1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 4 5 tuổi tại trường mầm non văn khê mê linh hà nội

76 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, có thể thấy “kỹ xảo vệ sinh là những kỹ xảo hướng tới việc bảo vệ và củng cố sức khỏe cho trẻ.Việc giúp trẻ rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng giúp tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

PHẠM THỊ LINH

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG

VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG

CHO TRẺ MẦM NON 4-5 TUỔI

TẠI TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊ-

MÊ LINH- HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

PHẠM THỊ LINH

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG

VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG

CHO TRẺ MẦM NON 4-5 TUỔI

TẠI TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊ-

MÊ LINH- HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em

Người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Thị Việt Nga

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo Dục Mầm Non, khoa Sinh-KTNN đã giúp

đỡ em trong suốt thời gian em học tập tại trường, tạo điều kiện tốt nhất để em

có cơ hội tìm hiểu và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp

Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo TS.Nguyễn Thị Việt Nga -Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn động viên em trong suốt thời gian em học tập nghiên cứu tài liệu, tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mần non 4-5 tuổi tại Trừng Mầm non Văn Khê-

Mê Linh- Hà Nội” là kết quả mà tôi đã nghiên cứu qua các đợt kiến tập và đợt thực tập cuối Trong quá trình nghiên cứu tôi có sử dụng một số tài liệu tham khảo của các tác giả khác Tuy nhiên đó chỉ là những tài liệu tôi tìm hiểu tham khảo để hoàn thành khóa luận của mình Đây là kết quả của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Thị Việt Nga - Giảng viên Khoa sinh- KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đề tài và nội dung khóa luận tốt nghiệp là trung thực hoàn toàn không trùng với kết quả của tác giả khác

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm với lời cam đoan này

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Linh

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

5 Giả thuyết khoa học 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp 4

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 9

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1.1 Khái niệm: Thói quen vệ sinh cá nhân 9

1.2.1.2 Khái niệm: Kỹ năng vệ sinh 11

1.2.1.3 Một số khái niệm dinh dưỡng 12

1.2.2 Đặc điểm tâm- sinh lý của trẻ 4-5 tuổi 13

1.2.3 Đặc điểm rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi 15

1.2.4 Vai trò của việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non 16

Trang 7

1.3 Thực trạng rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh

dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội 18

CHƯƠNG 2 RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON 4-5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊ- MÊ LINH- HÀ NỘI 22

2.1 Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua họat động học tập 22

2.1.1 Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua bữa ăn hàng ngày 23

2.1.2 Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày 24

2.1.3 Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua các hoạt động vui chơi 25

2.2 Một số phương pháp giáo dục rèn luyện và phát kỹ năng VSCN và DD cho trẻ mầm non 4-5 tuổi tại trường mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội 26

2.3 Ví dụ minh họa 28

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 35

3.1 Mục đích thực nghiệm 35

3.2 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 35

3.3 Nội dung thực nghiệm 35

3.4 Tiến hành thực nghiệm 37

3.4.1 Xác định các yêu cầu cần đạt 37

3.4.2 Chuẩn bị thực nghiệm 37

3.4.3 Tiến hành thực nghiệm 37

3.4.4 Đánh giá 38

3.5 Kết quả thực nghiệm 39

Trang 8

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43

1 Kết luận 43

2 Kiến nghị 43

PHẦN IV: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Mức độ rèn luyện và phát triển các kỹ năng ăn uống có VHVS

và trẻ kể tên đƣợc một số thức ăn cần có trong bữa ăn của trẻ đạt đƣợc sau thực nghiệm lần1 39 Bảng 3.2 Mức độ rèn luyện và phát triển các kỹ năng ăn uống có VHVS

và trẻ kể tên đƣợc một số thức ăn cần có trong bữa ăn của trẻ đạt đƣợc sau thực nghiệm lần 2 40 Bảng 3.3 Mức độ rèn luyện và phát triển kỹ năng ăn uống có VHVS và

trẻ kể tên đƣợc một số thức ăn cần có trong bữa ăn của trẻ đạt đƣợc sau thực nghiệm lần 3 41

Trang 10

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết Bác Hồ đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan” câu nói tuy ngắn gọn nhẹ nhàng nhưng chứa đựng đầy đủ tình cảm của Bác với thế hệ mai sau

Một trong những quyền của trẻ em là quyền được chăm sóc Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ thì chăm sóc và vệ sinh cũng như dinh dưỡng cho trẻ phải hợp lý Khi mà chăm sóc và dinh dưỡng của trẻ không đầy

đủ thì trẻ rất dễ bị mắc các virut hay những bệnh mà ta không lường trước được Trẻ mà bị mắc các căn bệnh như suy dinh dưỡng, bệnh chân tay miệng, viêm da, mắt… là gánh nặng của gia đình và cả xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống và sự phát triển thế hệ tương lai của đất nước

Trên thực tế trẻ em được chăm sóc tốt, rèn luyện uốn nắn ngay từ nhỏ, việc hình thành những kỹ năng vệ sinh và dinh dưỡng cần thiết từ nhỏ sẽ tạo thành nền móng vững chắc cho tương lai của trẻ Là một giáo viên Mầm non tương lai, tôi thấy còn rất nhiều điều mà người giáo viên cần phải có về kỹ năng chăm sóc vệ sinh cũng như dinh dưỡng để giúp trẻ lớn lên khỏe mạnh và hạnh phúc

Với trẻ 4-5 tuổi, lúc này các cơ quan bộ phận của trẻ đã hoàn thiện Trẻ

có thể tự mình vệ sinh cá nhân như đánh răng rửa mặt và có thể tự tắm mà không cần nhờ đến người lớn Trẻ cũng có thể biết được những món ăn nào tốt cho cơ thể và những món ăn nào có hại cho sức khỏe Quá trình tâm lý của trẻ cũng ổn định, trẻ đã có tư duy trực quan hình tượng Trẻ bắt chước rất nhanh các hành động của người lớn, trẻ tò mò ham học, biết cái nào nên làm hay không nên làm Đây là thời điểm vô cùng thuận lợi để rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ

Hiện nay việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh

Trang 11

dưỡng cho trẻ mầm non nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng vẫn còn nhiều hạn

chế Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “ Rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 4-5 tuổi tại Trường Mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội ”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở và lý luận và thực tiễn chúng tôi nghiên cứu rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 4-5 tuổi tại trường mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng của trẻ ở trường mầm non

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ sau: Tìm hiểu cơ sở lý luận về rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân

và dinh dưỡng cho trẻ

Tìm hiểu thực trạng rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ lớp 4-5 tuổi ở trường mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội

Đưa ra một số biện pháp nhằm rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân

và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi

Khách thể nghiên cứu: Trẻ 4-5 tuổi ở trưởng mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được một số biện pháp rèn luyện, phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ thì sẽ giúp cho trẻ có được những kỹ năng

tự phục vụ bản thân ở mọi nơi, mọi lúc mà không phụ thuộc vào sự giúp đỡ

Trang 12

của người khác

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các cơ sở lý thuyết của việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng VSCN và DD cho trẻ MGN

“Nghiên cứu các tài liệu liên quan làm cơ sở lý thuyết cho đề tài Thu thập, chọn lọc, tổng hợp và khái quát hóa tài liệu có liên quan đến lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu làm cơ sở lý luận cho đề tài”

- Phương pháp dùng lời: đàm thoại, giảng giải

6.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Tìm hiểu việc tổ chức các hoạt động nhằm rèn luyện và phát triển các kỹ năng VSCN và DD cho trẻ

Tìm hiểu các biện pháp nhằm giúp cho việc rèn luyện và phát triển các

kỹ năng VSCN và DD cho trẻ đạt được kết quả cao

6.4 Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành khảo sát việc thực hiện các kỹ năng VSCN và DD của trẻ ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

Tổ chức các hoạt động nhằm hình thành và phát triển các kỹ năng VSCN

và DD cho trẻ tại lớp thực nghiệm

Trang 13

- Thiết kế và xây dựng hoạt động học tập, giáo án phù hợp tiêu biểu về việc lồng ghép, tích hợp trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩ năng VSCN và DD cho trẻ mầm non 4-5 tuổi

9 Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp

Ngoài phần phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung khóa luận gồm các chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương II: Rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 4-5 tuổi tại Trường Mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

“Việc nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến vệ sinh và dinh dưỡng trẻ

em được rất nhiều tác giả trên thế giới quan tâm Chúng tôi điểm qua một số nghiên cứu nổi bật” như:

Trong thời gian qua có hơn 80 văn kiện quốc tế ít nhiều đề cập đến vấn

Tổ chức Y tế Thế Giới đã đưa ra “các bước rửa tay bằng xà phòng, các bước rửa mặt sao cho đúng cách và đảm bảo vệ sinh nhất”

Ngay từ trước công nguyên, cả hai nền y học cổ truyền phương Đông và phương Tây đều chú trọng đến vấn đề dinh dưỡng

Năm 1905, Hopkins nhận ra rằng thực phẩm không chỉ gồm 3 chất: Dlucid- Protid- Lipid mà còn có các chất dinh dưỡng khác Những năm 50 và

60 của thế kỷ trước, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến sự phổ biến của SDD

Như vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về các thói quen văn hóa vệ sinh và dinh dưỡng đã được các nhà nghiên cứu chắc hẳn sẽ không dừng lại ở đây mà

Trang 15

sẽ quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn nữa

1.1.2 Ở Việt Nam

Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng việc nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến vệ sinh và dinh dưỡng trẻ em được rất nhiều các tác giả quan tâm Tiêu biểu có thể thấy được một số các nghiên cứu sau:

Theo tác giả Hoàng Thị Phương với giáo trình “ Vệ sinh trẻ em” [6] “đã

tập trung nghiên cứu về các vấn đề vệ sinh cho trẻ Tác giả đã chỉ ra đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của Vệ sinh trẻ em đã xây dựng

hệ thống các biện pháp nhằm củng cố sức khỏe của trẻ, phát triển cơ thể một các toàn diện, cân đối và tổ chức giáo dục trẻ hợp lý và chỉ ra được các kiến thức cơ bản về vệ sinh trẻ em cũng như các giai đoạn lứa tuổi và sự phát triển thể chất của trẻ Cuốn sách tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ và củng cố sức khỏe của trẻ lứa tuổi mầm non từ 0-

6 tuổi Để từ những cơ sở ấy”, tác giả Hoàng Thị Phương đã đưa ra các nội

dung vệ sinh cho trẻ, đặc biệt là nội dung “Giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ” Giúp trẻ được giáo dục toàn diện nhất về thể chất và đạo đức”

Theo tác giả Lê Thanh Vân với giáo trình “Sinh lý học trẻ em” [10] “Đã

đề cập một cách toàn diện những đặc điểm phát triển sinh lý trẻ em lứa tuổi mầm non, đầu tuổi học: Đặc điểm phát triển của hệ thần kinh; đặc điểm phát triển của các cơ quan phân tích; hệ vận động; hệ tuần hoàn; … Trên cơ sở phân tích đặc điểm phát triển sinh lý của trẻ qua các thời kỳ, tác giả đã chỉ ra những yêu cầu sư phạm cần thiết trong công tác nuôi dạy trẻ lứa tuổi mầm non Giúp cho chúng ta có thể hiểu được sự phát triển của trẻ ở từng thời kỳ

để có thể có những phương pháp chăm sóc sao cho phù hợp nhất với trẻ, tùy từng giai đoạn phát triển của trẻ mà có những can thiệp kịp thời”

Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với giáo trình “ Tâm lý học trẻ em lứa

tuổi mầm non” [9] “Đây là cuốn sách viết về sự phát triển tâm lý của trẻ lọt

Trang 16

lòng đến 6 tuổi, nhằm giới thiệu cho các bậc phụ huynh, các sinh viên khoa giáo dục mầm non biết về những vấn đề cơ bản, có hệ thống của tâm lý học trẻ em tuổi mầm non để từ đó có thể rút ra những phương pháp, những con đường giáo dục phù hợp nhất cho mỗi giai đoạn phát triển cũng như toàn bộ tiến trình lớn lên thành người của mỗi trẻ em Trong cuốn sách này những quy luật chung về sự phát triển của trẻ em cùng với các quy luật và đặc điểm của trẻ từng lứa tuổi được trình bày theo quan điểm tâm lý khoa học: coi trẻ là một thực thể đang phát triển Sự phát triển đó chính là quá trình đứa trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử- xã hội trong nền văn hóa do loài người tạo nên, bằng hoạt động cuả chính nó, quá trình đó thường xuyên được sự hướng dẫn của người lớn”

Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với giáo trình “ Giáo dục hành vi văn

hóa cho trẻ em dưới 6 tuổi” [8] đã chỉ ra rằng “giáo dục hành vi văn hóa là

một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Giáo dục mầm non Hành vi văn hóa vừa mang ý thức đạo đức bên trong vừa thể hiện thẩm mĩ bên ngoài, nên không thể là hành vi bẩm sinh, tự nhiên mà có mà phải trải qua một quá trình giáo dục và rèn luyện lâu dài, sự hình thành hành vi văn hóa ở mỗi người cần phải bắt đầu từ lúc còn bé”

- “Viện chiến lược và chương trình giáo dục - Trung tâm nghiên cứu

chiến lực và phát triển chương trình giáo dục mầm non” đã nghiên cứu và đưa

ra cuốn sách “ Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề” [5] (dành cho trẻ từ 24 tháng tuổi tới 6 tuổi) “Cuốn sách đã sưu tầm

rất nhiều bài hát, bài thơ, những câu truyện góp phần giáo dục cho trẻ những hành vi văn hóa tốt đẹp”

Vấn đề dinh dưỡng được quan tâm từ rất sớm cùng với sự phát triển của khoa học dinh dưỡng Năm 1980 Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã được thành lập, từ đó đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu Viện Dinh dưỡng đã

Trang 17

góp phần đáng kể vào việc chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng

“ Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam 2006”

[11] được Bộ trưởng Bộ Y tế chính thức phê duyệt để sử dụng chính thức trong nghành Y tế và các ngành có liện quan nhằm phục vụ sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe trẻ nhỏ cũng như của cộng đồng Khuyến nghị về nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng theo lứa tuổi, giới tính, loại hình lao động và tình trạng sinh lý

Theo tác giả Lê Thị Mai Hoa- Lê Trọng Sơn với giáo trình “Dinh dưỡng

trẻ em” [2] đây là cuốn giáo trình “nhằm cung cấp một số kiến thức cơ bản,

những kỹ năng cần thiết giúp sinh viên sau khi ra trường có thể áp dụng vào việc tổ chức dinh dưỡng tốt cho trẻ ở tất cả các đối tượng mầm non ở các độ tuổi khác nhau” Từ những kiến thức được trang bị, sinh viên sẽ biết phát hiện

và có biện pháp phòng tích cực một số bệnh do dinh dưỡng không hợp lý gây

ra cho trẻ lứa tuổi mầm non

Theo tác giả Lê Ngọc Dịch với cuốn sách “Chăm sóc sức khỏe và dinh

dưỡng” [1] là một trong 10 cuốn thuộc “Bộ kỹ năng sống thiết yếu cho trẻ”

giúp trẻ bổ sung nhiều kiến thức căn bản và hữu ích về sức khỏe- dinh dưỡng, tầm quan trọng của việc đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng, rèn luyện sức khỏe

để biết cách tự chăm sóc bản thân Khi trẻ biết tự chăm sóc bản thân và biết các chăm sóc người khác từ đó trẻ sống vui khỏe, tự tin và hạnh phúc mỗi ngày

Ngoài ra còn có rất nhiều nghiên cứu “về vấn đề rèn luyện và phát triển

kỹ năng VSCN và DD, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sự phát triển của trẻ mẫu giáo giúp cho các bậc phụ huynh và các cán bộ giáo viên, sinh viên có thể hiểu và nắm được các quy luật phát triển chung của trẻ để có biện pháp chăm sóc giáo dục tốt nhất giúp trẻ được phát triển toàn diện về thể chất, đạo đức và trí tuệ”

Trang 18

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm: Thói quen vệ sinh cá nhân

* Khái niệm “Thói quen”

Theo từ điển Việt Nam, tác giả Lê Ngọc Trụ định nghĩa: “Thói quen là việc làm thường thành tật, bắt buộc hoài” [12]

Tác giả Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển Tiếng Việt giải thích: “Thói quen là lối sống, cách sống hành động do lặp lại lâu ngày trở thành nếp, rất khó thay đổi” [12]

Tác giả Nguyễn Thị Thư cho rằng: “Thói quen cũng như kỹ năng là các hành động một phần được tự động hóa Nhưng khác với kỹ năng, thói quen không chỉ là khả năng thực hiện hành động mà còn đảm bảo chính sự kiện hoàn thành hành động đó”

Tác giả Hoàng Thị Phương cho rằng: “Thói quen thường để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ra trong điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan hệ xã hội nhất định”

Tác giả Hoàng Lan- Hà Sơn cho rằng: “Thói quen là những hành vi lặp

đi lặp lại trong cuộc sống đã trở thành thông lệ”

Thói quen có nội dung “tâm lí ổn định và thường gắn với nhu cầu cá nhân Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên cố định, cân bằng và khó loại bỏ”

Thói quen vệ sinh được hình thành từ kỹ xảo: “Trên cơ sở nghiên cứu

về vận động có chủ định của Sechenôv và Palôv, kỹ xảo được coi là kết quả tự

động hóa của các hành động trong một hoạt động nào đó” Như vậy, “Kỹ xảo

là những hành động tự động hóa, nhưng trong quá trình thực hiện phải có sự tham gia của ý thức Trong quá trình hoạt động, kỹ xảo dần được củng cố và hoàn thiện” [6,tr185]

Trang 19

- Giai đoạn hình thành thói quen vệ sinh [6,tr185,186]

Giai đoạn I: Hiểu cách làm

“Trẻ cần hiểu mỗi hành động cần những thao tác nào? Các thao tác đó diễn ra theo trình tự như thế nào? Và cách tiến hành mỗi thao tác cụ thể” Giai đoạn II: Hình thành kỹ năng

“Trẻ cần biết vận dụng các tri thức đã biết để tiến hành một hành động

cụ thể nào đó Việc tiến hành các hành động ở giai đoạn này đòi hỏi sự tập trung chú ý, có nỗ lực về ý chí và biết vượt qua khó khăn”

Giai đoạn III: Hình thành kỹ xảo

“Trẻ cần biến các hành động có ý chí thành các hành động tự động hóa bằng cách luyện tập nhiều lần để giảm tới mức tối thiểu sự tham gia của ý thức vào hành động”

Như vậy, có thể thấy “kỹ xảo vệ sinh là những kỹ xảo hướng tới việc bảo

vệ và củng cố sức khỏe cho trẻ.Việc giúp trẻ rèn luyện và phát triển kỹ năng

vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng giúp trẻ có thể tự phục vụ được bản thân mà không phụ thuộc vào người lớn, giúp cơ thể chống trọi được các bệnh tật thích nghi được với điều kiện sống, hình thành những thói quen cơ bản giúp trẻ có nề nếp tốt”

* Khái niệm “Vệ sinh cá nhân”

Để hiển rõ khái niệm VSCN chúng tôi đi tìm hiểu khái niệm vệ sinh là gì trước

“Vệ sinh” Theo từ điển tiếng Việt là những biện pháp để phòng bệnh, giữ gìn và tăng cường sức khỏe

Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm VSCN : “Vệ sinh cá nhân là những biện pháp phòng bệnh, giữ gìn và tăng cường sức khỏe bản thân”

Hay ta có thể hiểu: “Vệ sinh cá nhân là làm sạch, giữ gìn sạch sẽ các cơ quan bộ phận trên cơ thể để phòng tránh bệnh tật và tăng cường sức khỏe cho

Trang 20

cơ thể”

* Khái niệm “Thói quen vệ sinh cá nhân”[6,tr186]

Thói quen VSCN là “những hành động hướng tới việc vệ sinh cá nhân,

đã đươc tự động một phần trên cơ sở hình thành các định hình động lực bền vững trên vỏ não nhờ quá trình lặp đi lặp lại thường xuyên có hệ thống các hành động trật tự các thao tác vệ sinh hợp lý gắn liền với nhu cầu cá nhân TQVSCN diễn ra trong điều kiện ổn định về không gian, thời gian và những mối quan hệ nhất định”

1.2.1.2 Khái niệm: Kỹ năng vệ sinh

* Khái niệm “Kỹ năng”

Kỹ năng là “một vấn đề phức tạp và được các nhà nghiên cứu bàn luận khá nhiều Kỹ năng là tri thức trong hành động, là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong lĩnh vực nào đó vào thực tế Kỹ năng thể hiện khả năng thực hiện có kết quả những hành động trên cơ sở những kiến thức có được đối với việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra phù hợp với mục tiêu và điều kiện cho phép”

Theo tác giả Đặng Thành Hưng [3], “kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện tư giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học- tâm lí khác của cá nhân (chủ thể của kỹ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân… để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định”

Nói tóm lại kỹ năng là thể hiện hoạt động của con người vận dụng những kiến thức đã thu thập được để thực hiện công việc đạt được mục đích hay tiêu chí đã đặt ra một cách nhanh và khoa học

* Khái niệm “Kỹ năng vệ sinh”

Kỹ năng vệ sinh cá nhân là khả năng vận dụng những kiến thức thu thập

Trang 21

được trong những tiết học về vệ sinh, vệ sinh cá nhân Qua kết quả thu được,

ta có thể đánh giá được kỹ năng của người thực hiện đã đạt được những điểm mạnh và điểm yếu nào Từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục phù hợp để người thực hiện phát triển kỹ năng một cách tốt nhất

Ví dụ: Để rèn luyện kỹ năng vệ sinh thân thể - kỹ năng rửa tay thì trước tiên trẻ phải nắm được những kiến thức như: Trẻ biết ý nghĩa của việc rửa tay, khi nào thì rửa tay, trẻ biết các thao tác rửa tay Trong quá trình thực hiện trẻ

đã tự rút ra những kỹ năng thiết thực để đạt được kết quả nhanh và đúng nhất

1.2.1.3 Một số khái niệm dinh dưỡng

* Khái niệm “Dinh dưỡng” [2,tr7]

Dinh dưỡng là “nhu cầu sống hàng ngày của con người, trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực và tri thức, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc, hay nói cách khác, dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát triển của cơ thể Mà đặc trưng cơ bản của sự sống là sinh trưởng, phát triển, sinh sản, cảm ứng, vận động, trao đổi chất và năng lượng” Trong đó quan trọng nhất là trao đổi chất và năng lượng vì nó chi phối tất cả các đặc trưng khác và nó là điều kiện tồn tại và phát triển của cơ thể sống

Quá trình trao đổi chất là quá trình dinh dưỡng

Dinh dưỡng là một quá trình phức hợp bao gồm “việc cung cấp các chất cần thiết (theo dạng thức ăn) cho các tế bào và các sinh vật để hỗ trợ sự sống

Nó bao gồm các hoạt động ăn uống, hấp thụ, vận chuyển, và sử dụng các chất dinh dưỡng, bài tiết các chất thải”

Tình trạng dinh dưỡng là “tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể”

Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là “kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể thiếu hoăc thừ

Trang 22

dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc vấn đề về dinh dưỡng”

* Khái niệm “Suy dinh dưỡng”

Suy dinh dưỡng là một căn bệnh khá phổ biến xảy ra ở nước ta, suy dinh dưỡng là tình trạng thể hiện sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết của trẻ

* Khái niệm “Béo phì”

Béo phì là “tình trạng tích mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân làm ảnh hưởng tới sức khỏe Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân là dinh dưỡng”

1.2.2 Đặc điểm tâm- sinh lý của trẻ 4-5 tuổi

a Đặc điểm tâm lý [9]

“Trẻ ở lứa tuổi này vừa bước qua giai đoạn khủng hoảng của tuổi lên 3,

từ đây trẻ đã bắt đầu hình thành ý thức bản ngã Trẻ tư duy độc lập hơn, không cần thao tác trực tiếp với đồ vật quá nhiều như những lứa tuổi trước, trẻ đã hình thành tư duy trực quan hình tượng rõ nét”

Ở độ tuổi này trẻ đã bắt đầu hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành

– “Xã hội trẻ em” “Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ ham

hiểu biết và luôn khám phá tìm tòi những điều mới lạ của thế giới xung quanh Vì vậy, tác dụng tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động đến trẻ”

Đời sống tình cảm và ngôn ngữ của trẻ cũng có sự phát triển rõ nét:

“Trẻ rất cần yêu thương của mọi người, biết đồng cảm chia sẻ với mọi người xung quanh, trẻ nói được câu dài và đầy đủ, biết nói lời hay, nói lễ phép”

“Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã trở nên nhiều mùa, nhiều vẻ: Động cơ tự khẳng định mình, động cơ nhận thức, muốn khám phá thế giới xung quanh, động cơ thi đua, động cơ xã hội….”

“Trẻ muốn được tự khẳng định mình, muốn được sống và làm việc như

Trang 23

người lớn, muốn nhận thức sự vật và hiện tượng xung quanh… nhưng vì bản thân trẻ chưa đủ khả năng để tự thực hiện điều đó nên trẻ thường tham gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề và làm các công việc như người lớn

Trẻ muốn làm những việc mang lại niềm vui cho người khác và muốn giúp đỡ người khác, hòa nhập với cộng đồng, vui chơi đoàn kết với bạn bè và thể hiện tình cảm với mọi người xung quanh một cách đúng mực

Trẻ biết thi đua giữa mình với các bạn, giữa tổ mình với tổ bạn, thi xem

kỹ năng rèn luyện chăm sóc vệ sinh cá nhân cũng như dinh dưỡng cần cho trẻ Trẻ ở độ tuôi này cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn hạn chế”

Các chức năng cơ thể dần hoàn thiện, nhất là “chức năng vận động kết hợp động tác Trẻ có thể làm được những động tác khéo léo hơn, gọn gàng hơn, làm được những công việc tương đối khó, có thể làm được một số công việc tự phục vụ bản thân như ăn, tự mặc quần áo, tự đi vệ sinh, tự rửa tay rửa mặt , hay tắm rửa, trẻ tự rửa được một số hoa quả trẻ muốn ăn”

Sự thay đổi rõ rệt về chất lượng phát triển

+ Hệ tiêu hóa “ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa được tăng cường, sự hấp thụ thức ăn ngày càng tốt hơn”

+ Hệ tuần hoàn “ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu

Trang 24

hóa được tăng cường, sự hấp thụ thức ăn ngày càng tốt hơn Khi cho trẻ rèn luyện và phát triển kỹ năng cần đa dạng bài tập, nâng dần hệ vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh nhịp nhàng”

+ Hệ thần kinh “ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển, trẻ có khả năng tham gia hoạt động trong thời gian lâu hơn trước”

+ Hệ cơ xương “hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan vận động được tăng cường” Do vậy có thể tiến hành hoạt động có sự kết hợp khéo léo của các cơ tay, chân, thân (chạy nhảy, vẽ, nặn, cắt, dán…)

+ Hệ chao đổi chất: “Cơ thể trẻ đang phát triển nên cần bổ sung liên tục năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất to hình để kiên tạo các cơ quan và mô”

+ Cơ quan phát âm “ngày càng phát triển và hoàn thiện Ở độ tuổi này ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vy của trẻ Nhờ

đó mà người lớn và trẻ có thể hiểu nhau hơn”

Việc thực hiện chế độ vận động hợp lý cho cơ thể trẻ em sẽ giúp quá trình phát triển của cơ thể tốt hơn, nếu ngược lại sẽ có hại cho sức khỏe của

cơ thể trẻ

c Đặc điểm bệnh lý [10]

“Bệnh tật của trẻ ở giai đoạn này giảm đi rõ rệt, các bệnh về đường tiêu hóa ít gặp hơn Tuy nhiên, trẻ hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn do tiếp xúc như: viêm họng, viêm phế quản, các bệnh dị ứng , hen, thấp, mề đay…”

1.2.3 Đặc điểm rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi

Ở độ tuổi này trẻ đã có thể có những đặc điểm rèn luyện và phát triển kỹ năng như:

Thứ 1: Kỹ năng tự phục vụ bản thân:

Trang 25

Biết cách tự sắp xếp chăn gối khi ngủ dậy, tự vệ sinh cá nhân, tự ăn, tự mặc quần áo,…mới đầu trẻ chưa quen nhưng cứ để trẻ kiên nhẫn và dần dần

sẽ trở nên tốt hơn

Thứ 2: Kỹ năng tự bảo vệ bản thân:

Trẻ cần biết phân biệt nguy hiểm, bị ngã thì nên làm thế nào, tay bẩn thì làm gì, cơm rơi xuống bàn xử lý như thế nào, có nên ăn những đồ ăn bị hư hỏng hay không, những đồ ăn gì thi tốt cho độ tuổi của mình

Thứ 3: Tạo dựng kỹ năng tự lập

Người lớn, ông bà, cha mẹ và thầy cô không phải lúc nào cũng ở bên trẻ mãi được Vì vậy cần dạy cho trẻ những kỹ năng cần thiết, dạy cho trẻ tự chuẩn bị đồ dùng trước khi đến trường hay đi đâu mà không cần nhờ đến người lớn Trẻ tự vệ sinh cá nhân khi không có người lớn bên cạnh, trẻ có thể

tự làm được những công việc đơn giản

1.2.4 Vai trò của việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non

Viêc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi nói chung và cho trẻ 4-5 tuổi tại Trường Mầm non Văn Khê nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng:

Rèn luyện kỹ năng vệ sinh cá nhân là “một loại thói quen lao động tự phục vụ đơn giản Việc rèn luyện giúp trẻ phát huy khả năng giữ gìn, bảo vệ sức khỏe cho trẻ và phòng tránh được nhiều bệnh tật Ngoài ra nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục con người mới phát triển toàn diện Trong quá trình tiến hành rèn luyện vệ sinh, dần dần ở trẻ hình thành sự hiểu biết về mục đích công việc Rèn luyện cho trẻ tính kiên trì, cố gắng thực hiện công việc định làm, hiểu biết lợi ích công việc mình làm cũng như người khác thực hiện” Dần hình thành ở trẻ ý thức trách nhiệm và phát triển những động

cơ có xu hướng xã hội tập thể

Trang 26

Khi được rèn luyện các hoạt động vệ sinh trẻ được trực tiếp sử dụng các

đồ vật với các vật liệu và chất liệu khác nhau Nhờ thế mà trẻ nắm được tính chất của các vật liệu và công dụng của chúng “Thông qua hoạt động tự phục

vụ bản thân trẻ nắm được những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen cần thiết cho mỗi công việc cụ thể, tăng cường mối quan hệ tích cực của trẻ với môi trường xung quanh, mở rộng sự ham hiểu biết của trẻ với tự nhiên và xã hội” Khi trẻ đã có những kiến thức cơ bản thì trẻ có thể áp dụng những tri thức đó, đồng thời dạy cho trẻ vượt qua những khó khăn, phát triển những sáng kiến mới lạ Trẻ trở nên thông minh, khéo léo, thúc đẩy và tạo điều kiện tốt cho sự phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của trẻ

Việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ là

“một trong những nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành trong quá trình chăm sóc- giáo dục trẻ, nhằm củng cố, bảo vệ sức khỏe của trẻ và giúp trẻ phát triển toàn diện Nếu không được chăm sóc, giữ gìn vệ sinh cẩn thận thì tỉ lệ trẻ mắc bệnh sẽ rất cao” Chính vì vậy việc rèn luyện và phát triển kỹ năng chăm sóc

vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ là vô cùng quan trọng và cần thiết, vì nó cung cấp những kỹ năng vệ sinh đơn giản cho trẻ như: rửa tay, rửa mặt, chải tóc, mặc quần áo sạch sẽ phù hợp với thời tiết, cầm thìa xúc cơm… để giữ gìn cơ thể luôn sạch sẽ, tránh được bệnh tật, tạo cho trẻ ý thức tự giác giữ gìn vệ sinh

cá nhân

Nhờ có quá trình rèn luyện và phát triển mà trẻ có thể có được một số kỹ năng phẩm chất đạo đức như tính tự giác, tính độc lập, tính kiên trì, tính tích cực….Rèn kỹ năng quan sát, chú ý, ghi nhớ có chủ đích, ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ mở rộng vốn từ

Những trẻ được rèn luyện thường có cơ thể khỏe mạnh, ăn ngon, ngủ tốt, vui vẻ, bình tĩnh, hưng phấn cao và khả năng làm việc cũng cao hơn Kết quả chỉ có thể đạt được khi thực hiện đúng các yêu cầu của rèn luyện

Trang 27

Do vậy, trẻ đã có ý thức phân biệt được đúng - sai, tốt - xấu, nên - không nên … Nhưng ý thức của trẻ còn đang ở dạng sơ khai nên không được bền vững, cần có sự giáo dục và hướng giẫn của người lớn Chính vì thế việc rèn luyện và phát triển kỹ năng cho trẻ phải được tiến hành một cách đúng đắn và kịp thời

1.3 Thực trạng rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội

Trong kì thực tập cuối (7 tuần) tại Trường Mầm non Văn Khê - Mê Linh- Hà Nội Bản thân tôi thấy được thực trạng của việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi nói chung và ở Trường Văn Khê nói riêng :

Trường Mần non Văn Khê “được đặt tại thôn Khê Ngoại Văn Khê, huyện Mê Linh, Hà Nội Trường nằm ở nơi thoáng mát có lối đi vào thuận

Trang 28

phòng kiên cố và 4 phòng chức năng) và 3 phòng bếp sạch sẽ hợp vệ sinh” Hiện nay nhà trường gồm có 62 giáo viên trong đó có 30 giáo viên đạt chuẩn chiếm 32%, trên chuẩn là 64 giáo viên chiếm 68% Giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy lâu nhất là 23 năm, có kinh nghiệm giảng dạy ít nhất là 3 năm Đội ngũ giáo viên đa phần là những giáo viên gắn với trường cũng đã lâu, có rất nhiều kinh kiệm và nhiệt huyết với nghề, yêu trẻ Trang thiết bị đầy đủ đảm bảo cho việc tổ chức các tiết học cho trẻ

Cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường đều cố gắng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống Ban giám hiệu luôn tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên, nhân viên đi học nâng chuẩn Các cô giáo còn tích cực tham gia vào các lớp Tin học, Tiếng anh, Âm nhạc, múa… để phục vụ công tác giảng dạy

Để thấy được thực trạng rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ ta đi tìm hiểu các hoạt động sau của trường:

* Hoạt động học tập:

Việc rèn luyện kĩ năng vệ sinh và dinh dưỡng “được nhà trường lồng ghép trong các kế hoạch tuần phù hợp với các lĩnh vực, nội dung giáo dục trong chương trình và theo chủ đề Mỗi ngày trẻ được học hai nội dung đó là nội dung trọng tâm và nội dung tích hợp, trong nội dung tích hợp giáo viên có thể lồng ghép các nội dung vệ sinh và dinh dưỡng để tổ chức cho trẻ các hoạt động hay trong bài học giúp trẻ có các kỹ năng vệ sinh để thực hiện các kỹ năng đó được thành thạo hơn Đối với trẻ 4-5 tuổi thì thời gian thực hiện là 25-30 phút”

Ví dụ trong tiết học kể truyện giáo viên có thể dạy trẻ thông quan hoạt động đóng vai theo chủ đề giáo viên giáo dục trẻ kiến thức về kỹ năng vệ sinh

cá nhân và dinh dưỡng, giáo dục trẻ có kỹ năng vệ sinh các nhân và dinh dưỡng để tạo thành nề nếp tốt cho trẻ

Trang 29

Tương tự trong các tiết học như “toán, tạo hình, thể chất, âm nhạc giáo viên đều có thể tổ chức lồng ghép cho trẻ, tùy thuộc vào nội dung giáo dục”

* Hoạt động góc: hoạt động góc là 1 trong các hoạt động chủ đạo của tẻ 4-5 tuổi, khi tham gia vào hoạt động góc không chỉ hình thành các kỹ năng chơi mà còn hình thành các kỹ năng vệ sinh cá nhân đối với trẻ, ngoài ra còn phát huy tính tích cực và sáng tạo (ví dụ như khi chơi góc chơi bán hàng và nấu ăn trẻ có thể đóng vai là những bà nội chợ biết được mua những loại thực phẩm nào tốt cho sức khỏe và nấu như thế nào, khi trẻ chơi giáo viên cần chú

ý và quan sát hỏi trẻ và hướng cho trẻ thực hiện đúng với thực tế) kết thúc hoạt động giáo viên giáo dục trẻ kỹ năng vệ sinh cá nhân có văn hóa tự cất đồ dùng đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp vào đúng nơi quy định

Ngủ trưa: “trước khi đi ngủ cô nhắc nhở trẻ đi lấy gối, trong khi ngủ không nói chuyện, cô chú ý không gian ngủ của trẻ tránh ánh sáng và tiếng

ồn, trang phụ của trẻ khi ngủ” (không mặc áo khoác quá giầy đối với mùa đông, không bật quạt quá to đối với mùa hè)

Việc rèn luyện và phát triển kỹ năng chăm sóc vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng đạt được những ưu, nhược điểm sau:

- Ưu điểm:

“Giáo viên trong nhà trường rất yêu nghề, yêu trẻ, nhiệt huyết với nghề,

Trang 30

có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng Ý thức về việc giáo dục thói quen chăm sóc bản thân cho trẻ được các giáo viên nhận thức áp dụng một cách khoa học”

Về cơ sở vật chất , nhà trường đã trang bị đầy đủ các trang thiết bị cho lớp học trong việc giáo dục rèn luyện và phát triển kỹ năng chăm sóc và dinh dưỡng cho trẻ như: mỗi trẻ có một cốc uống nước, một khăn có kí hiệu riêng,

xà phòng đủ cho trẻ,…

- Nhược điểm:

“Bên cạnh những ưu điểm còn có những nhược điểm như do công việc hoạt động trong ngày của trẻ rất nhiều và không thể cố định giờ giấc theo ý muốn nên đôi khi không thực hiện dược tất cả các hoạt động rèn luyện và phát triển kỹ năng chăm sóc vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng theo kế hoạch đã định Như đôi khi rửa tay không sử dụng xà phòng mà chỉ rửa tay dưới vòi nước chảy, hay rửa mặt không đủ các bước,… Về cơ bản, việc thực hiện rèn luyện

và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ vẫn được thực hiện tốt”

Trang 31

CHƯƠNG 2 RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON 4-5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊ- MÊ LINH- HÀ NỘI

2.1 Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua hoạt động học tập

Đối với trẻ 4-5 tuổi các trẻ đã biết được các yêu cầu hành động vệ sinh, hiểu được các hành động nên việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng chủ yếu là việc thực hiện thói quen vệ sinh Do đó “các nội dung về rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh và dinh dưỡng được lồng ghép vào hoạt động học tập, cần tránh các biện pháp khai thác hoạt động học tập một cách máy móc, quá sơ sài mang tính hình thức hoặc quá tải làm rối loạn nội dung chính của hoạt động học tập”

Việc rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD “không nên tiến hành trên một tiết học riêng biệt, mà phải tiến hành dưới phương thức lồng ghép, tích hợp vào các tiết học ở các mức độ khác nhau (liên hệ, lồng ghép, tích hợp) Việc lồng ghép, liên hệ, tích hợp không có sự khác nhau về bản chất mà chỉ là sự khác nhau về mức độ đưa các nội dung giáo dục vệ sinh vào tiết học”

Khi lồng ghép tích hợp giáo dục kỹ năng VSCN và DD vào hoạt động học tập cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đảm bảo về mặt nội dung, đảm bảo tính tự nhiên, hợp lí, khách quan của tri thức môn học “Đó là những tri thức khách quan, xuất phát tự nhiên từ hoạt động học tập, có tác dụng làm tăng ý nghĩa thực tiễn của hoạt động học tập và gắn liền với cuộc sống”

- Đảm bảo tính hệ thống, “trọn vẹn của nội dung học tập Các tri thức dược lồng ghép không được làm biến dạng, rối loạn nội dung hoạt động học tập”

Trang 32

- Nội dung rèn luyện kỹ năng VSCN và DD cho trẻ được lồng ghép “phụ thuộc vào nội dung cụ thể của hoạt động học tập Tránh tình trạng khai thác hoạt động học tập một cách máy móc, quá sơ sài, mang tính hình thức hoặc hiện tượng quá tải làm rối loạn nội dung chính của hoạt động học tập”

- Đảm bảo tính vừa sức cho trẻ Nội dung đưa ra phải hấp dẫn, thiết thực gần gũi đối với trẻ

* Quy trình thực hiện:

- “Bước 1: Nghiên cứu nội dung, phương pháp tổ chức, phương tiện hoạt động học tập,…”

- “Bước 2: Xác định nội dung rèn luyện và phát triển kỹ năng giáo dục

vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ cần lồng ghép vào các hoạt động học tập nào, các nội dung cụ thể nào Thực trạng về mức độ rèn luyện và phát triển ở trẻ,

đề ra mục đích, yêu cầu cần đạt được”

-“Bước 3: Khai thác cấu trúc của tiết học để xác định thời gian lồng ghép cho có hiệu quả”

Khi bắt đầu hoạt động giáo viên cần tạo ra tình huống thực để trẻ có thể

có cơ hội thể hiện những kỹ năng, giáo dục đã được hình thành ở chúng từ trước đó (bằng cách cho trẻ quan sát, tham quan, lớp được nhận quà, có khách đến thăm,…)

“Việc lồng ghép được tiến hành dưới dạng cho trẻ liên hệ thực tế, gợi lại cho trẻ những điều trẻ đã biết, tạo ra một số tình huống cho trẻ có cơ hội luyện tập rèn luyện dưới hình thức trò chơi, bài tập tình huống cho trẻ giải quyết hoặc giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho trẻ”

2.1.1 Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua bữa

ăn hàng ngày

Hoạt động ăn là hoạt động ngày nào cũng diễn ra trong một ngày của trẻ Được chia làm 2 bữa: bữa trưa và bữa ăn chiều sau ngủ dậy

Trang 33

Trong thời gian trước, trong và sau khi ăn thì trẻ có thể tự mình rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng khi đã được các cô giáo chỉ dạy qua các tiết hoc và được trược tiếp thực hành khi tham gia giờ

ăn

Trong giờ ăn trẻ được rèn luyện về kỹ năng như (trẻ biết rửa tay trước khi ăn, biết kê bàn ghế đúng chỗ ngồi của mình, biết lấy đĩa nào để đựng cơm rơi và đĩa nào đựng khăn để lau tay khi nhặt cơm vào đĩa), trẻ phân biệt được các loại thực phẩm dinh dưỡng trong buổi ăn hôm nay, trẻ ăn như thế nào (ăn hết xuất của mình không được xúc cơm sang bát của bạn) ăn khi nào là đúng (ví dụ hôm nay ăn cơm trứng kho với thịt băm thì trẻ phải ăn hết trứng trước mới được múc canh, vì khi chưa ăn hết trứng mà chan canh thì bát cơm sẽ bị tanh)

* Quy trình thực hiện:

- Bước 1: Cho trẻ được đàm thoại trước khi tham gia giờ ăn Đàm thoại giúp trẻ có cơ hội độc lập chuyển tri thức và kỹ năng đã biết để tự đặt mục đích lập kế hoạch tổ chức thực hiện và chuẩn bị những điều kiện cần thiết

- Bước 2: Tổ chức hoạt động rèn luyện giờ ăn cho trẻ Trẻ tham gia trực tiếp vào trong giờ ăn (giáo viên tạo ra những tình huống cho trẻ) mở rộng những kiến thức kỹ năng về chăm sóc vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ, đánh giá trong giờ ăn của trẻ, giúp trẻ điều chỉnh hành vi ăn uống và rèn luyện đúng hướng nhất

- Bước 3: Sau giờ ăn giáo viên là người đánh giá quá trình ăn của trẻ, giao nhiệm vụ cho trẻ (tự cất thìa bát và ghế đúng nơi quy định và đi rửa tay, uống nước lau miệng sau khi ăn) nhằm giúp trẻ tự rèn luyện và luyện tập trong sinh hoạt hàng ngày

2.1.2 Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày

Trang 34

Tổ chức hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ là “tổ chức cuộc sống của trẻ Cần phải tổ chức cuộc sống của trẻ như một chỉnh thể, nhằm phát triển theo phương hướng và mục tiêu xã hội đòi hỏi Cuộc sống của trẻ luôn vận động và phát triển nên những gì giáo dục rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ phải luôn mới mẻ, thân thiết với cuộc sống hiện nay và cần thiết cho tương lai”

* Quy trình thực hiện:

- Bước 1: Cho trẻ định hướng vào Mẫu cần rèn luyện và giáo dục cho

trẻ Đó là việc người lớn làm mẫu, là những người trẻ yêu mến, tin tưởng, gần gũi với trẻ, những người mà trẻ thần tượng,… Phải có những hành động khen ngợi kịp thời và làm rõ gây ấn tượng tốt cho trẻ đối với những tấm gương tốt trong những câu chuyện, thơ, tranh ảnh,…

- Bước 2: Tiến hành cho tập luyện Cần phải tạo cho trẻ những điều kiện thuận lợi nhất Trong quá trình trẻ thực hiện cần chú ý tạo được hứng thú cho trẻ luyện tập, hình thành những kỹ năng đúng ngay từ đầu để trẻ phát triển một cách đúng nhất, việc kiểm tra đánh giá phải được thực hiện trong quá trình rèn luyện

- Bước 3: Đưa nội dung rèn luyện và giáo dục thành yêu cầu của nếp sống hàng ngày Những nội dung rèn luyện và giáo dục phải trở thành tiêu chuẩn của cuộc sống yêu cầu của các hoạt động và quan hệ hàng ngày của trẻ

2.1.3 Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua các hoạt động vui chơi

Hoạt động vui chơi là “hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo và nó có vai trò quan trọng đối với việc hình thành nhân cách trẻ nói chung, giáo dục rèn luyện kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng nói riêng Tham gia vào trò chơi

là quá trình trẻ lĩnh hội tri thức, kỹ năng một cách tự nhiên, không bị ép buộc

và tạo được những xúc cảm, tình cảm nhất định”

Trang 35

Nội dung giáo dục phụ thuộc vào chủ đề chơi Dựa vào chủ đề chơi và mức độ rèn luyện kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng của trẻ có thể xác định nội dung giáo dục rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD trong trò chơi của trẻ

* Quy trình thực hiện:

- Bước 1: Cho trẻ được đàm thoại trước khi chơi Đàm thoại giúp trẻ có

cơ hội độc lập chuyển tri thức và kỹ năng đã biết để tự đặt mục đích chơi, lập

kế hoạch tổ chức thực hiện và chuẩn bị những điều kiện cần thiết

- Bước 2: Tổ chức hoạt động rèn luyện chơi cho trẻ Giáo viên chú ý cho trẻ tham gia trực tiếp vào trong trò chơi (tạo ra những tình huống cho trẻ) mở rộng vai chơi, đánh giá trẻ khi tham gia vai chơi cụ thể, giúp trẻ điều chỉnh trò chơi và rèn luyện đúng hướng nhất

- Bước 3: Sau khi chơi giáo viên là người đánh giá quá trình tham gia chơi của trẻ, giao nhiệm vụ cho trẻ rèn luyện và luyện tập trong sinh hoạt hàng ngày

2.2 Một số phương pháp giáo dục rèn luyện và phát kỹ năng VSCN và

DD cho trẻ mầm non 4-5 tuổi tại trường mầm non Văn Khê- Mê Linh-

Hà Nội

Để trẻ mầm non được phát triển bình thường và toàn diện luôn cần sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của người lớn Đặc biệt, để trẻ có thể sống tốt, hòa nhập được với cộng đồng và mọi người xung quanh thì mỗi trẻ cần được giáo dục và rèn luyện cho mình những thói quen trong cuộc sống Trước khi cho trẻ luyện tập thì ta phải có những biện pháp phù hợp với độ tuổi và đặc điểm tâm sinh lí của trẻ

Biện pháp rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ 4-5 tuổi

* Biện pháp:

Để rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ mầm non nói

Trang 36

chung, trẻ 4-5 tuổi nói riêng có thể sử dụng các phương pháp, biện pháp sau: + Phương pháp đàm thoại: Đây là phương pháp quan trọng nhất Vì trong quá trình rèn luyện bản thân, cô và trẻ cần trao đổi với nhau những kinh nghiệm để trẻ nắm được những kiến thức cơ bản và các bước thực hiện

+ Phương pháp trực quan: Đây là phương pháp góp phần to lớn vào việc rèn luyện và phát triển các cơ quan cảm giác và óc quan sát Ở trẻ mầm non tư duy theo con đường trực quan hình tượng Phương pháp trực quan góp phần rèn luyện và phát triển tư duy và tính ham hiểu biết của trẻ, trong quá trình tri giác tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ phải tập trung vào các dấu hiệu Qua đó trẻ cũng thấy được giá trị của sự vật hiện tượng xung quanh

từ đó có ý thức bảo vệ và gìn giữ Vì vậy để hình thành ở trẻ những kỹ năng rèn luyện thói quen VSCN và DD thì ta nên sử dụng các phương tiện trực quan như hình ảnh, tranh, mô hình, vật mẫu, băng ghi âm để giới thiệu cho trẻ

Trong phương pháp trực quan thì có: Phương pháp quan sát, chỉ dẫn, làm mẫu tìm tòi sáng tạo

+ Phương pháp luyện tập thường xuyên: Việc giáo dục rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD “cho trẻ không chỉ hình thành ngày một ngày hai

mà cần có thời gian để củng cố, luyện tập Để thực hiện phương pháp này thì người lớn đặc biệt là giáo viên của trẻ phải luôn quan sát trẻ, nhắc nhở trẻ thực hiện cho đúng mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt hàng ngày Trước tiên người lớn cần làm mẫu cho trẻ những kỹ năng rèn luện thói quen vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng sau đó mới tạo tình huống để trẻ luyện tập các thói quen

đó, và dần dần nâng cao yêu cầu tập luyện giúp trẻ tự hoàn thiện các kỹ năng đó”

+ Phương pháp trò chơi: “Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ học được nhiều kỹ năng và thói quen

Trang 37

tốt như chơi đoàn kết, giúp đỡ, chia sẻ, đồ chơi” Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, khi tham gia trò chơi trẻ được nhập vai, trẻ được thực hiện những thao tác rèn luyện chăm sóc VSCN và DD

+ Phương pháp dùng tác phẩm nghệ thuật: Việc rèn luyện kỹ năng VSCN và DD cho trẻ bằng cách sử dụng các tác phẩm nghệ thuật có kết quả rất là lớn Với những hình ảnh sinh động hấp dẫn dễ dàng tác động đến trẻ những kiến thức để rèn luyện thói quen VSCN và DD

+ Phương pháp tạo tình huống giáo dục: đây là phương pháp đặc thù của dạy học, giúp trẻ hình thành kỹ năng, năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn, làm tăng hứng thú trong học tập Trẻ được tự mình trải nghiệm trong tình huống được đặt ra và giải quyết vấn đề theo ý của mình, qua đó giáo viên quan sát và có thể giúp trẻ rèn luyện, phát triển các kỹ năng mà trẻ còn hạn chế

+ Phương pháp đánh giá nêu gương: Đây là phương pháp luôn cần và có trong các hoạt động của trẻ, qua phương pháp này giáo viên đánh giá được những trẻ đã đạt được những yêu cầu rèn luyện và những trẻ cần cố gắng Giáo viên tuyên dương, khen thưởng và động viên khuyến khích trẻ để trẻ có động lực để học hỏi những bạn khá hơn mình và phát huy những mặt tốt mình

đã có

2.3 Ví dụ minh họa

Để rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ, ta có thể tổ chức luyện tập thường xuyên, thông qua các biện pháp, quy trình, vận dụng những phương pháp như trò chơi, dùng tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc, thơ ca, hay hình thức khác nhau như tổ chức theo nhóm, cá nhân, cả lớp cùng thi đua

để trẻ tham gia thích cực

Trang 38

Ví dụ 1: Rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn

Đề tài: Bé rửa tay bằng xà phòng

- Trẻ biết và nhớ các bước rửa tay bằng xà phòng

- Trẻ tích cực, hứng thú khi tham gia hoạt động

- Trẻ có thói quen giữ gìn tay chân sạch sẽ

- Trẻ hiểu rửa tay quan trọng như thế nào và có ý thức phổ biến cho các thành viên trong gia đình và cộng đồng

II Chuẩn bị

1 Chuẩn bị của cô:

- Máy chiếu, máy tính, đoạn video rửa tay, bài hát “rửa tay”

- Xà phòng đủ cho trẻ dùng, khăn lau tay, chậu và nước rửa cho trẻ

- Phần quà cho trẻ

Ngày đăng: 23/12/2019, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w