TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ====== ĐOÀN THỊ LỆ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG TRONG PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN VỚI SỰ ỨNG DỤNG CỦA PHẦN MỀM POWER POINT 2010 KHÓA LUẬN TỐT NG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
ĐOÀN THỊ LỆ
THIẾT KẾ BÀI GIẢNG TRONG
PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN VỚI SỰ ỨNG DỤNG CỦA PHẦN MỀM POWER POINT 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học ThS VŨ THỊ TUYẾT
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình mà em học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện được khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo - ThS
Vũ Thị Tuyết - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Cảm ơn tập thể lớp K40B - GDTH đã luôn động viên, an ủi sát cánh bên
em, giúp em thêm tự tin hơn
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Tác giả
Đoàn Thị Lệ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Cấu trúc khóa luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIẾN VỀ VIỆC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG TRONG PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN VỚI SỰ ỨNG DỤNG CỦA PHẦN MỀM POWERPOINT 2010 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học 7
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 10
1.1.3 Tìm hiểu về ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế bài giảng 12
1.1.4 Khái quát phần mềm Power Point trong thiết kế bài giảng điện tử 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 42
1.2.1 Khái niệm kể chuyện 42
1.2.2 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện 43
1.2.3 Nội dung dạy học phân môn Kể chuyện 45
1.2.4 Các loại bài kể chuyện trong phân môn Kể chuyện 46
1.2.5 Khả năng ứng dụng phần mềm Power Point 2010 trong thiết kế bài giảng điện tử vào phân môn Kể chuyện 47
Trang 4Chương 2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ BÀI GIẢNG TRONG PHÂN MÔN
KỂ CHUYỆN VỚI SỰ ỨNG DỤNG CỦA PHẦN MỀM POWER POINT
2010 50
2.1 Nguyên tắc thiết kế bài giảng trong phân môn Kể chuyện với sự ứng dụng công nghệ thông tin 50
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 50
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tích cực của người học 50
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với chương trình tiểu học 51
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự hỗ trợ phương tiện kĩ thuật hiện đại trong quá trình dạy học 52
2.2 Quy trình thiết kế bài giảng trong phân môn Kể chuyện với sự ứng dụng của công nghệ thông tin 52
2.2.1 Quy trình thiết kế phân môn Kể chuyện 52
2.2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử với sự ứng dụng của công nghệ thông tin 54
2.3 Giáo án minh họa 55
2.4 Nhận xét chung 80
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngay sau khi kết thúc tuổi mẫu giáo các em học sinh sẽ được bước vào quá trình học tập mới ở trường Tiểu học Ở đây các em bắt đầu được học từng con chữ, từng phép toán đầu tiên với sự hướng dẫn tỉ mỉ, nhẹ nhàng của các thầy cô giáo Ở cấp học này, thầy cô giáo có vai trò vô cùng quan trọng, vì ngoài dạy viết chữ, tính toán còn phải rèn các em về "lời ăn, tiếng nói", dạy các em cách chơi, cách ngủ, cách làm công tác xã hội, cách làm vui lòng ông
bà, cha mẹ và đặc biệt là cách học, rèn nền nếp học tập Vì thế tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người, đặt nền tảng ươm mầm cho tương lai của đất nước, là điểm đặt đầu tiên cho quá trình phát triển và kết nối những bậc học khác
Cùng với các môn học khác ở trường Tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học chiếm nhiều thời lượng và có tính tích hợp cao Môn học này có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt như nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Ngoài ra môn Tiếng Việt còn bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong môn Tiếng Việt có các phân môn như: Học vần, Tập viết, Chính
tả, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn nhưng phân môn Kể chuyện là một trong những phân môn đóng vai trò quan trọng trong môn Tiếng Việt ở tiểu học Kể chuyện giúp học sinh phát triển ngôn ngữ đặc biệt
là kĩ năng nghe - nói, đồng thời phát triển tư duy và bổi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho HS
Trong phân môn Kể chuyện ngoài những tiết học truyền thống với phấn
và bảng đen thì hiện nay xu hướng giảng dạy có sự trợ giúp của CNTT đang
Trang 7được ứng dụng rộng rãi trong các lớp học của các nhà trường Tiểu hoc Các tiết học day bằng CNTT đã góp phần vào việc tạo hứng thú học tập cho HS, giúp HS hình thành khái niệm và kiến thức một cách dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả Do đó nếu vận dụng một cách hợp lí các ứng dụng của công nghệ thông tin đặc biệt là phần mềm dạy học vào thiết kế bài giảng điện tử sẽ tạo được hiệu quả cao trong quá trình dạy môn Tiếng Việt nói chung và trong phân môn Kể chuyện nói riêng
Chính vì vậy, khóa luận này, chúng tôi đi nghiên cứu sâu về việc: Thiết
kế bài giảng trong phân môn Kể chuyện với sự ứng dụng của phần mềm PowerPoint 2010
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc ứng dụng rộng rãi các thành tựu của lĩnh vực CNTT vào trong dạy học đã không còn là một vấn đề mới mẻ trên thế giới nữa Vai trò và vị trí quan trọng của CNTT cũng đã được định qua thực tiễn Trên thế giới nhất là những nước có CNTT phát triển, ngưới ta đã thực hiện thành công hàng loạt dự án, các chương trình để đưa các ứng dụng CNTT vào dạy học
Vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học (nói chung) và thiết kế bài giảng (nói riêng) cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới nhất
là ở những khu vực và quốc gia có nền kinh tế phát triển như: Bắc Mỹ, Tây
Âu, Nhật Bản,…
Ở Việt Nam nhận rõ được vai trò của CNTT đối với đời sống xã hội, Đảng - Nhà nước ta đã có những chính sách phát triển CNTT từ những năm
1993 và phát triển công nghệ phần mềm từ năm 2000 Do đó, CNTT đã được
áp dụng có hiệu quả vào nhiều lĩnh vực của sản xuất, dịch vụ và đời sống xã hội Tuy nhiên trong giáo dục thì gần đây mới được chú ý vì thế còn nhiều hạn chế
Trang 8Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục và đặc biệt là rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh tiểu học thế nào cho hiệu quả thì vấn đề này đã, đang và sẽ được rất nhiều giáo viên và các nhà sư phạm quan tâm đến Có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết đã đề cập đến nhiều khía cạnh, phương diện có thể kể đến như:
- Trong cuốn “Phương tiện kĩ thuật dạy học và ứng dụng CNTT trong
dạy học ở Tiểu học” của tác giả Chu Vĩnh Quyên đã giới thiệu khá chi tiết về
phương tiện dạy học hiện đại, cách sử dụng máy tính, máy chiếu trong giờ dạy Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến quy trình thiết kế chung của một giáo án điện tử để người GV có thể áp dụng trong việc thiết kế cho từng môn học cụ thể
- Cuốn “Phương tiện kĩ thuật và ứng dụng CNTT trong dạy học ở Tiểu
học” của tác giả Trịnh Đình Thắng được biên soạn với mục đích trang bị và
nâng cao kiến thức, kỹ năng phương tiện kĩ thuật dạy học và ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Tiểu học, phục vụ cho giờ dạy của GV đạt hiệu quả cao
- Trong cuốn “Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt” của tác giả Đào Ngọc,
Nguyễn Quang Ninh, NXB GD đã trình bày việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ gắn liền với các kĩ năng nghiệp vụ ở Tiếu học như: kĩ năng đọc thầm, kĩ năng đọc diễn cảm, kĩ năng viết chữ, kĩ năng viết các loại văn bản dạy ở Tiểu học, kĩ năng nghe, kĩ năng nói, kĩ năng kể chuyện
- Cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiếu học” (Tài liệu đào tạo
GV - 2007) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV Tiểu học, đã cập nhật những thông tin đổi mới về nội dung chương trình SGK và phương pháp dạy học theo chương trình mới Cuốn sách đã trình bày một cách chi tiết, cụ thể về cấu trúc, nội dung và phương pháp dạy học cho từng phân môn
Trang 9trong môn Tiếng Việt Ngoài ra, cuốn sách còn giới thiệu được một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng đổi mới như: sử dụng bộ đồ dùng học tập trong dạy học, sử dụng máy chiếu, băng hình nhằm phục vụ cho quá trình dạy - học có thể đạt được hiệu quả cao nhất
- Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiếu học” (Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Dự án phát triển GV Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội - 2005), cuốn sách này trình bày cụ thể những đổi mới trong nội dung và phương pháp dạy học theo chương trình và SGK mới giúp nhà sư phạm nắm được bản chất của phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS; vận dụng sáng tạo, linh hoạt những hiểu biết đã có vào thiết kế kế hoạch bài học theo hướng phát huy tính tích cực của từng HS Đặc biệtthực hành dạy học các phương pháp 4 như: phương pháp kể, phương pháp trục quan, phương pháp đóng vai, phương pháp gợi mở, vấn đáp trong phân môn
Kể chuyện đạt hiệu quả, chất lượng
- Trong giáo trình “Dạy học Tiếng Việt 2” (Nguyễn Trí, Lê Phương Nga,
Nhà xuất bản Giáo dục) đã đề cập đến phương pháp dạy học kể chuyện Viết
về phương pháp dạy học kế chuyện các tác giả đã vạch ra mục đích quan trọng và ý nghĩa thiết thực của việc dạy học kể chuyện Đồng thời, các tác giả cũng đã xây dựng cách tổ chức cũng như các hoạt động chủ yếu trong một tiết
kể chuyện Đặc biệt các tác giả đã nhấn mạnh đến việc rèn kĩ năng nghe và kể cho HS
- Trong quyển “Dạy Kể chuyện ở Tiểu học”, tác giả Chu Huy đã đề cập
khá rõ đến từng thể loại truyện và hướng dẫn HS tỉ mỉ về kể các câu chuyện, các biện pháp hướng dẫn HS kể chuyện Đây là cuốn cẩm nang phong phú dành cho nhiều GV Các biện pháp trình bày trong sách với tiết học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” phù hợp với phương pháp thầy kể, trò nghe, ghi nhớ và kể lại
Trang 10Các nghiên cứu khoa học này đều đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề trong phân môn Kể chuyện và đề xuất một số biện pháp cải thiện thực trạng này như đổi mới phương pháp dạy học, với cách dạy truyền thống mà chưa
tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu: Thiết kế bài giảng trong phân môn Kể
chuyện với sự ứng dụng của phần mềm PowerPoint 2010
Trong đề tài này chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu, khảo sát một cách cụ thể tại trường tiểu học Văn Khê A - Mê Linh - Hà Nội, kết hợp với các kết quả khảo sát nghiên cứu của các tác giả đi trước ở trong phân môn Tập đọc, Học vần, Chính tả,… để từ đó đưa ra được các cách thiết kế bài giảng phù hợp trong phân môn Kể chuyện với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint 2010 qua đó nâng cao hiệu quả dạy học Kể chuyện
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất quy trình thiết kế bài giảng điện tử, vận dụng quy trình để thiết
kế và dạy học phân môn Kể chuyện bằng bài giảng điện tử sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint 2010 Qua đó góp phần đổi mới phương pháp dạy học
ở tiểu học và nâng cao chất lượng dạy học phân môn Kể chuyện
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Bài giảng điện tử trong phân môn Kể chuyện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài và do thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên chúng tôi chỉ dừng lại ở việc sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint 2010
để thiết kế bài giảng điện tử trong phân môn Kể chuyện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu, làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng phần mềm PowerPoint 2010 trong dạy học ở tiểu học nói chung và ứng dụng phần mềm PowerPoint 2010 trong dạy học phân môn Kể chuyện nói riêng
Trang 11- Tìm hiểu phần mềm PowerPoint 2010 và quy trình thiết kế bài giảng điện tử bằng phần mềm PowerPoint 2010
- Tiến hành thiết kế mẫu bài giảng điện tử phân môn Kể chuyện bằng phần mềm PowerPoint 2010
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh đối chiếu
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung khóa luận gồm
2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc Thiết kế bài giảng trong phân môn Kể chuyện với sự ứng dụng của phần mềm PowerPoint 2010 Chương 2: Biện pháp thiết kế bài giảng trong phân môn Kể chuyện với
sự ứng dụng của phần mềm PowerPoint 2010
Trang 12NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIẾN VỀ VIỆC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG TRONG PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN VỚI SỰ ỨNG DỤNG
CỦA PHẦN MỀM POWERPOINT 2010 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học
1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh
a) Tư duy
Tư duy của trẻ mới đến trường mang tính trực quan cụ thể Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn
sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
b) Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và
dễ thay đổi.Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
c) Chú ý
Chú ý là một trạng thái tâm lí giúp các em tập trung vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này một cách tốt nhất Lứa tuổi tiểu học có 2 loại chú ý: chú ý không chủ định và chú ý có chủ định
Trang 13Ở đầu tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Học sinh lớp 1, 2 thường chỉ tập trung chú ý tốt trong khoảng
từ 20 đến 25 phút Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Sự di chuyển chú ý của học sinh tiểu học nhanh hơn người lớn tuổi vì quá trình hưng phấn và ức chế ở chúng rất linh hoạt, rất nhạy cảm Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế Ngoài ra, khả năng chú ý của học sinh tiểu học còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập, nếu nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung của chú ý
Giai đoạn cuối tiểu học ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
1.1.1.2 Đặc điểm sinh lí của học sinh
a) Hệ thần kinh
Hệ thần kinh đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các
em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu
Trang 14tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,… Do vậy, giáo viên nên động viên, khuyến khích các em
và tránh quát mắng, ngắt lời thô bạo,… khi các em học tập
b) Hệ xương
Hệ xương của trẻ còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hóa) nên dễ bị cong, vẹo, gẫy dập,… Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em, cha
mẹ và thầy cô cần phải chú ý quan tâm, hướng dẫn các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
c) Hệ cơ
Hệ cơ của trẻ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,… Ở lứa tuổi này thấy rõ tính linh hoạt cao, nhưng lại chóng mệt mỏi, vì các chức năng của hệ thần kinh chưa đạt tới sự phát triển đầy đủ Vì vậy mà các bậc phụ huynh, thầy cô giáo nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp
và đảm bảo an toàn cho trẻ
1.1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo đã phát triển rất rõ rệt cả về số lượng lẫn chất lượng Do nội dung học tập đã mở rộng, nên ngôn ngữ của các em đã vượt ra khỏi phạm vi những từ sinh hoạt, cụ thể và đã bao gồm nhiều khái niệm khoa học, trừu tượng Vào học trường phổ thông lần đầu tiên Tiếng Việt trở thành môn học được tổ chức học tập một cách đặc biệt Các hình thức đọc bài, làm bài trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo là điều kiện tốt
để phát triển ngôn ngữ của học sinh Sự thay đổi về chất lượng trong ngôn ngữ nói và đặc biệt sự hình thành ngôn ngữ viết có ảnh hưởng căn bản đến sự phát triển tất cả các quá trình tâm lý của các em Học sinh tiểu học chưa sử dụng tốt ngôn ngữ bên trong để học bài
Trang 15Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và đươc biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.1.2.1 Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học
Sự cần thiết đổi mới trong giáo dục đã được ghi lại ở trong Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới Chương trình Giáo dục phổ thông và thể hiện trong Chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội Sự phát triển của nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi những con người năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường Thế giới đã chuyển sang thời kì kinh tế tri thức, cho nên đầu tư vào chất xám sẽ là cách đầu tư hiệu quả nhất cho sự hưng thịnh của mỗi quốc gia Cũng vì lí do này mà nhu cầu học tập của người dân ngày càng nhiều, trình độ dân trí ngày một gia tăng, xã hội học tập đang dần hình thành và phát triển Sự phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng phương tiện công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học Như vậy, khi đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, những PPDH đã và đang sử dụng sẽ không đáp ứng yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ năng động sáng tạo của tương lai nếu không có sự đổi mới về cách thức tiến hành phương pháp
Hiện nay, một trong những hướng đổi mới được nhiều nước chú ý là tích cực hóa, cá thể hóa, coi con người là trung tâm của quá trình dạy học
Tư tưởng coi HS là trung tâm không phải là đề cao hứng thú hay sở thích cá nhân của HS, biến giờ học thành những cuộc thao diễn hay chạy theo hứng
Trang 16thú của HS mà là khuynh hướng tiến bộ, lành mạnh nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của cá nhân HS Việc đổi mới PPDH thiết thực sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, tạo điều kiện để cá thể hóa dạy học và khuyến khích dạy học, phát hiện những kiến thức của bài học
Các PPDH truyền thống luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Đổi mới PPDH đòi hỏi người GV cần kết hợp đa dạng các PPDH
và phải thực hiện đồng bộ với quá trình đổi mới mục tiêu và nội dung giáo dục, đổi mới cơ sở vật chất và đổi mới đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV Đó
sẽ là một quá trình lâu dài, phải kiên trì, tránh nôn nóng, phải biết kế thừa và phát huy các mặt tích cực của các PPDH truyền thống và tận dụng hợp lý các PPDH mới
Ở nước ta, vào năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra chỉ thị số 55/2008/CT-BGD&ĐT ngày 30/09/2008 về tăng cường giảng dạy và ứng dụng CNTT vào giảng dạy để nâng cao hơn nữa chất lượng của việc dạy và học Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã yêu cầu: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong Giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” Hưởng ứng chỉ thị số
55 và chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ở khắp các trường phổ thông trên địa bàn cả nước đã thực hiện việc ứng dụng CNTT trong dạy học và những kết quả thu được cho thấy rằng việc ứng dụng CNTT trong dạy học là đúng hướng Bắt đầu từ năm học 2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa chỉ tiêu thi đua về ứng dụng CNTT trở thành một tiêu chí để đánh giá và biểu dương các cơ sở giáo dục và các cá nhân đóng góp tích cực về ứng dụng CNTT trong giáo dục Do vậy, ứng dụng CNTT trong dạy học đã và đang trở thành một xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay
Trang 171.1.2.2 Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Những định hướng chính trong đổi mới phương pháp dạy học có thể kể đến như:
- Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực chủ động sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức
- Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các PPDH khác nhau (truyền thống và hiện đại) sao cho vừa đạt được mục tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn của cơ sở
- Đổi mới PPDH theo hướng phát triển khả năng tự học của HS
- Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân
- Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành
- Đổi mới PPDH theo hướng sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy học
- Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cả phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS
- Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập kế hoạch bài học và xây dựng mục tiêu bài học
1.1.3 Tìm hiểu về ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế bài giảng
1.1.3.1 Khái niệm cơ bản
a Bài giảng điện tử
- Bài giảng là một phần nội dung trong chương trình của một môn học
được giáo viên trình bày trước học sinh Các yêu cầu cơ bản đối với bài giảng là: định hướng rõ ràng về chủ đề, trình bày có mạch lạc, có hệ thống và truyền cảm nội dung, phân tích rõ ràng, dễ hiểu các sự kiện, hiện tượng cụ thể có liên quan và tóm tắt có khái quát chúng, sử dụng phối hợp nhiều thủ pháp thích hợp như thuyết trình, chứng minh, giải thích, đàm luận, làm mẫu, chiếu phim,
Trang 18mở máy ghi âm, ghi hình v.v Bài giảng luôn được xem như một đơn vị nội dung của chương trình có độ dài tương ứng với một hoặc hai tiết học [11, 14]
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm bài giảng:
- Có ý kiến cho rằng: bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên
lớp nhằm thực thi giáo án điện tử, bài giảng điện tử là tập hợp các học liệu điện tử được tổ chức theo một kết cấu sư phạm để có thể giúp người học đạt được kiến thức và kĩ năng cần thiết Khi đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá, do giáo viên điều khiển thông qua môi trường
đa phương tiện với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
- Theo Winkipedia thì bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài
giảng dựa vào các thiết bị công nghệ như máy tính, điện thoại, dạy và học thông qua môi trường internet
Theo tôi, có thể hiểu khái niệm bài giảng điện tử như sau:
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài trên lớp mà ở đó toàn bộ
kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hóa do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra Cũng có thể hiểu bài giảng điện tử là những tệp tin có chứa chức năng truyền tải nội dung giáo dục đến HS
b Phân biệt bài giảng điện tử và giáo án điện tử
Giáo án điện tử:
Theo tài liệu Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS - môn Tin
học thì giáo án điện tử là giáo án truyền thống của giáo viên nhưng được đưa
vào máy vi tính - giáo án truyền thống nhưng được lưu trữ, thể hiện ở dạng điện tử Khi giáo án truyền thống được đưa vào máy tính thì những ưu điểm, thế mạnh của CNTT sẽ phát huy trong việc trình bày nội dung cũng như hình thức của giáo án Như vậy, giáo án điện tử không bao hàm có ứng dụng hay không việc ứng dụng CNTT trong tiết học mà giáo án đó thể hiện Giáo án điện
Trang 19tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được số hóa và minh họa bằng các
dữ liệu đa phương tiện (multimedia) một cách trực quan, có cấu trúc chặt chẽ
và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học [4, 95]
Bài giảng điện tử:
Bài giảng điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng,
giúp cho bài giảng sinh động, dễ hiểu và có tính tương tác cao hơn Một số phần mềm dùng để biên soạn bài giảng trình chiếu được ưa chuộng ở nước ta hiện nay như: Microsoft PowerPoint, Adobe Presenter, Violet, Lecture Maker… Trong đó, Microsoft PowerPoint là được các giáo viên sử dụng nhiều nhất vì tính phổ biến, nhiều tính năng, dễ dùng và khả năng tùy biến cao của nó Trong khi Adobe Presenter cũng đang được nhiều người quan tâm vì
nó có khả năng tương tác cao với người học
Khi ta thực thi một giáo án (kế hoạch dạy học) nào đó trên đối tượng học sinh cụ thể trong một không gian vào thời điểm nhất định thì được coi là ta đang thực hiện một bài giảng Như vậy, giáo án là tĩnh, bài giảng lại động Một giáo án chỉ có thể trở thành bài giảng khi nó được thực thi Hay nói một cách văn chương, nếu coi giáo án là “kịch bản” thì bài giảng được coi là “vở kịch được công diễn” Bài giảng là tiến trình giáo viên triển khai giáo án của mình ở trên lớp
Chính vì chưa phân biệt rõ ràng hai khái niệm này nên có thầy, cô giáo khi lên lớp đã trình diễn luôn các phần không nên trình chiếu như giới thiệu
“mục tiêu yêu cầu của bài học”, các bước làm việc của thầy, của trò… hoặc
do hiểu sai mà nhiều giáo viên đánh đồng bài giảng điện tử với bài trình chiếu Powerpoint thông thường, có thầy cô giáo soạn bài giảng lên lớp như bài soạn của các báo cáo viên dẫn đến thay vì “đọc chép” nay lại “chiếu chép” gây nên
sự nhàm chán phản tác dụng của bài giảng điện tử
Trang 201.1.3.2 Vai trò của bài giảng điện tử
Trong những năm gần đây và đặc biệt là từ năm học 2009 - 2010 Bộ GD-ĐT có chủ trương đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào giảng dạy thì phong trào soạn bài giảng điện tử được giáo viên hưởng ứng một cách tích cực và đã thành phong trào sôi nổi, rộng khắp Trong dạy học, bài giảng điện tử có vai trò vô cùng quan trọng và đảm nhiệm những nhiệm vụ chính sau:
- Kích thích hứng thú học tập
Hoc sinh tiểu học có tư duy mang tính trực quan cao Qua việc sử dụng phần mềm PowerPoint, GV có thể làm cho bài giảng của mình thêm phong phú, lôi cuốn và sinh động bằng việc đưa các hình ảnh, đoạn phim, âm thanh,
sơ đồ… có nội dung liên quan đến bài học Điều đó sẽ thu hút được các em chú ý vào bài học cũng như kích thích được những tư duy và trí tưởng tượng của HS
- Tổ chức, điều khiển các hoạt động dạy học
Mọi hoạt động, tổ chức của GV và HS trong tiết học đều thể hiện trong bài giảng điện tử
Trang 21Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy là hoạt động tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của HS mà trong đó GV là người tổ chức điều khiển quá trình tri giác cảm tính những hiện tượng hoặc đối tượng được nghiên cứu của
HS Học sinh sẽ tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi về các sự vật hiện tượng nếu hình thành trong ý thức của HS những hình ảnh trực quan cảm tính Giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên hấp dẫn và nhẹ nhàng hơn cũng như tạo ra cho HS những tình cảm tốt đẹp với môn học nếu có đầy đủ các phương tiện cần thiết Khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học,
GV có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của HS và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo của các em
1.1.3.3 Vai trò của phân môn Kể chuyện trong dạy học
Trong chương trình giáo dục hiện nay, phân môn Kể chuyện cùng với các phân môn học khác trong môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho HS Đây là một phân môn học có vị trí rất quan trọng,
nó là một phân môn rất gần gũi với các em HS Những truyện kể, truyện dân gian là một trong những hình thức nhận thức thế giới của HS, giúp HS chính xác hóa những biểu tượng đã có về thực tế xã hội xung quanh, từng bước cung cấp thêm những khái niệm mới và mở rộng kinh nghiệm sống cho trẻ Qua đó HS xác lập được một thái độ đối với các hiện tượng của đời sống xung quan Nhờ có truyện cổ tích, HS nhận thức được thế giới không chỉ bằng trí tuệ mà còn bằng cả trái tim, truyện cổ tích cũng là nguồn phong phú và không gì thay thế được để giáo dục tình yêu Tổ quốc.Vì vậy, phân môn Kể chuyện là một phân môn có tầm quan trọng trong sự đổi mới giáo dục ở mỗi nước nói chung và ở Việt Nam nói riêng Do đó, không chỉ GV cung cấp tri thức cho các em lĩnh vực này mà các em có thể thu nhận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau
Trang 221.1.3.4 Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
CNTT là một trong những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện nay Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục và đào tạo, các hoạt động chính trị xã hội khác Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo CNTT được sử dụng vào tất cả các môn học Hiệu quả rõ nhất là chất lượng dạy học phát triển lên cả về lý thuyết lẫn thực hành.Vì thế, nó là một chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI và dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT Như vậy, CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp dạy học, đang tạo ra một sự thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục, vì nhờ có cuộc cách mạng này mà giáo dục đã
có sự thực hiện được các tiêu chí mới:
Trang 23với một số kiến thức ban đầu về CNTT như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ dùng, rèn luyện một số kĩ năng sử dụng máy tính…
Hình thành một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động hiện đại như:
+ Góp phần hình thành năng lực và phát triển tư duy thuật giải
+ Bước đầu hình thành và phát triển năng lực tổ chức và xử lý thông tin + Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động của xã hội hiện đại
+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính, các sản phẩm tin học
+ Có ý thức tìm hiểu CNTT trong các hoạt động xã hội Đặc biệt, khi HS học các phần mềm như: phần mềm soạn thảo văn bản…
+ Trong chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa các bài, vừa học, vừa chơi Điều đó sẽ rèn luyện cho HS óc tư duy sáng tạo trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp HS thư giãn sau những giờ học căng thẳng ở lớp
1.1.3.5 Vai trò của ứng dụng CNTT trong dạy học Kể chuyện ở Tiểu học
Đổi mới PPDH nằm trong nguồn mạch chung của cuộc vận động đổi mới do Đảng đề ra: Mục tiêu của đổi mới nhằm đưa ra yêu cầu đào tạo cho phù hợp với sự phát triển đi lên đòi hỏi mọi lĩnh vực phải đổi mới để phù hợp
và thích ứng Nghị quyết 29NQ/TW Hội nghị trung ương khóa XI ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học công nghệ, phù hợp với quy luật khách quan
Vì vậy, ở Việt Nam các trường học đều đã, đang và sẽ ứng dụng CNTT vào công tác quản lý và đào tạo Hòa với công cuộc đổi mới mạnh mẽ về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trên toàn ngành, phân môn Kể chuyện cũng có những bước chuyển mình, từng bước vận dụng thay đổi linh hoạt các PPDH có sự hỗ trợ của CNTT nhằm tích cực hóa các hoạt động của
Trang 24HS, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức
Như chúng ta đã biết, phân môn Kể chuyện là môn học cung cấp, đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện ở trẻ, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe - nói, đồng thời phát triển tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho trẻ Mặt khác, trong SGK Tiếng Việt lớp 1 không đưa ra các kiến thức đóng khung có sẵn mà là một hệ thống các hình ảnh, bên cạnh các lệnh yêu cầu HS thực hiện tốt các lệnh trong SGK Đây cũng là một thuận lợi để học tốt phân môn Kể chuyện Đối với phân môn Kể chuyện, việc thiết kế nội dung bài học bằng những tranh ảnh đã giúp cho GV thiết kế bài giảng điện tử gặp nhiều thuận lợi hơn các môn học khác Mỗi bài học khi ta đưa ra các tranh ảnh lên màn hình lớn và sử dụng hiệu ứng sẽ giúp cho HS chú ý hơn và tham gia bài học hào hứng hơn
Ví dụ:
Khi dạy bài “Bông hoa cúc trắng” (SGK Tiếng Việt lớp 1) ta đưa ra hình ảnh cô bé đang ngồi xé những cánh hoa kì lạ ra lên màn hình và làm hiệu ứng cho các hình ảnh đó sẽ giúp cho bài học thêm sinh động và giúp cho HS nắm bài và hiểu bài hơn Hay như dạy các bài có hoa, quả, thú… thì ngoài các hình ảnh trong SGK, GV có thể đưa thêm các hình ảnh khác liên quan đến bài học
để giúp cho nội dung bài học thêm phần phong phú hơn
Nhờ chức năng có thể tạo, lưu trữ và hiển thị lại khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh nên ứng dụng CNTT được
sử dụng để hỗ trợ việc minh họa các hiện tượng, quá trình nội dung, kiến thức cần cho HS Bản thân từng PPDH sẽ không có ý nghĩa nếu nó không được vận dụng một cách đúng lúc, đúng chỗ và đúng mức CNTT góp phần thực hiện phương châm dạy học: “Tôi nghe - tôi sẽ quên, tôi nhìn - tôi sẽ nhớ, tôi làm - tôi sẽ hiểu” Có nghĩa là, trong giờ học nếu GV biết kết hợp linh hoạt
Trang 25các phương pháp vừa thuyết trình vừa sử dụng các học cụ trực quan, các phương tiện kĩ thuật hiện đại và HS làm việc thì giờ học đó chắc chắn sẽ sinh động, thú vị, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của HS và đạt kết quả cao HS Tiểu học, tri giác thường gắn với trực quan hành động, các hình ảnh trực quan, nhận thấy điều này nên chúng ta cần phải thu hút sự chú ý của HS bằng các hoạt động mới mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường: đó chính là việc sử dụng giáo án điện tử sẽ kích thích cảm nhận, tri giác tích cực, tạo hứng thú học tập cho các em
1.1.3.6 Những tiện ích khi sử dụng bài giảng điện tử
Để phát triển con người toàn diện, góp phần hình thành năng lực và phẩm chất tư duy cho HS thì việc dạy học tốt các môn học là yêu cầu không thể thiếu Người GV không những dạy tốt các môn như Toán,Tiếng Việt nhằm hình thành tri thức cho HS mà còn phải dạy tốt tất cả các môn học khác nhau để phát triển con người toàn diện Từ năm 2000, song song với việc thay SGK mới thì bộ giáo dục cũng yêu cầu các GV tiểu học phải đổi mới PPDH
Có thể nói việc dạy học có sử dụng bài giảng điện tử đã giúp cho GV đỡ vất
vả hơn nhiều Thay bằng thao tác hướng dẫn, các thao tác gắn đồ dùng lên bảng GV chỉ cần kích chuột lên là có Dạy bằng bài giảng điện tử còn tránh được tình trạng cháy giáo án do quá nhiều thao tác gắn và tháo đồ dùng dạy học Mặt khác, khi sử dụng bài giảng điện tử, GV có thể thiết kế như SGK, không cần in tranh ảnh tốn tiền, mất thời gian mà hình ảnh nhỏ lại, không rõ nét như khi đưa lên màn hình lớn
1.1.4 Khái quát phần mềm PowerPoint 2010 trong thiết kế bài giảng điện tử
1.1.4.1 Khái niệm phần mềm dạy học
Phần mềm dạy học là những phần mềm cho phép mô phỏng, minh họa nhiều quá trình, hiện tượng trong xã hội, trong thực tế mà chúng ta không thể quan sát trực tiếp trong điều kiện vốn có của nhà trường, không thể hoặc khó
Trang 26thực hiện được nhờ các phương tiện dạy học khác…Phần mềm dạy học có thể hiển thị thông tin rất đa dạng, phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau như dạng văn bản, tranh ảnh, bản đồ, một đoạn phim…
1.1.4.2 Vai trò của phần mềm dạy học
- Tác động tới nội dung dạy học: Khác với dạy học truyền thống nội dung dạy học bao gồm toàn bộ những tri thức trong sách giáo khoa, trong dạy học có sự hỗ trợ của PMDH, nội dung dạy học bao gồm toàn bộ những tri thức đã được tinh giản, cô đọng, chủ yếu nhất của chương trình, đồng thời nó còn bao gồm những tri thức có tính chất mở rộng, cung cấp thêm các tài liệu phong phú, đa dạng, gọn nhẹ, tuỳ theo các mức độ nhận thức khác nhau Toàn bộ nội dung môn học được trực quan hóa dưới dạng văn bản, sơ đồ, mô hình, hình ảnh, âm thanh và được chia thành các đơn vị tri thức tương đối độc lập với nhau
- Tác động tới PPDH: PMDH tạo ra môi trường học tập mới - môi trường học tập đa phương tiện có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, tăng cường sự tương tác giữa các thành tổ của quá trình dạy học, đặc biệt là sự tương tác giữa thầy - trò, giữa người học - máy Đồng thời, PMDH
có khả năng tạo ra sự phân hóa cao trong dạy học Với PMDH, HS tự lựa chọn nội dùng học tập, nhiệm vụ học tập theo tiến độ riêng của mình, phù hợp với nhu cầu và khả năng của từng HS, qua đó hình thành cho HS khả năng tự học, tự nghiên cứu Nhờ có sự hỗ trợ của PMDH, quá trình học tập của từng
HS được kiểm soát chặt chẽ
Với các phần mềm mở, GV có thể tự xây dựng, tự thiết kế những bài giảng, bài tập cho phù hợp đối tượng HS, cho phù hợp năng lực chuyên môn của mình Nhờ đó có thể chủ động cải tiến hoặc đối mới PPDH một cách tích cực ở bất kì tình huống nào, nơi nào có máy tính điện tử Nhờ đó, GV có thể hạn chế tối đa thời gian ghi bảng, thay vào đó là làm việc trực tiếp với HS
Trang 27Với kỹ thuật đồ họa tiên tiến, chúng ta có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng thực tế mà khó có thể đưa ra cho HS thấy trong mỗi tiết học
- Tác động tới hình thức dạy học: Việc sử dụng PMDH trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS làm cho các hình thức tổ chức dạy học như trên
có những đổi mới và việc kết hợp giữa các hình thức dạy học này nhuần nhuyễn hơn với PMDH, hoạt động dạy và học không còn chỉ hạn chế ở trường - lớp, ở bài - bảng nữa, mà cho phép GV có thể dạy học phân hóa theo đối tượng, HS học theo nhu cầu và khả năng của mình PMDH giúp HS tự học tại trường hoặc tại nhà bằng hình thức trực tuyến để nâng cao trình độ nhận thức phù hợp với khả năng cá nhân
- Tác động tới phương tiện dạy học: Việc sử dùng PMDH sẽ tạo điều kiện để việc học tập của HS được diễn ra sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu, giúp cho GV có điều kiện dạy học phân hóa, cá thể hóa nhằm năng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của mỗi HS
- Tác động tới kiểm tra, đánh giá: Việc làm bài thi trắc nghiệm khách quan bằng PMDH sẽ giúp HS tăng cường kỹ năng tự kiểm tra, đảm bảo tính khách quan, công bằng trong thi cử, tránh được những ảnh hưởng khách quan (bị khiển trách, chê cười, ); GV có thể dễ dàng thống kê các sai lầm, giúp HS tìm được những nguyên nhân và cách khắc phục Cung cấp thông tin phản hồi kịp thời để GV điều chỉnh phương pháp dạy và học
- Tác động tới kĩ năng của HS: Với PMDH, HS được hoạt động trong môi trường dạy học mới, giàu thông tin làm tăng kỹ năng giao tiếp, khả năng hợp tác và năng lực áp dụng CNTT Vì vậy, PMDH góp phần hình thành được kĩ năng học tập có hiệu quả cho HS Do HS chiếm lĩnh tri thức đã được
cô đọng, tinh giản nên thời gian dành cho lĩnh hội lí thuyết giảm đi nhiều, thời gian luyện tập được tăng lên
Trang 281.1.4.3 Phần mềm PowerPoint
a Giới thiệu phần mềm PowerPoint 2010
Microsoft PowerPoint (gọi tắt là PowerPoint) là một phần mềm trình diễn do hãng Microsoft phát triển PowerPoint là một phần của gói ứng dụng văn phòng Microsoft Office Nó có thể cài đặt và sử dụng được trên cả máy tính dùng hệ điều hành Windows lẫn Mac OS X Bản dùng cho hệ điều hành Windows còn có thể dùng cho cả các máy tính với hệ điều hành Linux nhờ lớp tương thích Wine
Phần mềm PowerPoint 2010 là một phần của bộ Microsoft Office 2010 Cũng giống như Word (chương trình xử lí văn bản), Excel (bảng tính), Outlook (trình quản lí e-mail và quản lí công việc cá nhân) và Access (trình
dữ liệu), PowerPoint 2010 giúp chúng ta tạo nên các bài thuyết trình, báo cáo sinh động, hấp dẫn và lôi cuốn hơn
Khi thuyết trình hay báo cáo, chúng ta có thể dùng các loại dụng cụ hỗ trợ có thể nhìn thấy như: slide 35mm, phim chiếu cho máy overhead, các slide trên máy tính, bản báo cáo được in ra, các bản ghi chú của người thuyết trình PowerPoint có thể tạo ra tất cả các dụng cụ trên và có thể kèm theo các hiệu ứng hấp dẫn và thu hút người nghe
Do PowerPoint 2010 được tích hợp rất chặt chẽ với các thành phần khác của bộ Microsoft Office 2010 nên chúng ta có thể chia sẻ thông tin giữa các thành phần này rất dễ dàng Ví dụ chúng ta có thể chép các đoạn văn bản của Word rồi đưa vào PowerPoint…
Những cải tiến của phần mềm PowerPoint 2010
Cũng giống như các chương trình khác của bộ Office 2010, giao diện PowerPoint 2010 được phát triển lên từ phiên bản 2007 Giao diên Ribbon mang lại nhiều tiện lợi trong việc thao tác cho người dùng và với nhiều tính năng mới sẽ giúp tạo nên những bài thuyết trình sinh động, hấp dẫn một cách
Trang 29nhanh chóng Dưới đây là một số tính năng mới mà ai cũng gặp trong quá trình sử dụng phiên bản này
Ribbon mới:
PowerPoint 2010 xây dựng Robbion có các nút lệnh đồ họa dễ nhận biết được chia thành nhiều Tab (ngăn) thay cho hệ thống thực đơn xổ xuống trước đây Mỗi Tab giống như một thanh công cụ với các nút lệnh và danh sách lệnh cho người dùng lựa chọn sử dụng
Các Tab không dễ tùy biến dễ như các thanh công cụ ở các phiên bản trước, nhưng Powerpoint 2010 có thêm một thanh công cụ gọi là Quick Access Toolbar (QAT - thanh công cụ truy cập nhanh) giúp người dùng có thể tùy biến và gắn thêm các nút lệnh thường dùng một cách nhanh chóng và
dễ dàng Bạn có thể thêm vào QAT bất kỳ nút lệnh nào bằng các nhấp chuột phải vào nó và chọn Add to Quick Access Toolbar
Ribbon xuất hiện thêm ngăn Transitions giúp việc áp dụng hiệu ứng chuyển từ slide này sang slide khác được nhanh và thuận tiện hơn Ngoài ra, nút Minimize the Ribbon giúp người dùng dễ dàng phóng to hay thu gọn Ribbon
Hình 1
Ngăn File thay cho nút Office:
Ngăn File chứa các lệnh liên quan đến bài thuyết trình đang soạn thảo như thuộc tính tập tin, thiết lập mật mã bảo vệ, lưu trữ, in ấn và chia sẽ bài thuyết trình
Trang 30Hình 2
Nhúng, hiệu chỉnh và xem video trong bài thuyết trình:
Trong phiên bản PowerPoint 2010 hỗ trợ mạnh hơn về đa phương tiện trong bài thuyết trình Cụ thể, chúng ta có thể nhúng, cắt xén áp dụng các hiệu ứng định dạng lên các hình ảnh và đoạn phim ngay trong bài thuyết trình.Tính năng cắt xén video trong PowerPoint 2010 giúp loại bỏ các phần không cần thiết và giúp nội dung bài thuyết trình tập trung hơn
Hình 3
Chèn video từ các nguồn trên mạng:
Chèn video từ các nguồn trên mạng cũng là một tính năng nổi bật của PowerPoint 2010 Tập tin video này có thể do chúng ta tải lên các dịch vụ lưu trữ trực tuyến hoặc bạn sưu tầm được Có nhiều dịch vũ lưu trữ, chia sẽ video
Trang 31trực tuyến hoàn toàn miễn phí như YouTube, Yahoo Video, Clip.vn, Google Videos,… Mội tập tin video lưu trữ trên các trang này thông thường sẽ có đoạn mã dùng để nhúng vào các trang web khác
Tại vùng trống của cửa sổ Insert Video From Online Video Site, bạn dán đoạn mã đã lấy được khi nãy vào Xong, nhấn Insert Như vậy là đoạn video
đã được chèn vào bài thuyết trình Tuy nhiên để xem được đoạn video thì máy tính phải có kết nối Internet
Hình 4
Nhúng video:
Những đoạn phim, bài nhạc được nhúng vào sẽ trở thành một thành phần của bài thuyết trình
Thêm nhiều hiệu ứng độc đáo cho hình ảnh:
Với phiên bản PowerPoint 2010, bạn có thể áp dụng nhiều hiệu ứng mỹ thuật khác nhau cho các hình ảnh
Trang 32Hình 5
Nhiều hiệu ứng chuyển slide mới:
PowerPoint 2010 bổ sung thêm nhiều hiệu ứng chuyển slide mới, đặc biệt là các hiệu ứng 3-D rất đẹp mắt và sinh động
Hình 6
Bổ sung chức năng xem trước tài liệu trước khi thực hiện cắt/dán:
Tức là trước khi thực hiện chức năng copy/cắt rồi dán một đoạn tài liệu,
Trang 33Paste Options cung cấp 3 lựa chọn Keep Source Formatting (giữ nguyên định dạng gốc), Merge Formatting (giữ nguyên gốc nhưng theo định dạng đích đến), Keep only Text (chỉ lấy phần chữ)
Nhận xét: PowerPoint 2010 có rất nhiều cải tiến so với PowerPoint 2003
và 2007 như: Nhiều hiệu ứng chuyển slide hơn; nhúng/ chèn video linh hoạt hơn và nhiều tính năng vượt trội khác như: tạo file FDF đơn giản hơn, bổ sung chức năng xem trước tài liệu khi thực hiện cắt/ dán…
b Các thành phần trên cửa sổ chương trình của PowerPoint 2010
Giao diện của PowerPoint 2010 không có nhiều thay đổi so với phiên bản 2007 Các thành phần trên cửa sổ PowerPoint như sau:
Hình 7
Thanh tiêu đề (Title bar): Thể hiện tên của chương trình đang chạy là
PowerPoint và tên của bài trình diễn hiện hành Nếu cửa sổ chưa toàn màn
hình thì ta có thể dùng chuột kéo Title bar để di chuyển cửa sổ
Ribbon: Chức năng của Ribbon là sự kết hợp của thanh thực đơn và
các thanh công cụ, được trình bày trong các ngăn (tab) chứa nút và danh sách lệnh
Quick Access Toolbar: Chứa các lệnh tắt của các lệnh thông dụng nhất
Bạn có thể thêm/ bớt các lệnh theo nhu cầu sử dụng
Trang 34Nút Minimize: Thu nhỏ cửa sổ ứng dụng vào thanh tác vụ (taskbar) của
Windows; bạn nhấp vào nút thu nhỏ của ứng dụng trên taskbar để phóng to lại
cửa sổ ứng dụng
Nút Maximize/Restore: Khi cửa sổ ở chế độ toàn màn hình, khi chọn
nút này sẽ thu nhỏ cửa sổ lại, nếu cửa sổ chưa toàn màn hình thì khi chọn
nút này sẽ phóng to cửa sổ thành toàn màn hình
Nút Close: Đóng ứng dụng lại Bạn có thể nhận được thông báo lưu lại các thay đổi của bài trình diễn
Khu vực soạn thảo bài trình diễn: Hiển thị slide hiện hành
Ngăn Slides: Hiển thị danh sách các slide đang có trong bài thuyết trình Ngăn Outline: Hiển thị dàn bài của bài thuyết trình
Thanh trạng thái (Status bar): Báo cáo thông tin về bài trình diễn và
cung cấp các nút lệnh thay đổi chế độ hiển thị và phóng to, thu nhỏ vùng soạn thảo và học soạn thảo văn bản
c Những thao tác cơ bản với phần mềm PowerPoint 2010 trong thiết kế bài giảng điện tử
Khởi động chương trình
Muốn khởi động chương trình PowerPoint 2010 để thiết kế bài giảng, ta thực hiện theo một trong hai cách sau đây:
* Cách 1:
- Bước 1: Kích chuột vào nút Start trên thanh công cụ Windows
- Bước 2: Định vị con trỏ chuột trên mục Programs
- Bước 3: Nhấp vào Microsoft Office, Microsoft Office PowerPoint
2010
Màn hình Powerpoint đầu tiên xuất hiện và thể hiện trên thanh taskbar của Windows
Trang 35Hình 8
* Cách 2:
- Biểu tượng của PowerPoint 2010:
Khi cài đặt bộ Office 2010 chương trình sẽ tạo ra các Shortcut trên desktop, để khởi động chương trình bạn chỉ việc click đôi vào biểu tượng PowerPoint trên desktop
Tạo mới bài trình diễn
Trước khi thiết kế bài giảng, ta phải tạo mới một bài trình diễn PowerPoint cung cấp nhiều cách tạo mới một bài trình diễn Cụ thể như sau:
* Tạo bài trình diễn trống (blank)
Khi khởi động chương trình PowerPoint thì một bài trình diễn rỗng được tạo ra, chúng ta chỉ cần tiếp tục soạn thảo nội dung cho các slide Nếu muốn tạo mới một bài trình diễn rỗng từ đây thì làm theo các bước sau:
- Chọn thẻ File tại thanh Ribbon
- Chọn chức năng New
- Chọn Blank Presentation
- Click nút Create để tạo bài thuyết trình mới
Trang 36* Tạo một bài trình diễn từ mẫu có sẵn
- Chọn thẻ File trên thanh Ribbon
- Chọn mục New
- Click chọn chức năng Sample Template
- Chọn mẫu template vừa ý và bấm nút Create để tạo bài thuyết trình mới
Lưu bài trình diễn
Sau khi soạn thảo bài trình diễn xong, việc quan trọng là phải lưu lại để
sử dụng vào lần sau Có 2 cách lưu bài là Save và Save As
Trang 37Chức năng Save: Lưu bài thuyết trình chồng lên bài cũ, với lần lưu đầu tiên thì PowerPoint sẽ mặc định lưu kiểu Save As
Chức năng Save As: Lưu bài thuyết trình với định dạng hoặc tên khác
- Nhập tên file vào mục File name
- Chọn định dạng lưu tập tin tại mục Save as type (Mặc định sẽ là định dạng PowerPoint 2010 *.pptx), hoặc bạn có thể chọn định dạng PowertPoint bản cũ hơn (*.ppt)
- Chọn Save để hoàn tất
Hình 11
Lưu ý: Tập tin có thể dài tới 225 kí tự và có thể dùng tất cả các loại kí hiệu để đặt tên ngoại trừ các kí hiệu sau: <, >, ?, *, /, \
Trang 38 Đóng và mở lại tập tin trình diễn
* Đóng tập tin trình diễn
Khi đóng chương trình PowerPoint thì các tập tin đang mở sẽ tự động đóng theo, tuy nhiên nếu bạn chỉ muốn đóng một tập tin cụ thể nào đó thì cho tập tin đó hiện hình và vào Office chọn Close Nếu tập tin chưa được lưu thì chương trình sẽ có thông báo nhắc nhở
* Mở lại tập tin trình diễn đang lưu trên đĩa
Nếu muốn mở nhanh các tập tin đã sử dụng gần đây ta vào Office rồi chọn tập tin muốn mở ở danh sách bên phải
Hình 12
Nếu tập tin muốn mở không có trong danh sách hiện hành, ta làm theo các bước sau:
- Vào Office chọn Open Hộp thoại Open xuất hiện
- Tìm nơi lưu trữ tập tin và chọn tập tin muốn mở, sau đó nhấn nút Open
Các thao tác để xây dựng nội dung bài giảng
* Tạo slide tựa đề
Trước khi bắt đầu, chúng ta hãy mở chương trình PowerPoint và tập mới một bài trình diễn rỗng (Không áp dụng bất kì mẫu thiết kế nào)
Trang 39Slide tựa đề thông thường là slide đầu tiên của bài giảng Slide tựa đề thường chứa các thông tin về tựa đề của bài giảng, thông tin GV, ngày, tháng bài giảng Tuy nhiên, không nên đưa quá nhiều nội dung vào slide tựa đề
- Từ slide trống, nhấn chuột vào vùng chữ “Click to add title” để nhập tên bài giảng cho slide
- Tiếp đó ta kích chuột vào vùng “Click to add subtitle” để nhập tên GV, ngày, tháng, năm…
- Nhấp chuột vào vùng trống bên ngoài của Texbox để hoàn tất việc nhập văn bản cho tựa đề và tựa đề phụ
- Chọn thẻ Home trên thanh Ribbon
- Click vào chức năng New Slide và chọn kiểu Layout cho slide mới
Trang 40Hình 14
Cách 2:
- Click chuột phải tại vị trí cần chèn Slide mới trong vùng danh sách Slide
- Chọn New Slide để hoàn tất quá trình (Slide mới chèn vào sẽ có kiểu Layout của Slide trên nó)
Hoặc bạn có thể chèn nhanh các Slide bằng tổ hợp phím tắt Ctrl + M
* Chèn hình vào Slide
Đối tƣợng Image là các đối tƣợng hình ảnh đƣợc sử dụng trong Slide Để
sử dụng bạn phải chọn thẻ Insert trên thanh Ribbon
Các đối tƣợng Image đƣợc đặt tại nhóm Images gồm:
- Picture: Chèn các hình ảnh có trong máy
- Clip Art: Chèn các hình ảnh nghệ thuật
- Screenshot: Chụp màn hình và chèn vào Slide
- Photo Album: Tạo Album ảnh để sử dụng cho buổi trình chiếu
* Chèn âm thanh hoặc video vào Slide
PowerPoint 2010 còn cho phép chúng ta chèn vào bài thuyết trình các đoạn phim hoặc nhạc, điều này sẽ làm bài thuyết trình bớt nhàm chán cũng nhƣ sinh động hơn
Tùy biến, hiệu chỉnh bài trình diễn
Sau khi tạo đƣợc nội dung bài giảng, ta có thể áp dụng các mẫu định dạng, chỉnh sửa bài trình diễn nhƣ sau:
Áp dụng các mẫu định dạng (design template) có sẵn