hình thức khác để tổ chức Điều này cho thấy rằng cần phải cung cấp cho giáo viên những tài liệu, thông tin
về các hình thức mới này để họ kịp thời nắm bắt và lựa chọn, thay đổi linh hoạt hình thức
tổ chức cho phù hợp với nội dung bài học
c Nhận thức của giáo viên về mức độ tổ chức hoạt động trải nghiệm
Bảng 1.4 Nhận thức của giáo viên về mứ độ tổ chức ho t động trải nghiệm
Trang 30Biể đồ 3 Thể hiện nhận thức của giáo viên về mứ độ tổ chức ho t động trải
nghiệm cho học sinh tiểu học
Kết quả ở bảng 1.4 và biểu đồ 3 cho thấy trên 90% giáo viên được hỏi đều đã
tổ chức hoạt động trải nghiệm nhưng phần lớn chỉ ở mức độ thỉnh thoảng, có hơn 6% giáo viên chưa tổ chức hoạt động trải nghiệm Như vậy, thực trạng tại các trường Tiểu học, việc giáo viên lớp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh đã được quan tâm nhưng vẫn còn hạn chế Tuy nhiên ta có thể khẳng định rằng, hoạt động trải nghiệm đang dần nhận được sự chú ý, quan tâm của các nhà quản lý giáo dục, các giáo viên và các lực lượng giáo dục khác trong xã hội Đây được coi là điều đáng mừng và cần phải phát huy hơn nữa những ưu thế của hoạt động trải nghiệm để hình thành những năng lực, phát triển tố chất, phẩm chất cần thiết của
con người hiện đại cho học sinh tiểu học