1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm

86 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sinh quá đông nên việc uốn nắn hành vi, cử chỉ cho từng trẻ là vấn đề khó khăn, điều kiện cơ sở vật chất để dạy trẻ thực hành các hành vi lễ giáo, liên hệ thực tế cũng còn nhiều khuyết đ

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM QUANG TIỆP

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Tự nhiên và Xã hội đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em tìm hiểu khóa luận tốt nghiệp này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc nhất tới thầy

giáo: TS Phạm Quang Tiệp - Người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp

đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Đồng Xuân và trường Tiểu học Hùng Vương (Phúc Yên- Vĩnh Phúc) đã tận tình giúp đỡ em Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Phạm Thị Thùy Linh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm” là đề tài mà tôi trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu Trong

quá trình nghiên cứu tôi có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một

số tác giả khác Tuy nhiên đó chỉ là cơ sở để tôi rút ra những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Đây là kết quả của riêng cá nhân tôi, hoàn toàn không trùng với kết quả của tác giả khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về sự cam đoan này!

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Phạm Thị Thùy Linh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của đề tài 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 5

1.1 Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống 5

1.1.1 Kĩ năng 5

1.1.2 Kĩ năng sống 7

1.1.3 Giáo dục kĩ năng sống 12

1.2 Học tập trải nghiệm 17

1.2.1 Trải nghiệm 17

1.2.2 Bản chất của học tập trải nghiệm 20

1.2.3 Đặc điểm của học tập trải nghiệm 21

1.2.4 Vai trò của học tập trải nghiệm 24

1.3 Đặc điểm của học sinh lớp 2 25

1.3.1 Đặc điểm nhận thức 26

1.3.2 Đặc điểm nhân cách 28

1.3.3 Đặc điểm kĩ năng sống 29

1.4 Vận dụng học tập trải nghiệm trong giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 30

Trang 6

Kết luận chương 1 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO 32

HỌC SINH LỚP 2 THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 32

2.1 Mục đích khảo sát 32

2.2 Đối tượng khảo sát 32

2.3 Nội dung khảo sát 32

2.4 Phương pháp khảo sát 32

2.5 Kết quả khảo sát 33

Kết luận chương 2 45

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 46 3.1 Nguyên tắc đề xuất quy trình 46

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 46

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm 47

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đa dạng, phong phú 47

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 48

3.2 Xây dựng quy trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm 48

3.3 Một số ví dụ minh họa cho quy trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm 50

3.3.1 Tổ chức hoạt động trải nghiệm để hình thành cho trẻ kĩ năng phòng tránh tai nạn, thương tích 50

3.3.2 Tổ chức hoạt động trải nghiệm: Em là người lịch sự 52

3.3.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm thực hành: Chúng em tập làm kĩ sư nông nghiệp 55

3.3.4 Tổ chức hoạt động trải nghiệm thực hành: Chúng em tập làm chiến sĩ 59 3.4 Thực nghiệm sư phạm 62

3.4.1 Mục đích thực nghiệm 62

3.4.2 Đối tượng thực nghiệm 62

Trang 7

3.4.3 Nội dung thực nghiệm 62

Kết luận chương 3 64

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang phát triển đòi hỏi phải đổi mới toàn diện và mạnh mẽ nền giáo dục để đáp ứng yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực, tăng cường khả năng hợp tác, cạnh tranh cho hội nhập quốc tế, phục vụ ngày càng tốt hơn sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong tiến trình đổi mới ấy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là việc rất quan trọng, ảnh hưởng tới quá trình hình thành nhân cách của trẻ cho đến tuổi trưởng thành Giáo dục kĩ năng sống phải được bắt đầu từ khi trẻ còn rất nhỏ, đặc biệt ở lứa tuổi Tiểu học Bởi vì lứa tuổi này đang bắt đầu hình thành những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách Việc làm quen với các môn học để hình thành và xây dựng cho các em các kĩ năng sống như: giao tiếp, thuyết trình, làm việc theo nhóm,… sẽ giúp các em tự tin, chủ động biết cách

xử lí mọi tình huống trong cuộc sống và quan trọng hơn là khơi gợi những khả năng tư duy sáng tạo, biết phát huy thế mạnh của các em Việc giáo dục

kĩ năng sống cho học sinh sẽ hình thành và tập dượt cho các em những hành

vi, thói quen, kĩ năng xử lý các tình huống diễn ra trong cuộc sống

Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, hiện nay kĩ năng sống của các em còn rất nhiều hạn chế Trong quá trình giáo dục, chúng ta thường chỉ quan tâm tới việc dạy chữ và chưa quan tâm nhiều tới việc dạy

nặng quá nhiều vào việc các em học được những gì chứ không phải các em sẽ làm được những gì Vì vậy, việc thích ứng với xã hội, với cuộc sống xung quanh là một vấn đề khó với các em

Trên thực tế, khi khảo sát vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp

2 tôi nhận thấy việc thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh còn tồn tại nhiều bất cập Theo nhận định của nhiều giáo viên, do lớp có số lượng học

Trang 9

sinh quá đông nên việc uốn nắn hành vi, cử chỉ cho từng trẻ là vấn đề khó khăn, điều kiện cơ sở vật chất để dạy trẻ thực hành các hành vi lễ giáo, liên hệ thực tế cũng còn nhiều khuyết điểm đồng thời còn lúng túng trong việc tổ chức, thực hiện các chương trình hoạt động rèn kĩ năng sống cho học sinh, nên việc giáo dục chỉ dừng lại ở cung cấp kiến thức

Giáo viên trong quá trình dạy học cho học sinh phải biết kết hợp các phương pháp dạy học khác nhau Trải nghiệm là phương pháp dạy học mới Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân Vậy việc giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động trải nghiệm là rất cần thiết Điều đó sẽ giúp trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học Bên cạnh đó, giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động trải nghiệm tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, giúp cho việc học tập các môn học và tham gia các hoạt động giáo dục của học sinh trở nên nhẹ nhàng, thoải mái, thiết thực và có hiệu quả hơn Từ những nhận định trên, với mong muốn trang bị những kĩ năng

cần thiết cho các em học sinh, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất quy trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm, nhằm trang bị cho học sinh những kĩ năng cơ bản, cần thiết nhất để các em có thể thích ứng với cuộc sống của xã hội thời hiện đại, luôn có những thay đổi trong điều kiện của một xã hội đang trên đà phát triển và hội nhập

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được quy trình giáo dục phù hợp với đặc trưng của giáo dục kĩ năng sống, đồng thời đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản của phương pháp trải nghiệm, phù hợp với đặc điểm của học sinh lớp 2 và điều kiện thực tiễn dạy học thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả giáo dục kĩ năng sống

ở lớp 2 hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp

2 theo hướng trải nghiệm

- Khảo sát thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm

- Đề xuất quy trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm

6 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp

2

- Điều tra, khảo sát thực trạng được tiến hành đối với giáo viên tiểu học

và cán bộ quản lí trên địa bàn phường Đồng Xuân, phường Hùng Vương, Phúc Yên, Vĩnh Phúc

- Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại trường Tiểu học Đồng Xuân, Phúc Yên, Vĩnh Phúc

Trang 11

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra và đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu Với các vấn đề của đề tài này tôi sử dụng các phương pháp:

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Tôi đã đọc và phân tích các tài liệu sau:

- Đọc và phân tích sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu chỉ đạo dạy học Kĩ năng sống

- Đọc và phân tích các sách tham khảo, các bài báo có nội dung liên quan đến đề tài

- Đọc và phân tích các bài viết sáng kiến kinh nghiệm của thầy cô

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát học sinh: Thông qua các giờ học Kĩ năng sống (Hành động, lời nói, cử chỉ )

- Quan sát giáo viên: Dự giờ và quan sát giờ dạy của giáo viên

7.3 Phương pháp thực nghiệm

- Dạy thực nghiệm: Tổ chức dạy thực nghiệm thông qua các hoạt động trải nghiệm

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phần nội dung được chia làm

3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2

theo hướng trải nghiệm

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo

hướng trải nghiệm

Chương 3: Quy trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học

sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO

HỌC SINH LỚP 2 THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM

1.1 Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống

1.1.1 Kĩ năng

1) Khái niệm

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết:

- Theo A.G.Côvaliov: Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động [18]

- Theo quan điểm của K.K.Platonov: Kĩ năng là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất kì nào đó hay các hành động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ [25]

- Theo L.Đ.Lêvitov nhà tâm lí học Liên Xô cho rằng: Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định Theo ông, người có kĩ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ngoài ra, ông còn cho rằng, để hình thành kĩ năng, con người không chỉ nắm lí thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tiễn

- Theo A.V.Pêtrôxki: Kĩ năng là sự vận dụng tri thức đã có để lựa chọn

và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra [24]

- Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng: Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật hành động,

Trang 13

có kĩ năng [14]

- Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: Kĩ năng là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình [9]

- Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [17]

- Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên, kĩ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động Mỗi kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kĩ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kì một kĩ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định

- Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép [7]

Từ các khái niệm trên cho thấy rằng:

+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kĩ năng Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động + Kĩ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cá nhân

+ Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đặt ra

Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kĩ năng một cách chung nhất: Kĩ năng

là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để giải quyết công việc hay tình huống nào đó phát sinh trong cuộc sống

Trang 14

2) Phân loại kĩ năng

Nếu xét theo tổng quan thì kĩ năng phân ra làm 3 loại: Kĩ năng chuyên

môn, kĩ năng sống và kĩ năng làm việc

Nếu xét theo liên đới chuyên môn: Kĩ năng cứng, kĩ năng mềm và kĩ năng hỗn hợp

Theo tính hữu ích cộng đồng: hữu ích và phản lợi ích xã hội Có thể hiểu rằng kĩ năng mềm hay kĩ năng sống cũng chỉ là một nhóm kĩ năng với tên gọi khác nhau Chúng ta cũng nhận thấy rằng kĩ năng mềm hay kĩ năng sống là những nhóm kĩ năng thiết yếu giúp cho chủ thể tồn tại và thăng hoa trong cuộc sống

Kĩ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kĩ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kĩ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kĩ năng quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới

Kĩ năng mềm khác với kĩ năng cứng để chỉ trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn Thực tế cho thấy, người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kĩ năng mềm họ được trang bị

cơ bản của việc học: Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học

để cùng chung sống Dựa vào đó, UNESCO định nghĩa “KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng

ngày” [23]

Trang 15

- Quan niệm hẹp hơn là quan niệm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa

ra, dựa trên lí thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm Theo đó, WHO định nghĩa “KNS là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những hành

vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”

- Theo Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), “KNS là những

kĩ năng tâm lĩ xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và

giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống”

- Theo tiến sĩ tâm lí Huỳnh Văn Sơn, “KNS là những kĩ năng tinh thần hay những kĩ năng tâm lí, kĩ năng tâm lí – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kĩ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi

và phát triển Kĩ năng sống còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lí xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều

thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại” [8]

- Trong cuốn “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên”, Th.S Nguyễn Thị Oanh cũng trình bày quan điểm: “KNS với tư cách là đối tượng của giáo dục

KNS là năng lực tâm lí xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và

thách thức của cuộc sống hàng ngày [12]

Từ các khái niệm trên cho ta thấy rằng:

+ Kĩ năng sống không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội, rèn luyện,… trong cuộc sống Quá trình hình thành KNS diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục

+ Kĩ năng sống tồn tại dưới dạng hành vi, hành động và cả ở dạng tinh

Trang 16

thần

+ Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội (sự phát triển của xã hội, truyền thống văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc) KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân KNS mang tính xã hội vì KNS phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa gia đình, cộng đồng, dân tộc Ví dụ: Kĩ năng sống của mỗi cá nhân trong thời bao cấp khác với kĩ năng sống của các

cá nhân trong cơ chế thị trường, trong giai đoạn hội nhập; kĩ năng sống của người sống ở miền núi khác với kĩ năng sống của người sống ở vùng biển, kĩ năng sống của người sống ở nông thôn khác với kĩ năng sống của người sống

ở thành phố,

- Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kĩ năng sống như sau: Kĩ năng sống

là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó một cách có hiệu quả trước những yêu cầu và thách thức của cuộc sống

2) Phân loại kĩ năng sống

- Theo quan niệm do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), KNS được phân loại thành:

+ Các kĩ năng cơ bản: kĩ năng đọc, viết, tính toán cho các chức năng

hàng ngày Những kĩ năng này không mang đặc trưng tâm lí nhưng là nền tảng cho những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống

+ Các kĩ năng chung (kĩ năng nhận thức, kĩ năng cảm xúc, kĩ năng xã

hội) như các kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp…

+ Các kĩ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống

xã hội, như:

Các vấn đề về giới tính

Trang 17

Các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy, rượu, thuốc lá… Các vấn đề về môi trường, phòng chống bạo lực…

+ Nhóm các kĩ năng xã hội: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng cảm thông, kĩ năng hợp tác…

+ Nhóm các kĩ năng cảm xúc: kĩ năng ứng phó với cảm xúc, kĩ năng ứng phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc…

- Theo quan niệm do Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), KNS được phân loại thành 3 nhóm: kĩ năng xã hội, kĩ năng phát triển nhận thức và kĩ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân, cụ thể như sau:

Trang 18

KN ra quyết định và giải quyết vấn đề:

Kĩ năng thu thập thông tin

Đánh giá hệ quả tương lai của những hành động hiện tại đối với bản thân và người khác

Xác định các giải pháp khác nhau cho vấn đề

Kĩ năng phân tích ảnh hưởng của các giá trị, thái độ, động cơ của bản thân và người khác

Xử lí những đau buồn và lo âu

Đối phó với những sự mất mát, lạm dụng, chấn thương

KN tự điều chỉnh (tự ý thức, tự chủ)

Ý thức về giá trị bản thân/ Kĩ năng xây dựng sự tự tin

Ý thức về bản thân, bao gồm ý thức về quyền, ảnh hưởng, giá trị,

Trang 19

thái độ, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân

Ngoài ra, còn có nhiều cách phân loại khác của nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu khác trên thế giới, chẳng hạn như tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh

tế xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc) lại phân loại KNS thành 3 dạng:

- Kĩ năng sống để phát triển cá nhân

- Kĩ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác

- Kĩ năng công nghệ thông tin (theo đề nghị của các đại diện trẻ tại một hội nghị)

1.1.3 Giáo dục kĩ năng sống

1) Khái niệm giáo dục kĩ năng sống

Trong thực tiễn, GD KNS được xem xét dưới 2 khía cạnh khác nhau [11]:

- Như là một lĩnh vực học tập: như giáo dục sức khỏe, HIV/AIDS Ở lĩnh

vực này đã tồn tại cách tiếp cận KNS từ khá lâu

- Như là một cách tiếp cận giúp GV tiến hành giáo dục có chất lượng

xuyên suốt các lĩnh vực học tập

Theo WHO “GD KNS nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hành, củng cố các kĩ năng tâm lí trong một nền văn hóa và phát triển một cách thích hợp, nó góp phần vào việc thúc đẩy phát triển cá nhân xã hội và bảo vệ quyền con người”

UNESCO, UNICEF cũng quan niệm rằng, GD KNS không phải là lĩnh vực hay môn học, nhưng nó được áp dụng lồng vào những kiến thức, giá trị

và kĩ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời

Ở một số quốc gia, GD KNS được lồng ghép và các môn học, chủ đề Chẳng hạn:

Trang 20

- Trung Quốc: KNS được lồng ghép vào các môn học trong nhà trường

về giáo dục đạo đức, giáo dục lao động và xã hội

- Su đăng: KNS được lồng ghép vào Giáo dục công dân

Như vậy, GD KNS được xem như là một cách tiếp cận giáo dục nhằm mục đích giúp con người có những khả năng tâm lí xã hội để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hàng ngày một cách có hiệu quả nhất

2) Mục tiêu

Giáo dục KNS nhằm giúp trẻ [11]:

- Có kĩ năng để tự bảo vệ trước những vấn đề xã hội có nguy cơ ảnh hưởng tới cuộc sống khỏe mạnh và an toàn của các em Giúp trẻ phòng ngừa những hành vi nguy cơ có hại cho sức khỏe và sự phát triển của các em

- Làm chủ bản thân, có khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong giao tiếp hàng ngày của các em

- Rèn luyện cách sống có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình và cộng đồng khi các em lớn lên trong một xã hội hiện đại

- Mở ra cho trẻ những cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tin cũng như giúp trẻ tự có quyết định và chọn lựa đúng đắn trong các vấn đề của cuộc sống

3) Ý nghĩa

Giáo dục kĩ năng sống đã và đang là một vấn đề quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên và mọi lứa tuổi Trí thông minh, sự hiểu biết cộng thêm thái độ tích cực chỉ mang lại cho chúng ta một nửa thành công Chính những kĩ năng mà chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, cách ứng xử, giao tiếp nó quyết định một nửa còn lại, những kĩ năng đó được gọi là kĩ năng sống Vậy kĩ năng sống có vai trò và ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống của con người hiện đại?

Trang 21

- Kĩ năng sống ảnh hưởng đến thói quen lành mạnh

Kĩ năng sống giúp mỗi chúng ta có những thói quen tích cực, có thể kiểm soát cảm xúc, suy nghĩ và hành vi Kĩ năng sống giúp con người có những hành động chuẩn xác xuất phát từ những tư duy và thói quen lành mạnh Với những người được trang bị những kĩ năng sống như vậy họ sẽ sống lạc quan, năng động bản lĩnh và thành công hơn trong cuộc sống

- Giáo dục kĩ năng sống góp phần tạo ra một xã hội tích cực

Giáo dục kĩ năng sống giúp giảm thiểu các vấn nạn xã hội bởi vì nguyên nhân của nhiều vấn đề xã hội chính là do những người thiếu kĩ năng sống gây

ra Việc giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy những hành vi tích cực nhất là khi phải đối mặt với những tình huống thử thách, hoặc dễ dàng bị sa ngã, bị ảnh hưởng tiêu cực bởi môi trường sống, giảm thiểu những tệ nạn xã hội, chất lượng cuộc sống được đảm bảo và hạnh phúc hơn Với xã hội hiện đại, kinh tế ngày càng phát triển, việc giáo dục kĩ năng sống giúp con người sống an toàn, khỏe mạnh với chất lượng cao và hiện đại

- Kĩ năng sống giúp hình thành các giá trị sống

Giá trị sống được hình thành qua các kĩ năng sống Đối với mỗi con người phù hợp với chuẩn mực mà chúng ta đang sống, giá trị sống giúp chúng

ta biết được những quy tắc chuẩn mực trong mối quan hệ xã hội, các mối quan hệ giữa con người với con người Ngoài ra, nó định hướng cho mỗi cá nhân điều chỉnh hành vi cho phù hợp với những chuẩn mực của xã hội Bên cạnh việc học cách để làm, kĩ năng sống giúp con người biết nên sống ra sao, biết ứng phó trước tình huống, kiềm chế, quản lý cảm xúc, học cách giao tiếp, ứng xử với các mối quan hệ xung quanh và làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn trong các mối quan hệ, làm thế nào để thể hiện bản thân một cách tích cực, lành mạnh

- Kĩ năng sống giúp việc sử dụng nguồn tri thức một cách hợp lí

Trang 22

Việc trang bị nền tảng kĩ năng sống vững chắc, giúp chúng ta biết cách

sử dụng nguồn tri thức sao cho hợp lí, mang lại lợi ích cho bản thân và người khác Kĩ năng sống giúp chúng ta biết cách tôn trọng bản thân và người khác, biết cách hợp tác, xây dựng và duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ và biết cách thích ứng trước những đổi thay hay từ bỏ sự tham lam, cao ngạo về kĩ năng, khả năng vốn có của mình

- Kĩ năng sống giúp cân bằng những mục tiêu vật chất

Trong xã hội ngày nay, con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị

về vật chất và nhanh chóng định hình chúng thành mục đích sống Kĩ năng sống giúp chúng ta có thể cân bằng những mục tiêu về vật chất tránh những hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác hay vị kì cá nhân Kĩ năng sống là những chiếc neo giúp chúng ta ổn định giữa những biến động của cuộc đời, có thể khó khăn nhưng vẫn vượt qua được mà không có cảm giác bị thua thiệt, mất mát

Giáo dục kĩ năng sống giúp rèn luyện tư duy tích cực, hình thành các thói quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải nghiệm Giáo dục kĩ năng sống giúp các em trở thành công dân toàn cầu, biết suy nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng sai, dù có làm gì và trong hoàn cảnh nào cũng luôn biết chịu trách nhiệm về việc mình làm

4) Tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống

Mục tiêu 3 của Chương trình Hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người đã yêu cầu các nước phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trình GD KNS phù hợp Bởi vì, có kiến thức, có thái độ tích cực mới đảm bảo 50% sự thành công, 50% còn lại là những KNS

GD KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn

Trang 23

đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình Ngược lại, người thiếu KNS thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc sống Ví dụ: Người không

có kĩ năng giao tiếp sẽ khó khăn hơn trong việc xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh, sẽ khó khăn hơn trong hợp tác cùng làm việc, giải quyết những nhiệm vụ chung; người không có kĩ năng ứng phó căng thẳng sẽ hay bị căng thẳng hơn những người khác và thường có cách ứng phó tiêu cực khi bị căng thẳng, làm ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, học tập, công việc

Đối với HSTH, GD KNS có tầm quan trọng đặc biệt, bởi lẽ: Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định

sự phát triển của đất nước trong những năm tới Nếu không có KNS, các em

sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng

và đất nước Đồng thời, lứa tuổi HSTH là lứa tuổi đang bắt đầu hình thành những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống,… Nếu không được giáo dục KNS, các

em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, lối sống ích kỉ, thực dụng,

dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách

Do đó, việc GD KNS là hết sức quan trọng để giúp trẻ rèn luyện hành vi

có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng, có khả năng ứng phó tích cực trước sức ép của cuộc sống và sự lôi kéo thiếu lành mạnh của bạn bè cùng trang lứa, phòng ngừa những hành vi có hại cho sức khỏe thể chất và tinh thần của các em, giúp các em biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống Nó giúp tăng cường khả năng tâm lí xã hội của các em, khả năng thích ứng và giúp các em có cách thức tích cực để đối phó với những thách thức trong cuộc sống Vì vậy, kĩ năng sống sẽ là hành trang không thể thiếu và việc giáo dục KNS ngày càng trở nên quan trọng và cấp

Trang 24

thiết hơn

1.2 Học tập trải nghiệm

1.2.1 Trải nghiệm

1) Khái niệm

Trải nghiệm là xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu

và áp dụng vào nhà trường ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

- Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [16], “Trải nghiệm hay kinh nghiệm là tổng quan khái niệm bao gồm tri thức, kĩ năng trong hoặc quan sát

sự vật hoặc sự kiện đạt được thông qua tham gia vào hoặc tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện đó” Lịch sử của từ “trải nghiệm” gần nghĩa với từ “thử nghiệm” Thực tiễn cho thấy, trải nghiệm đạt được thường thông qua thử

nghiệm

- Theo Từ điển Tiếng Việt [5], “Trải có nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng; còn nghiệm có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào

đó là đúng Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; tìm

ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có”

- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [6], “Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lí của từng người Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với

cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân Sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới, có thể sáng tạo trong bất kì lĩnh vực nào: khoa học (phát minh), nghệ thuật, sản xuất - kĩ thuật (sáng tác, sáng chế), kinh tế, chính

trị,…”

Trang 25

- Nhà triết học vĩ đại người Nga, V.S.Solovyev quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế, là thể thống nhất bao gồm kiến thức

và kĩ năng Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

- K.K.Platon nhận định trải nghiệm cũng như sự tích lũy của hiểu biết và năng lực (cá nhân, nhóm) hình thành trong quá trình hoạt động, đào tạo và giáo dục, trong đó tổng hợp những kiến thức, kĩ năng, khả năng và thói quen

- M.N.Skatkin đã kết luận rằng: “Theo nghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu

là sự thực hành trong quá trình đào tạo và giáo dục”

Như vậy, kinh nghiệm và trải nghiệm được hiểu giống nhau Kinh nghiệm được đề cập tới việc biết như thế nào, trải nghiệm thường đi đến một tri thức về sự hiểu biết đến sự vật, hiện tượng, sự kiện

Có rất nhiều những quan niệm khác nhau về trải nghiệm Tuỳ theo mỗi

góc nhìn, mỗi quan niệm lại có một cách hiểu Theo tôi: Trải nghiệm là một nhiệm vụ học tập gắn với thực tiễn mà HS cần phải vận dụng vốn kinh nghiệm sẵn có để trải nghiệm, phân tích, khái quát hóa thành kiến thức của bản thân

và vận dụng để giải quyết vấn đề thực tiễn nhằm đem lại những kinh nghiệm, bài học quý giá

- Trải nghiệm tinh thần (Mental Experiences) liên quan đến các khía cạnh trí tuệ và ý thức, là sự kết hợp giữa tư duy, nhận thức, trí nhớ, cảm xúc,

Trang 26

ý chí và tưởng tượng Nó bao gồm cả các quá trình nhận thức vô thức

- Trải nghiệm tình cảm (Emotional Experiences)

- Trải nghiệm tâm thần (Spiritual Experiences) diễn ra khi có sự cố như sốt cao, viêm màng não, thiếu ngủ, thiếu ô xy, rối loạn tâm thần, tai nạn chấn thương… Con người cũng có thể có được trải nghiệm như vậy bằng cách thôi miên, thiền, thần chú, yoga… hoặc một số trải nghiệm tâm thần có được bằng cách uống thuốc, uống rượu, chích thuốc phiện…

- Trải nghiệm xã hội (Social Experiences) cho con người kĩ năng và thói quen cần thiết để sống trong xã hội của mình, chia sẻ kinh nghiệm, hình thành các chuẩn mực, phong tục, truyền thống, giá trị, vai trò xã hội, biểu tượng và ngôn ngữ

máy tính cũng có thể giúp con người có trải nghiệm Đóng vai cũng giúp ta trải nghiệm Sử dụng trò chơi video cũng giúp trải nghiệm, trải nghiệm có

thức trải nghiệm, còn nội dung trải nghiệm là các tình huống giả định với cuộc sống thực nhằm giúp trẻ giải quyết các vấn đề đặt ra

- Trải nghiệm chủ quan (Subjective Experiences) liên quan đến trạng thái, cảm nhận chủ quan của người nào đó về hiện thực, một hiện thực mà dựa trên sự tương tác của cá nhân người đó với môi trường Trải nghiệm chủ quan dựa vào năng lực của cá nhân để xử lí tình huống trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân từng học sinh

3) Hoạt động trải nghiệm

Theo dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” lần 2 tháng 6/2017 [1], hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục trong đó học sinh dựa trên sự huy động tổng hợp kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội,

Trang 27

tham gia hoạt động hướng nghiệp và hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này như: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp, năng lực thích ứng với những biến động trong cuộc sống và các kĩ

năng sống khác

1.2.2 Bản chất của học tập trải nghiệm

Theo từ điển Tiếng Việt [5], “trải” là đã từng trải qua, từng biết đến,

“Kinh nghiệm” là điều hiểu biết có được do tiếp xúc với thực tế, do từng trải John Deway cho rằng [19] [20], kinh nghiệm quá khứ thường ảnh hưởng tới kinh nghiệm hiện tại và kinh nghiệm tương lai Ông cũng cho rằng kinh nghiệm cá nhân xem xét dưới hai góc độ: trải nghiệm như hoạt động và kết quả thu được qua trải nghiệm Như vậy, trải nghiệm ở đây được hiểu theo hai khía cạnh, thứ nhất nó là những kinh nghiệm mà con người tích lũy được qua quá trình sống, thực chứng các sự vật hiện tượng xảy ra trong quá khứ Trải nghiệm đồng nhất với kinh nghiệm đã tích lũy được Thứ hai, trải nghiệm được bàn đến với khía cạnh của hoạt động ở thời hiện tại, đó là quá trình cá nhân tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng trong môi trường tự nhiên và xã hội, vận dụng vốn kinh nghiệm cá nhân và sử dụng các giác quan để quan sát, tương tác với đối tượng tạo nên nhận thức mới cho họ

Đối với Kolb, “Học tập là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm” [21] [22] Các kinh nghiệm học tập liên quan đến việc áp dụng các thông tin nhận được từ giáo dục đến kinh nghiệm của người học Học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức của mình từ người dạy, mà thay vào đó, họ học thông qua quá trình trải nghiệm dựa trên các kinh nghiệm hiện có của bản thân để thu nhận thông tin mới trong môi trường học tập hiện thực và kiểm nghiệm lại nó bằng kinh nghiệm đã có Như

Trang 28

vậy, học tập trải nghiệm được hiểu là quá trình người học sử dụng các giác quan để tri nhận đối tượng học tập dựa trên sự tiếp xúc trực tiếp với đối tượng Trong quá trình tương tác ấy, người học huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của bản thân để định hướng cho quá trình hoạt động cũng như đồng hóa tri thức

1.2.3 Đặc điểm của học tập trải nghiệm

Học tập trải nghiệm là một phương thức hay một kiểu học tập, kiểu học tập này được phân biệt với các kiểu học tập khác như học tập theo kiểu thông báo - thu nhận hay kiểu học tập làm mẫu - bắt chước bởi những nét đặc trưng sau đây:

- Học tập trải nghiệm mang tính tích hợp và phân hóa cao

HTTN có nội dung rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội

Nội dung giáo dục của HTTN thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực

tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi

Bên cạnh hoạt động có tính tích hợp, học sinh được lựa chọn một số hoạt động chuyên biệt phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú của bản thân để phát triển năng lực sáng tạo riêng của mỗi cá nhân

- Học tập trải nghiệm được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng

Học tập trải nghiệm được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như trò chơi, hội thi, cuộc thi, diễn đàn, giao lưu, tham quan học tập, sân khấu hóa

Trang 29

(kịch, tiểu phẩm, thơ, hát, ) thể dục thể thao, câu lạc bộ, nghiên cứu khoa học kĩ thuật,

Mỗi một hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng trong nó những khả năng giáo dục nhất định Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học sinh được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí cũng như nhu cầu, nguyện vọng của học sinh Trong quá trình thiết kế, tổ chức, đánh giá các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, cả giáo viên lẫn học sinh đều có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, chủ động, linh hoạt của mình, làm tăng thêm tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chức hoạt động Sự đa dạng của hình thức trải nghiệm cũng tạo cơ hội thực hiện giáo dục phân hóa

Các hoạt động này tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân, huy động sự tham gia của học sinh vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động Học sinh được trình bày và lựa chọn

ý tưởng, tham gia chuẩn bị, thiết kế hoạt động, trải nghiệm, bày tỏ quan điểm,

Trang 30

lượng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp; có thể là chủ trì, đầu mối hoặc phối hợp; có thể về những mặt khác nhau (có thể hỗ trợ về kinh phí, phương tiện, địa điểm tổ chức hoạt động hoặc đóng góp về chuyên môn, trí tuệ, chất xám hay sự ủng hộ về tinh thần) Do vậy, học tập trải nghiệm tạo điều kiện cho học sinh được học tập, giao tiếp rộng rãi với nhiều lực lượng giáo dục; được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và chất lượng, hiệu quả của học tập trải nghiệm

- Học tập trải nghiệm giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được

Lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người và thế giới xung quanh bằng nhiều con đường khác nhau để phát triển nhân cách là mục tiêu quan trọng của hoạt động học tập Tuy nhiên, có những kinh nghiệm chỉ có thể lĩnh hội thông qua trải nghiệm thực tiễn Ví dụ, phân biệt mùi vị, cảm thụ âm nhạc, tư thế cơ thể trong không gian, niềm vui sướng hạnh phúc… Những điều này chỉ thực sự có được khi học sinh được trải nghiệm với chúng Sự đa dạng trong trải nghiệm sẽ mang lại cho học sinh nhiều vốn sống kinh nghiệm phong phú mà nhà trường không thể cung cấp thông qua các công thức hay định luật, định lý…

- Sai lầm được xem như một phần của quá trình học tập trải nghiệm Trong quá trình học tập, người học được khuyến khích hoạt động, khuyến khích đưa ra các phán đoán, ý tưởng và để rồi thực hành, trải nghiệm, thí nghiệm theo những ý tưởng ấy Chính vì thế, quá trình học tập đôi khi không tránh khỏi những sai lầm, sai lầm trong nhận thức hoặc hành động Tuy nhiên, những sai lầm này không phải là vô nghĩa mà nó chính là cơ hội để người học rút ra bài học giá trị Trong nhiều tình huống học tập, sai lầm lại chính là cơ hội tốt nhất để người học hiểu sâu sắc vấn đề

Trang 31

Tóm lại, học tập trải nghiệm là một phương thức học hiệu quả, nó giúp hình thành năng lực cho người học Phương pháp trải nghiệm có thể thực hiện đối với bất cứ lĩnh vực tri thức nào, khoa học hay đạo đức, kinh tế xã hội,… Học tập trải nghiệm cũng cần được tiến hành có tổ chức, có hướng dẫn theo quy trình nhất định của nhà giáo dục thì hiệu quả của việc học qua trải nghiệm

sẽ tốt hơn Hoạt động giáo dục nhân cách học sinh chỉ có thể tổ chức qua học tập trải nghiệm

1.2.4 Vai trò của học tập trải nghiệm

Nội dung học tập trải nghiệm rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường,… Điều này giúp cho các nội dung giáo dục thiết thực hơn, gần gũi hơn với thực tế cuộc sống, giúp các em vận dụng vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi hơn

- Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại

Nếu mục tiêu chủ yếu của dạy học trên lớp là phát triển trí tuệ thì mục tiêu chủ yếu của học tập trải nghiệm là phát triển phẩm chất Cụ thể là: hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại thông qua những trải nghiệm thực tiễn

Trong quá trình học tập bằng trải nghiệm, rất thường xuyên người học phải bắt tay hợp tác với nhau để giải quyết nhiệm vụ học tập, vận dụng tri thức tổng hợp cho mỗi tình huống trong hiện thực đời sống, tư duy tích cực để tìm tòi phương thức giải quyết vấn đề và vì thế họ không chỉ học được tri thức

Trang 32

khoa học mà các năng lực, kĩ năng xã hội quan trọng cũng được hình thành theo đó

Các chuyên gia giáo dục cũng khẳng định, học tập trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách

và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình

- Tri thức được hình thành bền vững và sâu sắc

Học tập qua trải nghiệm là cách học bằng tìm tòi, khám phá Người học hiểu, nhớ và vận dụng được những tri thức vào thực tiễn đời sống Trong nhiều tình huống, sự trải nghiệm của người học phải trả giá bằng những sai lầm, tuy nhiên chính quá trình học tập theo kiểu tìm tòi và thử sai ấy sẽ giúp cho người học có cơ hội để xoay lật vấn đề, xem xét dưới nhiều chiều cạnh nên khi đã hiểu được thì sự hiểu ấy rất sâu sắc và bền vững Chính quá trình trải nghiệm để đúc rút ra tri thức đã giúp cho cơ chế hoạt động của não bộ người học có đủ thời gian để xử lí và lưu giữ thông tin, nên học theo kiểu này

có thể tốn thời gian, học lâu mới biết, song khi biết rồi thì rất thông tỏ và chí

- Học sinh học được cách tìm kiếm và khám phá tri thức khoa học

Quá trình học tập bằng trải nghiệm chính là quá trình người học sử dụng các giác quan để quan sát đối tượng, thực hành, thí nghiệm rồi tự đúc rút ra tri thức khoa học Chính quá trình này giúp cho họ tự khái quát ra phương thức tác động để đối tượng bộc lộ bản chất và chiếm lĩnh chúng Càng được trải nghiệm nhiều thì kinh nghiệm về cách học càng được tích lũy dày thêm và thời gian để người học trải nghiệm càng ngắn lại

1.3 Đặc điểm của học sinh lớp 2

Trang 33

1.3.1 Đặc điểm nhận thức

1) Tri giác

Tri giác của học sinh lớp 2 còn mang tính chất đại thể, ít đi vào chi tiết nên ít phân hóa Tri giác của các em thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn của trẻ Đối với các em, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm một cái

gì đó sự vật như cầm nắm, sờ mó, và những gì phù hợp với nhu cầu, những

gì tham gia trực tiếp vào cuộc sống và hoạt động, những gì giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác

Tri giác không gian và thời gian của các em còn hạn chế Các em rất khó khăn khi phải quan sát các vật có kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ

Tri giác của học sinh lớp 2 vẫn mang tính không chủ định Vì vậy, tri giác của các em phụ thuộc vào đặc điểm của chính đối tượng

2) Chú ý

Chú ý có chủ định đang phát triển Tuy nhiên, chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế hơn ở học sinh lớp 2

Chú ý của các em chưa bền vững Điều này do quá trình ức chế của não

bộ ở trẻ còn yếu Sự chú ý của trẻ còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập và khối lượng chú ý của các em còn hẹp

Vì vậy, để tổ chức tốt sự chú ý của trẻ, việc sử dụng đồ dùng, phương tiện dạy học một cách hợp lí, khoa học nhằm tạo hứng thú là điều kiện quan trọng

3) Trí nhớ

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưu thế, nên ở học sinh lóp 2 trí nhớ nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic Các em ghi nhớ, giữ gìn và nhớ lại các tài liệu trực quan tốt hơn bằng lời Khi ghi nhớ tài liệu bằng lời thì việc nhớ và tái hiện các từ gắn với các sự vật cụ thể tốt hơn các từ có nội dung trừu tượng Các em dễ ghi nhớ và nhớ lại

Trang 34

tốt những gì được trực tiếp tác động lên đó hơn là những gì chỉ được giảng giải Hay nói một cách khác, trí nhớ của học sinh lớp 2 vẫn mang tính chất hình ảnh, cụ thể, trực tiếp

4) Tư duy

Đặc điểm nổi bật trong tư duy của học sinh tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát Tư duy của học sinh lớp 2 là

tư duy cụ thể dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng

Các nghiên cứu cho thấy rằng thao tác phân tích và tổng hợp của học sinh lớp 2 còn sơ đẳng Các em tiến hành hoạt động này chủ yếu bằng hành động thực tiễn khi tri giác trực tiếp đối tượng

Học sinh tiểu học đã biết tiến hành so sánh, nhưng thao tác này vẫn chưa được tiến hành một cách đầy đủ Đối với học sinh lớp 2, trẻ thường nhầm lẫn

so sánh với kể lại một cách đơn giản các đối tượng cần so sánh

Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học còn thể hiện rõ trong phán đoán

và suy luận của các em Các em học sinh lớp 2 thường chỉ phán đoán một chiều, dựa theo một dấu hiệu duy nhất nên phán đoán của các em mang tính khẳng định

5) Tưởng tượng

Cũng như tư duy, tưởng tượng là một quá trình nhận thức có vai trò quan trọng đối với cuộc sống nói chung và hoạt động học nói riêng của học sinh lớp 2

Tưởng tượng của các em được hình thành, phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác của các em Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của tưởng tượng ở học sinh lớp 2 là tiến dần đến phản ánh một cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sở những tri thức tương ứng

Hình ảnh tưởng tượng của trẻ, lúc đầu, còn phải dựa trên những đối

Trang 35

tượng cụ thể, về sau, nó lại được phát triển trên cơ sở của ngôn từ Các chi tiết trong hình ảnh tưởng tượng của trẻ, lúc đầu, còn nghèo nàn và tản mạn, về sau, hình ảnh trở nên trọn vẹn hơn, bởi số lượng chi tiết nhiều hơn và sự sắp xếp chúng cũng chặt chẽ hơn, có lí hơn

6) Ngôn ngữ

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lí tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tưởng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ

có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá

bản thân qua các thông tin khác nhau

1.3.2 Đặc điểm nhân cách

1) Tính cách

Tính cách của trẻ em thường được hình thành rất sớm ở thời kì trước tuổi học Ở lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, điều này dễ nhận thấy trong tính cách của các em là tính cách xung đột trong hành

vi, tức là khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới tác động của các kích thích bên trong và bên ngoài mà không kịp suy nghĩ, cân nhắc

Một điều nữa cũng rất dễ nhìn thấy trong tính cách của các em là sự cả tin và tính hay bắt chước

Ngoài ra, phần lớn các em có những nét tính cách tốt, như: lòng vị tha, tính ham hiểu biết, tính chân thật,… Tuy nhiên, trong tính cách của các em cũng thường gặp những thiếu sót, như: bướng bỉnh, thất thường

2) Tình cảm

Tình cảm là một phần rất quan trọng đối với đời sống tâm lí, trong nhân cách mỗi người, nhất là học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 2 Các em

Trang 36

rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm tình cảm của mình (thể hiện trước hết qua các hoạt động nhận thức: tri giác, tưởng tượng, tư duy) Tình cảm của các em còn mỏng manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Tuy nhiên, tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ hoạt động

3) Ý chí

Ở học sinh tiểu học, tình cảm giữ vai trò rất quan trọng trong các hành động ý chí của các em, đến nỗi trong nhiều trường hợp, nó trở thành động cơ của hành vi, của hoạt động Vì thế, ở lứa tuổi này, sự phát triển của ý chí và tình cảm diễn ra trong sự tác động lẫn nhau không ngừng

Các em chưa có khả năng tự đặt ra mục đích cho hành động của mình và chưa biết lập chương trình của hành động nên trẻ không thể tập trung sức lực

và kiên trì theo đuổi mục đích

Tính độc lập, kiềm chế và tự chủ còn thấp nên học sinh tiểu học nhất là học sinh lớp 2 chưa thể độc lập hoàn toàn trong hành động mà còn trông chờ nhiều vào sự giúp đỡ của người khác

Tính bộc phát ngẫu nhiên vẫn còn trong các hành động ý chí của các em nên các em dễ bắt chước hành động của người khác

1.3.3 Đặc điểm kĩ năng sống

Kĩ năng sống của học sinh lớp 2 còn rất nhiều hạn chế Đặc biệt, các kĩ năng như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tương trợ nhau

và diễn đạt trước đám đông, khả năng tự phục vụ bản thân đã được các thầy,

cô giáo tích cực hình thành và củng cố nhưng HS chưa thể hiện được nhiều Điều đó được thể hiện qua việc học sinh vẫn còn tự ti, rụt rè, ỷ lại, dễ bế tắc

và thụ động Vì vậy, việc rèn luyện kĩ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết Việc rèn luyện kĩ năng sống sẽ giúp trẻ sớm có ý thức làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội

Trang 37

1.4 Vận dụng học tập trải nghiệm trong giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2

Trải nghiệm là phương pháp dạy học mới Trải nghiệm cũng là môi trường lí tưởng để người học tập rèn các năng lực thiết yếu đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hiện đại như tự học, tự chủ, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn

đề và sáng tạo Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm

để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động trải nghiệm là rất cần thiết Điều đó sẽ giúp trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học Bên cạnh đó, giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động trải nghiệm giúp tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, giúp cho việc học tập các môn học và tham gia các hoạt động giáo dục của học sinh trở nên nhẹ nhàng, thoải mái, thiết thực

và có hiệu quả hơn

Trang 38

Kết luận chương 1

Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng

xử phù hợp với những người khác và với xã hội; khả năng ứng phó một cách

có hiệu quả trước những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Có thể nói kĩ

năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành

vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình Ngược lại, người thiếu KNS thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc sống Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động trải nghiệm là rất cần thiết Điều đó sẽ giúp trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học Bên cạnh đó, giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động trải nghiệm tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, giúp cho việc học tập các môn học và tham gia các hoạt động giáo dục của học sinh trở nên nhẹ nhàng, thoải mái, thiết thực và có hiệu quả hơn

Trang 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO

HỌC SINH LỚP 2 THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM

- 100 cán bộ quản lí và phụ huynh học sinh

2.3 Nội dung khảo sát

- Khảo sát về kĩ năng sống của học sinh lớp 2

- Khảo sát về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 theo hướng trải nghiệm

2.4 Phương pháp khảo sát

- Phương pháp điều tra

Người nghiên cứu thiết kế phiếu điều tra, phiếu gồm 8 câu hỏi Tổng số

là 9 phiếu gửi cho GV của khối lớp 2

Người nghiên cứu thiết kế phiếu điều tra, phiếu gồm 1 câu hỏi Tổng số

là 100 phiếu gửi cho cán bộ quản lí và phụ huynh học sinh

- Phương pháp quan sát

Để biết được cách dạy học kĩ năng sống của GV cũng như các biểu hiện

về kĩ năng sống của HS, người nghiên cứu đã dự giờ 2 tiết kĩ năng sống ở trường Tiểu học Đồng Xuân

- Phương pháp thực nghiệm

Trang 40

Dạy thực nghiệm: Tổ chức dạy thực nghiệm thông qua hoạt động trải nghiệm

2.5 Kết quả khảo sát

- Kết quả điều tra về các kĩ năng sống và mức độ thực hiện các kĩ năng sống của học sinh lớp 2 của 2 trường: Trường Tiểu học Đồng Xuân và trường Tiểu học Hùng Vương:

STT Các KNS

Mức độ thực hiện Thành

thạo

Khá thành thạo

Làm có trợ giúp

Ít khi làm được

Chưa làm được

Ngày đăng: 23/12/2019, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w