1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề xuất và tổ chức một số hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non 5 tuổi ở trường mầm non cổ loa, xã cổ loa, huyện đông anh, thành phố hà nội

56 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hình thành ý thức trách nhiệm với môi trường thì không chỉ giáo dục ở người lớn mà“ngay từ bậc học mầm non”đã cần cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản t

Trang 1

CỔ LOA, XÃ CỔ LOA, HUYỆN ĐÔNG ANH,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

CỔ LOA, XÃ CỔ LOA, HUYỆN ĐÔNG ANH,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYỄN THỊ KIM NGOAN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo_ThS Nguyễn Thị Kim

Ngoan đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, kiến thức và chỉ bảo

tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng các em học sinh

trường mầm non Cổ Loa, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã

tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài của mình

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục mầm

non cũng như khoa sinh-KTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là

các thầy cô trong tổ bộ môn phương pháp chăm sóc và vệ sinh trẻ em đã tạo

điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài này

Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và các bạn

sinh viên đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình nghiên cứu

Lần đầu nghiên cứu khoa học, đề tài của em không tránh khỏi thiếu sót

Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ đạo, đóng góp ý kiến của các thầy cô

giáo và các bạn sinh viên để đề tài của em ngày càng hoàn thiện hơn

“Em xin chân thành cảm ơn!”

“ Hà Nội, Ngày tháng ” năm 2019

Tác giả

Hoàng Quế Lan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành là kết quả nghiên cứu và do sự cố gắng nỗ lực cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của ThS Nguyễn Thị Kim Ngoan

Khoá luận tốt nghiệp này không trùng với các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Hoàng Quế Lan

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BVMT : Bảo vệ môi trường

HS : Học sinh GDBVMT : Giáo dục bảo vệ môi trường GDMN : Giáo dục mầm non

GV : Giáo viên

MT : Môi trường MTXQ : Môi trường xung quanh

MN : Mầm non

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Đóng góp của đề tài 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 9

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài 10

1.2.1 Khái niệm về môi trường và các chức năng của môi trường 10

1.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững, phát triển trẻ mầm non 11

1.2.3 Đặc điểm của trẻ 5 tuổi 12

1.2.4 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi qua hoạt động ở trường mầm non 14

1.2.4.1 Khái niệm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 14

1.2.4.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 15

1.2.4.3 Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 16

1.2.4.4 Nguyên tắc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 17

1.2.4.5 Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi 18

1.2.4.6 Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 18

Trang 7

1.2.4.7 Hình thức giáo dục ý thức BVMT cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi 19

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20

1.3.1 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong chương trình giáo dục mầm non hiện hành 20

1.3.2 Một số nét cơ bản về trường mầm non Cổ Loa 21

1.3.3 Khảo sát thực trạng ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi 21

1.3.3.1 Mục đích khảo sát 21

1.3.3.2 Đối tượng khảo sát 21

1.3.3.3 Nội dung khảo sát 21

1.3.3.4 Phương pháp khảo sát 22

1.3.3.5 Kết quả khảo sát 24

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON CỔ LOA, XÃ CỔ LOA, HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 26

2.1 Nguyên tắc đề xuất các hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi 26

2.2 Quy trình tổ chức các hoạt động 26

2.3 Các hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 26

2.3.1 Giáo dục thông qua hoạt động học tập 26

2.3.2 Giáo dục thông qua hoạt động vui chơi 37

2.3.3 Giáo dục thông qua hoạt động sinh hoạt hàng ngày 38

2.3.4 Giáo dục thông qua phối hợp với gia đình 39

2.4 Thực nghiệm khoa học 40

2.3.1 Mục đích thực nghiệm 40

2.4.2 Đối tượng thực nghiệm 40

2.4.3 Kết quả thực nghiệm 40

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43

Trang 8

1 Kết luận 43

2 Kiến nghị 43

2.1 Với các nhà quản lí giáo dục 43

2.2 Với giáo viên mầm non 44

2.3 Với gia đình 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC 47

Trang 9

“MỞ ĐẦU”

1.“Lý do chọn đề tài”

Trái đất đang nóng dần lên, nhiệt độ tại các vùng Bắc Cực thay đổi khiến băng tan, cho thấy sự hoảng loạn từ mẹ Trái Đất muốn nhắn nhủ với chúng ta hãy chung tay bảo vệ môi trường.“Mỗi chúng ta đều đã biết đối với đời sống con người và sự phát triển kinh tế văn hoá của đất nước, của mỗi cá nhân môi trường có tầm quan trọng đặc biệt” Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính tự nhiên như nước, đất, không khí, hệ thống động, thực vật,… Tình trạng môi trường thay đổi và bị ô nhiễm đang diễn ra trên phạm vi mỗi quốc gia cũng như toàn cầu Chưa bao giờ môi trường lại ô nhiễm nặng như bây giờ Bảo vệ môi trường một nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia, các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới

Tổ chức UNEP đã chọn ngày 05/06 hàng năm là ngày môi trường thế giới, ở Việt Nam ngày 27/12/1993 Quốc hội đã thông qua “luật bảo vệ môi trường” đưa ra các đề án để bảo vệ môi trường vào hệ thống quốc dân Tuy vậy không phải địa phương nào cũng làm tốt, cá nhân nào cũng hiểu và có ý thức bảo vệ môi trường Để hình thành ý thức trách nhiệm với môi trường thì không chỉ giáo dục ở người lớn mà“ngay từ bậc học mầm non”đã cần cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và của con người nói chung, biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và trí tuệ, hướng đến sự phát triển toàn diện của trẻ

Thực tế ý thức bảo vệ môi trường của trẻ mầm non chưa cao, các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường chưa phong phú hấp dẫn Làm thể nào để tổ chức các hoạt động để nâng cao ý thức, có thái độ, hành động đúng đắn để

bảo vệ môi trường cho trẻ? Từ những lí do đó tôi chọn đề tài: “Đề xuất và tổ chức một số hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non 5 tuổi ở trường mầm non Cổ Loa, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” để nghiên cứu

2.“Mục đích nghiên cứu”

Trang 10

Thông qua việc tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài, đề xuất một số biện pháp đối với công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non nhằm giúp trẻ hiểu, hình thành và phát triển thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường Bồi dưỡng thêm tình yêu thiên nhiên, những xúc cảm, lối sống tích cực, kĩ năng sống bảo vệ môi trường cho trẻ

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số hoạt động GDYTBVMT và kết quả GDBVMT cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non

4 Giả thuyết khoa học

Nếu các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi được xây dựng phong phú và thực hiện phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của trẻ thì sẽ tác động tích cực đến ý thức, thái độ và hành động của trẻ, góp phần hình thành cho trẻ thói quen bảo vệ môi trường

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ

môi trường cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non

- Đánh giá thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi

ở trường mầm non

- Đề xuất một số hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5

tuổi ở trường mầm non

Trang 11

- Tổ chức thực nghiệm các hoạt động để khảo sát tính đúng đắn của giả

thuyết khoa học đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp phân tích lịch sử - logic: để tổng quan tư liệu lịch sử bao gồm các tài liệu tâm lí học, giáo dục học, các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục trong và ngoài nước, hệ thống hoá các quan điểm và lí thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: để tìm hiểu kinh nghiệm trong và ngoài nước,

so sánh chọn lọc những thành tựu lí luận và kinh nghiệm giáo dục phù hợp với tư tuởng của đề tài

- Phương pháp khái quát hoá lí luận: để xác định hệ thống quan điểm

và khái niệm, xây dựng khung lí thuyết, đường lối phương pháp luận và thiết

kế điều tra, thiết kế thực nghiệm khoa học

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát trẻ và hoạt động của trẻ: ghi chép những thái độ và hành động bảo vệ môi trường của trẻ 5 tuổi ở trường mầm non Quan sát việc tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường của giáo viên cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non

- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra kết hợp trao đổi trực tiếp nhằm tìm hiểu nhận thức, cách thức của giáo viên về tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: nghiên cứu và đúc kết kinh nghiệm tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong thực tiễn giáo dục mầm non những năm gần đây qua phân tích hồ sơ, sổ sách, phỏng vấn, toạ đàm với cán bộ quản lí, giáo viên

- Phương pháp phân tích: phân tích sản phẩm hoạt động giáo dục bảo

vệ môi trường, phân tích giáo án, các phương tiện tổ chức giáo dục, kết quả hoạt động của giáo viên

Trang 12

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường của trẻ 5 tuổi qua hoạt động ngoài trời nhằm“kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học”qua kĩ thuật chọn mẫu thực nghiệm và mẫu đối chứng tương đương, so sánh chéo và so sánh đầu vào và đầu ra của mẫu thực nghiệm

6.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ

- Phương pháp thống kê toán học: Xử lí số liệu, kiểm nghiệm“kết quả nghiên cứu thực trạng” và kết quả thực nghiệm làm căn cứ đánh giá định tính kết quả nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến của các chuyên gia về các tiêu chí đánh giá, các bài tập khảo sát; tính khả thi và tính hiệu quả của các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi qua hoạt động ngoài trời

ở trường mầm non

7.“Đóng góp của đề tài”

-“Phân tích và đánh giá”được“ý thức bảo vệ môi”trường“của trẻ 5 tuổi”

ở trường mầm non Cổ Loa, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

- Đưa ra“một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi.”

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

“Năm 1948 tại cuộc họp Liên hợp Quốc về BVMT và tài nguyên thiên nhiên ở Pari, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng Tuy nhiên việc giáo dục môi trường chỉ được thực sự quan tâm khi những hiểm hoạ về

sự tồn vong của con người đã trở nên báo động Trái đất-ngôi nhà chung của nhân loại bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng do chính những hành động mà con người gây ra Sau đó, các quốc gia trên thế giới đã lần lượt tổ chức các hội nghị, hội thảo và đề ra được nhiều chiến lược, sách lược quan trọng về vấn đề bảo vệ môi trường theo những hướng cơ bản sau:”

“Thứ nhất, nghiên cứu về mục tiêu, nguyên tắc giáo dục môi trường.”

“Vào tháng 5 năm 1958, Hội đồng cộng đồng châu Âu đã họp và thống nhất đưa ra nghị quyết về giáo dục môi trường với những mục tiêu nâng cao nhận thức của nhân dân đối với các vấn đề về môi trường cũng như các giải pháp để có thể đặt nền móng cho sự tham gia tích cực với đầy đủ kiến thức của từng cá nhân trong việc bảo vệ môi trường và sử dụng một cách hợp lý, sáng suốt các tài nguyên thiên nhiên.”

“Năm 1975 tại Belyrade (Nam Tư), Chương trình giáo dục môi trường quốc tế (IEEP) ra đời Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về GDMT, chương trình IEEP đã đưa ra được Nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu, nguyên tắc hướng dẫn GDMT Hội thảo đã công bố Hiến chương Balyrade - Một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho GDMT được tóm tắt ở những điểm cơ bản sau:”

-“Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh

tế, chính trị, xã hội, sinh thái giữa nông thôn và thành thị.”

Trang 14

-“Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến thức, những giá trị, quan niệm, trách nhiệm và các kĩ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường.”

-“Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, các tổ chức cũng như toàn xã hội.”

“Thứ hai, nghiên cứu tầm quan trọng của giáo dục đối với các vấn đề

Tháng 9 năm 1980, tại Băng Cốc (Thái Lan) Hội thảo khu vực Châu Á Thái Bình Dương lần thứ hai được tổ chức có 17 nước tham dự Nếu như hội thảo lần thứ nhất tổ chức đề cập đến việc triển khai GDMT trong phạm vi toàn cầu thì hội thảo lần thứ hai được tổ chức nhằm trao đổi kinh nghiệm GDMT của các nước nên ý nghĩa của việc GDMT cho tất cả mọi đối tượng và đưa GDMT vào các trường đại học

Năm 1982, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã nghiên cứu về MT và GDMT Tổ chức này đã nghiên cứu một chương trình ngắn về BVMT và tài nguyên thiên nhiên, sự cân bằng trong thiên nhiên, sự cần thiết phải bảo tồn môi trường và những phương thức bảo tồn môi trường Năm 1983, tổ chức UNESCO cũng đã hoàn thành một số tài liệu, sách hướng dẫn, tranh ảnh và phim tài liệu hướng dẫn GDMT

Trang 15

“Sau đó vào năm 1987, nhân kỷ niệm 10 năm Hội nghị Tbilisi đầu tiên, một loạt các vấn đề cơ bản về môi trường được đưa ra thảo luận, trong đó nhấn mạnh đặc biệt tới tầm quan trọng của giáo dục môi trường, và khẳng định sẽ không thể giảm được mối đe dọa mang tính khu vực và quốc tế đối với môi trường trừ phi ý thức của đại đa số quần chúng được thức tỉnh.”

“Có 170 nước tham dự Hội nghị Thượng đỉnh (UNCED) diễn ra tại Rio

de Janeco (Brazil) vào năm 1992 Hội nghị thảo luận về vấn đề mấu chốt là

“Chương trình Nghị sự 21” Chương trình nhằm chỉ ra cho các quốc gia biết cần phải làm những gì để đạt được sự phát triển mang tính chất duy trì trong thế kỷ XXI Hội nghị đã nhất trí cao phát triển và GDMT phải là một bộ phận thống nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức Hội nghị cũng đưa ra dự kiến là mọi chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa hoặc chuẩn bị tâm thế để đưa vào các cấp giáo dục.”

“Thứ ba, nghiên cứu về trách nhiệm của con người đối với việc phát triển MT một cách bền vững Nghị định thư Kyoto năm 1997 đưa ra chỉ tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chế đối với các nước đang phát triển nhằm đạt được sự phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững thông qua thực hiện “cơ chế phát triển sạch” Hội nghị quốc tế về MT với chủ đề: “Các công dân trên trái đất” diễn ra tại Pari (Pháp) năm 2007 với mục đích đưa ra các giải pháp hiệu quả để bảo vệ an toàn trái đất trước nguy cơ biến đổi bất lợi do con người gây ra “Lời kêu gọi Pari” đã khuyến khích kêu gọi tất cả các nước, tất

cả mọi người chung tay BVMT, việc làm này góp phần bảo vệ tương lai của nhân loại Hội nghị cũng kêu gọi thế giới thông qua “Tuyên bố toàn cầu” về các quyền hạn, trách nhiệm đối với MT nhằm đánh giá một quyền mới cho con người, đó là quyền được sống trong một MT an toàn được bảo vệ.”

Trong chương trình“giáo dục mầm non của các nước trên thế giới”đã triển khai thực hiện nội dung GDMT cho trẻ MN theo các hướng chính sau:

Trang 16

Thứ nhất: Nội dung GDMT đề cập đến vấn đề môi trường ô nhiễm và giáo dục giá trị của môi trường trong sạch như ở Hàn Quốc, nội dung GDBVMT được tích hợp vào chương trình GDMN, trong đó nổi bật là giáo dục giá trị của MT trong sạch, vệ sinh MTXQ, ô nhiễm MT, nguyên nhân và tác hại của MT ô nhiễm đến sức khỏe của con người; phân loại rác và các biện pháp giảm rác thải ở Nga, nội dung GDMT đã đề cập đến vấn đề MT ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và ô nhiễm MT, BVMT…

Thứ hai: nội dung GDMT là việc tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động tìm hiểu thiên nhiên Ở Thụy Điển, GDMT cho trẻ mẫu giáo được tổ chức theo từng chương trình Ví dụ như chương trình “Ngôi nhà trong rừng” trẻ được chơi ngoài không khí, hòa nhập vào thiên nhiên, tổ chức quan sát thiên nhiên, làm các thử nghiệm với thực vật,“sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên làm đồ chơi.”Ở Nga,“nội dung GDMT cho trẻ mẫu giáo đề cập đến mối quan hệ của động vật, thực vật với MT sống của chúng.”Ở Úc, GDMT cũng

đề cập đến vấn đề thiên nhiên, chăm sóc bảo vệ thiên nhiên… Đặc biệt ở Nhật Bản, GDMT được gắn liền với nhiệm vụ giáo dục đạo đức, với việc phát triển

kĩ năng xã hội là ý thức nhóm Khuynh hướng giáo dục này cộng với đặc thù địa lí và lòng yêu thiên nhiên gần như bầm sinh của con người Nhật Bản đã hình thành nên tâm lí dân tộc độc đáo, đã đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc trong giáo dục sinh thái và MT cho thế hệ trẻ của đất nước này

“Như vậy, thông qua diễn biến của các hội thảo, hội nghị về vấn đề MT trên thế giới qua các năm cho thấy các quốc gia trên thế giới đều xem giáo dục là công cụ quan trọng, hữu hiệu nhất để GDMT và thay đổi xã hội, là tác nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thay đổi nhận thức của con người đối với các vấn đề MT Tất cả các hội nghị, hội thảo đều hướng tới việc làm cho

MT toàn cầu được cải thiện tốt đẹp hơn Ngày MT thế giới (WED) đặt ra thông điệp cụ thể trong mỗi giai đoạn nhất định Chủ đề ngày môi trường thế giới năm 2013 là “Hãy nghĩ về môi trường trước khi tiêu thụ thực phẩm”

Trang 17

nhằm khuyến khích mọi người có ý thức hơn về các tác động tới MT từ việc lựa chọn thực phẩm của mình, từ đó góp phần BVMT.”

1.1.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là một nước đang phát triển nhưng là nước phong phú về nguồn tài nguyên, hệ sinh thái đa dạng tuy nhiên bị hạn chế về vốn đầu tư và phương tiện khoa học kĩ thuật Không những môi trường bị suy thoái sau nhiều năm chiến tranh tàn khốc, mà còn bị ảnh hưởng nặng bởi sự nhận thức kém về quy luật của tự nhiên và không biết sử dụng quy luật đó một cách chính xác

Nhiều năm nay GDMT đã được Đảng và nhà nước quan tâm được thể hiện qua những chủ trương chính sách như sau:

“Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Quyết định số 17/10/2001 của Chính phủ về việc phê duyệt đề án “đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”; Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng chính phủ về chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Ngày 29/11/2005 Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua luật bảo vệ môi trường gồm 15 chương,

số 02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31/01/2005 về việc tăng cường công tác GDBVMT Chỉ thị đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của công tác GDBVMT và đề ra các nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp học tham gia vào công tác GDBVMT; ngày 21/04/2006 Vụ GDMN đã ra công văn số 3200 xác định

rõ nhiệm vụ, nội dung và cách thức thực hiện công tác GDBVMT và đề ra nhiệm vụ cụ thể cho các cơ sở GDMN tham gia vào công tác GDBVMT

Trang 18

Trước khi thực hiện dự án tổng thể đưa GDMT vào các trường MN và

sư phạm MN, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu giáo dục BVMT, các cá nhân

đã tiến hành một số công trình nghiên cứu về GDMT cho trẻ MN như: Dự án thiết kế và thử nghiệm nội dung GDMT ở mẫu giáo và tiểu học (Viện khoa học và giáo dục-1996) Dự án thiết kế thử nghiệm chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho cán bộ giáo viên ngành mầm non về MT (Trường CĐSP NT-MGTW1, 1998-1999) Biên soạn một số tài liệu nâng cao nhận thức cho giáo viên BVMT (Trường CĐSP NT-MGTW1, 2001-2002) Tài liệu hướng dẫn về GDMT ở mẫu giáo, Hoàng Đức Nhuận (chủ biên)-Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân số và MT Đề tài “Xây dựng nội dung BVMT cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường MN” (Trung tâm nghiên cứu GDMN-Viện khoa học giáo dục, 1998-2000) Giáo dục BVMT cho trẻ 3-6 tuổi trong trường MN theo quan điểm tích hợp (Đề tài cấp bộ-TS.Lê Thanh Vân-Khoa GDMN-Trường ĐHSP Hà Nội, 2003-2004)

“Tuy nhiên các tài liệu vẫn rất thiếu về vấn đề GDMT, nhất là các hoạt động ở trường vì vậy tôi chọn đề tài tổ chức một số hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non là hoàn toàn hợp lí, từ đó giúp cho các giáo viên có thêm nhiều gợi ý khi tổ chức hoạt động GDMT cho trẻ.”

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài

1.2.1 Khái niệm về môi trường và các chức năng của môi trường

1.2.1.1 Khái niệm về môi trường

Có rất nhiều khái niệm về môi trường:

Theo các nhà nông nghiệp: “MT là điều kiện cần thiết cho sự di truyền những tính chất đặc biệt của sinh vật và ngược lại, đó cũng là nơi và điều kiện

để tạo ra những loài mới, những biến dị mới”

“UNESCO định nghĩa: “MT bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa nước,…) và những cái vô hình (phong tục tập quán, nghệ thuật…), trong đó con người sống và bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho

Trang 19

một thực thể sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh” của cuộc sống và

sự nghỉ ngơi của con người”.”

Theo điều 3 – Luật bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động vào sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”[13]

1.2.1.2 Các chức năng cơ bản của môi trường

- Môi trường là không gian sống của con người và các loài vật

- Môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết phục vụ cho đời sống và hoạt động sản xuất của con người

- Môi trường còn là nơi chứa đựng và phân huỷ các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất

1.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững, phát triển trẻ mầm non

1.2.2.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển

Phát triển là xu hướng khách quan của mỗi cá nhân và toàn thể xã hội nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người Mục đích của sự phát triển là đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống con người Phát triển là xu thế tất yếu của mọi xã hội, là quy luật của tiến hoá thiên nhiên MT là tổng hợp các điều kiện sống của con người, con người phát triển là quá trình sử dụng và cải thiện các điều kiện đó MT là địa bàn, là đối tượng của phát triển Phát triển là nguyên nhân của mọi biến đổi đối với MT Giữa MT và phát triển có mối quan hệ hữu cơ với nhau

1.2.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững

Theo điều 3 – Luật bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết

Trang 20

hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo

vệ môi trường.”[13]

Phát triển bền vững có những đòi hỏi riêng của nó về mặt tài chính, về mặt định chế và về mặt pháp luật Tuỳ theo phạm vi quốc gia hay quốc tế, phát triển bền vững sẽ đưa ra các đòi hỏi khác nhau trên các bình diện kể trên Tuy nhiên, về cơ bản các tiêu chí của phát triển bền vững được đưa ra tương đối thống nhất, đó là: Phát triển kinh tế, BVMT và thoả mãn các yêu cầu của cuộc sống con người

1.2.2.3 Mối quan hệ giữa môi trường với sự phát triển của trẻ mầm non

Đối với trẻ em, quá trình phát triển của cơ thể từ khi còn trong bụng mẹ đến khi trưởng thành trải qua những giai đoạn nhất định và chịu ảnh hưởng của các tác động khác nhau từ MT Cơ thể động vật cũng như cơ thể con người, muốn sinh tồn và phát triển phải có MT MTXQ luôn thay đổi và đưa đến cơ thể chúng ta muôn vàn kích thích Nếu như MT không trong lành, sạch

sẽ hay nói đúng hơn là ô nhiễm thì trẻ sẽ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, truyền nhiễm và trẻ không thể nào lớn lên và khỏe mạnh bình thường được

1.2.3.“Đặc điểm của trẻ 5 tuổi”

“Qua những nghiên cứu của các nhà sư phạm đã khẳng định: lứa tuổi mầm non có vị trí quan trọng trong cả quá trình phát triển nhân cách của cuộc đời mỗi người Sự phát triển của trẻ từ 0-6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực trí tuệ trong tương lai Muốn giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ cần dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của bản thân trẻ để việc giáo dục đạt hiệu quả cao, giúp hoàn thiện bản thân trẻ.”

- “ Đặc điểm tâm lí ”

+ Một trong những đặc điểm nổi bật của tâm lí trẻ lên 5 là sự tưởng tượng Bước vào độ tuổi này, trẻ bắt đầu hình thành những khái niệm, quan điểm về điều thiện, ác rõ ràng

Trang 21

+ Sự tò mò của trẻ lên 5 cũng được kích thích phát triển Trẻ đặt câu hỏi liên tục với những điều diễn ra xung quanh mình.“Trẻ muốn khám phá, muốn tìm kiếm những dấu hiệu bên trong các sự vật hiện tượng.”Trẻ trầm trồ, cảm thấy vô cùng thú vị với những thứ mới lạ và li kỳ Từ những kiến thức

có sẵn, trẻ kết nối với những thứ mới lạ này giúp trí tưởng tượng của trẻ thêm

đa dạng và phong phú hơn

+ Trong giai đoạn phát triển tâm lí trẻ lên 5, sự ý thức về bản thân mình được định hình khá rõ ràng Trẻ biết yêu bản thân mình, ý thức được cái gì là

sở hữu của mình, cái gì là của người khác Nghĩa là, trẻ chỉ chăm chăm vào lợi ích của bản thân, mà không cần biết đến những người xung quanh

+“Trẻ biết nói câu dài, thích ca hát, thích nghe nhạc, biết bộc lộ cảm xúc trước vẻ đẹp của hiện tượng xung quanh.”

+“Trẻ có khả năng lao động tự phục vụ cho bản thân và mong muốn giúp đỡ cho người khác, hòa nhập với cộng đồng, vui chơi đoàn kết với bạn

bè, biết thể hiện tình cảm với mọi người xung quanh [8].”

- Đặc điểm sinh lí

“Sự phát triển của cơ thể trẻ diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước về

số lượng: chiều cao trung bình hàng năm tăng từ 5cm – 8cm; cân nặng trung bình hàng năm tăng từ 1kg – 1,5kg.”

“Có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng phát triển:”

+“Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa được tăng cường, sự hấp thu thức ăn ngày càng tốt hơn.”

+“Hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển, trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn.”

+“Hệ cơ xương hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan điều khiển vận động được tăng cường…Do vậy, trẻ có thể tiến hành hoạt động đòi hỏi sự phối hợp hoạt động của tay, chân, thân (chạy, nhảy, vẽ, nặn, cắt dán…)”

Trang 22

+“Cơ quan phát âm cũng phát triển và hoàn thiện dần Ở giai đoạn này, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ.”[6]

- “ Đặc điểm bệnh lí ”

“Bệnh tật của trẻ ở giai đoạn này giảm rõ rệt, các bệnh về đường tiêu hóa ít gặp hơn Tuy nhiên trẻ hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn do tiếp xúc: viêm họng, viêm phế quản, các bệnh dị ứng, hen, thấp, mề đay… [6], [7]”

Từ những“đặc điểm tâm sinh lí của trẻ”về môi trường chúng ta có thể thấy rằng việc giáo dục môi trường cho trẻ ngay từ nhỏ không bao giờ là quá sớm, bởi đây là giai đoạn hình thành nhân cách, phát triển ở trẻ những định hướng giá trị trong thế giới xung quanh, hình thành những nền móng ban đầu cho việc GDMT ở trẻ

1.2.4.“Giáo dục ý thức bảo vệ môi”trường“cho trẻ 5 tuổi”qua hoạt động ở trường mầm non

1.2.4.1 Khái niệm “ giáo dục ý thức bảo vệ môi ” trường

Khái niệm giáo dục môi trường (GDMT) được hình thành ở nước Anh,

do giáo sư Sir Patrick Geddes – một nhà vật học người Scotland Ông đã chỉ

ra mối liên hệ quan trọng giữa chất lượng môi trường với chất lượng giáo dục

từ năm 1892 Geddes cũng là người đi đầu trong việc giảng dạy những chiến lược tạo cơ hội cho người học tiếp xúc với MTXQ

Hội nghị quốc tế về GDMT trong Chương trình đào tạo của trường học

do IUCN/UNESCO tổ chức tại Nevada (Mỹ) năm 1970 đã thông qua định nghĩa về GDMT như sau:

“GDMT là quá trình nhận ra các giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựng những kĩ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa và MT vật lí xung quanh, GDMT cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng MT”

Năm 1972, tại hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về môi trường được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển), khái niệm GDMT chính thức ra đời Sự ra

Trang 23

đời của GDMT góp phần giúp con người nhận thức rõ hơn tác động của mình đối với môi trường

Theo UNESCO (tại Tbilisi-USSR-1977): “GDMT là quá trình tạo dựng cho con người kiến thức, rèn luyện kỹ năng về môi trường, hình thành thái độ

về môi trường để có thể hoạt động một cách độc lập, hoặc phối hợp, nhằm tìm

ra giải pháp cho những vấn đề của hiện tại và ngăn chặn những vấn đề mới có thể nảy sinh trong tương lai”

Theo Bộ giáo dục và đào tạo/ chương trình phát triển Liên hợp quốc 1988: “GDMT là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề môi trường, bao gồm kiến thức, thái độ hành vi, trách nhiệm để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết môi trường trước mắt cũng như lâu dài”

Theo PGS-TS Hoàng Thị Phương: “GDMT cho trẻ mầm non là quá trình nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về MT, quan tâm đến các vấn đề MT phù hợp với lứa tuổi được thể hiện qua kiến thức, thái độ, kĩ năng, hành vi và trách nhiệm của trẻ đối với MTXQ”.[5]

Việc giáo dục MT ngay từ thời thơ ấu nuôi dưỡng những nhận thức và các quan niệm về MT“từ đó có những hành vi”tốt với MT

1.2.4.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ

Năm 1987, tại Hội nghị về MT ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng

tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của GDMT: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng MT với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó GDMT là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về MT”

Hiện nay, cả nước có trên 10000 trường mẫu giáo, mầm non với gần 3 triệu trẻ em và trên 15 nghìn giáo viên Một lực lượng đông đảo sẽ được trang

Trang 24

bị những kiến thức, kỹ năng về MT và BVMT nếu đưa GDBVMT vào trường mầm non

Không những thế, việc giáo dục môi trường cho trẻ ngay từ những giai đoạn đầu đời này sẽ là tiền đề cho việc GDMT về sau Khi trẻ đã có những nhận thức ngày từ đầu về việc cần phải bảo vệ môi trường thì sẽ giảm rất lớn

việc làm hại môi trường

1.2.4.3 Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường

Hầu hết các tài liệu đề cập đến GDMT đều thống nhất mục tiêu GDMT cho trẻ mầm non hướng đến 3 khía cạnh“cơ bản là: kiến thức,”kĩ“năng,”thái

độ

“Theo”“Hướng dẫn thực hiên nội dung GDBVMT trong trường mầm non” – Bộ GD&ĐT – Vụ GDMN – 2006, mục tiêu GDMT cho trẻ MG hướng tới:

* Về kiến thức:

- Trẻ có hiểu biết ban đầu về MT sống của con người

- Trẻ có những kiến thức đơn giản về cơ thể, cách chăm sóc giữ gìn sức khỏe cho bản thân

- Trẻ có kiến thức ban đầu về mối quan hệ của động vật, thực vật và con người với MT sống để trẻ biết giao tiếp, yêu thương những người gần gũi quanh mình, biết chăm sóc bảo vệ cây cối, bảo vệ con vật quanh nơi mình ở

- Trẻ có một số kiến thức đơn giản về ngành nghề, văn hóa, phong tục tập quán của địa phương

- Tiết kiệm, chia sẻ, hợp tác với bạn bè và những người xung quanh

Trang 25

- Có phản ứng với các hành vi của con người làm bẩn và phá hoại MT như: vứt rác bừa bãi, chặt cây, hái hoa, dẫm lên cỏ, bắn giết động vật…

* Về thái độ - tình cảm

- Yêu quý, gần gũi với thiên nhiên

- Tự hào và ý thức giữ gìn, bảo vệ những phong cảnh, địa danh nổi tiếng của quê hương

- Quan tâm đến những vấn đề MT trường, lớp học, gia đình và tích cực tham gia vào các hoạt động BVMT như: vệ sinh thân thể, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi, giữ gìn lớp học sạch sẽ, chăm sóc vật nuôi cây trồng, thu gom lá, rác thải ở sân trường.[11]

1.2.4.4 Nguyên tắc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường

- Coi trọng môi trường là một tổng thể Xem xét môi trường trên mọi khía cạnh tự nhiên, nhân tạo, công nghệ và xã hội (kinh tế, kỹ thuật, lịch sử-văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ) như sau:

+ Tự nhiên: Các yếu tố hữu sinh như động, thực vật và các yếu tố vô sinh như đất, nước, không khí tác động qua lại lẫn nhau trong các hệ thống và thực hiện các chức năng sinh thái hỗ trợ cho cuộc sống

+ Xã hội: Những người sống cùng nhau, tác động lẫn nhau và hình thành nên cách sống với nhiều quy tắc và cách ứng xử văn hóa khác nhau

+ Kinh tế: Hệ thống có tính bền vững giúp con người có việc làm và có thu nhập để chi trả những nguồn lợi và những dịch vụ con người cần

+ Chính trị: Môi trường cho phép đóng góp và tác động đến những quyết định về tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, kinh tế và cách thức con người sống cùng nhau

Như vậy, cách nhìn nhận vấn đề và tham gia hành động, quản lí môi trường của con người là trọng tâm quan trọng của mọi hoạt động

- GDMT là một quá trình liên tục và lâu dài, bắt đầu từ trước tuổi đến trường và tiếp tục suốt thời kì trưởng thành ở các hệ đào tạo chính quy và không chính quy

Trang 26

- Phương pháp tiếp cận của GDMT là liên môn dựa trên cơ sở nội dung riêng

- Xem xét những vấn đề môi trường cơ bản trên quan điểm của cấp địa phương, quốc, gia, vùng và toàn cầu để người học có thể đánh giá đúng về điều kiện môi trường ở những khu vực địa lí khác nhau

- Đảm bảo tính toàn diện

- Phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi

- Đảm bảo tính tích cực

1.2.4.5 Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 tuổi

- Trẻ cần hiểu được tại sao phải“bảo vệ môi trường”

+ Giúp trẻ biết“được tác hại của”ô nhiễm môi trường như: ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí…

+“Vai trò của môi trường”đối với con người như:“vai trò của”đất, nước, không khí…

- Cần bảo vệ môi trường khi nào

+ Trẻ nhận biết được môi trường sạch hay bẩn

+ Trẻ nắm nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường: vứt rác bừa bãi, khói bụi…

-“Trẻ thực hiện hành động”nào để“bảo vệ môi”trường: nhặt rác, bỏ rác đúng nơi quy định, khóa vòi nước khi không sử dụng, nhổ cỏ, làm đồ tái chế…

1.2.4.6 Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường

Trong giai đoạn này, sử dụng phương thức lồng ghép giáo dục môi trường vào hoạt động cụ thể cho trẻ:

Tổ chức cho trẻ tham quan, dã ngoại, quan sát các sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh

Tổ chức hoạt động cho trẻ: chăm sóc cây, con; vệ sinh lớp, trường, thu gom, phân loại rác Làm đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu đã qua sử dụng

Trang 27

Tổ chức các trò chơi đóng vai, trò chơi học tập, trò chơi vận động…

Tổ chức cho trẻ hoạt động văn nghệ, đọc truyện, thơ, thi các cuộc thi tìm hiểu về môi trường…

Tổ chức cho trẻ xem tranh ảnh, video về môi trường

1.2.4.7 Hình thức giáo dục ý thức BVMT cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi

GDMT cho trẻ mầm non được lồng ghép tích hợp trong các hoạt động:

- GDMT thông qua hoạt động học tập

Việc giáo dục ý thức hình thành thói quen bảo vệ môi trường cho trẻ“không nên tiến hành trên một tiết học riêng biệt mà liên hệ, lồng ghép, tích hợp vào các tiết học ở mức độ khác nhau Nội dung lồng ghép phụ thuộc vào nội dung cụ thể của hoạt động học tập nhưng phải đảm bảo tính tự nhiên, hợp lý, khách quan của tri thức; đảm bảo tính hệ thống, trọn vẹn của nội dung học tập và đảm bảo tính vừa sức cho trẻ Có thể sử dụng các cách thức như kể chuyện, trình bày trực quan, giảng giải, nêu gương, tổ chức chơi trò chơi, xử

lý các tình huống, khen thưởng, giao nhiệm vụ.”

- GDMT thông qua“hoạt động vui chơi”

“Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, nó có vai trò quan trọng đối với việc hình thành nhân cách của trẻ nói chung, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nói riêng Tham gia vào trò chơi là quá trình tiếp nhận tri thức một cách tự nhiên không bị ép buộc Việc lồng ghép giáo dục ý thức bảo

vệ môi trường trong các trò chơi hình thành thói quen bảo vệ môi trường cho trẻ.”

- GDMT thông qua hoạt động“sinh hoạt hàng ngày”

“Tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày chính là tổ chức cuộc sống của trẻ

và bằng chính cuộc sống đó mà giáo dục trẻ em Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong cuộc sống hàng ngày phụ thuộc vào nội dung hoạt động và sinh hoạt của trẻ Muốn xác định nội dung giáo dục cụ thể cần phân tích cuộc sống của trẻ thành hệ thống các hoạt động, các mối quan hệ Từ đó phân tích thành việc làm, các cách cư xử và các thao tác, cử chỉ…cho trẻ định hướng

Trang 28

vào mẫu cần giáo dục trẻ rồi tổ chức cho trẻ luyện tập, đưa nội dung giáo dục thành yêu cầu của nếp sống hàng ngày.”

- GDMT thông qua“phối hợp với gia đình”

“Việc giáo dục ý thức, thói quen bảo vệ môi trường cho trẻ chỉ có thể đạt hiệu quả nếu có sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường Trao đổi thường xuyên với gia đình nhằm nâng cao hiểu biết của phụ huynh, thống nhất yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục, tạo ra các điều kiện giáo dục càn thiết ở trường và ở gia đình.”

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.3.1.“Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi”trong chương trình giáo dục mầm non hiện hành

Ở nước ta hiện nay, đang thực hiện ba chương trình chăm sóc giáo dục trẻ đó là: chương trình cải cách;“chương trình đổi mới hình thức”giáo dục;

“chương trình”đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức…

Ở chương trình cải cách nội dung, GDMT trong trường mầm non được lồng ghép trong nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ Giáo viên hầu như không phải đầu tư gì nhiều cho GDMT, không có sự sáng tạo, tính hệ thống không cao, dẫn tới GDMT chưa được khai thác tốt trong trường mầm non

Trong chương trình đổi mới hình thức giáo dục về bản chất được xây dựng trên nội dung của chương trình cải cách, nhưng nội dung giáo dục được thiết kế lại theo các chủ điểm giáo dục Chương trình này lấy quan điểm tích hợp và quan điểm dạy học tích cực làm nền tảng Việc khai thác nội dung GDMT theo từng chủ đề, đòi hỏi giáo viên chủ động, linh hoạt và sáng tạo hơn Các nội dung trong một chủ đề có tính tích hợp cao, có chiều sâu về kiến thức, có“điều kiện để trẻ thực hành trải nghiệm”nên được cho là tương đối phù hợp với khả năng của trẻ

Ở chương trình đổi mới mang tính đồng bộ, tổng thể, giáo viên có thể khai thác tối đa những tiềm năng GDMT có trong các hoạt động ở trường, tuy vậy đòi hỏi ở họ phải thực sự có năng lực và có sự đầu tư công sức, trí tuệ Điều này chưa có nhiều giáo viên mầm non làm được

Ngày đăng: 23/12/2019, 09:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.“Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Thị Phương Loan (2014), Giáo trình Môi trường và con người, NXB Giáo dục học Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Môi trường và con người
Tác giả: Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Thị Phương Loan
Nhà XB: NXB Giáo dục học Việt Nam
Năm: 2014
2.“Cao Thị Hồng Nhung (2010), Một số biện pháp giáo dục môi trường cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động vui chơi, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giáo dục môi trường cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động vui chơi
Tác giả: Cao Thị Hồng Nhung
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2010
3. Hoàng Đức Nhuận (chủ biên), Phan Thu Lạc, Trần Thị Nhung, Trần Thị Thanh (1998), Tài liệu hướng dẫn về giáo dục môi trường ở mẫu giáo, Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân số và môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn về giáo dục môi trường ở mẫu giáo
Tác giả: Hoàng Đức Nhuận (chủ biên), Phan Thu Lạc, Trần Thị Nhung, Trần Thị Thanh
Năm: 1998
4.“Nguyễn Thị Phong, Trần Thanh Tùng (2006), ệ sinh trẻ em, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ệ sinh trẻ em
Tác giả: Nguyễn Thị Phong, Trần Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
5.“Hoàng Thị Phương (2005), Giáo dục môi trường cho trẻ mầm non, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường cho trẻ mầm non
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2005
6. Hoàng Thị Phương (2008), iáo trình ệ sinh trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iáo trình ệ sinh trẻ em
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
7.“Nguyễn Xuân Thành (2017), Giáo trình Sinh lý học trẻ em lứa tuổi mầm non và tiểu học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh lý học trẻ em lứa tuổi mầm non và tiểu học
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
8.“Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Tâm lý học lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
9. Lê Thanh Vân (2003), Con người và môi trường, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và môi trường
Tác giả: Lê Thanh Vân
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2003
10.“Lê Thanh Vân (2004), Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ từ 3-6 tuổi theo quan điểm tích hợp, đề tài nghiên cứu cấp bộ.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ từ 3-6 tuổi theo quan điểm tích hợp
Tác giả: Lê Thanh Vân
Nhà XB: đề tài nghiên cứu cấp bộ
Năm: 2004
11.“Phạm Thị Thanh Vân (2010), Một số biện pháp giáo dục môi trường cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động ngoài trời, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giáo dục môi trường cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động ngoài trời
Tác giả: Phạm Thị Thanh Vân
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2010
12. Elizabeth Fenwich (2000), người dịch Nguyễn Lân Dũng, Cẩm nang chăm sóc bà mẹ em bé, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăm sóc bà mẹ em bé
Tác giả: Elizabeth Fenwich
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2000
13. Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật số 55/2014/QH13 – LuatVietNam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệ môi trường năm 2014
14. Hướng dẫn thực hiện nội dung DB MT trong trường mầm non (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện nội dung DB MT trong trường mầm non

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w