1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân

79 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ====== NGUYỄN THỊ BÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NGUYỄN THỊ BÍCH

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

NHIỀU LỰA CHỌN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

CỦA HỌC SINH LỚP 5 VỀ NỘI DUNG SỐ THẬP PHÂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học:

Th.S Nguyễn Văn Đệ

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến

quý thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn

và trang bị cho tôi những kiến thức nền tảng quý báu trong suốt bốn năm học

vừa qua để tôi có thể thực hiện được khóa luận này

Đặc biệt, tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên,

ThS Nguyễn Văn Đệ, người đã trực tiếp giúp đỡ, động viên và luôn theo sát

chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã cố gắng nhưng do thời

gian và bản thân còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm nên tôi vẫn chưa đi sâu

khai thác hết được, vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế Vì vậy, tôi mong nhận

được sự tham gia đóng ý kiến của thầy, cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Bích

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu: “Thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan

nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân” được tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn

Văn Đệ Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Kết quả thu được trong đề tài hoàn toàn trung thực và không trùng với kết quả nghiên cứu của bất kỳ tác giả nào

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Giả thuyết khoa học 4

8 Cấu trúc đề tài khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH LỚP 5 VỀ NỘI DUNG SỐ THẬP PHÂN 6

1.1 Cơ sở lí luận của việc thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân 6

1.1.1 Một số vấn đề về kiểm tra, đánh giá 6

1.1.2 Vài nét về trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 14

Trang 5

1.1.3 Mục tiêu dạy học và kết quả học tập 19

1.1.4 Nội dung về chủ đề số thập phân 23

1.1.5 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 5 29

1.2 Thực trạng giáo viên sử dụng hệ thống bài tập TNKQ nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân 30

1.2.1 Thực trạng nhận thức về việc sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập 31

1.2.2 Thực trạng việc sử dụng hệ thống bài tập TNKQ nhiều lựa chọn trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân tại trường Tiểu học qua 33

Kết luận chương 1 35

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN VỀ NỘI DUNG SỐ THẬP PHÂN 36

2.1 Các nguyên tắc khi thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 36

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 36

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 36

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 36

2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh 37

2.2 Quy trình thiết kế hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn về chủ đề số thập phân cho học sinh lớp 5 37

2.2.1 Bước 1: Xác định mục tiêu, kiến thức trọng tâm cần kiểm tra trong từng nội dung bài học 37

2.2.2 Bước 2: Phân tích lỗi sai học sinh hay mắc phải 38

Trang 6

2.2.3 Bước 3: Thiết lập câu hỏi và các phương án lựa chọn để kiểm tra đánh

giá kết quả học tập của học sinh 38

2.2.4 Bước 4: Hoàn thiện và điều chỉnh hệ thống câu hỏi trắc nghiệm 39

2.3 Ví dụ minh họa quy trình thiết kế bài tập TNKQ về các dạng bài chủ đề số thập phân 39

2.3.1 Khái niệm số thập phân 39

2.3.2 So sánh, sắp thứ tự số thập phân 41

2.3.3 Viết so đo đại lượng dưới dạng số thập phân 43

2.3.4 Các phép tính trên số thập phân 44

2.4 Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn về nội dung số thập phân 46

2.4.1 Bài tập TNKQ nhiều lựa chọn về khái niệm số thập phân 46

2.4.2 Bài tập TNKQ nhiều lựa chọn về so sánh, sắp thứ tự các số thập phân 50

2.4.3 Bài tập TNKQ nhiều lựa chọn về viết số đo đại lượng dưới dạng số thập phân 53

2.4.4 Bài tập TNKQ nhiều lựa chọn về các phép tính về số thập phân 55

2.5 Đáp án của hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đƣợc thiết kế 58

2.5.1 Đáp án của bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn về khái niệm số thập phân 58

2.5.2 Đáp án của bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn về so sánh, sắp thứ tự các số thập phân 59

2.5.3 Đáp án của bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn về viết số đo đại lượng dưới dạng số thập phân 59

2.5.4 Đáp án của bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn về các phép tính về Số thập phân 59

Trang 7

2.6 Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa

chọn đã thiết kế 60

Kết luận chương 2 61

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 66

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Thang đo mức độ nhận thức Anderson (Thang Bloom tu chính) 21 Bảng 1.2: Thang đánh giá cấp độ tư duy 22 Bảng 1.3: Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt đối với học sinh khi học chủ đề số thập phân trong chương trình Toán 5 26 Bảng 1.4: Bảng thống kê đánh giá của giáo viên về sự cần thiết của việc sử dụng TNKQ nhiều lựa chọn trong đánh giá kết quả học tập 31 Bảng 1.5: Nhận thức về mục đích sử dụng TNKQ trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 32 Bảng 1.6: Bảng thống kê mức độ vận dụng bài tập TNKQ nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân 34

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Vị trí của kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục 8

Sơ đồ 1.2: Phân loại phương pháp trắc nghiệm 15

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục Tiểu học là bậc học quan trọng, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trong các môn học ở Tiểu học thì môn Toán cũng có vai trò vô cùng quan trọng vì nó cung cấp các kiến thức cơ bản, kĩ năng, kĩ xảo toán học nhằm phát triển tư duy logic, bồi dưỡng và phát triển những thao tác trí tuệ cần thiết Đặc biệt môn Toán lớp 5 hệ thống lại nội dung ở các lớp 1, 2, 3, 4 đồng thời nâng cao, mở rộng, bổ sung và hoàn thiện các kiến thức khác Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán lớp 5 có nhiều ứng dụng trong đời sống, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và học tiếp các môn học ở trung học cơ sở

Nội dung “Số thập phân” là nội dung dạy học rất quan trọng, chiếm

phần lớn trong dạy học môn Toán lớp 5, là nền tảng của quá trình học tập môn Toán và các môn học khác ở Tiểu học Mặt khác, số thập phân được sử dụng hàng ngày gắn liền với hoạt động thực tiễn, là cầu nối giữa toán học và thực tiễn Hiện nay, việc dạy và học về số thập phân là một nội dung tương đối khó đối với cả giáo viên và học sinh Một số giáo viên chưa nắm được đầy

đủ bản chất, khái niệm số thập phân, chưa hiểu một cách sâu sắc mối quan hệ giữa số thập phân và số tự nhiên, số thập phân và phân số Vì thế, đa số giáo viên chỉ dựa vào sách giáo viên hoặc sách giáo khoa để truyền đạt kiến thức cho học sinh mà chưa có nhiều sáng tạo, đổi mới trong giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Còn với học sinh đây là nội dung mang tính trừu tượng cao nên đa phần học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu việc chuyển đổi số thập phân sang phân số thập phân; cách viết các đơn vị

Trang 12

đo đại lượng dưới dạng thập phân; thực hiện toán phép cộng, trừ, nhân, chia

số thập phân,…

Hiện nay chúng ta đang sống trong thời đại có nền văn minh tiên tiến, thời đại mà cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và cách mạng xã hội phát triển không ngừng Do đó, giáo dục phải có những đổi mới căn bản về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, trang thiết bị dạy học và hình thức

KT – ĐG Trong xu thế đó, việc đổi mới về phương pháp kiểm tra đánh giá đang được coi là vấn đề cấp thiết, mang tính chất thời đại, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục cũng như giáo viên trực tiếp đứng lớp Hình thức, nội dung KT – ĐG có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình, nội dung và phương pháp giảng dạy Như vậy, vấn đề đặt ra là phải tổ chức KT – ĐG như thế nào để quá trình giáo dục đào tạo toàn diện và đạt kết quả cao nhất

Trong hệ thống các phương pháp KT – ĐG thì trắc nghiệm khách quan đặc biệt là trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn là một phương pháp hiệu quả, tránh học tủ, học vẹt ở người học và tránh sự chủ quan của người chấm bài Mặt khác, hình thức KT – ĐG này có nhiều ưu điểm vượt trội, đánh giá tương đối chính xác, khách quan và đáp ứng được những yêu cầu đổi mới trong KT – ĐG Đây là dạng trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải tích cực suy nghĩ để trả lời và kiểm tra được kiến thức của học sinh, giúp học sinh có thể

tự học, tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, gây hứng thú cho học sinh Không những thế, trong SGK toán và các sách tham khảo dạng bài tập

tự luận khá phong phú Nhiều giáo viên cũng có kĩ năng khá tốt để tự thiết kế dạng bài tập bổ sung tự luận Tuy nhiên dạng bài tập TNKQ nhiều lựa chọn lại xuất hiện rất ít, các dạng bài kiểm tra giáo viên đưa ra chủ yếu vẫn là các bài tự luận chưa có nhiều đổi mới trong hình thức học tập vì không phải giáo viên nào cũng có khả năng tự thiết kế hệ thống bài tập này kể cả với giáo viên

có nhiều kinh nghiệm Các bài tập TNKQ nhiều lựa chọn nhằm chuẩn đoán

Trang 13

và ngăn ngừa lỗi sai của học sinh giúp giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh và phát hiện nhanh nhất lỗi sai của học sinh Từ đó, giáo viên có phương pháp dạy học phù hợp, kịp thời điều chỉnh kiến thức cho học sinh nâng cao được chất lượng dạy và học

Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Thiết kế hệ thống bài

tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân.” để nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 khi học nội dung số thập phân

- Thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn khi

dạy học về nội dung số thập phân ở Tiểu học

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Việc thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

để đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân

4.2 Khách thể

Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học

Trang 14

5 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này chỉ nghiên cứu vấn đề thiết kế hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn cho nội dung số thập phân trong chương trình

Toán lớp 5

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu, bài báo về trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để thúc đẩy ưu điểm và nhược điểm cũng như nguyên tắc thiết

kế của dạng bài tập này để từ đó có những lựa chọn có nội dung phù hợp khi

đi vào thiết kế bài tập

- Nghiên cứu SGK, sách tham khảo Toán 5 và một số tài liệu giảng dạy khác

6.2 Phương pháp điều tra

Điều tra bằng phiếu điều tra kết hợp khảo sát hồ sơ lưu trữ, sách bài tập đối với học sinh lớp 5

6.3 Phương pháp phỏng vấn

- Phỏng vấn những giáo viên có kinh nghiệm để tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của thầy và trò khi dạy và học nội dung số thập phân và tìm hiểu những lỗi sai thường gặp của học sinh khi dạy chủ đề này

- Phỏng vấn giáo viên và học sinh để tìm hiểu mức độ hứng thú của giáo viên và học sinh khi học tập với loại bài tập trắc nghiệm khách quan

6.4 Phương pháp quan sát

Quan sát cả quá trình dạy học chủ đề số thập phân ở Tiểu học đặc biệt

là quá trình kiểm tra kiến thức học sinh trong quá trình kiểm tra viết

6.5 Phương pháp thống kê Toán học

Xử lí, thống kê và đánh giá hệ thống câu hỏi trắc nghiệm

7 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

để đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân phù hợp với đặc điểm của học sinh lớp 5 và phù hợp với từng học sinh mỗi vùng

Trang 15

miền thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy và học nội dung số thập phân trong môn Toán ở nhà trường Tiểu học hiện nay

8 Cấu trúc đề tài khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo khóa luận có 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế hệ thống

bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân

Chương 2: Thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa

chọn về nội dung số thập phân

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH LỚP 5

VỀ NỘI DUNG SỐ THẬP PHÂN 1.1 Cơ sở lí luận của việc thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 về nội dung số thập phân

1.1.1 Một số vấn đề về kiểm tra, đánh giá

1.1.1.1 Khái niệm về kiểm tra, đánh giá

 Kiểm tra

Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Như

Ý định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét” Theo tác giả Trần Bá Hoành: “Kiểm tra là việc thu thập những dữ liệu, những thông tin về một lĩnh vực nào đó làm cơ sở cho việc đánh giá.” Theo Nguyễn Trọng Phúc khái niệm kiểm tra thuộc về phạm trù phương pháp, nó giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình dạy học, nó cho biết những thông tin về kết quả vận hành dạy học

Còn trong Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học của TS Vũ Thị Phương

Anh và ThS Hoàng Thị Tuyết thì: “Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng

và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá.”

Tóm lại, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra là thu thập số liệu, chứng cứ, thông tin xem xét lại những công việc thực tế để đánh giá và nhận xét Trong quá trình dạy học thì kiểm tra là khâu cuối cùng trong phân phối chương trình cho các đơn vị bài học, đóng vai trò quan trọng

Trang 17

trong việc thu thập thông tin, tập hợp những đánh giá thực trạng và kết quả học tập của học sinh

 Đánh giá

Đánh giá trong giáo dục có rất nhiều định nghĩa khác nhau tuy nhiên trên phương diện nào thì nó vẫn phải phụ thuộc vào cấp độ đánh giá, đối tượng và mục đích cần đánh giá

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Văn Tân thì đánh giá

lại là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật

Trong giáo dục, đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng

và hiệu quả công việc Theo Dương Thiệu Tống, đánh giá lại được định nghĩa: “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục” Căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ

sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp chúng

ta cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh Đánh giá theo tác giả J.M Deketele còn được hiểu là: “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra các quyết định theo một mục đích nào đó”

Còn theo tác giả Nguyễn Trọng Phúc thì đánh giá lại là “quá trình xác định mức độ đạt tới mục tiêu của mục đích dạy học, là mô tả định tính và định lượng những khía cạnh về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh đối chiếu với những chỉ tiêu của mục đích dự kiến, mong muốn của môn học” Trong

bài viết về Lý thuyết đánh giá của Phạm Xuân Thanh thì: “Đánh giá là một

thuật ngữ chung để chỉ việc thu thập thông tin một cách có hệ thống và xử lý,

Trang 18

phân tích dữ liệu làm cơ sở để đưa ra các quyết định nhằm nâng cao chất lượng giáo dục”

Tóm lại, đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ của học sinh Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, xem xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định

Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu

có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá

và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là KT – ĐG

1.1.1.2 Vị trí, vai trò của kiểm tra đánh giá trong giáo dục

a) Vị trí của kiểm tra đánh giá trong giáo dục

Kiểm tra – đánh giá có vị trí vô cùng quan trọng và là khâu cuối cùng không thể thiếu trong quy trình đào tạo, dẫn đến những đổi mới về phương pháp và chất lượng trong đào tạo Ta thấy rõ vị trí của kiểm tra đánh giá qua

Kiểm tra Đánh giá

Trang 19

Hoạt động này không chỉ nhằm ghi nhận kết quả đạt được của học sinh

mà còn hướng vào việc đề xuất những phương hướng đổi mới, cải thiện thực trạng, điều chỉnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Kiểm tra, đánh giá có ảnh hưởng hai mặt trong giáo dục: Nó có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong quá trình đào tạo hoặc có thể mang lại những cản trở cho sự phát triển của giáo dục Nếu kiểm tra, đánh giá đi chệch hướng mục tiêu đào tạo không phù hợp với mục đích của kiểm tra, đánh giá thì sẽ đưa đến những tác động tiêu cực, cản trở quá trình cải tiến và phát triển chương trình, tài liệu giảng dạy, phương pháp dạy học

b) Vai trò của kiểm tra đánh giá trong giáo dục

 Đối với học sinh

- Việc đánh giá sẽ kích thích hoạt động học tập, cung cấp cho học sinh những thông tin phản hồi về phía quá trình học tập của bản thân từ đó học

sinh tự điều chỉnh quá trình học tập

- Hình thành ở học sinh nhu cầu thói quen tự kiểm tra, đánh giá, giáo dục động cơ, thái độ đúng đắn

- Đánh giá cung cấp những thông tin ngược để điều chỉnh hoạt động

học của mình

- Khuyến khích học sinh có ý thức rèn luyện, bồi dưỡng tinh thần trách

nhiệm và hình thành thói quen tốt trong học tập

 Đối với giáo viên

- Đánh giá cũng là cơ sở để giáo viên điều chỉnh và hoàn thiện hoạt động học của học sinh từ đó rút tra những sai lầm điển hình của học sinh và nguyên nhân của những sai lầm đó và hướng dẫn học sinh tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học của mình

- Cung cấp những thông tin cần thiết về kết quả học tập của từng học sinh với các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ

Trang 20

- Đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông tin để đánh giá hiệu quả quá trình giảng dạy của chính mình Giáo viên có thể rút ra được những ưu điểm và nhược điểm của bản thân mình trong phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá đang thực hiện Từ đó giúp giáo viên kịp

thời điều chỉnh kịp thời nội dung và phương pháp giáo dục

 Đối với các nhà quản lí giáo dục

Kiểm tra, đánh giá cung cấp cho các nhà quản lí giáo dục các thông tin

cơ bản về thực trạng giảng dạy và học của giáo viên và học sinh, giúp họ giám sát quá trình giáo dục, phát hiện các vấn đề và có các quyết định kịp thời điều chỉnh nội dung, cách thức và điều kiện đạt mục tiêu Kiểm tra, đánh giá luôn được xem là phương thức quan trọng để giám sát, quản lý con người trong một lớp học, trong tổ chức vận hành nhà trường

 Đối với các bậc phụ huynh

Kết quả của việc kiểm tra đánh giá của học sinh giúp các bậc phụ huynh có sự nhìn nhận khách quan về năng lực học tập của con mình Từ đó

họ có những sự điều chỉnh và phối hợp với giáo viên và nhà trường trong việc quản lí con em mình một cách tốt nhất

1.1.1.3 Các nguyên tắc về việc đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học

Trong văn bản “Quy định đánh giá và xếp loại học sinh Tiểu học” tác giả

đã đưa ra các nguyên tắc về việc đánh giá kết quả học tập của học sinh mà nhiều tài liệu về lí luận đã đưa ra như sau:

 Kiểm tra đánh giá phải đảm bảo tính khách quan

- Để đảm bảo tính khách quan thì kiểm tra đánh giá cần kết hợp nhiều phương pháp và kĩ thuật đánh giá khác nhau như: đánh giá định tính, đánh giá

định lượng, kĩ thuật đánh giá truyền thống và hiện đại

- Đảm bảo môi trường, cơ sở vật chất của nhà trường không ảnh hưởng tới việc thực hiện kiểm tra đánh giá của học sinh

Trang 21

 Kiểm tra đánh giá phải đảm bảo tính công bằng

- Giúp học sinh có thể tự vận dụng một cách tích cực, phát triển các kiến thức và kĩ năng đã học

- Hình thức kiểm tra phải quen thuộc với học sinh

- Ngôn ngữ sử dụng trong bài kiểm tra cần đơn giản, rõ ràng, phù hợp với trình độ của học sinh và không mang hàm ý đánh đố học sinh

 Kiểm tra đánh giá phải đảm bảo tính toàn diện

- Nội dung kiểm tra đánh giá cần bao quát được toàn bộ nội dung trọng tâm còn mục tiêu đánh giá cần bao quát hơn về kiến thức, kĩ năng, thái độ

- Công cụ kiểm tra không chỉ đo lường khả năng ghi nhớ mà còn đánh giá khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp của học sinh

- Ngoài ra công cụ kiểm tra không chỉ đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh mà còn đánh giá phẩm chất và thái độ của học sinh đối với môn học

 Kiểm tra đánh giá đảm bảo tính hệ thống

- Việc xác định và làm rõ các mục tiêu và tiêu chí đánh giá phải được đặt ở mức cao hơn công cụ đánh giá

- Chuẩn đánh giá phải phù hợp với mục tiêu và chương trình dạy học trong từng giai đoạn và điều kiện dạy học cụ thể với mọi đối tượng học sinh

- Kĩ thuật đánh giá cũng phải được lựa chọn dựa trên mục đích đánh giá

- Mục tiêu, phương pháp đánh giá và mục tiêu, phương pháp giảng dạy của giáo viên phải tương thích với nhau

- Độ khó của bài tập và hoạt động giảng dạy của giáo viên phải thay đổi thường xuyên để phù hợp với sự phát triển của học sinh theo từng lớp

- Việc thu thập tư liệu, thông tin đến việc đưa ra các kết luận về việc học của học sinh phải thật tường minh và rõ ràng

 Kiểm tra đánh giá đảm bảo tính công khai

Trang 22

Học sinh cần được biết các tiêu chí, yêu cầu đánh giá và cách tiến hành của các nhiệm vụ của bài kiểm tra mà học sinh sẽ được thực hiện để đạt được kết quả tốt nhất

 Kiểm tra đánh giá đảm bảo tính giáo dục

Việc đánh giá phải góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh

Qua kết quả đánh giá học sinh nhận thấy được sự tiến bộ của bản thân và cần

phải cố gắng hơn trong môn học

 Kiểm tra đánh giá đảm bảo tính phát triển

- Công cụ đánh giá tạo điều kiện cho học sinh khai thác vận dụng tất cả các kiến thức và kĩ năng của bài kiểm tra vào trong môn học Nó còn kích thích học sinh phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo đặc biệt chú trọng đến thực hành để rèn luyện và phát triển kĩ năng

- Ngoài ra đánh giá còn hướng đến sự phấn đấu, tiến bộ, góp phần phát triển động cơ học tập đúng đắn của người học

Kiểm tra vấn đáp được sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học cũng như trong khi thi cuối học kì hoặc cuối năm, học sinh cần trình bày bằng ngôn ngữ nói

 Ưu điểm:

+ Thu được tín hiệu ngược nhanh chóng ở mọi đối tượng học sinh, thúc đẩy học sinh học tập thường xuyên có hệ thống, kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình và của học sinh

Trang 23

+ Kích thích học sinh tích cực, độc lập tư duy, tìm ra câu trả lời chính xác, đầy đủ và ngắn gọn nhất đồng thời bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học

+ Giáo viên có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với học sinh, nhờ đó đánh giá được thái độ của người học Ngoài ra giúp giáo viên phát hiện ra được những năng lực đặc biệt của học sinh và những khó khăn mà học sinh đang gặp phải

 Nhược điểm:

+ Nếu không vận dụng khôn khéo sẽ mất rất nhiều thời gian

+ Số lượng câu hỏi ít nên khó bao quát được hết chương trình môn học + Việc đánh giá bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan, học sinh sẽ được hỏi các câu hỏi khác nhau với thời lượng, điều kiện khách nhau do đó ảnh hưởng đến tính khách quan

b) Phương pháp kiểm tra viết

Bài kiểm tra viết yêu cầu học sinh xây dựng câu trả lời hoặc do giáo viên tự giao cho học sinh dưới hình thức viết Hình thức kiểm tra này được sử dụng sau khi học xong một phần của chương, một hay nhiều chương, hoặc sau khi học xong toàn bộ chương trình SGK và đây cũng là phương pháp được dùng phổ biến nhất Xét về dạng thức bài kiểm tra thì có hai loại kiểm tra viết là kiểm tra viết dạng tự luận và kiểm tra viết dạng trắc nghiệm

 Ưu điểm:

+ Cùng một lúc có thể kiểm tra cả lớp trong một thời gian nhất định + Cho phép học sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời

+ Đánh giá được ở mức độ tư duy cao hơn

+ Cung cấp bản ghi rõ ràng câu trả lời của học sinh để dùng khi chấm + Dễ quản lý hơn vì bản thân người chấm điểm không tham gia vào bối cảnh kiểm tra

+ Giúp học sinh phát triển năng lức diễn đạt bằng ngôn ngữ viết

Trang 24

 Nhược điểm: Tốn nhiều thời gian để biên soạn ra đề kiểm tra và học sinh

dễ trao đổi bài

c) Phương pháp kiểm tra thực hành

 Khái niệm:

Phương pháp kiểm tra thực hành là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành các hoạt động thực tiễn, qua đó thu được những thông tin

về kỹ năng thực hành của học sinh

Phương pháp này yêu cầu học sinh thể hiện những gì mà học có thể làm được chứ không chỉ đơn thuần yêu cầu học sinh nói về những cái đã biết hay

1.1.2 Vài nét về trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

1.1.2.1 Khái niệm trắc nghiệm

Có rất nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Trắc nghiệm (test) theo tiếng Anh có nghĩa là “thử”, “phép thử”, “sát hạch”, theo tiếng Hán “trắc” có nghĩa là đo lường, “nghiệm” là suy xét, chứng thực Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó

Theo Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến” Nhưng tác giả Trần Bá Hoành lại

Trang 25

cho rằng: “Trắc nghiệm là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của học sinh (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, )”

Theo Gronlund: “Trắc nghiệm là một công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà một cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể.” Còn theo A Petropxi thì trắc nghiệm là bài tập làm trong thời gian ngắn

mà việc thực hiện bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lượng, chất lượng có thể coi là dấu hiệu của sự hoàn thiện một số chức năng tâm lý

Như vậy đa số các nhà tâm lý học hiện nay đều có xu hướng xem trắc nghiệm là một phương pháp dạy học dùng cho những bài tập ngắn để kiểm tra, đánh giá khả năng hoạt động nhận thức, năng lực trí tuệ và kĩ năng của học sinh

Theo tác giả Phó Đức Hòa và một số nhà nghiên cứu khoa học khác thì câu trắc nghiệm được phân làm hai loại: Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan Về cách thức thực hiện, ta có thể phân chia phương pháp trắc nghiệm thành ba loại lớn: loại quan sát, loại viết và loại vấn đáp theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Phân loại phương pháp trắc nghiệm

Đúng sai

Nhiều lựa chọn

Tiểu luận

Cung cấp thông tin

Trang 26

1.1.2.2 Khái niệm về trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan cũng có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau Một số ý kiến cho rằng trắc nghiệm khách quan là bài kiểm tra trong đó nhà sư phạm đưa ra các mệnh đề và có các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp án phù hợp Cũng có người lại cho rằng trắc nghiệm khách quan gồm nhiều mệnh đề, câu hỏi hay mô hình và được trả lời bằng các dấu hiệu đơn giản, hay một từ, cụm từ, đôi khi là các con số Trắc nghiệm mang tính quy ước vì bài trắc nghiệm được chấm bằng điểm số lần học sinh trả lời đúng

Từ đó ta có thể hiểu trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan Hay là phương pháp người ta dùng những bài tập ngắn thường kèm theo câu trả lời để thực hiện những mục đích kiểm tra học sinh về kiến thức, kĩ năng, thái độ,…Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm

Trong trắc nghiệm khách quan gồm 4 loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan:

 Trắc nghiệm Đúng – Sai

 Trắc nghiệm nhiều lựa chọn

 Trắc nghiệm điền khuyết ( câu trả lời ngắn)

 Trắc nghiệm ghép đôi

Trong khóa luận này chúng tôi chỉ dừng lại ở nghiên cứu về trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

1.1.2.3 Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

a) Khái niệm trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Đây là loại trắc nghiệm được sử dụng nhiều nhất Loại câu hỏi này thường gồm hai phần:

Trang 27

- Phần đầu hay còn gọi là phần dẫn thường là một câu hỏi, một phát biểu nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi

- Phần sau là các phương án (Phần lựa chọn) để chọn thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D hoặc các số 1,2,3,4 Trong các phương án đó chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu còn gọi là câu mồi

Do vậy khi phần lựa chọn được chuẩn bị tốt thì một người không có kiến thức chắc chắn về vấn đề đó sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án đã chọn đâu là phương án đúng, đâu là phương án nhiễu Khi soạn thảo loại trắc nghiệm này thường người soạn cố gắng làm cho các phương án nhiễu đều có vẻ hợp lý như phương án đúng

b) Ưu điểm và nhược điểm của bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

- Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏi: câu nào quá khó, quá dễ

để từ đó giáo viên có thể điều chỉnh câu hỏi sao cho phù hợp với học sinh

- Tốn ít thời gian thực hiện nhất là khâu chấm thi

 Nhược điểm:

- Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu nhiễu cũng có vẻ hợp lý Một giáo viên có nhiều kinh nghiệm cũng phải mất rất nhiều thời gian và công sức mới có thể soạn được những câu hỏi

Trang 28

hay và đúng kĩ thuật Ngoài ra giáo viên cần soạn câu hỏi để đo được mức

năng lực cao hơn mức biết, nhớ, hiểu

- Nhiều học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thoả mãn

- Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu quả bằng loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận

- Tốn kém giấy mực khi in loại câu hỏi này so với loại câu hỏi khác và cũng cần nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi

- Học sinh dễ trao đổi đáp án với nhau khó phân biệt được học sinh

c) Những lưu ý khi soạn câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn

 Đối với phần đáp án lựa chọn:

- Nên sắp xếp các phương án theo một trật tự nhất định tránh sự nhầm lẫn

Trang 29

- Tránh có 2 - 3 câu trả lời đúng, phải đảm bảo có một đáp án đúng duy nhất Ngoài ra mà phải có ít nhất 4 đáp án lựa chọn để làm giảm độ may rủi của học sinh khi làm bài

- Không đưa nhiều lĩnh vực khác nhau trong cùng một phương án lựa chọn, mỗi phương án chỉ nên lựa chọn một ý

- Tránh đưa ra các phương án có sự khác nhau rõ rệt làm học sinh dễ lựa chọn được đáp án đúng hoặc những đáp án mơ hồ, võ đoán, không có căn

cứ làm học sinh phân vân

- Không nhắc lại thông tin của câu dẫn tròn mỗi phương án lựa chọn

- Hạn chế dùng phương án như: “Các câu trên đều đúng”; “Các câu trên đều sai”; “ Một kết quả khác”;…

1.1.3 Kết quả học tập và mục tiêu dạy học

1.1.3.1 Kết quả học tập

Kết quả học tập được xem là mức độ thành công trong quá trình học tập của học sinh khi xem xét trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định, các chuẩn kiến thức và kĩ năng đạt được so với công sức và thời gian mà người học đã bỏ ra

Chúng ta có thể hiểu kết quả học tập là mức độ thành tích đạt được (mức

độ đạt chuẩn) của một học sinh với các bạn cùng lớp học Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức khá độc đáo của từng học sinh được thực hiện qua những điều kiện nhất định Như vậy kết quả học tập là mức độ đạt được về tri thức, kĩ năng và thái độ của học sinh

1.1.3.2 Mục tiêu dạy học

a) Khái niệm mục tiêu dạy học

Mục tiêu dạy học là trạng thái phát triển nhân cách được dự kiến trước của người học sau một quá trình đào tạo dựa trên yêu cầu phát triển của một ngành nghề nhất định Hay là những gì giáo viên hướng dẫn học sinh đạt

Trang 30

được sau khi hoàn thành môn học, làm cho vấn đề mình dạy trở thành nhu cầu đối với học sinh

b) Phân biệt mức độ của mục tiêu nhận thức

Việc xác định rõ các mục tiêu dạy học là điều cần thiết và có tầm quan trọng trong kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh Nó giúp giáo viên có phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội dung, phương pháp dạy học

Có nhiều cách phân loại mục tiêu giáo dục tùy theo những hoạt động cần được thể hiện từ phía người học Theo Benjamin S.Bloom - giáo sư nổi tiếng của đại học Chicago, năm 1956 ông đã đưa ra thang đo Bloom gồm 6 mức độ nhận thức khác nhau: Biết; hiểu; vận dụng; phân tích; tổng hợp và cuối cùng là đánh giá

Nhưng vào giữa thập niên 1990, Lorin Anderson - một học trò của Benjamin S.Bloom và một số cộng sự nhận thấy thang đánh giá mức độ nhận thức Bloom chưa thực sự hoàn chỉnh nên họ đã đề xuất sự điều chỉnh như sau: Nhớ; hiểu; vận dụng; phân tích; đánh giá và sáng tạo

Có ba sự thay đổi đáng chú ý trong sự điều chỉnh này so với thang Bloom: mức độ thấp nhất là nhớ thay vì biết, mức độ tổng hợp được bỏ đi và thêm mức độ sáng tạo vào mức cao nhất, các danh động từ được thay cho các danh từ Sự điều chỉnh này sau đó đã nhận được sự ủng hộ bởi đa số các cơ sở giáo dục vì nó đề cao các hoạt động giúp phát triển năng lực sáng tạo của người học Sau đây là bảng cung cấp nội dung giải thích ngắn gọn mỗi mức

độ trên thang Anderson (thang Bloom tu chính):

Trang 31

Bảng 1.1: Thang đo mức độ nhận thức Anderson (Thang Bloom tu chính)

họa

Nhớ Là mức độ thấp nhất, chủ yếu là ghi nhớ và

nhắc lại được những gì đã được học, giáo

viên yêu cầu nhớ lại hay nhận thức lại các

sự kiện, các thuật ngữ, các quy luật,…

Liệt kê, gọi tên, xác định, tìm thấy, nhắc lại, nhận diện,…

Hiểu Là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu

Bao gồm cả biết nhưng ở mức độ cao hơn,

đòi hỏi biết được cả ý nghĩa của kiến thức,

liên hệ chúng với những gì đã học, đã biết

Đó cũng có thể là khả năng chuyển tài liệu

và đưa ra các những chiều hướng trong

tương lai

Giải thích, so sánh, phân biệt, cho ví dụ, tóm tắt, sắp xếp,…

Vận

dụng

Là khả năng sử dụng các tài liệu, phương

pháp, lý thuyết,… đã học vào những tình

huống mới và cụ thể Nó được dựa trên sự

thông hiểu và là mức độ cao hơn so với sự

thông hiểu

Áp dụng, vận dụng, xây dựng, chứng minh, giải quyết,…

Phân

tích

Là thao tác phân chia tài liệu lí thuyết

thành bộ phận đơn vị kiến thức, cho phép

ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù,

cấu trúc bên trong của lí thuyết

Phân tích, lý giải, giả sử, phân loại, so sánh, minh họa,…

Đánh

giá

Đưa ra nhận định, phán quyết của bản thân

đối với thông tin dựa trên các chuẩn mực,

tiêu chí

Đánh giá, giải thích, kết luận, tổng hợp,

so sánh,…

Sáng Là mức độ cao nhất trong bảng và đạt Thiết lập, tổng hợp,

Trang 32

tạo được mức độ này thì học sinh có khả năng

tạo ra cái mới, xác lập được thông tin, sự

vật mới dựa trên cơ sở những thông tin, sự

vật đã có

xây dựng, thiết kế, sáng tác,…

Còn theo GS Boleslaw Niemierko đã đề xuất dựa trên các cấp độ tư duy của học sinh Đây cũng là thang đo mà chúng ta sử dụng nhiều nhất hiện nay để đánh giá kết quả học tập của người học gồm 4 mức độ như sau:

Bảng 1.2: Thang đánh giá cấp độ tư duy Cấp độ tư

Các động từ minh họa

Nhận biết

Học sinh nhớ các khái niệm cơ bản, kiến thức, nội dung đã học có thể nêu lên hoặc nhận ra chúng khi được yêu cầu

Xác định, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi tên, giới thiệu, chỉ ra,…

Thông hiểu

Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản, có khả năng diễn đạt được các kiến thức đã học và có thể vận dụng chúng khi chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách giáo viên đã giảng

Tóm tắt, giải thích,

mô tả, so sánh (đơn giản), phân biệt, trình bày lại, viết lại, minh họa, chứng tỏ,…

Thực hiện, giải quyết, minh họa, áp dụng, phân loại, sửa đổi, tinh toán,

Trang 33

Vận

dụng (ở

cấp độ

cao)

Học sinh có thể sử dụng các khái niệm

đã học để giải quyết các vấn đề mới, không giống với những điều đã được học hoặc trình bày trong SGK nhưng phù hợp khi được giải quyết với kỹ năng và kiến thức được giảng dạy ở mức độ nhận thức này Đây là những vấn đề giống với các tình huống học sinh sẽ thường gặp phải ngoài xã hội

Tạo ra, phát hiện,soạn thảo, thiết kế, đề xuất, lập kế hoạch,…

1.1.4 Nội dung về chủ đề số thập phân

1.1.4.1 Khái niệm số thập phân

Trong từ điển Tiếng Việt năm 2008 cho rằng: “ Phân số thập phân viết

dưới hình thức không có mẫu số và gạch ngang phân số mà ta dùng một dấu phẩy đặt thích hợp trong tử số là số thập phân.”

Trang 34

1.1.4.2 Nội dung dạy học số thập phân ở lớp 5

Số thập phân là một trong các mạch kiến thức cơ bản của chương trình Toán 5 Dạy học số thập phân không chỉ cung cấp cho học sinh những hiểu biết về một loại số mới, mở rộng tập số mà đồng thời hình thành và phát triển

kĩ năng giải toán cho học sinh Số thập phân được thể hiện trong rất nhiều nội dung đa dạng trong chương trình toán 5 bao gồm những nội dung sau:

a) Khái niệm số thập phân

- Khái niệm số thập phân Hàng của số thập phân Đọc, viết số thập phân

- Số thập phân bằng nhau

- So sánh hai số thập phân

- Viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân

- Viết các số đo khối lượng dưới dạng số thập phân

- Viết các số đo diện tích dưới dạng số thập phân

- Nhân một số thập phân với một số tự nhiên

- Nhân một số thập phân với 10, 100, 1000,

- Nhân một số thập phân với một số thập phân

 Phép chia:

Trang 35

Phép chia các số thập phân , thương là số tự nhiên hoặc số thập phân có không quá 3 chữ số ở phần thập phân, gồm:

- Chia một số thập phân cho một số tự nhiên

- Chia một số thập phân cho 10, 100, 1000,

- Chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên thương tìm được là một số thập phân

- Chia một số tự nhiên cho một số thập phân

- Chia một số thập phân cho một số thập phân

c) Khái niệm về tỉ số phần trăm

- Tỉ số phần trăm

- Giải toán về tỉ số phần trăm

1.1.4.3 Vai trò của chủ đề số thập phân trong chương trình Toán 5

Số thập phân là một trong những mạch kiến thức cơ bản và cũng là nội dung khó nhất đối với học sinh trong chương trình toán lớp 5 vì đây là lần đầu học sinh được làm quen với dạng số mới Số thập phân được giới thiệu dựa trên kiến thức về số tự nhiên, cấu tạo thập phân của số, đo độ dài và phân số

Vì thế muốn học tốt được chủ đề này học sinh phải nắm vững các kiến thức khác trong chương trình môn Toán ở Tiểu học

Dạy học số thập phân ở lớp 5 có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh Từ các bài toán về so sánh số thập phân hay những bài toán về cấu tạo số thập phân đến những bài toán có văn liên quan đến cách giải của các bài toán có văn điển hình đều là những bài toán hay, thú vị và có khả năng phát triển tư duy cho học sinh trong giải toán Do đó trong quá trình dạy học số thập phân, giáo viên cần chú ý đến những bài toán có liên quan đến việc hình thành và phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh

Ngoài ra số thập phân còn góp phần hoàn chỉnh tương đối hệ thống số ở Tiểu học Nó là công cụ để biểu diễn số đo đại lượng thông dụng và chính xác

Trang 36

trong thực tiễn và là công cụ để giải các bài toán liên quan đến tỉ số phần trăm

1.1.4.4 Chuẩn kiến thức và kỹ năng cần đạt được đối với học sinh lớp 5 khi học chủ đề số thập phân trong chương trình Toán 5

Giáo viên khi dạy chủ đề số thập phân cho học sinh lớp 5 thì học sinh học xong cần đạt yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của từng bài như trong bảng 1.3:

Bảng 1.3: Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt đối với học sinh khi học chủ

đề số thập phân trong chương trình Toán 5

Khái niệm số thập phân

(tiếp theo) (Trang 36)

- Biết đọc, viết các số thập phân (các dạng đơn giản thường gặp)

- Biết cấu tạo số thập phân có phần nguyên và phần thập phân

Hàng của số thập Đọc,

viết số thập phân

(Trang 37)

- Biết tên các hàng của số thập phân

- Biết đọc, viết số thập phân, chuyển số thập phân thành hỗn số có chứa phân

So sánh hai số thập

phân

(Trang 41)

- Biết so sánh hai số thập phân

- Biết sắp xếp các số thập phân theo thứ tự từ bé đến lớn và ngược lại

Viết các số đo độ dài

dưới dạng số thập phân

(Trang 44)

- Biết viết số đo độ dài dưới dạng số thập phân (trường hợp đơn giản)

Trang 37

9 Viết các số đo khối

- Biết cộng hai số thập phân

- Biết Giải bài toán với phép cộng các

- Vận dụng để tính tổng bằng cách thuận tiện nhất

- Biết giải bài toán có phép nhân một

số thập phân với một số tự nhiên

- Biết chuyển đổi đơn vị đo của số đo

độ dài dưới dạng số thập phân

Trang 38

14 Chia một số tự nhiên

cho một số tự nhiên mà

thương tìm được là một

số thập phân (Trang 67)

- Biết chia một số tự nhiên cho một số

tự nhiên mà thương tim được là một số thập phân và vận dụng trong giải toán

- Biết viết một số phân số dưới dạng tỉ

- Trắc nghiệm điền khuyết: 29 bài (93,5%)

- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: 2 bài (6,5%)

- Trắc nghiệm Đúng- Sai: 0 bài (0%)

- Trắc nghiệm ghép đôi: 0 bài (0%)

Như chúng ta đã thấy trong SGK toán lớp 5 đã đưa ra hệ thống bài TNKQ khá công phu và phong phú về chủ đề số thập phân Nhưng số lượng bài tập ở các dạng phân chia không đồng đều chủ yếu là các bài tập trắc nghiệm điền khuyết chiếm 93,5% mà dạng TNKQ nhiều lựa chọn chỉ chiếm

Trang 39

6,5% Việc xây dựng hệ thống bài tập TNKQ nhiều lựa chọn trong dạy học về chủ đề số thập phân Toán lớp 5 là rất cần thiết bởi vì:

- Theo chương trình đổi mới giáo dục thì trong hệ thống các bài tập ngoài các bài tập truyền thống có trong SGK còn có các bài tập TNKQ Sự có mặt của hệ thống bài tập TNKQ không chỉ góp phần làm phong phú hình thức, số lượng các bài tập mà nó còn là cơ hội để mỗi học sinh sớm làm quen với một phương pháp đang được sử dụng phổ biến trên thế giới nhưng khá mới mẻ với học sinh Tiểu học Các bài tập TNKQ nhiều lựa chọn bao trùm tất

cả các nội dung kiến thức, kĩ năng, mục tiêu cần kiểm tra Đảm bảo được tính khách quan và thực hiện được mục tiêu của môn học

- Đối với các môn học nói chung và môn Toán nói riêng ở Tiểu học, các bài tập được xây dựng trong SGK và vở bài tập không phải lúc nào cũng phù hợp với mọi đối tượng học sinh ở các vùng miền khác nhau Cho nên việc giáo viên xây dựng hệ thống bài tập mới trong đó có bài tập TNKQ nhiều lựa chọn là hết sức quan trọng

1.1.5 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 5

Ở lứa tuổi Tiểu học, cơ thể của trẻ đang trong giai đoạn phát triển Hệ thần kinh cao cấp đang hoàn thiện về mặt chức năng Và các em học sinh lớp

5 là giai đoạn cuối cùng của cấp Tiểu học có những thay đổi rõ rệt và hoàn thiện hơn:

- Tư duy của học sinh lớp 5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng Trẻ rất hứng thú với những trò chơi trí tuệ như: đố vui, thi ai làm nhanh, làm đúng,… Vì thế giáo viên cần cuốn hút các em bằng những câu hỏi tư duy Đồng thời, cần

hướng dẫn các em khái quát, tổng hợp kiến thức

- Về tri giác của HSTH mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định Với học sinh cuối cấp Tiểu học thì tri giác bắt đầu mang tính cảm xúc Trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn

Ngày đăng: 23/12/2019, 11:08

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w