1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3

54 210 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trẻ chuyển từ Mầm non lên Tiểu học, lần đầu tiên trẻ tham gia hoạt động học với tư cách là hoạt động chủ đạo và chính trong quá trình đó, trẻ được hình thành những kiến thức và kỹ năng h

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

ThS GVC LÊ BÁ MIÊN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong Khoa Giáo

dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự giúp đỡ tận

tình của Thạc sĩ, giảng viên chính khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, thầy Lê Bá Miên Nhân đây, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc tới các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường Tiểu học Lê Văn Tám,

Thành phố Lào Cai đã giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này

Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên khóa luận khó tránh khỏi những hạn

chế, thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng

toàn thể các bạn sinh viên để khóa luận của em có thể tiếp tục hoàn thiện

trong quá trình học tập và giảng dạy sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2018 Sinh viên thực hiện

Trần Thị Phương Thảo

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em dưới sự

hướng dẫn của Thạc sĩ Lê Bá Miên - Giảng viên chính Khoa Ngữ Văn, trường

Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đề tài không sao chép từ bất kỳ một tài liệu sẵn

có nào Kết quả nghiên cứu không trùng với tác giả nào khác

Hà Nội, tháng 4 năm 2018 Sinh viên thực hiện

Trần Thị Phương Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu đề tài 4

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc khóa luận 5

PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1 Cơ sở lý luận 6

1.1 Khái quát về phân môn Tập làm văn 6

1.2 Đoạn văn 8

1.3 Đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học 12

2 Cơ sở thực tiễn 17

2.1 Chương trình sách giáo khoa ở tiểu học 17

2.2 Thực tiễn giảng dạy và học tập ở trường phổ thông 19

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ KỸ NĂNG GIÚP HỌC SINH LỚP 2, 3 VIẾT ĐOẠN VĂN 26

1 Kỹ năng 26

1.1 Khái niệm kỹ năng 26

1.2 Phân loại kỹ năng 28

1.3 Sự hình thành kỹ năng ở học sinh 29

2 Kỹ năng viết đoạn văn 29

2.1 Kỹ năng xác định chủ đề 29

Trang 5

2.2 Kỹ năng lập dàn ý 31

2.3 Kỹ năng tập hợp tư liệu 33

2.4 Kỹ năng dựng đoạn 35

2.5 Kỹ năng viết và sửa chữa 40

CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM TÁC ĐỘNG 44

1 Mục tiêu thử nghiệm 44

2 Biện pháp tiến hành 44

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 6

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin phát triển vô cùng mạnh mẽ, nhiều quốc gia đã tận dụng lợi thế đó để khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế Tuy nhiên, có một điều không bao giờ có thể phủ nhận rằng: nhân tố con người vô cùng quan trọng Năm bắt tình hình đó, Đảng ta đã khẳng định: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho Giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” Sau khi giành độc lập năm 1945, Đảng và Bác Hồ đã khẳng định có ba loại giặc trong đó “diệt giặc dốt” được

ưu tiên hàng đầu Mỗi một khu vực, mỗi một quốc gia, hay cộng đồng đều chỉ

có thể phát triển nếu như họ xác định đúng vai trò của công tác giáo dục và đào tạo

Bác Hồ của chúng ta luôn mong muốn tột độ rằng dân ta ai cũng được học hành, đặc biệt là trẻ em - những chủ nhân tương lai của đất nước Giáo dục Tiểu học, nhà trường Tiểu học là một bộ phận không thể thiếu được của

xã hội, của cộng đồng Vì nó đem đến cho trẻ em quyền được hạnh phúc, được đi học, cũng là thể hiện rõ nhất sự ưu việt của xã hội Giáo dục tiểu học

có sự tác động rất lớn đến phát triển cá nhân Nhiều nghiên cứu cho thấy, sự phát triển của trẻ em là một quá trình chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: di truyền, môi trường, giáo dục Cũng nhờ môi trường, giáo dục là hình thức tác động bên ngoài con người đang phát triển, nhưng tác động của giáo dục bao giờ cũng là tác động có mục đích đến sự phát triển của con người Giáo dục Tiểu học với mục tiêu nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học Hegien đã từng nói: “Nhà trường Tiểu học đã dẫn dắt con người đến xã hội, từ đó con người có những bước đi đầu tiên từ thế giới tự nhiên đến thế giới công việc”

Trang 7

Các cấp học trong hệ thống giáo dục là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một dòng chảy liên tục có chủ đích cho quá trình phát triển của mỗi con người Trong đó, cấp Tiểu học là cấp học nền tảng Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng, chính vì vậy Giáo dục Tiểu học cũng giống như xây một ngôi nhà, nền móng chắc thì ngôi nhà mới vững Trẻ chuyển từ Mầm non lên Tiểu học, lần đầu tiên trẻ tham gia hoạt động học với

tư cách là hoạt động chủ đạo và chính trong quá trình đó, trẻ được hình thành những kiến thức và kỹ năng học tập cơ bản gắn với từng môn học, làm nền tảng cho bậc học tiếp theo

Bên cạnh các môn học như Toán, Tự nhiên và Xã hội, Đạo đức, …môn Tiếng Việt ở Tiểu học hình thành và phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cần thiết trong sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp, cũng như các

kỹ năng mềm, kỹ năng sống trong xã hội Tiếng Việt được gọi nôm na là môn học “vỡ lòng” Nếu nói việc học tập giống như xây một cái nhà thì bộ môn này chính là móng nhà của ngôi nhà đó Muốn xây nhà được đẹp được tốt thì móng nhà phải thật vững chắc Nếu như môn Toán giúp học sinh hình thành

kỹ năng tư duy logic thì môn Tiếng Việt sẽ phát triển kỹ năng tư duy ngôn ngữ cho học sinh Mỗi phân môn của môn học này đều hướng tới mục tiêu trên, trong đó phân môn Tập làm văn có vai trò đặc biệt quan trọng

Tập làm văn là phân môn đòi hỏi khả năng tổng hợp và kết hợp một cách linh hoạt các kiến thức có được từ các phân môn, môn học khác cũng như kiến thức từ cuộc sống hằng ngày Vì thế một bài văn viết ra có thể được coi như thước đo dùng để đánh giá quá trình học tập của học sinh, kỹ năng sử dụng ngôn từ, vốn sống, vốn hiểu biết mà học sinh có được Làm văn là một hoạt động giao tiếp Dạy văn cho học sinh thực chất là dạy cho các em nắm được cơ chế của việc sản sinh ngôn bản nói và viết theo đúng quy tắc của ngôn ngữ Để viết được một bài văn hoàn chỉnh, học sinh cần rèn luyện các

Trang 8

kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn

và liên kết đoạn,

Ở tiểu học, học sinh bắt đầu được học tập làm văn từ lớp 2 với cách viết các đoạn văn ngắn có chủ đề gần gũi với cuộc sống xung quanh Đây là thời điểm các em được làm quen và hình thành những kỹ năng cơ bản nhất Chính vì vậy giáo viên cần chú trọng và đặc biệt quan tâm giai đoạn này để tạo cho học sinh nền tảng tốt nhất

Chúng ta biết rằng dạy Tập làm văn nhằm phát triển và hoàn thiện năng lực cho học sinh trên bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Trong đó kí năng nói

và viết có vai trò quan trọng đối với học sinh, giúp các em hình thành các kĩ năng học tập khác Tuy nhiên, học sinh lớp 2, 3 suy nghĩ còn đơn giản, vốn sống chưa nhiều, các kĩ năng cũng chưa thật sự thành thạo Các em đều rất sợ phân môn Tập làm văn vì không biết nói gì, viết gì Ngay cả những giáo viên chưa giàu kinh nghiệm đôi khi cũng không tự tin lắm khi dạy phân môn này Bên cạnh đó còn một số nguyên nhân khác ảnh hưởng đến quá trình dạy và học Tập làm văn như:

Thời gian trên lớp để giáo viên tổ chức truyền đạt kiến thức mới, luyện tập, củng cố còn hạn chế

Một bộ phận học sinh còn chưa xác định chính xác yêu cầu đề bài, chưa nắm được một đoạn văn cần có ba phần: phần mở, phần phát triển đoạn và phần kết Hoặc chưa có ý thức học tập cao, khả năng nhận thức còn kém

Thời gian học tập trên lớp nhiều khiến học sinh không có điều kiện được quan sát, tiếp xúc nhiều các sự vật hiện tượng trong cuộc sống nên kỹ năng viết còn hạn chế

Từ các lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3”

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Hiện nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp dạy học Tập làm văn cho học sinh Tiểu học cũng như rèn luyện các kỹ năng, giải đáp những thắc mắc về vấn đề dạy và học phân môn Tập làm văn như: Nguyễn

Minh Thuyết trong giáo trình Tiếng Việt 2 và Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt

2; Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 3,… hay Lê Hữu Tình, Trần Mạnh Hưởng

trong cuốn Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở tiểu học hoặc trong

Bồi dưỡng văn - tiếng Việt ở Tiểu học của Nguyễn Thị Kim Dung, Hồ Thị

Vân Anh,…

Bên cạnh đó, các khóa luận tốt nghiệp Đại học của các sinh viên khóa trước cũng có nhiều đề tài nói về thực trạng dạy và học Tập làm văn cũng như rèn kỹ năng viết bài tập làm văn của học sinh Tiểu học: Nguyễn Thị Nhung -

Thực trạng kỹ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3; Hoàng

Thị Thủy - Kỹ năng viết bài tập làm văn của học sinh lớp 4; Nguyễn Thu Thảo - Tìm hiểu kỹ năng học tập phân môn tập làm văn của học sinh lớp 5;…

Song việc đề tài về kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3 vẫn chưa

có tác giả nào nghiên cứu Vậy nên tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Rèn kỹ

năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3” là rất quan trọng và cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Từ việc rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh nhằm hướng tới tạo cho trẻ tư duy logic và tư duy hình tượng

Hướng tới nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt nói chung

và phân môn Tập làm văn nói riêng

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3

Trang 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

1.1 Tập hợp tư liệu nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

1.2 Khảo sát thực trạng, nguyên nhân ảnh hưởng tới kỹ năng viết đoạn văn của học sinh lớp 2, 3

1.3 Nêu ra các kỹ năng cần thiết để viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3

và các biện pháp thực hiện các kỹ năng đó

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp chung

Phương pháp thống kê

Phương pháp đọc sách

Phương pháp phân loại

6.2 Quá trình tiến hành nghiên cứu

Bước 1 Lập đề cương khóa luận

Bước 2 Tập hợp tư liệu nghiên cứu, hệ thống hóa vấn đề liên quan đến

đề tài nghiên cứu

Bước 3 Tiến hành khảo sát phổ thông

Bước 4 Viết văn bản hoàn thành kháo luận

7 Cấu trúc khóa luận

Phần 1: Phần mở đầu

Phần 2: Phần nội dung

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số kỹ năng giúp học sinh lớp 2, 3 viết đoạn văn

Chương 3: Thử nghiệm tác động

Phần 3: Kết luận và đề xuất, kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 11

PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Vậy dạy Tập làm văn chính là dạy cho học sinh biết cách sản sinh và tạo lập văn bản

Hệ thống bài tập làm văn ở Tiểu học:

Bài tập làm văn là một lệnh đưa ra yêu cầu cho học sinh thực hiện một hành động nói, viết để tạo lập văn bản

Bài tập làm văn chia thành bài tập luyện nói và bài tập luyện viết Trong đó:

a Bài tập luyện nói gồm:

+ Bài tập hội thoại

+ Bài tập độc thoại

b Bài tập luyện viết gồm:

+ Bài tập viết lời hội thoại: điền lời lựa chọn phù hợp vào chỗ trống (chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi,…) hoặc viết câu trả lời

+ Bài tập viết thành đoạn bài: viết văn bản nhật dụng (văn bản tự thuật, danh sách học sinh, …), văn bản nghệ thuật (kể chuyện, miêu tả)

1.1.2 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn

- Vị trí

Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua tám phân môn (hay bảy loại bài học) khác nhau: Học vần, tập đọc, tập viết, chính tả, từ ngữ,

Trang 12

ngữ pháp, kể chuyện, tập làm văn Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học Tiếng Việt xét trên hai phương diện:

Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt

do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làm được một bài làm văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện

cả bốn kĩ năng mghe, nói, đọc, viết, và phải vận dụng các kiến thức về tiếng Việt Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần

Phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản (nói, viết) Nhờ vậy tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói cách khác, phân môn tập làm văn đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bật nhất của việc dạy và học tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học…

- Nhiệm vụ

Nhiệm vụ cơ bản của phân môn Tập làm văn là giúp học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành và phát triển năng lực tạo lập ngôn bản - một năng lực được tổng hợp từ các kĩ năng bộ phận như: xác định mục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời (dạng nói, viết bằng câu, đoạn, bài) Nhiệm vụ cụ thể của phân môn Tập làm văn bao gồm:

 Cung cấp kiến thức và hình thành, phát triển các kĩ năng bộ phận, góp phần hình thành và phát triển năng lực tạo lập, sản sinh ngôn bản

 Cung cấp tri thức về các dạng nghi thức lời nói, rèn kĩ năng nói theo các nghi thức đó

 Rèn kĩ năng nói, viết các ngôn bản thông thường và một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả

Trang 13

 Rèn các kĩ năng đặc thù phù hợp với mỗi dạng bài, kiểu bài Tập làm văn (kĩ năng quan sát trong văn tả, kể; kĩ năng xây dựng cốt truyện, chi tiết, tình tiết trong văn kể chuyện )

 Ngoài ra, phân môn Tập làm văn cũng góp phần rèn luyện tư duy (tư duy hình tượng, tư duy logic, kĩ năng phân tích - tổng hợp - phân loại - lựa chọn) và hình thành nhân cách (lịch sự, khuôn mẫu trong giao tiếp; bồi dưỡng tình cảm đẹp và vốn sống ) cho học sinh tiểu học

1.1.3 Sự cần thiết của phân môn Tập làm văn

Tập làm văn là phân môn đòi hỏi khả năng tổng hợp và kết hợp một cách linh hoạt các kiến thức có được từ các phân môn, môn học khác cũng như kiến thức từ cuộc sống hằng ngày Vì thế một bài văn viết ra có thể được coi như thước đo dùng để đánh giá quá trình học tập của học sinh, kỹ năng sử dụng ngôn từ, vốn sống, vốn hiểu biết mà học sinh có được Làm văn là một hoạt động giao tiếp Dạy văn cho học sinh thực chất là dạy cho các em nắm được cơ chế của việc sản sinh ngôn bản nói và viết theo đúng quy tắc của ngôn ngữ Để viết được một bài văn hoàn chỉnh, học sinh cần rèn luyện các

kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn

và liên kết đoạn, Chính vì vậy, Tập làm văn là một phân môn cần thiết và không thể thiếu trong chương trình các môn học ở cấp Tiểu học

1.2 Đoạn văn

1.2.1 Khái niệm

Theo quan điểm của tác giả Lê Phương Nga trong Phương pháp dạy

học Tiếng Việt ở Tiểu học thì: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản bao gồm một số câu liên kết với nhau chặt chẽ, thể hiện một cách tương đối trọn vẹn về một tiểu chủ đề Nó có một cấu trúc nhất định và được tách ra khỏi đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm xuống dòng và bắt đầu bằng chữ cái viết hoa thụt đầu dòng” Với định nghĩa này, ta thấy:

Trang 14

Về mặt nội dung, đoạn văn có thể hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định Khi đoạn văn hoàn chỉnh về mặt nội dung thì mỗi đoạn văn sẽ là đoạn ý (giống như định nghĩa theo sách giáo khoa lớp 4), còn khi đoạn văn không hoàn chỉnh về mặt nội dung thì mỗi đoạn văn sẽ là đoạn lời

Về mặt hình thức: đoạn văn luôn phải hoàn chỉnh về mặt hình thức cho

dù có hoàn chỉnh về mặt nội dung hay không Những dấu hiệu: lùi đầu dòng, viết hoa, dấu kết đoạn,… là dấu hiệu cần thiết giúp chúng ta nhận diện chính xác đoạn văn trong mọi trường hợp

1.2.2 Cấu trúc đoạn văn

Nói đến cấu trúc đoạn văn là nói đến các loại câu có chức năng khác nhau và sự phân bố, sắp xếp cùng với mối quan hệ qua lại giữa chúng Trong đoạn văn, có 5 loại câu có chức năng khác nhau được phân bố, sắp xếp qua sơ

đồ cấu trúc tổng thể sau đây:

- Câu chuyển đoạn

Câu chuyển đoạn là câu có chức năng liên kết đoạn văn mà nó trực tiếp thuộc với đoạn văn hay phần văn bản đứng trước Về nội dung biểu đạt, loại câu này bao giờ cũng nhắc lại, hồi quy chủ đề bộ phận đã trình bày bằng cách lặp lại từ vựng hay thế đồng nghĩa, thế đại từ

Câu chuyển đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt Nếu xuất hiện, số lượng thường gặp là một và đứng đầu đoạn Nếu câu chuyển đoạn vắng mặt, chức năng liên kết đoạn sẽ do 1 hoặc 2 loại câu khác đồng thời đảm nhiệm

- Câu mở đoạn

Câu mở đoạn là câu có chức năng đưa đẩy hay dẫn dắt vào đoạn Khác với câu chuyển đoạn, câu mở đoạn không nhắc lại chủ đề đã đề cập đến mà nó nêu lên một thông tin nào đó có liên quan với chủ đề của đoạn

Câu mở đoạn có hay khả năng xuất hiện hay vắng mặt Nếu xuất hiện,

số lượng thường gặp là một hoặc hai câu và đứng đầu đoạn

Trang 15

Xét mối quan hệ giữa câu mở đoạn với câu chủ đoạn, chúng ta cần lưu ý: hai loại câu này có chức năng loại trừ nhau trong văn bản Bên cạnh đó chức năng liên kết đoạn và dẫn dắt vào đoạn có thể được phức hợp trong một câu văn mà một bộ phận nào đó có chức năng liên kết, bộ phận còn lại dẫn vào đoạn văn

- Câu chủ đoạn

Câu chủ đoạn là câu có chức năng nêu lên chủ đề của đoạn văn mà các câu thuyết đoạn sẽ triển khai làm sáng tỏ Trong trường hợp câu chủ đoạn là câu đứng đầu của đoạn thì ngoài chức năng nêu lên chủ đề, nó còn có chức năng phụ là liên kết văn bản

Câu chủ đoạn có khả năng xuất hiện hay vắng mặt Nếu xuất hiện, số lượng thường gặp là 1 câu, đứng đầu đoạn hay sau câu chuyển đoạn, câu mở đoạn (nếu đoạn văn có 2 loại câu này) Trong trường hợp câu chủ đoạn vắng mặt, chủ đề của đoạn có thể mang tính hàm ngôn hay do câu kết đoạn biểu đạt (nếu câu kết đoạn xuất hiện)

- Câu thuyết đoạn

Câu thuyết đoạn là câu có chức năng triển khai, làm sáng tỏ chủ đề của đoạn, hay nêu lên sự việc, sự kiện làm tiền đề để rút ra kết luận khái quát trong câu kết đoạn

Trừ trường hợp đoạn văn có một câu, câu thuyết đoạn bao giờ cũng xuất hiện, số lượng tùy thuộc vào quy mô của đoạn Đoạn văn có nhiều câu thuyết đoạn thì chủ đề cũng được triển khai cụ thể, chi tiết hơn

- Câu kết đoạn

Câu kết đoạn là câu có chức năng đúc kết, khái quát hay mở rộng chủ

đề của đoạn Trong trường hợp đoạn văn không có câu mở đoạn mà có câu kết đoạn, câu kết đoạn là câu nêu lên chủ đề của đoạn

Câu kết đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt Nếu xuất hiện, số lượng có thể là 1 hoặc 2 câu và nằm ở cuối đoạn văn

Trang 16

1.2.3 Các kiểu kết cấu của đoạn văn

Như vừa trình bày, cấu trúc tổng thể của đoạn văn gồm 5 loại câu có

chức năng khác nhau Trong đó, câu chủ đoạn, câu kết đoạn và câu thuyết đoạn là 3 loại câu cơ bản Trong 3 loại câu này, câu chủ đoạn và câu kết đoạn

có thể xuất hiện hay vắng mặt, hình thành những biến thể cụ thể của cấu trúc đoạn văn Những biến thể cụ thể này là các kiểu kết cấu của đoạn hay còn được gọi là các cách lập luận Có 4 kiểu kết cấu của đoạn:

- Kết cấu diễn giải

Kiểu kết cấu này bao gồm câu chủ đoạn và câu thuyết đoạn Trong đó, câu chủ đoạn là câu nêu chủ đề, câu thuyết đoạn triển khai, làm sáng tỏ chủ

đề Kiểu kết cấu này không có câu kết đoạn

- Kết cấu quy nạp

Quy nạp là kiểu kết cấu bao gồm câu thuyết đoạn và câu kết đoạn Trong

đó, câu thuyết đoạn nêu lên sự việc, chi tiết cụ thể làm cơ sở để rút ra kết luận khái quát trong câu kết đoạn Kiểu kết cấu này không có câu chủ đoạn

- Kết cấu diễn giải kết hợp với quy nạp

Đây là kiểu kết cấu bao gồm câu chủ đoạn, câu thuyết đoạn và câu kết đoạn Trong đó, câu chủ đoạn nêu lên chủ đề, câu thuyết đoạn triển khai làm sáng tỏ chủ đề và câu kết đoạn đúc kết, khái quát lại hay mở rộng chủ đề Đây

là kiểu kết cấu lý tưởng của đoạn, bởi lẽ nó tạo nên sự hoàn chỉnh, cân đối nhất cho đoạn văn

- Kết cấu song hành

Đây là kiểu kết cấu chỉ bao gồm một số câu thuyết đoạn, câu chủ đoạn

và câu kết đoạn vắng mặt… Điều đó nghĩa là chủ đề của đoạn văn có tính chất hàm ngôn

1.2.4 Phân loại đoạn văn

Dựa vào đặc điểm về nội dung biểu đạt, có 5 loại đoạn văn cơ bản

Trang 17

- Đoạn văn miêu tả

Đoạn miêu tả là đoạn văn có nội dung thể hiện sự vật, hiện tượng một cách chi tiết, cụ thể, sinh động như nó tồn tại trong thực tại khách quan hay theo trí tưởng tượng của người viết Đây là đoạn văn cơ bản, xuất hiện rất phổ biến trong các loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như truyện, thơ trữ tình, ký sự

- Đoạn hội thoại

Hội thoại là loại đoạn văn có nội dung phản ánh lời nói trực tiếp của người tham gia giao tiếp Đoạn văn hội thoại xuất hiện rất phổ biến trong khẩu ngữ tự nhiên hằng ngày, trong các văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như truyện

1.3 Đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học

1.3.1 Đặc điểm sinh lý

a Đặc điểm sinh lý của học sinh Tiểu học

- Hệ xương: đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hóa) nên dễ bị

cong vẹo, gẫy dập,… Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi cũng như học

Trang 18

tập của các em, cha mẹ và thầy cô cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới

các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn

- Hệ cơ: Đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích chơi

trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,… Vì vậy các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm

bảo sự an toàn cho trẻ

- Hệ thần kinh cấp cao: đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư

duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trìu tượng Do đó các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,… Dựa vào đặc điểm sinh lý này mà các nhà giáo dục

nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em

b Đặc điểm sinh lý của học sinh lớp 2, 3

- Hệ xương: hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông,

xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hóa) nên dễ

bị cong vẹo, gẫy dập,… Ở trẻ em giai đoạn đầu Tiểu học, chất hữu cơ trong xương chiếm ưu thế hơn chất vô cơ nên xương mềm và dễ bị biến dạng nếu

đi, đứng, ngồi, hoạt động không đúng tư thế Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi cũng như học tập của các em, cha mẹ và thầy cô cần phải chú ý quan

tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn

- Hệ cơ: hệ cơ của học sinh giai đoạn lớp 2, 3 phát triển không đồng

đều Các cơ ở đùi, vai, cẳng chân, cánh tay phát triển sớm hơn Trong khi đó các cơ ở bàn tay, ngón tay phát triển chậm hơn Vì thế trẻ chưa làm được các

động tác khéo léo, tỉ mỉ cần sử dụng đến những ngón tay

- Hệ thần kinh cấp cao: đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư

duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,

tư duy trìu tượng Tuy nhiên, ở giai đoạn này, tư duy trực quan vẫn chiếm ưu

thế hơn so với học sinh Tiểu học giai đoạn lớp 4, 5

Trang 19

1.3.2 Đặc điểm tâm lý

a Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học

Tuy cùng chịu sự chi phối của các quy luật và yếu tố như ở những giai đoạn phát triển khác, những mỗi giai đoạn lứa tuổi trong quá trình phát triển tâm lý của cá thể nói chung và trẻ em nói riêng là một khoảng thời gian nhất định với những đặc trưng riêng của một trình độ phát triển Lứa tuổi học sinh Tiểu học là một giai đoạn phát triển với các đặc trưng sau:

Học sinh Tiểu học thường là những trẻ có tuổi từ 6 - 11, 12 tuổi Đây là lứa tuổi đầu tiên đến trường, trở thành học sinh và có hoạt động chủ đạo Trẻ

em lứa tuổi Tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo Là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của học sinh Tiểu học Cùng với cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻ những điều mà trước đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cận được Từ đó cùng với sự phát triển về thể chất và dựa trên những thành tựu về phát triển tâm lý

đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời sống tâm lý của mình, mà trước hết là tính chủ định, kỹ năng làm việc trí óc,

sự phản tỉnh - những cấu tạo tâm lý mới đặc trưng cho lứa tuổi này Ngoài ra, nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi hỏi mới của cuộc sống Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trong môi trường

“trung lập về tình cảm”, mà còn phải thích ứng với những bó buộc không tránh khỏi và chấp nhận một người lớn ngoài gia đình (thầy, cô giáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ Trẻ chẳng những phải ý thức và có thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của mình một cách có chủ định, đồng thời phải có hả năng thiết lập, vận hành cùng một lúc các mối quan hệ

Trang 20

với các đối tượng khác nhau và mang tính chất khác nhau Trước những thách thức này, trẻ dù muốn hay không cũng phải lĩnh hội các cách thức, phương thức phức tạp hơn của hành vi và hoạt động để thỏa mãn những yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống nhà trường và nhờ vậy “đẩy” được sự phát triển của mình lên một mức cao hơn

Tuổi Tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kỹ năng sống trong môi trường học và môi trường xã hội Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh Tiểu học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi Sự lĩnh hội trên tạo ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lý của học sinh Tiểu học Chúng không chỉ đảm bảo cho các em thích ứng với cuộc sống trong nhà trường và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên Về việc này, N.X.Leytex đã khắc họa:

“Tuổi Tiểu học là thời kỳ của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kỳ mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế Chức năng trên được thực hiện lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này - sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái

độ vui chơi ngây thơ đối với các đối tượng mà các em tiếp xúc

b Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2, 3

- Tri giác:

Mang tính chất chung chung, tính chất đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính chủ định Nét đặc trưng của tri giác là tính ít phân hóa của nó, các em phân biệt đối tượng giống nhau còn sai lầm và chưa chính xác, chưa phân biệt được khái niệm, chẳng hạn: cái thước với độ dài của cái thước, diện tích với mặt bàn

Trang 21

Khi tri giác, sự phân tích có tính định hướng, có tổ chức và sâu sắc của học sinh còn yếu Cụ thể trong những năm đầu của Tiểu học, tri giác học sinh gắn chặt với hành động, hoạt động thực tiễn của trẻ Có nghĩa là tri giác sự vật

là một cái gì đó mà các em gặp trực tiếp trong cuộc sống và hoạt động của các

em, những cái mà giáo viên đặc biệt chỉ dẫn, nhấn mạnh cho các em

Những hoạt động tri giác của học sinh Tiểu học được tổ chức và phát triển ngày càng cao dần Giáo viên tổ chức việc tri giác của học sinh Tiểu học, giao nhiệm vụ điều chỉnh quá trình tri giác và kiểm soát kết quả của nó Học sinh Tiểu học có thể tri giác đúng độ lớn của một vật thông thường, còn các vật quá to hoặc quá nhỏ thì các em chưa tri giác được Tri giác về thời gian phát triển chậm hơn về không gian

- Tư duy:

Tư duy của học sinh giai đoạn lớp 2, 3 chuyển dần từ tư duy cụ thể sang tư duy trìu trượng Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh thay đổi rất nhiều Nếu tri giác phát triển khá mạnh ở lứa tuổi Mẫu giáo thì ở lứa tuổi Tiểu học, tư duy phát triển mạnh mẽ hơn Ở đây, vài trò thúc đẩy các nội dung và phương pháp dạy học, vai trò của giáo viên với tư cách là người tổ chức hoạt động có tính quyết định và tư duy Tư duy trìu tượng ở giai đoạn lớp 2, 3 bắt đầu phát triển nhưng còn non yếu, vì vậy học sinh sẽ tiếp thu kiến thức nhanh nếu giáo viên tổ chức dạy học có kết hợp với các đồ dùng trực quan hiệu quả

Trang 22

Đến giai đoạn lớp 2, 3, lúc này số lượng những dấu hiệu và những thuộc tính trong những hình ảnh tăng lên đáng kể, chúng khá đầy đủ và cụ thể Và điều này diễn ra chủ yếu là nhớ sự tái tạo những hình ảnh đó, những yếu tố hành động và mối liên hệ qua lại của bản thân các đối tượng

- Sự chú ý và ghi nhớ:

Sự chú ý không có chủ định là đặc điểm cơ bản, khả năng điều chỉnh chú

ý một cách có ý chí hạn chế ở học sinh Tiểu học Sự chú ý có chủ định của học sinh Tiểu học đòi hỏi có một động cơ ngắn Sự chú ý thiếu bền vững phát của học sinh Tiểu học là do quá trình ức chế phát triển còn yếu Sự chú ý có chủ định, nỗ lực ý chí để tập trung cần được rèn luyện và đó cũng là đòi hỏi của quá trình học tập ở Tiểu học, đặc biệt là ở các lớp đầu Tiểu học 1, 2, 3

Ở Tiểu học, ghi nhớ có chủ định và không chủ định đều đang phát triển Trong đó ghi nhớ không chủ định phát triển mạnh hơn, chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có chủ định Đặc biệt ở các lớp 1, 2, 3 thì ghi nhớ không chủ định là chủ yếu học sinh thường ghi nhớ và học thuộc lòng một cách máy móc

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Chương trình sách giáo khoa ở tiểu học

2.1.1 Chương trình Tập làm văn lớp 2

Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn lớp 2, 3 nói riêng

có nội dung phong phú, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh Trong một tiết học, các loại bài tập được bố trí xen kẽ, gắn kết với nhau Cả năm học

có 35 tuần thì học sinh được học 31 tiết Tập làm văn Trong 4 tuần ôn tập giữa học kỳ I, giữa học kỳ II, cuối học kỳ I và cuối học kỳ II cũng có nhiều bài tập thuộc phân môn Tập làm văn

Số lượng và thời lượng dạy: 31 tiết Tập làm văn trong cả năm học

- Nội dung:

Các nghi thức lời nói tối thiểu (chào hỏi, tự giới thiệu, cám ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui, chia

Trang 23

buồn…) và biết cách sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp nơi công cộng, ở gia đình, trong trường học, …

Các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày: khai bản tự thuật ngắn, viết thư ngắn để nhắn tin, chia vui hoặc chia buồn, nhận và gọi điện thoại, đọc và lập thời gian biểu…

Nói, viết về những vấn đề chủ điểm: kể một sự việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi…

- Hình thức luyện tập: có 2 hình thức luyện tập chính là nói và viết

Ở mỗi hình thức luyện tập này, học sinh hình thành kĩ năng tạo lập văn bản qua từng công đoạn, từ những yêu cầu đơn giản nhất như: điền vào chỗ trống, trả lời câu hỏi đến nói hay viết một đoạn văn trọn vẹn Trong các tiết Tập làm văn từ học kì 2 trở đi, SGK tổ chức rèn luyện kĩ năng nghe cho học sinh thông qua hình thức nghe, kể chuyện, trả lời câu hỏi theo nội dung câu chuyện

Ví dụ:

Ở tiết Tập làm văn tuần 33, từ bài 1: hãy nhắc lại lời an ủi và lời đáp của các nhân vật trong tranh, đến nói lời đáp của các em trong những tình huống cụ thể và yêu cầu của bài tập cuối cùng ở tiết học là học sinh viết một đoạn văn ngắn kể về một việc tốt của em hoặc bạn em Hay tiết 34: kể ngắn

về người thân (nói, viết) Ở bài tập 1, kể về một người thân của em, sau đó yêu cầu tiếp theo là viết những điều đã kể thành một đoạn văn Ở tiết 30,

nghe, kể chuyện và trả lời câu hỏi bài Qua suối ở bài tập 1 yêu cầu nghe và trả

lời câu hỏi, ở bài tập 2 yêu cầu viết lại những điều đã nghe …

2.1.2 Chương trình Tập làm văn lớp 3

Về cấu trúc phân môn tập làm văn trong SGK Tiếng việt 3 có 54 bài tập Số lượng bài tập ít hơn so với SGK Tiếng việt 2 đối với phân môn tập làm văn nhưng nội dung có hệ thống cao hơn lớp 2 Mỗi bài học được trình bày từ 1 đến 2 bài tập, gồm bài tập rèn luyện kỹ năng nói và bài tập rèn kỹ

Trang 24

năng viết trong đó bài tập rèn kỹ năng nói chiếm hơn 70% nhất là kiểu bài

“Nghe - kể lại chuyện” và “Kể hay nói, viết về một chủ đề”

Chương trình dạy học Tập làm văn lớp 3 gồm 35 tiết/năm, trong đó có

31 tiết thực học và 4 tiết ôn tập

- Kỳ 1: 16 tiết + 2 tiết ôn tập

- Kỳ 2: 15 tiết + 2 tiết ôn tập

Nội dung dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 gồm những phần sau: Nói viết phục vụ cuộc sống hằng ngày (sản sinh văn bản thông thường như: viết đơn, điện báo, tổ chức cuộc họp, viết thư, viết giấy mời, viết báo cáo, lấy tin từ bài báo, ghi chép sổ tay, viết quảng cáo)

Kể chuyện: Kể những câu chuyện đã nghe, những câu chuyện trong cuộc sống hằng ngày mình đã chứng kiến hoặc trải qua

Nói theo chủ đề: nói về quê hương, dựa vào tranh vẽ nói về cảnh đẹp của đất nước, về trường và hoạt đông của trường, nói về thành thị hoặc nông thôn

Những nội dung dạy học này được phân bố theo từng bài học của phân môn tập làm văn

Nội dung kiến thức và yêu cầu rèn luyện kỹ năng ở phân môn tập làm văn lớp 3 khá khó, nhiều bài tập mang tính thực hành từ thực tế xung quanh các

em như: kể về gia đình mình; nói, viết về thành thị hoặc nông thôn Qua đó học sinh hình thành được các kỹ năng tạo lập văn bản (từ chỗ nói theo những câu hỏi gợi ý hoặc kể về gia đình, người thân đến viết một văn bản trọn vẹn)

2.2 Thực tiễn giảng dạy và học tập ở trường phổ thông

2.2.1 Vai trò của thầy cô

- Ưu điểm

Trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay, các phương pháp và hình thức dạy học thường xuyên được giáo viên tìm hiểu và thay đổi theo hướng tích cực Giáo viên được tham gia các khóa tập huấn, được đi thực tế học hỏi

Trang 25

ở nhiều trường, nhiều địa phương khác nhau Từ đó rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân, áp dụng vào việc xây dựng và thực hiện bài giảng

Công nghệ phát triển, các phương tiện dạy học đa dạng và phong phú

đã tạo điều kiện thuận lợi không nhỏ cho giáo viên trong quá trình dạy học các môn học khác nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Nhiều giáo viên rất chịu khó tìm hiểu, sưu tầm, chuẩn bị tài liệu, hình ảnh, thông tin độc đáo, bổ ích phục vụ bài dạy Giúp cho học sinh không những học tốt bài học

mà còn tạo hứng thú học tập, giúp các em học hỏi được nhiều kiến thức, nhiều điều hay trong cuộc sống với tâm thế háo hức, ham học hỏi

Một số giáo viên tích cực thay đổi các hình thức dạy học để tránh sự nhàm chán, tạo hứng thú cho học sinh Tổ chức các hoạt động ngoại khóa ngoài giờ lên lớp để có thể hiểu hơn về học sinh của mình, các học sinh hiểu

rõ hơn về nhau, tạo ra sự kết nối giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh “Học mà chơi, chơi mà học”

Bên cạnh việc theo dõi sự tiến bộ của học sinh, một số giáo viên cũng rất chú trọng các lỗi sai học sinh mắc phải Tìm hiểu những lỗi sai nào phổ biến nhất, những ai hay mắc lỗi sai nhất, lỗi sai đó là gì, vì sao lại hay mắc lỗi đó,… Từ việc xác định thực trạng và tìm ra nguyên nhân, giáo viên chữa lỗi cho học sinh một cách cẩn thận để không gặp lại những lỗi sai đó Một số thầy cô cũng rất cẩn thận khi đưa ra các lỗi sai thường gặp trước đó để học sinh tránh mắc phải, hoặc cho học sinh biết về những mẹo vặt tránh các lỗi sai

về chính tả, ngữ pháp,…

- Nhược điểm

Phân môn Tập làm văn là một phân môn có vai trò quan trọng trong việc dạy học sinh hình thành văn bản nói và viết Đây là một môn khó dạy trong chương trình Tiếng Việt tiểu học Dạy phân môn Tập làm văn được tốt tức là người giáo viên đã thâm nhập cả chuỗi kiến thức từ các phân môn: tập

Trang 26

đọc, kể chuyện, luyện từ và câu Chính vì thế mà phân môn tập làm văn có tính chất tổng hợp, là kết quả lĩnh hội các kiến thức của môn Tiếng Việt Trong chương trình tiểu học hiện nay, mục tiêu chính của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Đặc biệt ở lớp 2 và 3, phân môn tập làm văn rèn bốn kỹ năng: nói, nghe, đọc

và viết Trong giờ tập làm văn, học sinh được cung cấp kiến thức về cách làm bài và làm các bài tập (nói, viết) xây dựng các loại văn bản và các bộ phận cấu thành văn bản Bên cạnh đó, học sinh còn tập kể lại được những mẫu chuyện được nghe thầy, cô kể trên lớp Qua từng nội dung bài dạy, phân môn tập làm văn nhằm bồi dưỡng thái độ ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng tình cảm lành mạnh tốt đẹp cho học sinh Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học đòi hỏi người thầy phải biết vận dung linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với khả năng sử dụng ngôn ngữ và tâm lí lứa tuổi học sinh để giờ học diễn ra

tự nhiên, nhẹ nhàng và có hiệu quả Trong giảng dạy, giáo viên phải có nghệ thuật sư phạm, biết dẫn dắt, gợi mở đưa học sinh giải quyết các tình huống và thông qua việc xử lí các tình huống đó học sinh lĩnh hội được kiến thức bài Qua thực tế trong công tác thực tập, qua dự giờ thăm lớp của một số anh chị giáo viên đặc biệt là khi dự giờ tiếp tập làm văn lớp 2 và 3 trường tiểu học, chúng tôi thấy có nhiều chỗ băn khoăn, trăn trở Giáo viên chưa biết cách khai thác dẫn dắt học sinh tìm tòi kiến thức nhất là với hai dạng bài: “nghe - kể lại chuyện” và “kể hay nói, viết về một chủ đề”

Cách tổ chức các hoạt động trong giờ tập làm văn còn lúng túng Giáo viên chưa biết nội dung trọng tâm cần truyền tải đến học sinh mà chỉ biết dựa vào sách giáo viên và thậm chí đi theo sự hướng dẫn trong sách giáo viên để dạy bài nào cũng giống bài nào Giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chất lượng bài soạn, kiền thức còn hạn hẹp

Trang 27

Khả năng diễn đạt của giáo viên còn hạn chế, ngôn ngữ chưa được trau chuốt Giáo viên còn “bí từ” khi giảng Kiến thức bài còn bó hẹp hoàn toàn trong sách giáo khoa và chỉ biết nêu lên trình tự trong sách giáo khoa chứ chưa biết khắc sâu, chốt nội dung khi dạy xong một tiết học Thậm chí có giáo viên khi kể cho học sinh nghe nội dung câu chuyện thì vẫn chưa nắm được cốt lõi của chuyện mà còn mang tích chất “đọc truyện”; chưa thuộc được truyện

để kể cho học sinh trên lớp (đặc biệt là các câu truyện vui - ngắn)

Khi dạy cho học sinh “Kể hay nói, viết về một chủ đề”, giáo viên chỉ

có nêu nội dung mấy câu hỏi ở SGK cho học sinh trả lời bằng miệng sau đó yêu cầu học sinh viết về chủ đề đó Do vậy mà hiệu quả giờ dạy chưa cao, học sinh thực hành viết bài chưa được đặc biệt là những học sinh yếu

Bên cạnh đó, một số giáo viên tổ chức khâu chấm chữa bài chưa được thật tốt, các thầy cô mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra lỗi sai mà chưa nhấn mạnh

“tại sao sai; cách sửa sai như thế nào” cho học sinh

Nguyên nhân của những hạn chế:

- Giáo viên còn thụ động kiến thức ở SGK mà không chịu tìm tòi đọc thêm tài liệu khác liên quan đến giảng dạy đặc biệt là khi dạy Tiếng việt nên ngôn ngữ của giáo viên còn hạn hẹp, bí từ

- Khi tổ chức cấc hoạt động trong giờ học, giáo viên chưa phân định được hoạt động nào là trọng tâm Hình thức tổ chức dạy còn nghèo do giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chất lượng bài soạn

- Giáo viên chưa chịu khó suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng các phương pháp dạy học và hình thức dạy học khác nhau vào các tiết dạy mà chỉ giảng dạy theo một quy trình áp đặt, rập khuôn

- Việc tổ chức dạy các giờ tập làm văn (được coi là dạy mẫu) ở các trường tiểu học chưa nhiều nên giáo viên chưa có cơ hội để học tập lẫn nhau nhằm nâng cao năng lực giảng dạy

Ngày đăng: 23/12/2019, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w