1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh lớp 4 cá thể hóa quá trình làm bài văn miêu tả

66 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Đề tài “Hướng dẫn học sinh lớp 4 cá thể hóa quá trình làm bài văn miêu tả” được chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THANH THÙY

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4 CÁ THỂ HÓA

QUÁ TRÌNH LÀM BÀI VĂN MIÊU TẢ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

TS.GVC PHẠM THỊ HÒA

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô đặc biệt là Tiến sĩ Phạm Thị Hòa Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô, người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm khóa luận

Qua đây, chúng tôi cũng xin cảm ơn tới phòng Đào tạo Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2, tới các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ để khóa luận của chúng tôi được hoàn thành

Lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn hạn chế, nên chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, sửa chữa của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để hoàn thiện khóa luận này hơn nữa

Chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thanh Thùy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Hướng dẫn học sinh lớp 4 cá thể hóa quá trình làm bài văn

miêu tả” được chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát

huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác, cộng với

sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Tiến sĩ Phạm Thị Hòa và sự cố gắng, nỗ lực của bản thân

Chúng tôi cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thanh Thùy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5.Mục đích nghiên cứu 4

6.Phương pháp nghiên cứu 4

7.Cấu trúc của khóa luận 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Văn miêu tả và tập làm văn miêu tả 6

1.1.2 Tập làm văn miêu tả trong trường Tiểu học 8

1.1.3 Cơ sở tâm lí và quá trình cá thể hóa hoạt động tiếp nhận và sản sinh văn bản của học sinh 12

1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ và cá thể hóa bài tâp làm văn miêu tả 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Nội dung dạy học văn miêu tả 15

1.2.2 Cấu trúc nội dung bài học dạy tập làm văn miêu tả 16

1.2.3 Hướng dẫn của sách giáo viên về dạy học văn miêu tả 17

1.2.4 Thực tế dạy và học Tập làm văn miêu tả theo hướng cá thể hóa lớp 4 trường Tiểu học Trưng Nhị 18

1.3 Tiểu kết chương 24

CHƯƠNG 2 26

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁ THỂ HÓA QUÁ TRÌNH LÀM BÀI VĂN MIÊU TẢ 26

Trang 5

2.1 Xây dựng hệ thống bài tập hướng dẫn học sinh phân tích đề bài và cá thể

hóa đề bài tập làm văn 26

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập hướng dẫn học sinh quan sát theo hướng cá thể hóa đề bài 27

2.2.1 Bài tập xác định: Đối tượng quan sát là trực tiếp hay gián tiếp: 28

2.2.2 Bài tập xác định: Phương tiện quan sát bằng chính cảm nhận và vốn sống của các 29

2.2.3 Bài tập xác định: Nội dung đối tượng 29

2.2.4 Bài tập xác định: trình tự quan sát (từ xa lại gần, từ dưới lên trên, từ thấp đến cao, từ ngoài vào trong) 31

2.3 Xây dựng hệ thống bài tập hướng dẫn học sinh cá thể hóa quá trình viết bài văn miêu tả 32

2.3.1 Bài tập hướng dẫn học sinh lập chương trình giao tiếp trước khi viết bài văn miêu tả 32

2.3.2 Bài tập hướng dẫn cách viết Mở bài và Kết bài văn miêu tả 33

2.3.3 Hướng dẫn học sinh triển khai phần Thân bài văn miêu tả 38

2.3.4 Xây dựng hệ thống bài tập hướng dẫn học sinh viết bài văn miêu tả 39

2.4 Xây dựng hệ thống bài tập hướng dẫn học sinh hoàn thiện bài văn theo hướng cá thể hóa bài làm 44

2.5 Tiểu kết chương 2 44

CHƯƠNG 3 THỂ NGHIỆM 46

3.1 Mục đích thể nghiệm 46

3.2 Hình thức thể nghiệm 46

3.3 Đối tượng thể nghiệm 46

3.4 Nội dung thể nghiệm 46

3.5 Nội dung giáo án thể nghiệm 46

3.5.1 Giáo án thể nghiệm 1 46

Trang 6

3.6 Kết quả thể nghiệm 55

3.7 Nhận xét chung 56

KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Khảo sát năng lực dạy học Tập làm văn miêu tả trường Tiểu học

Trưng Nhị 18 Bảng 2: Khảo sát kết quả học tập văn miêu tả của học sinh lớp 4 trường Tiểu

học Trưng Nhị 21

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tiểu học là cấp bậc nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dục tiểu học được quy định tại luật Giáo dục Việt Nam năm 2010 là: “Trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản ban đầu, hình thành ở học sinh những kĩ năng cơ bản nền tảng, phát triển hứng thú học tập ở học sinh, thực hiện các mục tiêu giáo dục toàn diện đối với học sinh tiểu học” Vì vậy, giáo dục Tiểu học cần được chuẩn bị tốt về mọi mặt để học sinh tiếp tục học lên trên

Trong chương trình tiểu học, Tiếng Việt là môn học trọng tâm, chiếm

số lượng lớn các tiết trong tuần Tiếng Việt ở trường tiểu học với mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi từ

đó góp phần rèn luyện thao tác tư duy Môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài

để từ đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần nhỏ trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng của con người để góp phần thực hiện những nhiệm vụ đặt ra của hệ thống giáo dục quốc dân

Trong các giờ học Tiếng Việt ở trường tiểu học, không chỉ cung cấp kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các biện pháp tu từ mà còn chú ý phát triển cho học sinh kĩ năng ghép từ thành câu, ghép câu thành văn bản Ngày nay, nếu coi bài tập làm văn là sản phẩm của giao tiếp thể hiện quá trình giao tiếp của chủ thể giao tiếp thì ta phải xác định được các nội dung trong bài văn miêu tả: Ai miêu tả, miêu tả cho ai nghe, mục đích miêu tả để làm gì?

Trang 9

(hay còn gọi là các nhân tố giao tiếp) Để thể hiện rõ các nhân tố trên và để sản phẩm bài làm văn của mỗi học sinh là một sản phẩm giao tiếp riêng biệt

của từng học sinh tôi quyết định chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh lớp 4 cá

thể hóa quá trình làm bài văn miêu tả”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc dạy học cá thể hóa đã xuất hiện ở nền giáo dục nước ta từ rất lâu Dạy học cá thể hóa có vai trò và được sự quan tâm tâm ở những mức độ khác nhau trong các giai đoạn lịch sử và ngày càng được quan tâm đúng mức

2.1 Quan điểm của các nhà lãnh đạo về dạy học phân hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến giáo dục, đến sự phát triển toán diện nhân cách của con người Trong thư gửi các thầy cô giáo, ngày

5/10/1946 Người đã khẳng định: “Kể từ nay chúng ta xây dựng một nền giáo

dục của Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển tài năng vốn có trong lòng học sinh” Bác luôn khuyến khích các thầy cô giáo khi dạy học phải căn cứ

vào từng đặc điểm của đối tượng, tôn trọng đặc điểm của người học Người

nói: “Vì trình độ học không đồng nhau, cần có tài liệu học thích hợp cho từng

người Tài liệu học không thích hợp thì học không có lợi gì”

Nguyên Thứ trưởng Bộ GD & ĐT Đặng Huỳnh Mai, trong tài liệu

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục tiểu học đã

nhấn mạnh: “Điều quan trọng là phải biết trẻ có cái gì, cần cái gì, từ đó giáo

viên bám sát mục tiêu cấp học, lớp học, môn học mà tác động đến đối tượng Nếu thầy cô hết lòng yêu thương các em, giúp đỡ từng em thì các em sẽ đạt tiến bộ nhất định” “Sự đổi mới phương pháp chẳng qua là làm cho trẻ lại bản chất của quá trình giáo dục, tức là sự quan tâm của thầy cô giáo đối với từng đứa trẻ Và đây cũng chính là số phận của mỗi con người”

Các nhà giáo dục Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt cho thấy: “Nếu quan

tâm tới việc dạy học phân hóa, chú ý đầy đủ, đúng mức và kịp thời đến đặc

Trang 10

điểm cá nhân, trình độ của từng loại đối tượng thì sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho việc dạy học đồng loạt theo trình độ chung của lớp Ngược lại, việc dạy học đồng loạt nếu tiến hành tốt sẽ tạo điều kiện nâng cao trình độ của từng loại đối tượng và từng học sinh” [30]

Nội dung chủ yếu của các ý kiến trên tập trung vào định hướng dạy học phân hóa Đây chính là tiền đề để mỗi cá nhân được bộc lộ năng lực riêng của mình trong học tập nói chung và làm tập làm văn nói riêng

2.2 Nghiên cứu dạy học Tập làm văn theo hướng cá thể hóa

Tập làm văn chính là phân môn mà các em được thể hiện triệt để cách nghĩ, cách nhìn của chính các em Các em phải thể hiện suy nghĩ bằng chính tình cảm, hứng thú, vốn sống, vốn hiểu biết, vốn ngôn ngữ của mình, không ai

có thể làm hộ hay thay thế Người giáo viên chỉ có thể giúp học trò khâu chuẩn bị, còn học trò phải hoàn toàn tự lực Tính cá thể hóa của phân môn đặt

ra yêu cầu người dạy phân môn này phải có cách nhìn, cách ứng xử khác để

có các phương pháp dạy khác, phù hợp với từng học trò và đúng bản chất của tập làm văn

Tác giả Nguyễn Trí trong Dạy học Tập làm văn ở trường Tiểu học, NXB giáo dục 1998 đã nói rõ: cần định hướng cho trẻ có quan điểm riêng trong khi làm bài tập làm văn miêu tả Quan điểm riêng thể hiện từ khâu biến

đề bài chung thành đề bài riêng của mình, biết lựa chọn đối tượng miêu tả riêng, có nét độc đáo…

Cũng có một số luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến vấn đề cá thể hóa trong dạy học tập làm văn, tiêu biểu là luận văn của tác giả Phan Thị Mùi với đề tài

“Hướng dẫn học sinh lớp 5 cá thể hóa đề bài tập làm văn miêu tả” có hướng

nghiên cứu gần gũi với đề tài của chúng tôi, nhưng khác về đối tượng học

sinh được dạy và phạm vi khảo sát Vì vậy, đề tài nghiên cứu: “Hướng dẫn

Trang 11

học sinh lớp 4 cá thể hóa quá trình làm văn miêu tả”của chúng tôi vẫn có

hướng đi riêng, không trùng với hướng đi của các công trình đi trước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hướng dẫn học sinh cá thể hóa bài làm văn miêu tả

- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn phạm vi nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp 4 trường Tiểu học Trưng Nhị, Thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Để thực hiện được nhiệm vụ này, khóa luận thực hiện các nhiện vụ sau:

 Tổng hợp được các vấn đề lí thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài

 Xác định được các bài tập hướng dẫn học sinh cá thể hóa

6 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Đây là phương pháp nghiên cứu được chúng tôi dùng để phân tích tổng hợp các vấn đề lí thuyết làm cơ sở triển khai nhiệm vụ của đề tài

 Phương pháp điều tra

Đây là phương pháp được dùng để điều tra thực tiễn dạy học tập làm văn ở phổ thông có theo hướng cá thể hóa hay không

 Phương pháp hệ thống

Trang 12

Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện các nhiệm

vụ của đề tài

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khóa luận gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tâp hướng dẫn học sinh cá thể hóa quá trình làm bài văn miêu tả

Chương 3: Thể nghiệm

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Văn miêu tả và tập làm văn miêu tả

1.1.1.1 Quan niệm về văn miêu tả và đặc điểm của văn miêu tả

 Quan niệm về văn miêu tả

Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống Một bài văn miêu tả hay không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả Bởi vì, trong thực tế không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét của mình

 Đặc điểm của văn miêu tả

a Văn miêu tả mang đậm ấn tượng cảm xúc chủ quan của người viết

Thế giới hiện thực tồn tại ngoài con người với đủ các bộ phận và chi tiết vốn của nó nhưng việc đưa nội dung nào, chi tiết gì vào bài văn miêu tả là

do ý kiến chủ quan vào người viết, bởi lẽ ở mỗi con người sự hiểu biết, sự gắn

bó, sự cảm nhận, sự cảm nhận, sự yêu thích đối với các đối tượng được lựa chọn để miêu tả là khác nhau Mỗi chi tiết hay bộ phận được miêu tả bao giờ cũng thể hiện tình cảm, thái độ của người viết

b Văn miêu tả sống động và có tính tạo hình

Tính cụ thể, sinh động và tạo hình được thể hiện ở việc miêu tả hàm súc, lời ít, ý nhiều, ở những chi tiết đặc biệt, gây ấn tượng sâu sắc nơi người đọc Cái hay, cái đặc sắc của bài văn miêu tả được thể hiện ở các chi tiết miêu

tả sinh động và có đường nét, hình khối Đặc biệt văn miêu tả người đọc như thấy được các đối tượng vô tri vô giác cũng có hồn, các con vật cũng có đời

Trang 14

sống và có những hoạt động như con người Một bài văn được coi là sinh động tạo hình khi các đồ vật, loài vật, phong cảnh, con người hiện lên từng câu, từng dòng như đang sống cuộc sống thực, người đọc như có thể “cảm được”, như “sờ được”, “ngửi thấy” và “cảm nhận” được cái không gian xung quanh mà đối tượng miêu tả đang tồn tại

c Ngôn ngữ miêu tả gợi tả và gợi cảm

Ngôn ngữ miêu tả gợi tả và gợi cảm mang tính chất làm cho đối tượng miêu tả trở lên lung linh hơn, sống động hơn Để có một bài văn hay không thể không nói tới việc lựa chọn và sử dụng các đơn vị ngôn ngữ Nếu biết cách sử dụng ngôn ngữ người viết có thể miêu tả được đối tượng, sự vật trong quá trình vận động của nó, có thể tả những cái vô hình và những thứ hữu hình như: âm thanh, hương vị, tư tưởng Văn miêu tả là lớp từ ngữ gợi cảm, gợi tả hay còn gọi là lớp từ cụ thể Các từ này mang đến sự cảm nhận tinh tế bằng tất cả những giác quan của con người để người đọc có thể nhìn ra những đường nét, màu sắc, ánh sáng, trạng thái bên ngoài hay những rung động bên trong của của sự vật hiện tượng Để có một bài văn miêu tả hay, người viết cần sử dụng các tính từ, các từ láy, từ tượng thanh, tượng hình…

d Ngôn ngữ mang tính chất tượng hình

Đặc điểm này của văn miêu tả có cơ sơ là tính tượng hình nghệ thuật văn học Một bài văn miêu tả mà khô cứng và trần trụi thì không phải là một bài văn miêu tả, bài làm văn miêu tả phải làm sao cho người đọc thấy được ấn tượng mạnh mẽ, thực tế với những cảnh, những vật, từ đó mở rộng trường liên tưởng và chắp cánh cho trí tưởng tượng Để có những hình tượng trong văn miêu tả người ta thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, cường điệu, cùng với các từ ngữ gợi tả để tạo ấn tượng mạnh

mẽ khi miêu tả

Trang 15

e Ngôn ngữ miêu tả mang tính cụ thể và riêng biệt

Mỗi đối tượng cụ thể sẽ phải dùng những từ ngữ riêng biệt Trong hệ thống từ vựng có những từ chuyên dùng cho sự vật, hiện tượng đó, tình cảm đó… làm cho chúng khu biệt với tất cả các đối tượng cùng loại Ví dụ: cùng

là màu xanh ta có xanh non, xanh ngắt, xanh xao, xanh thẳm… nhưng ta không thể tả lá cây bàng đang nảy lộc bằng “xanh biếc” hay “xanh xao” được

mà ta phải dùng từ “ xanh non Tính riêng biệt này của ngôn ngữ có thể do nguyên nhân khách quan trong hệ thống ngôn ngữ và thói quen sử dụng quy định, nhưng tính riêng biệt này còn ảnh hưởng tới cá tính của người viết nhằm thể hiện phong cách riêng của họ Vì vậy, ngôn ngữ miêu tả bao giờ cũng gần gũi với thực tế, giàu hình ảnh và tràn đầy cảm xúc

Như vậy, những đặc điểm trên của văn miêu tả đã làm nên những đặc trưng riêng biệt cho loại văn này làm cho văn miêu tả khác hơn so với các loại văn khác như tự sự hay nghị luận Đây cũng là một yếu tố cần thiết để tạo nên một bài văn miêu tả hay, hấp dẫn với sự hỗ trợ đắc lực của kĩ năng quan sát

1.1.2 Tập làm văn miêu tả trong trường Tiểu học

1.1.2.1 Các dạng bài tập làm văn miêu tả ở Tiểu học

Tập làm văn trong trường Tiểu học gồm: miêu tả đồ vật, con vật, cây cối (đối với học sinh lớp 4), miêu tả người, tả cảnh (đối với học sinh lớp 5)

Cụ thể như sau:

 Tả đồ vật:

 Đối tượng: Là những vật mà học sinh thường thấy trong đời sống, thân thiết với các em Đó có thể là cái trống trường, cái bút, quyển sách, chiếc cặp… Tuy chúng là các vật vô tri vô giác nhưng chúng rất gần gũi, có ích cho con người, chúng gắn bó với các em như những người bạn thân thiết

 Đặc điểm: Mỗi đồ vật đều có hình dạng, màu sắc, kích thước, chất liệu khác nhau Nhờ vào các đặc điểm này để các em phân biệt đồ vật này với

Trang 16

các đồ vật khác Để làm được điều này, đòi hỏi học sinh phải có óc quan sát, viết chính xác những gì mình nhìn thấy Tuy nhiên, việc các em miêu tả chính xác các bộ phận của đồ vật là chưa đủ mà các em còn phải bày tỏ tình cảm của mình với đồ vật, để thổi hồn vào đồ vật, làm cho đồ vật trở nên sinh động, hiện ra trước mặt người đọc và người nghe

 Tả đồ vật:

 Đối tượng: Là những cây trồng xung quanh học sinh Đó đều là những cây có ích, gần gũi, thân thiết với các em Ví dụ: Cây bàng, cây phượng, cây hoa, cây ăn quả,…

 Đặc điểm: Mỗi loại cây đều có những hình dáng, đặc điểm, lợi ích nhất định Các em phải quan sát tỉ mỉ, lâu dài từng thời kì phát triển của cây, và lợi ích của cây với đời sống con người Không chỉ vậy, hoc sinh phải đạt đối tượng miêu tả của mình vào thiên nhiên, vào đúng môi trường sống của nó Để thêm phần sinh động, các em nên gắn miêu tả cây với các khung cảnh xung quanh cây

 Tả con vật:

 Đối tượng: Là những con vật quen thuộc, gần gũi với học sinh (Ví dụ: chị ong, chú chó, cậu mèo, bác ngan )

 Đặc điểm: mỗi con vật đều có hình dạng, khích thước, đặc tính riêng

Để mỗi con vật trở nên chân thực trước mắt thì học sinh không chỉ miêu tả các đặc điểm hình dáng bên ngoài mà còn tả về các đặc điểm tiêu biểu về màu sắc, tính nết của vật Các em cũng nên bày tỏ tình cảm của mình với con vật, nói về lợi ích cả chúng

 Tả cảnh:

 Đối tượng: Là những cảnh vật quen thuộc xung quanh các em (Ví dụ: con sông quê hương, cánh đồng, góc phố, hay di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh mà em đã được đến…)

Trang 17

 Đặc điểm: Mỗi cảnh đều phải đặt trong không gian và thời gian, đó chính là cái nền, cảm hứng để các em viết bài văn miêu tả cảnh hay và hấp dẫn Đặc biệt, học sinh cần phải làm nổi bật những đặc điểm đặc trưng của cảnh đó Ngoài ra, các em nên lồng tả người, vật vào trong cảnh, để cảnh từ bức tranh tĩnh trở thành bức tranh động Quan trọng hơn nữa là bài viết phải cho người đọc cảm nhận được tình cảm của các em trong đó

Để miêu tả hay, các em nên miêu tả đối tượng dưới con mắt và cảm nhận của mình, nhờ vào những tình cảm ấy mỗi đồ vật sẽ mang theo nhưng cái hồn riêng

1.1.2.2 Các kĩ năng làm văn miêu tả

Tập làm văn là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dưới dạng nói học viết Để tạo lập một văn bản thường học sinh phải trải qua bốn giai đoạn: định hướng, lập chương trình biểu đạt, hiện thực hóa chương trình và kiểm tra tương ứng với hoạt động của lời nói Vì vậy, mỗi giai đoạn tương ứng với một nhóm các kĩ năng làm văn

 Giai đoạn định hướng: Giai đoạn này tương ứng với tìm hiểu đề, đây

là gia đoạn rất quan trọng định hướng cách làm bài và kết quả của bài văn phụ

Trang 18

thuộc rất nhiều vào việc học sinh đã xác định đúng đề bài hay chưa Ngoài ra,

để định hướng được thì học sinh phải xác định rõ ràng các nhân tố giao tiếp

để xác định các nhân tố giao tiếp, phương thức giao tiếp cho phù hợp

 Giai đoạn lập chương trình biểu đạt: Đây là kĩ năng tìm ý và lập dàn

ý cho bài văn Học sinh muốn làm được bước này thì trước hết các em phải có

ý, từ các ý các em vừa nghĩ triển khai thành lời tạo nên nội dung cho bài văn

Có nhiều các khác nhau để tìm ý như: xem tranh, hồi tưởng, liên tưởng… Song quan sát vẫn là kĩ năng cơ bản và thông dụng nhất trong việc giúp học sinh tìm ý Đặc biệt là các học sinh mới học văn miêu tả (học sinh lớp 4) vốn sống, vốn từ ngữ của các em vẫn còn nghèo nàn thì kĩ năng quan sát sẽ là công cụ hữu hiệu để tìm kiếm thông tin các sự vật hiện tượng xung quanh mình, nhờ có kĩ năng quan sát mà các em có khối lượng ý phong phú hơn Việc lập dàn ý giúp học sinh có cái nhìn bao quát hơn, toàn diện hơn với đối tượng miêu tả, đồng thời các ý sẽ được sắp xếp một cách trình tự hơn, tránh được tình trạng lạc đề trong khi viết

 Giai đoạn hiện thực hóa chương trình: Giai đoạn này ứng với các kĩ năng xây dựng văn bản

 Giai đoạn kiểm tra: Giai đoạn này tương ứng với kĩ năng phát hiện

và sửa lỗi

Như vậy, học sinh muốn làm một bài văn hay và hoàn chỉnh thì các em phải có nhiều kĩ năng khác nhau Việc hình thành các kĩ năng này cần phải có thao tác luyện tập và từng kiến thức bộ phận sẽ góp phần tạo nên kĩ năng làm bài văn miêu tả nói chung

1.1.2.3 Cá thể hóa trong dạy học tập làm văn miêu tả

Thực tế, các đề bài văn miêu tả trong sách giáo khoa lớp 4 là các đề bài dùng chung cho cả nước Có những đề bài ngắn gọn, nêu rõ kiểu bài và đối tượng miêu tả rất rõ ràng nhưng các đề chưa thực sự phù hợp với từng địa

Trang 19

phương Ví dụ: Đề bài: Em hãy viết kết bài mở rộng cho một trong các đề tài

“ tả cây đa cổ thụ ở đầu làng em” (Tiếng Việt 4, tập 2) có lẽ chỉ phù hợp với nhưng nơi nào có cây cổ thụ trước cổng làng chứ các học sinh ở những nơi không có cây đa đầu làng khó mà viết được một kết bài hay Một số đề bài buộc học sinh phải lựa chọn đối tượng miêu tả như: Đề bài: Tả một cây ăn quả Ở đề bài trên yêu cầu các em phải có kiến thức về các loài cây phân biệt lợi ích của các cây để tránh lạc đề Các em buộc phải lựa chọn tả cây gì? Vào thời điểm nào? Ở trong vườn hay ngoài công viên, hay trên đường phố? Như vậy các đề văn chưa yêu cầu một cách rõ nét Ai miêu tả? Miêu tả cho ai nghe? Mục đích miêu tả để làm gì? (hay còn gọi là các nhân tố giao tiếp), làm cho các em thiếu một điểm tựa, khó làm được đúng các yêu cầu của đề bài

Như vậy, điều quan trọng là phải hướng các em làm văn theo hướng cá thể hóa đề bài và giáo viên phải giúp các em nhận ra được: Tả đối tượng cụ thể nào? Tả cho ai? Tả để làm gì? Tả như thế nào? Học sinh có quyền được lựa chọn, tả chân thực theo đúng cảm nhận của chính bản thân mình Đây chính là định hướng dạy học tập làm văn theo hướng cá thể hóa

1.1.3 Cơ sở tâm lí và quá trình cá thể hóa hoạt động tiếp nhận và sản sinh

văn bản của học sinh

Học sinh lớp 4, 5 đã bắt đầu bước vào lứa tuổi thiếu niên Hành vi và đời sống nội tâm của các em đang có những chuyển biến rõ rệt Lứa tuổi này còn được gợi là lứa tuổi chuyển giao giữa người lớn và trẻ con

Ở giai đoạn này của học sinh, tư duy trực quan đã hình thành và bắt đầu chuyển dần sang tư duy trừu tượng, tích lũy được nhều kinh nghiệm hơn so với các lớp đầu Tiểu học Các em đã có khả năng phân tích, khái quát, biết phê phán và kiến thức lĩnh hội không chỉ một chiều Đặc biệt, trí tưởng tượng của các em ở giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi cảm xúc, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng gắn liền với rung động tình cảm Các em

Trang 20

có lòng say mê văn học, hứng thứ với việc dùng câu văn của mình để bộc lộ một sự vật, hiện tượng nào đó, có tình cảm và sự gắn bó với những đồ vật, những loài vật và cây cối xung quanh Mặt khác, ở giai đoạn cuối cấp tiểu học, các em rất ham tìm tòi, học hỏi Các em thường thể hiện sự thích thú và tham gia nhiệt tình vào các hoạt động có sự trải nghiệm hoặc đi sau vào cảm xúc… Thực tế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng, những giờ học được gây chú ý, hứng thú cho học sinh thường mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn rất nhiều so với những giờ lí thuyết suông Nhưng kiến thức trong giờ học này các em tiếp nhận tự nhiên và ghi nhớ lâu hơn Nói các khác, các em làm việc có hiệu quả hơn khi có hứng thú đối với công việc Việc cho học sinh cá thể hóa đề bài chung thành đề bài riêng và được miêu tả đối tượng do mình lựa chọn sẽ tạo hứng thú cho các em, giúp các em thể hiện được năng lực của bản thân mình

1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ và cá thể hóa bài tâp làm văn miêu tả

Cá thể hóa bài văn miêu tả có thể có nhiều cách, nhưng cách dựa vào quan điểm giao tiếp có nhiều thuận lợi hơn, phù hợp với học sinh tiểu học hơn Đó là “Xử lí mối quan hệ giữa bài viết với các nhân tố khác nằm ngoài

hệ thống ngôn ngữ như: đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp” Người ta gọi đây là “Cá thể hóa đề bài theo quan điểm giao tiếp”

Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp thực chất là dạy học vì mục đích giao tiếp, dạy về giao tiếp và dạy trong giao tiếp Quan điểm giao tiếp quán triệt tư tưởng, giao tiếp vừa là đích xuất phát, vừa là đích hướng tới, vừa là nội dung, vừa là định hướng phương pháp và môi trường tổ chức dạy học ở tất cả các đơn vị kiến thức tiếng Việt Cá thể hóa đề bài theo quan điểm giao tiếp là từ đề bài, giả định một tình huống giao tiếp để trả lời cho các câu hỏi: Ai là người phát ngôn, người nói trong văn bản sẽ tạo lập? Nói với ai? Nói trong hoàn cảnh nào? Nói nhằm mục đích gì? Nói theo trình tự nào? và

Trang 21

cách nói như thế nào cho hay và hiệu quả, nói theo kiểu kể hay tả? Khi xác định như vậy, học sinh sẽ biết các xưng hô cho phù hợp với các tình huống giao tiếp giả định, các em sẽ dễ viết hơn

Cá thể hóa đề bài theo quy trình sản sinh ngôn bản gồm 4 bước và phải rèn luyện thành 4 kĩ năng giao tiếp cho học sinh như sau:

 Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp (phân tích đề bài, xác định yêu cầu nội dung, thể loại văn bản giả định tình huống giao tiếp, xác định nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp nội dung vào cách thức giao tiếp)

 Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp (xác định dàn ý cho bài văn sẽ viết Với bài văn miêu tả, phải quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp thành dàn ý cho bài văn miêu tả, phải xác định đối tượng, tìm và sắp xếp các ý thành dàn ý cho bài văn miêu tả)

 Kĩ năng hiện thực hóa quá trình giao tiếp (diễn đạt ý thành lời văn, xây đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài, liên kết các đoạn văn thành bài văn)

 Kĩ năng hoàn thiện sản phẩm giao tiếp (đối chiếu văn bản với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt, hoàn thiện về nội dung và sửa lỗi diễn đạt

Đặc biệt hiện nay, hoạt động dạy học và giáo dục còn trau dồi cho học sinh lớp 4, 5 những kĩ năng sống: Kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng hợp tác, kĩ năng thuyết trình, ra quyết định, phản biện, tư duy sáng tạo…

1.2 Cơ sở thực tiễn

Để tìm hiểu thực trạng dạy học văn miêu tả theo hướng cá thể hóa, chúng tôi tìm hiểu nội dung dạy học văn miêu tả và thực tế dạy học thể loại văn này ở lớp 4 của trường tiểu học Trưng Nhị Kết quả khảo sát sẽ cho chúng tôi những căn cứ thực tiễn để tìm ra những biện pháp dạy học Tập làm văn theo hướng cá thể hóa hiệu quả hơn

Trang 22

1.2.1 Nội dung dạy học văn miêu tả

Trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 có 30 tiết dạy về văn miêu tả (chiếm 48% tổng số tiết dạy Tập làm văn)

Chủ yếu là miêu tả đồ chơi mà em yêu thích, các đồ vật gần gũi và thân quen với trẻ: cây bút máy, chiếc cặp sách, cái thước kẻ, cái bàn học (ở lớp hoặc ở nhà), cái trống trường em…

2 Miêu tả cây cối 11 tiết

(chiếm 36%

tổng số tiết dạy miêu tả)

Chủ yếu là miêu tả các loài cây mà các em yêu thích và các loài cây gần gũi ở các với các em ở không gian và thời gian khác nhau: tả cây bóng mát (Ví dụ: cây gạo, cây bàng, cây phượng vĩ,…), tả cây ăn quả (cây mít, cây xoài, cây chuối…), tả cây hoa (hoa hồng, hoa mai, hoa đào,…)…

3 Miêu tả con vật 8 tiết

(chiếm 28%

tổng số tiết dạy miêu tả)

Chủ yếu là miêu tả các con vật gần gũi quen thuộc hoặc các con vật mà các em yêu quý (ví dụ: chó, mèo, gà, chim, lợn…), tả con vật trong vườn thú (voi, gấu, hổ, ngựa….), các con vật các em được nhìn thấy trên tạp trí, họa báo, truyền hình, phim ảnh

Trang 23

1.2.2 Cấu trúc nội dung bài học dạy tập làm văn miêu tả

Nội dung dạy học Tập làm văn miêu tả có bốn kiểu bài học, vì thế chúng tôi trình bày cấu trúc nội dung bài học theo từng kiểu bài

1.2.2.1 Kiểu bài học giới thiệu, làm quen với đối tượng

Ví dụ: bài: “Thế nào là văn miêu tả ?” SGK Tiếng Việt 4 tập 1 trang

Đây là cấu trúc chung, còn đối với mỗi dạng miêu tả đồ vật, dạng miêu

tả con vật, dạng miêu tả cây cối sẽ có nội dung hướng dẫn từng dạng đối tượng khác nhau riêng

1.2.2.2 Kiểu bài học luyện tập

Ví dụ: bài: “Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối” SGK Tiếng Việt 4 tập 2 trang 41

Cấu trúc:

Thường là các đoạn văn miêu tả liên quan đến chủ đề được nói tới trong bài

Trong bài: “Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối” có hai đoạn tả

về lá của cây bàng và hai đoạn tả thân và gốc cây

1.2.2.3 Kiểu bài kiểm tra viết

Ví dụ: bài: “Miêu tả cây cối (kiểm tra bài viết)” SGK Tiếng Việt 4 tập

2 trang 92

Trang 24

Cấu trúc:

Thường là các đề bài thuộc chủ đề cây cối Kiểu bài trên thường có 4 đề tập làm văn để các em lựa chọn Mỗi đề bài sẽ kèm theo một bức tranh gợi để các em có thể tưởng tượng ra được đối tượng mình sẽ viết trong bài tập làm văn

1.2.2.4 Kiểu bài trả bài kiểm tra

Ví dụ: bài: “Trả bài văn miêu tả cây cối” SGK Tiếng Việt 4 tập 2 trang 94 Thường kiểu bài có 4 nội dung:

 Nội dung 1: Nghe cô giáo (thầy giáo) nhận xét chung bài làm của cả lớp

 Nội dung 2: Chữa bài gồm:

 Đọc lại bài làm, lời phê của cô giáo (thầy giáo)

 Tham gia vào chữa lỗi cô giáo (thầy giáo) đề nghị chung cho cả lớp: lỗi về bố cục bài, lỗi về ý, lỗi về cách dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả,

 Tự chữa bài của mình

 Đổi bài cho bạn để kiểm tra việc chữa lỗi

 Nội dung 3: Học tập những bài văn hay hoặc đoạn văn hay

 Nội dung 4: Viết lại một đoạn trong bài làm của em cho hay hơn

1.2.3 Hướng dẫn của sách giáo viên về dạy học văn miêu tả

Sách giáo viên hướng dẫn dạy miêu tả tương ứng với các kiểu bài trong sách giáo khoa Đó là 4 kiểu bài hướng dẫn dạy học như sau: làm quen với đối tượng miêu tả, kiểu bài luyện tập, kiểu bài kiểm tra, kiểu bài trả bài kiểm tra Ở mỗi kiểu bài này, sách giáo viên cũng có những lưu ý cần thiết khi dạy các thể loại miêu tả khác nhau: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật

Mỗi kiểu bài và thể loại trên đòi hỏi giáo viên phải có ý thức và phương pháp dạy học theo hướng cá thể hóa Cá thể trong khâu giúp học sinh định

Trang 25

hướng đề bài, cá thể trong hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng đã chọn, trong quá trình miêu tả Khi trả bài cũng không nên nhận xét chung chung mà phải chú ý tới từng học sinh trong khả năng viết bài cụ thể và quá trình tiến bộ của riêng từng em

Tuy nhiên trên thực tế giáo viên có thực hiện được các điều đó trong quá trình dạy tập làm văn miêu tả cho học sinh thích hợp với từng kiểu bài không khi mà sách giáo viên chỉ được phép gợi ý chung chung Đây là câu hỏi cần có sự khảo sát thực tế để có câu trả lời sát thực

1.2.4 Thực tế dạy và học Tập làm văn miêu tả theo hướng cá thể hóa lớp 4

trường Tiểu học Trưng Nhị

1.2.4.1 Thực tế dạy Tập làm văn miêu tả của giáo viên trường Tiểu học Trưng Nhị

Phân môn tập làm văn trong trường Tiểu học nói chung và văn miêu tả nói riêng luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm của các thầy cô giáo trong quá trình dạy học Tuy nhiên, việc dạy học văn miêu tả thực tế việc dạy văn còn mang tính chất lấy điểm, hoạt động luyện tập quan sát còn diễn ra rất sơ sài Dưới đây là kết quả khảo sát thực trạng giáo viên nắm vững các yêu cầu về việc giảng dạy tập làm văn của 7 thầy cô giáo của trường Tiểu học Trưng Nhị

1 Hiểu được khái niệm về văn miêu tả 7 100%

Trang 26

2 Nêu được yêu cầu của một bài văn miêu tả 6 85,7%

3 Nắm được quy trình dạy các kiểu bài trong

sách giáo khoa 7 100%

4 Hiểu được thói quen và sở thích của học sinh 4 57,1%

5 Quan tâm tới cá thể hóa khi hướng dẫn học

6 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho đề bài

7 Có kĩ năng sửa lỗi chi tiết cho học sinh 3 42,8%

Thông qua kết quả khảo sát trên, chúng tôi thấy:

Tuyệt đại giáo viên nắm được đầy đủ khái niệm và kể tên được các kiểu bài của văn miêu tả Tất cả giáo viên đều nắm vững quy trình dạy và đều chú ý đến hoạt động hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho bài văn miêu tả Tuy nhiên chỉ hơn 50% giáo viên hiểu được thói quen và sở thích của học sinh lớp mình phụ trách Điều này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình giúp học sinh cá thể hóa đề bài chung Cho dù có tới hơn 70% giáo viên có ý thức về sự cá thể hóa

đề bài cho học sinh nhưng nếu giáo viên thiếu hiểu biết về thói quen, đặc điểm về hoàn cảnh sống riêng của từng em thì khó có thể đưa ra các gợi ý định hướng để học sinh huy động vốn sống cá nhân vào cá thể đề bài chung thành đề bài riêng của mình Rõ ràng, việc nắm lí thuyết về cá thể hóa là chưa

đủ Thêm nữa, chỉ có ý thức về việc phải cá thể hóa đề bài cho học sinh khi hướng dẫn học sinh viết bài văn miêu tả, cũng chưa đủ Giáo viên phải có sự hiểu biết về từng học sinh trong lớp mình dạy để từ đó tìm ra cách hướng dẫn học sinh biết cá thể hóa mỗi đề bài tập làm văn Ví dụ: Cùng là đề bài: Tả một cây có bóng mát (hoặc cây ăn quả, cây hoa) mà em yêu thích (Tuần 26 - Luyện tập miêu tả cây cối), giáo viên có thể gợi ý học sinh vùng nông thôn

Trang 27

quan tâm tới cây bóng mát như cây phượng vĩ, cây bàng trong sân trường, cây

đa đầu làng; cây ăn quả như: cây mít, cây ổi, cây khế hoặc cây hoa trong vườn nhà Hướng dẫn học sinh vùng thành phố quan tâm tới cây bóng mát hai bên đường, trong sân trường Các em có thể tả cây ăn quả, cây hoa trong chậu cảnh

Kết quả khảo sát cũng cho thấy giáo viên đánh giá bài tập làm văn của học sinh khá sơ sài Có giáo viên chấm bài theo tiêu chí về độ dài của bài viết, các ý có trong bài viết, tình cảm của các em có trong bài Nhưng có nhiều bài văn dài nhưng tả quá lan man, các câu trong đoạn thân bài rời rạc, tình cảm các em thể hiện trong bài mang tính chất gượng ép, không chân thực giáo viên chũng chỉ nhận xét chung chung mà không biết chữa cụ thể cho các

em thế nào Trong thực tế, giáo viên chỉ chú ý tới lỗi của các bạn học kém trong lớp hoặc các bài bị điểm kém trong lớp mà ít khi chữa lỗi diễn đạt, lỗi liên kết của bài điểm khá và giỏi để bài văn được hoàn chỉnh hơn

Các nhận xét: Tạm được; Bài viết còn yếu; Chưa biết tả; Bài viết chưa

thể hiện được tình cảm đã tạo cho học sinh tâm lí buồn chán, không chỉ cho

các em biết tạm được là đến mức độ nào Bài viết yếu thì giáo viên không chỉ

ra cách sửa, không động viên khuyến khích các em Đây cũng là lí do khiến các em không có hứng thú với môn văn Nặng hơn nữa là còn tạo cho các em cảm giác sợ tập làm văn, khó thể hiện tình cảm, cảm xúc chân thật của chính mình Mặc dù, phân môn Tập làm văn ở trường Tiểu học rất được quan tâm,

và chiếm nhiều tiết trong quá trình dạy học nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Tập làm văn là một phân môn khó vì nó đòi hỏi học sinh phải tổng hợp kiến thức, phải thể hiện được rung cảm của cá nhân, phải thể hiện sáng tạo tiếng mẹ đẻ Trong quá trình giảng dạy, hai thái cực xảy ra:

Một là, sau khi đọc đề, giáo viên hướng dẫn chung chung rồi để học

sinh tự viết

Trang 28

Hai là, ngay sau khi đọc đề, giáo viên đã cung cấp bài văn mẫu làm

khuôn, học sinh cứ thế áp dụng

Cả hai cách trên đều làm cho học sinh không biết làm văn, ngại học văn, dù vẫn có tình yêu đối với văn học (rất thích đọc truyện) Mặc dù nhiều giáo viên dạy theo cách một giải thích rằng, giáo viên chỉ cần hướng dẫn chung chung, học sinh thích viết thế nào là tùy cá nhân mỗi em Như thế mới

có sản phẩm riêng biệt của từng em Nhưng trên thực tế, học sinh rất cần hướng dẫn cách làm cụ thể Hướng dẫn cách chọn đối tượng miêu tả sao cho riêng biệt và cách quan sát đối tượng ấy để miêu tả ra sao Nghĩa là rất cần giáo viên hướng dẫn chi tiết, chứ không thể đọc đề xong hướng dẫn qua loa rồi để đấy mặc học sinh tự xoay sở Dạy theo cách này, hoặc là do giáo viên

vô trách nhiệm, hoặc do ngay chính giáo viên cũng là người thiếu tri thức khoa học

Dạy theo thái cực thứ hai, chỉ có thể lí giải từ bệnh thành tích trong giáo dục Giáo viên chỉ cần học sinh đạt điểm số cao, không cần học sinh có hiểu biết và tình cảm thật với đối tượng miêu tả

1.2.4.2 Thực tế bài làm tập làm văn miêu tả của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Trưng Nhị

Các kĩ năng làm bài văn miêu tả là rất quan trọng đối với học sinh vì thông qua đó các em được tự do thể hiện bản thân mình, cách nhìn, cách cảm nhận của các em Song việc học và rèn luyện các kĩ năng miêu tả của các em

ở Tiểu học vẫn còn ít và chưa chất lượng Trò chuyện cùng học sinh một lớp tại trường tiểu học Trưng Nhị và mượn vở của 40 học sinh, chấm khảo sát các bài làm văn miêu tả của các em, bước đầu chúng tôi đưa ra kết quả sau:

Bảng 2: Khảo sát kết quả học tập văn miêu tả của học sinh lớp 4 trường

Tiểu học Trưng Nhị

Số lượng Tỉ lệ %

Trang 29

1 Yêu thích môn Tập làm văn 17 42,5%

2 Hiểu đƣợc khái niệm về văn miêu tả 8 20%

3 Biết trình tự tả và sắp xếp các ý chính 25 62,5%

4 Biết cách làm một bài văn hoàn chỉnh 35 88%

5 Biết tạo ra đối tƣợng miêu tả riêng 7 17,5%

Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy:

 Số học sinh thích làm tập làm văn ít, chỉ chiếm 42,5% Thực tế các

em rất chán nản khi học môn văn, có nhiều em sợ hãi khi nhắc tới môn văn Các em cho rằng giờ tập làm văn rất nhàm chán, các em không biết phải tả từ đâu, không bộc lộ cảm xúc nhƣ thế nào, thậm chí các em cảm thấy nhức đầu khi không biết chọn cái gì để tả

 Học sinh hiểu về khái niệm văn miêu tả còn thấp: 20%

 Học sinh biết trình tự tả và sắp xếp các ý ở tỉ lệ cao: 62,5%

 Các em đã đƣợc học rất kĩ lƣỡng về cấu tạo về một bài văn miêu tả nên tỉ lệ biết cách làm một bài văn hoàn chỉnh là rất cao

 Tuy nhiên, tỉ lệ học sinh biết cách cá thể hóa đề bài còn thấp: 17, 5% Qua việc khảo sát và phân tích trên, chúng tôi thấy nhiều em không yêu thích giờ tập làm văn, đặc biệt là giờ văn miêu tả, có em còn thể hiện sự sợ hãi, áp lực trong giờ tập làm văn Chính vì vậy nên các em không hiểu đƣợc thế nào là văn miêu tả? Các em trả lời rất chung chung và theo ý hiểu Việc các em nắm đƣợc trình tự miêu tả và biết cách làm một bài văn miêu tả hoàn chỉnh có tỉ lệ cao vì các em học theo lối dập khuôn, phụ thuộc vào bài văn/ đoạn văn mẫu Lí do này đã kéo theo tỉ lệ các em biết cách phân tích đề bài và đặt mình vào trong hoàn cảnh của bài văn miêu tả là rất thấp, bài viết của các

Trang 30

em không xuất phát từ cái nhìn, cách cảm nhận của các em nên các em luôn cảm thấy giờ học khô khan

Thông qua khảo sát vở tập làm văn của các em chúng tôi rút ra một vài

lí do như sau:

 Có nhiều bài văn giống nhau về mở bài, thân bài, cách triển khai các

ý trong bài Nguyên nhân chính là do các em tham khảo cùng một bài viết trong sách tham khảo hoặc được giáo viên hướng dẫn viết mẫu

 Cách triển khai đối tượng trong cùng một đề bài là giống nhau, chỉ thay đổi tên gọi Nguyên nhân là giáo viên cho học sinh một cái khuôn cho sẵn và học sinh áp dụng một cách máy móc Chúng tôi thường bắt gặp kiểu

mở bài theo kiểu dập khuôn Ví dụ: Nếu tả về đồ chơi mà em thích nhất thì

mở bài là “Em có rất nhiều đồ chơi như xe hơi, lego, gấu bông, nhưng đồ

chơi mà em yêu thích nhất là robot.” Nếu là tả về các loài cây thì mở bài là

“Trên Việt Nam ta có rất nhiều loài cây ăn quả ngon Nhưng em thích nhất là xoài được trồng ở nhà ông em ở miền Nam”

Tóm lại, khó khăn mà các em đang gặp phải là bước phân tích đề Các

em rất ngại học văn bởi vì các em không biết phải miêu tả ra sao? Miêu tả như thế nào? Các nguyên nhân trên phần lớn vẫn là do phương pháp dạy của giáo viên chưa trang bị đủ cho các em hành trang để vững vàng và tự tin khi đứng trước một đề văn miêu tả Không chỉ có nguyên nhân từ phía giáo viên

mà nguyên nhân cũng đến từ các học sinh Các em còn hổng rất nhiều về kiến thức trong sách giáo khoa và kiến thức ngoài thực tế, bệnh lười suy nghĩ vẫn diễn ra một cách rất phổ biến Nhiều học sinh nông thôn chưa bao giờ lên thành phố, có em chưa từng tới công viên, vườn bách thú… Ngược lại, nhiều học sinh thành phố ít có cơ hội về nông thôn nên các em không thể tả con vật nuôi trong gia đình , tả cảnh khu vườn sinh động như các bạn nông thôn được

Trang 31

Qua đó ta thấy, khi làm bài, học sinh không nắm được đặc điểm đối tượng mình miêu tả nên viết không chân thực thiếu cảm xúc Việc học trên lớp, vì thiếu tập trung chưa có phương pháp học nên cũng có những hạn chế nhất định Có những học sinh đọc đề bài lên không biết mình nên viết về cái

gì, viết như thế nào, tả từ đâu trước… Hơn nữa, hiện nay, trên các cửa hàng sách giáo dục có bày bán rất nhiều sách tham khảo, văn mẫu từ các luồng thông tin khác nhau nên tạo điều kiện cho học sinh chép văn mẫu Nhiều giáo viên thú thật đã không kiểm soát hết việc các em chép bài văn này, bài văn kia theo mẫu ở đâu, vì thị trường sách loạn văn mẫu

Tuy nhiên, lỗi không ở các bài văn mẫu mà lỗi chính là ở người dùng bài làm mẫu như thế nào Nếu giáo viên và cha mẹ học sinh biết tận dụng các bài văn mẫu làm tư liệu, làm ý tưởng cho bài viết, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, yêu con người… thì kết quả là rất tốt Ngoài ra có thể kể đến các nguyên nhân khác, sự hấp dẫn của máy vi tính, ti vi, truyện tranh và các trò chơi hiện đại… Ngoài giờ học, các em thường bị hút vào các trò chơi game, các trang web khác nên các em ít có thời gian tìm hiểu thiên nhiên và thế giới xung quanh Thế giới tuổi thơ của các em dần bị thu hẹp trong căn phòng Vì vậy, thế giới tưởng tượng của các em bị hạn chế, óc quan sát, nhận xét tinh tế cũng bị hạn chế theo

Từ những nguyên nhân trên, chúng ta cần có những giải pháp khắc phục

1.3 Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày khái quát những kiến thức lí thuyết làm cơ sở cho đề tài, những nghiên cứu về Tập làm văn và cá thể hóa

đề bài trong văn miêu tả lớp 4

Việc khảo sát mục tiêu, nội dung, chương trình, sách giáo khoa, giáo viên và học sinh lớp 4 cùng với các trải nghiệm thực tế giúp ta hình dung

Trang 32

tương đối rõ nét về thực trạng dạy học miêu tả ở lớp 4 Từ đó, bước đầu chúng tôi đã có những đánh giá khách quan sau khảo sát để làm cơ sở xây dựng biện pháp giúp học sinh lớp 4 biết làm văn một cách chân thực và mang đặc trưng riêng của mỗi em

Việc tìm hiểu về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn chính là căn cứ để chúng tôi đề xuất hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theo hướng cá thể hóa đề bài

Trang 33

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁ THỂ

HÓA QUÁ TRÌNH LÀM BÀI VĂN MIÊU TẢ

2.1 Xây dựng hệ thống bài tập hướng dẫn học sinh phân tích đề bài và cá thể hóa đề bài tập làm văn

Đây là dạng bài tập xác định yêu cầu về nội dung, thể loại, mức độ biểu đạt, định hướng cho đề bài và gạch chân những từ ngữ quan trọng có trong đề bài

Khi đứng trước một đề tập làm văn, giáo viên phải hướng dẫn các em xác định được đối tượng cần miêu tả và gạch chân những từ quan trọng

Ví dụ: Với đề bài: “Tả một vật nuôi trong nhà”, giáo viên có thể hướng dẫn cho các em như sau:

a/ Em hãy gạch chân yêu cầu đề bài?

b/ Đối tượng miêu tả là gì?

c/ Đối tượng miêu tả đó ở đâu?

d/ Đây thuộc thể loại văn nào?

Qua các gợi ý trên các em sẽ xác định được : yêu cầu của bài là tả về con vật nuôi trong gia đình, đối tượng miêu tả là con vật, miêu tả con vật ở trong nhà, đây là thể loại Miêu tả Giáo viên cần rèn cho các em thói quen này mỗi khi đứng trước một đề bài bất kì Tránh việc đọc qua loa dẫn tới hiểu sai

đề bài, làm sai bài làm

Tiếp đến, để rèn luyện kĩ năng cá thể hóa đề bài, các dạng bài tập ngắn

sẽ giúp các em dễ dàng lựa chọn đối tượng khi miêu tả, làm cho đối tượng không trở nên xa vời, không chung chung mà trở nên gần gũi với học sinh Tuy nhiên để làm được điều này nhất thiết các em phải chọn miêu tả những đối tượng gần gũi, thân thiết với các em Đây là những thứ có trong cuộc sống

Ngày đăng: 23/12/2019, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Phương Nga (2012), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II, Nxb Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nxb Sƣ phạm
Năm: 2012
3. Đặng Thị Lanh (Chủ biên)- Lê Phương Nga- Trần Thị Minh Phương, (1999), Tiếng Việt 4 nâng cao, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 4 nâng cao
Tác giả: Đặng Thị Lanh (Chủ biên)- Lê Phương Nga- Trần Thị Minh Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
5. Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga (2014), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb Giáo dục, Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2014
6. Lê Phương Nga, Đăng Kim Nga (2007), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb Đại học Sƣ phạm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga, Đăng Kim Nga
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2007
7. Lê Phương Nga (2014), Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2014
10. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) Hoàng Cao Dương-Đỗ Việt Hùng- Trần Minh Phương - Lê Hữu Tỉnh (Tái bản lần thứ mười), sách giáo khoa Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: sách giáo khoa Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hưởng (2000), Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hưởng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12. Nguyễn Trí (2002), Dạy học Tập làm văn ở Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Tập làm văn ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
13. Nguyễn Trí (2009), Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
1. Tô Hoài, Truyện đọc Dế Mèn phiêu lưu kí,Nxb Kim Đồng Khác
4. Phan Thị Mùi, Luận văn Hướng dẫn học sinh lớp 5 cá thể hóa đề bài tập làm văn miêu tả Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w