1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5

57 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 787,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Bá Miên, chúng tôi đã hoàn thành đề tài khóa luận: “Rèn kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5.” Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của r

Trang 1

CHO HỌC SINH LỚP 4,5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

ThS LÊ BÁ MIÊN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo – ThS Lê Bá Miên, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể giáo viên và các em học sinh của trường Tiểu học Tích Sơn (thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc) và trường Tiểu học Mạn Lạn (xã Mạn Lạn – huyện Thanh Ba – tỉnh Phú Thọ) đã tạo điều kiện cho em điều tra thống kê kết quả nghiên cứu đề tài này Cảm ơn gia đình, bạn bè, những người luôn bên cạnh, động viên em hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2018 Sinh viên

MÈ THỊ THANH TÂM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Với thái độ và tinh thần làm việc nhiệt tình, nghiêm túc, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo – ThS Lê Bá Miên, chúng tôi đã hoàn thành

đề tài khóa luận: “Rèn kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản

cho học sinh lớp 4,5.” Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của

riêng tôi, hoàn toàn không trùng với các tác giả khác

Hà Nội, tháng 05 năm 2018

Sinh viên

MÈ THỊ THANH TÂM

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Cấu trúc khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ SỬ DỤNG TÍNH TỪ TRONG VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 4,5 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Từ loại 6

1.1.2 Hiện tượng chuyển loại của từ 9

1.1.3 Tính từ trong tiếng Việt 11

1.1.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4,5 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2.1 Nội dung về từ loại tính từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học 17

1.2.2 Nội dung bài học về tính từ trong chương trình Tiểu học 18

Trang 6

1.2.3 Việc dạy học tính từ ở Tiểu học 19

CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỆN PHÉP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ SỬ DỤNG TÍNH TỪ TRONG VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 4,5 21 2.1 Khảo sát sơ bộ khả năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản của học sinh lớp 4,5 22

2.2 Những biện pháp rèn kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5 29

2.2.1 Cơ sở xây dựng biện pháp 29

2.2.2 Rèn kĩ năng nhận diện tính từ trong văn bản 29

2.2.3 Rèn kĩ năng sử dụng tính từ trong văn bản 35

2.2.4 Giúp học sinh nắm chắc kiến thức về tính từ và một số bài tập rèn luyện kĩ năng thực hành nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5 39

PHẦN KẾT LUẬN 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện này nền kinh tế thế giới phát triển nhanh chóng đòi hỏi các nước phải liên tục đổi mới và áp dụng các kĩ thuật tiến bộ vào phát triển kinh tế Để bắt kịp với sự phát triển của thế giới, Việt Nam cũng đang bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong quá trình này yếu tố quan trọng nhất là nguồn nhân lực, nguồn nhân lực đáp ứng được mọi yêu cầu của

xã hội cần Trong thời kì đổi mới này đòi hỏi giáo dục nước ta phải đào tạo ra nguồn nhân lực có đủ năng lực làm việc năng động, sáng tạo trong mọi tình huống

Để thực hiện được mục tiêu này nền giáo dục nói chung các bậc học nói riêng đã tiến hành thay đổi cả về nội dung và các phương pháp, kĩ thuật giảng dạy sao cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Trong đó, ta phải kể đến đó là bậc Tiểu học vì đây là bậc học nền tảng trong nền giáo dục quốc dân Bậc học này quyết định cơ sở ban đầu và có ảnh hưởng rất lớn đến tương lai sau này của trẻ

Trong bậc Tiểu học, Tiếng Việt là một trong những môn rất quan trọng với trẻ nhỏ Môn học này giúp các em trau dồi thêm kiến thức về mặt ngôn ngữ, hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Giúp các em tự tin và làm chủ được các tình huống giao tiếp Hơn nữa, môn học còn giúp các em bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt

Tiếng Việt chia ra các phân môn khác nhau, trong đó có phân môn luyện

từ và câu dạy cho học sinh kiến thức về tư ngữ và ngữ pháp Dạy học từ loại

là một nội dung quan trọng trong phân môn luyện từ và câu, dạy từ loại việc không thể thiếu ở Tiểu học ngay cả trong các cấp học khác Trong từ loại ta không thể không kể đến tính từ Nắm chắc được kiến thức về từ loại nói chung tính từ nói riêng sẽ giúp cho trẻ có định hướng trong quá trình nói và

Trang 8

viết tiếng Việt đúng chuẩn ngữ pháp và phong phú trong việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập, đồng thời giúp các em viết câu văn, bài văn gợi tả, gợi cảm

và diễn đạt trôi chảy hơn

Tính từ khá là phong phú, học sinh bắt đầu được học chính thức từ lớp

4 đến cuối học kì II lớp 5 Tính từ được sử dụng rất nhiều trong các văn bản

mà các em được học, giúp các văn bản này chở nên hay và thu hút người đọc hơn Tính từ khá phong phú và đa dạng nên học sinh gặp khó khăn trong việc nhận diện, vận dụng tính từ trong dùng từ, đặt câu, viết văn,… Các em không nắm vững những kiến thức cơ bản, đồng thời chưa nắm vững được những trường hợp đặc biệt của tính từ thì sẽ dễ xảy ra hiện tượng nhầm lẫn giữa các từ loại Khả năng xác định và sử dụng tính từ đặc biệt là tính từ

trong văn bản của các em còn hạn chế Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5” với mong muốn mang đến một công cụ thiết thực trong công việc

của bản thân sau này đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học tính từ nói riêng và Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung

Trang 9

Hay đề tài luận văn sau đại học của tác giả Lê Thị Lan Anh nghiên cứu

về từ loại, ở đây tác giả nghiên cứu về tất các các dạng từ loại chứ chưa nghiên cứu sâu về tính từ

Phương pháp dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học (Tài liệu đào tạo giáo viên – 2007) của Bộ giáo dục và đào tạo, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học Cuốn sách đã cập nhật những thông tin đổi mới về nội dung chương trình SGK và phương pháp dạy học theo chương trình mới Cuốn sách đã trình bày một cách chi tiết, cụ thể về cấu trúc, nội dung và phương pháp dạy học cho từng phân môn trong môn Tiếng Việt Ngoài ra cuốn sách còn giới thiệu được một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng đổi mới như: sử dụng bộ đồ dùng học tập trong dạy học, sử dụng máy chiếu,…nhằm phục vụ cho quá trình dạy và học có thể đạt được hiệu quả cao nhất

Giáo trình ngữ pháp Tiếng Việt – Diệp Quang Ban (tập 1) Cuốn sách này

đã cung cấp đầy đủ những kiến thức về ngữ pháp và đặc biệt là từ loại Đây là một cơ sở lí luận quan trọng cho việc dạy học từ loại ở Tiểu học

Giáo trình Tiếng Việt 3 – Lê A (chủ biên) Phan Phương Dung, Đặng Kim Nga Đây là một cuốn sách viết đầy đủ về ngữ pháp tiếng Việt, những nội dung nằm trong chương trình dạy học cấp Tiểu học được cung cấp đầy đủ và

có thể áp dụng vào thực tiễn

Trên đây là một số công trình nghiên cứu về từ loại nói chung, tính từ nói riêng Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về kĩ năng nhận diện, giá trị của tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5 Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề

tài: “Rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5”

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở việc rèn luyện kĩ năng nhận diện tính từ và sử dụng chúng trong văn bản cho học sinh lớp 4,5, đề tài của tôi hướng tới mục đích:

Thấy được sự giàu đẹp trong Tiếng Việt

Rèn kĩ năng nhận diện tính từ trong văn bản

Rèn kĩ năng sử dụng tính từ trong văn bản

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài của tôi gồm có nhiệm vụ:

3.1 Tìm hiểu cơ sở lí thuyết về từ loại, tính từ và sử dụng tính từ trong các văn bản

3.2 Trên cơ sở lí thuyết, tiến hành khảo sát khả năng nhận diện và sử dụng tính từ trong các văn bản của học sinh khối lớp 4,5

3.3 Từ những thực tế đó, ta đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5

5 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tính từ, cụ thể là kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong các văn bản cho học sinh lớp 4,5

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu

Phương pháp điều tra, khảo sát

Trang 11

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận của chúng tôi gồm các chương Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Khả năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản và những biện pháp rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ SỬ DỤNG TÍNH TỪ

TRONG VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 4,5 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Từ loại

1.1.1.1 Khái niệm

Từ loại là một phạm trù ngữ pháp lớn cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất nào về từ loại tuy nhiên một số nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về từ loại như sau:

Theo tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: “Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp, đó là những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong các đặc trưng thống nhất dùng làm tiêu chuẩn tập hợp và quy loại”

Tác giả Đinh Văn Đức lại cho rằng: “Từ loại là các lớp từ trong một ngôn ngữ cụ thể, được phân chia về mặt ngữ pháp”

Theo tác giả Lê A - Phan Dương Dung, Đặng Kim Nga thì: “Từ loại là các lớp từ có sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp”

Theo tác giả Vũ Đức Nghiệu – Nguyễn Văn Hiệp thì “Từ loại là những phạm trù ngữ pháp, chúng được xác định và phân biệt với nhau dựa trên những dựa trên những tiêu chí đặc điểm về mặt hình thức ngữ pháp, chức năng ngữ pháp”

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về từ loại:

“Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia dựa theo ý nghĩa phạm trù theo khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu, thực hiện những chức vụ ngữ pháp khác nhau Từ loại bao gồm: danh từ, động từ, tính

từ, số từ, đại từ, phụ từ, kết từ (quan hệ từ), tình thái từ, trợ từ”

Trang 13

Ta có thể thấy dù được đưa ra những định nghĩa khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu vẫn có nhận định chung về từ loại: Từ loại là phạm trù ngữ pháp, được phân chia dựa trên những tiêu chí về mặt ngữ pháp

1.1.1.2 Tiêu chí phân định từ loại

Trong Tiếng Việt người ta dựa vào các tiêu chí sau để phân định từ loại

a Dựa vào ý nghĩa khái quát

Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của từng lớp từ trên cơ sở khái quát hóa từ vựng thành khái quá hóa phạm trù ngữ pháp chung Trong phạm vi đơn

vị được xét là từ, thì ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung của một lớp từ

Ví dụ: Danh từ: Chỉ sự vật, hiện tượng: thợ, trâu, trăng

Động từ: Chỉ hoạt động, trạng thái: ăn, học, đi, chạy

Ví dụ: Danh từ có khả năng kết hợp với các từ: các, mọi, cái, này, kia,

đấy, đó,…

Động từ có khả năng kết hợp với các từ: đã, đang, sẽ, hãy, đừng, xong,

rồi, mãi, nữa,…

Tính từ có khả năng kế hợp được với các từ: rất, hơi, quá, lắm,…

+Bạn Ngọc lớp em rất cao

Ta có thể nhận biết ngay được là đứng sau từ rất là từ cao là tính từ

c Chức năng cú pháp

Trang 14

Tham gia vào cấu tạo câu, các từ có thể đứng một hay một số vị trí nhất định trong câu, hoặc có thể thay đổi cho nhau ở vị trí đó và cùng biểu thị mối quan hệ về chức năng cú pháp với các thành phần khác nhau trong cấu tạo câu thì có thể phân vào một từ loại Tuy nhiên vì thường một từ có thể giữ nhiều chức năng cú pháp trong câu nên cần phải xem xét chức năng cú pháp nào của

từ là chủ yếu để làm căn cứ phân loại

Trang 15

1.1.1.3 Kết quả phân loại

Hệ thống từ loại tiếng việt được sắp xếp thành hai lớp lớn đó là thực từ và

hư từ

Lớp 1: Thực từ, bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ và đại từ

Lớp 2: Hư từ, bao gồm: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ, tình thái từ)

Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” của Nguyễn Như Ý, sử dụng tức là “đem dùng vào một công việc”

Nói một cách khái quát, sử dụng từ loại là dùng từ loại vào phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó Như vậy sử dụng từ loại là đem từ loại vào trong hoạt động hành chức của nó, trong sản phẩm văn bản, lời nói

1.1.2 Hiện tượng chuyển loại của từ

1.1.2.1 Khái niệm:

Từ trong Tiếng Việt không có hình thức ngữ âm riêng cho từng từ loại, cũng không biến đổi hình thức ngữ âm để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau và quan hệ ngữ pháp khác nhau Do đó có nhiều trường hợp vẫn

Trang 16

cùng một hình thức ngữ âm nhƣng khi thì mang những đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì mang đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác

* Chuyển loại giữa động từ và tính từ

Trang 17

+ Danh từ chỉ bộ phận cơ thể người hoặc sự vật có đặc điểm, tính chất, chức năng nhất định được dùng để chỉ đặc điểm tính cách, trí tuệ, tâm lí con người:

Ví dụ: sành sỏi -> Huế là cô gái sành sỏi, gan -> Anh ấy rất gan dạ

+ Danh từ chỉ người, động vật, thực vật có tính chất, đặc điểm, màu sắc, kích thước, đặc trưng nào đó được dùng để biểu thị đặc trưng đó

Ví dụ: cao su -> Hắn là người rất cao su giờ giấc

+ Danh từ chỉ một số loại sâu bọ, côn trùng chuyển thành tính từ chỉ trạng thái, tính chất của sự vật do côn trùng, sâu bọ làm hư hại:

Ví dụ: Con mọt -> Cánh cửa này bị mọt rồi

+ Các danh từ chỉ khái niệm, phạm trù, quan niệm về tự nhiên, xã hội được dung để chỉ tính chất, phẩm chất được đánh giá của con người

Ví dụ: văn minh -> Bà tôi là một người rất văn minh

- Tính từ chuyển thành danh từ

+ Tính từ biểu thị phẩm chất, đặc điểm của người, sự vật, hiện tượng được chuyển thành danh từ chỉ người, sự vật, hiện tượng có phẩm chất, đặc điểm

đó

Ví dụ: già -> bà già, xuân -> tuổi xuân v.v…

+ Tính từ (từ chỉ tính chất đa tiết) thường chuyển thành danh từ trừu tượng: khó khăn, gian khổ, sung sướng v.v… -> mọi khó khăn, mọi gian khổ, mọi sung sướng v.v…

1.1.3 Tính từ trong tiếng Việt

1.1.3.1 Khái niệm

Tính từ là một trong những từ loại cơ bản của thực từ, các nhà khoa học

có tìm hiểu và đưa ra một số khái niệm về tính từ:

Trang 18

Theo tác giả Lê Biên trong cuốn “Từ loại Tiếng Việt hiện đại”: Tính từ là những thực từ gọi tên tính chất, đặc trƣng của sự vật, thực thể hoặc của vận động, quá trình, hoạt động

Với tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung thì: Tính từ là lớp từ chỉ

ý nghĩa đặc trƣng của thực thể hay đặc trƣng của quá trình (trong “ngữ pháp tiếng Việt” tập 1 NXBGD – 1998)

Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong “Ngữ pháp tiếng Việt”, NXBGD năm 1999, thì tính từ là từ chỉ tính chất màu sắc

Nhƣ vậy, ta thấy chƣa có sự thống nhất khi đƣa ra khái niệm về tính từ, mỗi tác giả chú ý đến một khía cạnh của tính từ Theo chúng tôi để biết rõ hơn

về tính từ thì ta dựa vào đặc điểm của tính từ:

+ Ý nghĩa khái quát của tính từ là chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, hoạt động, hoặc của trạng thái

+ Tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ, tiêu biểu là phụ từ chỉ mức độ,

ít kết hợp với phụ từ mệnh lệnh Nói cách khác, tính từ có thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của một cụm từ chính phụ mà các thành tố phụ là các phụ

từ, trong đó khá tiêu biểu là các phụ từ chỉ mức độ

+ Trong câu tính từ có thể làm vị ngữ, làm định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, chủ ngữ

Trang 19

Họ quét nhà sạch lắm

BN

Từ những quan niệm trên có thể rút ra khái niệm của tính từ nhƣ sau:

“Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái,…

1.1.3.2 Phân loại tính từ

* Căn cứ vào ý nghĩa khái quát của các tiểu phạm trù, có thể chia ra làm 2 loại tính từ

- Tính từ biểu hiện các đặc điểm về chất: Những đặc điểm này không thể

“lƣợng hóa” đƣợc mà chỉ có thể sắc thái hóa, đó là các nhóm tính từ

+ Tính từ chỉ đặc điểm tâm lí: hiền, ác, giữ, lành,…

+ Tính từ chỉ đặc điểm sinh lí: khỏe, yếu, mạnh, cường tráng,

+ Tính từ chỉ đặc điểm trí tuệ: thông minh, lanh lợi, dốt, khôn khéo,… + Tính từ chỉ cách thức hoạt động: nhanh, chậm, vững, thạo,…

- Tính từ chỉ đặc điểm về lƣợng: Những đặc điểm này có thể lƣợng hóa (nhờ một thành tố phụ có số từ chính xác đi sau)

Ví dụ: cao, thấp, nông, sâu, rộng, hẹp, ngắn, dài, nặng, nhẹ, mỏng,…

* Căn cứ vào nét nghĩa mức độ và khả năng thể hiện ý nghĩa mức độ nhờ các thành tố phụ, có thể chia tính từ thành 2 nhóm:

- Các tính từ chỉ đặc điểm, tính chất có thang độ khác nhau: tùy theo thang độ của các đặc điểm tính chất mà các tính từ có thể kết hợp với các thành tố phụ

khác nhau: hơi, khá, rất, lắm, vô cùng, cực kì,…

Trang 20

Ví dụ: rất đẹp, khá hay, xinh lắm, cực kì thông minh,…

Có thể thể hiện mức độ nhờ sự kết hợp với các thành tố phụ khác

Ví dụ: đẹp như tiên, cao như núi, sâu đến lung trời,…

- Các tính từ chỉ đặc điểm không phân biệt theo các thang độ khác nhau: Các tính từ này không kết hợp với các thành tố phụ chỉ mức độ, được chia thành 2 loại

+ Các tính từ chỉ tính chất được phân hóa thành hai cực rõ rệt, giữa hai cực đó không có thang độ chuyển tiếp

Ví dụ: đực/cái, trống/mái, riêng/chung,…

+ Các tính từ được cấu tạo theo phương thức ghép, trong đó các hình vị đi sau vừa sắc thái hoá ý nghĩa cho hình vị đi trước, vừa chỉ mức độ cao nhất của đặc điểm tính chất mà hình vị đi trước biểu hiện

Ví dụ: xanh lè, đen kịt, cao ngất, thơm phức , đỏ au, trắng xoá, bạc

phếch, trọc lốc, xanh um, vàng xuộm, tím ngắt, nhỏ xíu,

1.1.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4,5

1.1.4.1 Đặc điểm lứa tuổi học sinh lớp 4,5

Lứa tuổi học sinh Tiểu học là giai đoạn trẻ từ 6,7 tuổi đến 11,12 tuổi Những cấu tạo tâm lí trong lứa tuổi này chủ yếu do hoạt động học tập mang lại Tuy nhiên tính chủ đạo của hoạt động học tập không phải được hình thành ngay mà nó là quá trình được diễn ra và phát triển trong bốn, năm năm đầu của cuộc đời học sinh Do đó đến trường thực hiện hoạt động học tập là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này Giờ đây các em đã trở thành một học sinh thực thụ, học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất giúp các em tích lũy kiến thức Khi đến trường các em bước vào những mỗi quan hệ mới

và phức tạp hơn: quan hệ với thầy cô, với bạn bè Trong môi trường hoạt động mới sẽ tạo ra cho các em thế giới nội tâm phong phú Những cấu tạo tâm

Trang 21

lí mới chủ yếu do hoạt động học tập mang lại và được hình thành dần dần với chính quá trình hình thành của quá trình hoạt động học tập

Nếu như điểm đặc trưng về tâm lí của học sinh lớp 1,2 là những bước chuyển từ hoạt động vui chơi của lứa tuổi mầm non sang hoạt động học tập của học sinh, thì ở lớp 4,5 có những đặc điểm tâm lí mới được hình thành

và phát triển phù hợp với hoạt động học tập ở cuối bậc Tiểu học này

1.1.4.2 Sự phát triển của quá trình nhận thức

Nhu cầu nhận thức, khám phá thế giới luôn đòi hỏi học sinh phải tìm tòi, sáng tạo Mức độ, tính chất và phạm vi hoạt động nhận thức của học sinh Tiểu học đưa ra

- Nhận thức cảm tính

Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện Dẫn đến việc học Tiếng Việt thông qua các hình ảnh trực quan sẽ đem lại hiệu quả cao

Tri giác: Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, đối với học sinh lớp 4,5 tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích

có phương hướng rõ ràng Trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm cái bài tập từ dễ đến khó,…

Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác được bộc lộ ở các quá trình sau:

- Nhận thức lý tính

+ Tư duy

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động

Trang 22

Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4,5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn

sơ đẳng ở phần đông học sinh Tiểu học

+ Tưởng tượng

Tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở Ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ tăng cường Ghi nhớ có chủ định phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

- Ý chí

Đến cuối Tiểu học các em có khả năng biến theo yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho HSTH đòi hỏi ở các nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáó dục trẻ Muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ

1.1.4.3 Sự phát triển tình cảm của học sinh

Tình cảm của HSTH mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,… Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư…

Trang 23

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã “người lớn” hơn rất nhiều)

=> Xem xét những đặc điểm tâm lí, chúng tôi thấy tư duy của học sinh lớp 4,5

đã tốt hơn, do vậy các em đã có sự thích ứng với hệ thống bài tập Tuy vậy do những tư duy lập luận, khả năng trừu tượng của các em còn ở mức độ đơn giản, chính vì vậy các hoạt động cần lặp lại nhiều lần để các em hình thành thói quen với kĩ năng nhận diện tính từ thông qua hệ thống bài tập, nhận diện được các tính từ có trong văn bản ở dạng đơn giản cũng như trong một số trường hợp đặc biệt Dựa trên việc tìm hiểu khả năng của học sinh kết hợp với các đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4,5 chúng tôi nhằm tìm ra các phương pháp thích hợp để nâng cao khả năng học tập của học sinh trong việc nhận diện tính từ trong văn bản

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nội dung về từ loại tính từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học

Phần kiến thức về tính từ của học sinh dần được hình thành bắt đầu từ lớp

2 Ở lớp 2 các em đã bắt đầu nhận biết được các từ chỉ đặc điểm, tính chất, các kiểu câu Ai thế nào?

Ở lớp 3 các em ôn tập về các từ chỉ đặc điểm, tính chất, kiểu câu Ai thế nào? Và được học về dấu phấy

Lên đến lớp 4, các em mới chính thức được học về khái niệm sơ giản của tính từ

Đến lớp 5, các em được ôn tập chung về từ loại, trong đó có ôn tập về tính

từ

Cụ thể tính từ được dạy ở Tiểu học như sau:

- Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm, tính chất, hoạt động, trạng thái, của

sự vật, hiện tượng

Trang 24

- Tính từ gốm có một số cách thể hiện mức độ của đặc điểm,tính chất như : tạo ra từ láy và từ ghép với các từ đã cho; thêm các từ rất, quá, lắm, vào trước hoặc sau tính từ; tạo ra phép so sánh

=> Như vậy nội dung tính từ được dạy ở Tiểu học, học sinh đã được học chính thức về tính từ ở lớp 4 Tuy nhiên nội dung tính từ trong SGK khá là đơn giản, việc nhận diện được tính từ trong văn bản của học sinh chưa được

đề cập nhiều hoặc có nói đến thì đều là những bài tập khá đơn giản chỉ mang tính chất kiểm tra khả năng nhận diện những tính từ đã học của học sinh mà chưa có bài tập đề cập đến tính từ ở các trường hợp đặc biệt hơn hay các tính

từ ít gặp hơn được sử dụng trong các văn bản

1.2.2 Nội dung bài học về tính từ trong chương trình Tiểu học

Chương trình Tiếng Việt phần tính từ được khái quát hóa trong SGK tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5 thành 2 dạng bài Đó là là dạng bài thực hành và dạng bài lí thuyết

Dang bài lí thuyết về tính từ

- Các em bắt đầu chính thức học lí thuyết về tính từ ở lớp 4, với các bài:

Trang 25

+ Tính từ (học trong tuần 11, trang 110, tập 1)

+ Tính từ (tiếp theo) (học trong tuần 12, trang 123, tập 1)

- Lớp 5: có duy nhất 1 bài

+ Ôn tập về từ loại (tuần 14, trang 142, tập 1)

=> Qua việc thống kê các bài học về tính từ như trên thì ta có thể thấy việc dạy học tính từ cho học sinh Tiểu hoc còn hạn chế Số lượng bài được dạy quá ít Học sinh được học chính thức về tính từ thì chỉ có 3 bài, trong đó có 2

là học về tính từ bài còn lại là ôn tập Ngoài ra tính từ còn được lồng ghép để học cùng với các bài dạy về các từ chỉ đặc điểm, tính chất, dạy các kiểu câu

Ai thế nào? Chính vì vậy mà tính từ chưa được khai thác sâu để dạy cho học sinh Tiểu học Các em vẫn còn khá lúng túng khi xác định tính từ đặc biệt là các tính từ có trong văn bản Nhận thấy được sự hạn chế này, chúng tôi xem xét và nghiên cứu để đưa ra những biện pháp phù hợp nâng cao kĩ năng nhận

diện và sử dụng tính từ trong văn bản cho học sinh lớp 4,5

1.2.3 Việc dạy học tính từ ở Tiểu học

Phần lớn học sinh đều chăm chỉ học tập, có tư chất thông minh, nhanh nhẹn học sinh đã quen dần với phương pháp học tập mới

* Khó khăn

Nhiều giáo viên chưa hiểu rõ ý đinh của người biên soạn SGK nên cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào SGK, SGV ít

Trang 26

đầu tư sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh Bên cạnh đó, một số giáo viên lại chỉ chú trọng cung cấp kiến thức, yêu cầu học sinh học thuộc lòng, không chú trọng hình thành phương pháp học tập, rèn luyện các kĩ năng, việc hướng dẫn làm bài tập máy móc, chưa mở rộng cho học sinh nắm sâu kiến thức về tính từ cũng như vận dụng trong các trường hợp viết văn,…

Một số phụ huynh và học sinh có thái độ coi nhẹ môn Tiếng Việt, chủ yếu hướng con mình học toán

Thời gian dạy học môn Tiếng Việt khá ngắn và số lượng bài dạy học về tính từ quá ít Học sinh không được rèn luyện nhiều, chưa nắm rõ được các trường hợp đặc biệt của tính từ nên khi nhận diện tính từ trong hoàn cảnh khó hơn là trong văn bản thì bị nhầm lẫn khá nhiều Khi sử dụng tính từ vào để viết văn hay làm bài tập thì cũng vẫn còn lún túng và không tự nhiên

Trang 27

CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỆN PHÉP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ SỬ DỤNG TÍNH TỪ TRONG VĂN BẢN CHO HỌC SINH

LỚP 4,5

Để đạt được kết quả cao trong việc dạy học tính từ, dặc biệt là tính từ trong văn bản cho học sinh Tiểu học, môt yêu cầu đặt ra là giáo viên dạy học sinh trước tiên phải nắm chắc được lý thuyết về tính từ: khái niệm, phân loại, các dấu hiệu nhận biết tính từ Sau đó thì cho các em thực hành nhiều lần để các em thành thạo hơn có thể ghi nhớ được các trường hợp khó xác định Trong phần lý thuyết về tính từ thì có thêm một số trường hợp tính từ đặc biệt

mà các em cần ghi nhớ đó là chuyển loại của từ Hiện tượng chuyển loại có cơ

sở là sự chuyển biến ý nghĩa của từ - một phương thức tạo từ mới của ngôn ngữ Giáo viên nắm chắc được các loại tính từ, cách xác định tính từ trong văn bản và các hiện tượng đặc biệt trong tính từ thì sẽ giúp giáo viên giảm thiểu sự sai xót khi hướng dẫn học sinh làm bài tập Còn đối với học sinh các

em được luyện tập nhiều đồng thời nắm được các hiệng tượng chuyển loại từ trong các trường hợp về tính từ và trong một số các trường hợp khác Như vậy thì học sinh có thể tự tin trong thực hành làm bài nhận diện tính từ trong các văn bản ngoài sách giáo khoa, giúp cho các em phát triển và sử dụng những ngôn ngữ một cách hợp lí và hiệu quả hơn

Trong thực tế nghiên cứu việc nhận diện và sử dụng tính từ ở các văn bản

là khá khó khăn không những chỉ với học sinh mà đôi khi giáo viên cũng gặp môt số khó khăn Đặc biệt là đối với học sinh Tiểu học, các em bây giờ mới được tiếp xúc với tính từ tuy nhiên việc tiếp xúc khá là hạn chế cả về số lượng tiết dạy và số lượng bài tập Học sinh khối 4,5 mới bắt đầu được học chính thức về tính từ, các em mới hiểu thế nào là tính từ, các dấu hiệu để xác định

đó là tính từ Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành tìm hiểu khả năng nhận diện tính từ và sử dụng tính từ trong văn bản đối với học sinh lớp 4,5 từ

Trang 28

đó có định hướng chính xác về thực trạng của học sinh và đề xuất các giải pháp để giải quyết các thực trạng đó của học sinh

2.1 Khảo sát sơ bộ khả năng nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản của học sinh lớp 4,5

a Đối tượng khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát học sinh ở hai trường khác nhau đó là học sinh lớp 4A6 và 5A4 trường Tiểu học Tích Sơn (thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh phúc) Với học sinh lớp 4B và 5A trường Tiểu học Mạn lạn (huyện Thanh Ba – Phú Thọ)

Lớp 4A6 và lớp 4B với tổng số mỗi lớp là 35 học sinh

Lớp 5A4 và lớp 5A với tổng số mỗi lớp là 30 học sinh

b Mục đích khảo sát

Khảo sát để tìm hiểu về khả năng nhận diện và sử dụng tính từ trong các văn bản của học sinh lớp 4,5

c Cách thức và nội dung khảo sát

Cách thức: chúng tôi tiến hành khảo sát học sinh thông qua việc phát phiếu điều tra và yêu cầu học sinh hoàn thành trong vòng 20 phút

Nội dung khảo sát: Chúng tôi tiến hành thiết kế 3 bài tập cho học sinh nhận diện và sử dụng tính từ trong văn bản Học sinh được phát phiếu phải xác định được các tính từ có trong đoạn văn, khổ thơ Sử dụng tính từ ứng dụng vào văn bản Nội dung của bài tập như sau:

Ngày đăng: 23/12/2019, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w