1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 6 tuổi thông qua tập thơ “góc sân và khoảng trời” của trần đăng khoa

86 217 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểu được vai trò, tầm quan trọng của giáo dục mầm non, Đảng, nhà nước luôn dành cho bậc học mầm non những gì tốt nhất, thể hiện trước hết ở việc xác định rõ ràng mục tiêu giáo dục mầm n

Trang 1

CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TẬP THƠ

“GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI”

CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành:Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Trang 2

CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TẬP THƠ

“GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI”

CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS NGUYỄN THU HƯƠNG

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non đã tạo điều kiện, chỉ bảo em trong quá trình học tập tại trường và giúp đỡ cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới cô giáo - PGS.TS Nguyễn Thu Hương, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn tập thể các cô giáo trường mầm non Tích Sơn đã giúp đỡ để em có được những kiến thức thực tế tốt nhất

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè đã luônđộng viên, ủng hộ và tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô là cán bộ quản lí thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho em hoàn thành khóa luận của mình

Quá trình nghiên cứu và xử lý đề tài, em không thể tránh khỏi những hạn chế Vì vậy, em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Đỗ Thị Thu Hiền

Trang 4

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Lịch sử vấn đề 3

3.Mục đích nghiên cứu 5

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6.Phương pháp nghiên cứu 6

7.Cấu trúc đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Vấn đề từ tiếng Việt 7

1.1.1.1 Từ 7

1.1.1.2 Từ vựng 8

1.1.1.3 Phân loại từ tiếng Việt 8

1.1.1.3.1 Phân loại dựa vào cấu tạo 8

1.1.1.3.2 Phân loại dựa vào đặc điểm ngữ pháp 10

1.1.1.3.3 Một số cách phân loại khác 13

1.1.1.4.Từ biểu cảm 13

1.1.2 Đặc điểm phát triển vốn từ biểu cảm của trẻ 5 - 6 tuổi 17

1.1.2.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vốn từ biểu cảm của trẻ 17

1.1.2.2.Khái quát vốn từ biểu cảm của trẻ mẫu giáo 22

1.1.2.3.Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ 26

1.1.2.4.Biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm 27

Trang 6

1.1.3 Về tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa 31

1.2 Cơ sở thực tiễn 33

1.2.1 Chương trình GDMN và việc phát triển vốn từ cho trẻ 33

1.2.2 Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ ở trường mầm non 34

1.2.2.1 Mục đích điều tra 34

1.2.2.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian điều tra 34

1.2.2.3 Nội dung điều tra 34

1.2.2.4 Phương pháp điều tra 34

1.2.2.5 Phân tích kết quả điều tra 36

Kết luận chương 1 41

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ BIỂU CẢM CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TẬP THƠ “GÓC SÂN VÀ

KHOẢNG TRỜI” 42

2.1 Hệ thống từ biểu cảm trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” 42

2.2 Biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5-6 tuổi thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” 43

2.2.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 43

2.2.1.1 Căn cứ vào đặc điểm phát triển của trẻ 5 - 6 tuổi 43

2.2.1.2 Căn cứ vào nội dung giáo dục ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi 44

2.2.1.3.Căn cứ vào mục đích của việc sử dụng tập thơ “Góc sân và khoảng trời” để phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi 44

2.2.2 Tiêu chí lựa chọn các bài thơ trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” 44

2.2.3 Đề xuất biện pháp 45

2.2.3.1.Biện pháp 1: Đọc thơ cho trẻ nghe 45

Trang 7

2.2.3.2.Biện pháp 2: Dạy trẻ đọc bài thơ diễn cảm 46

2.2.3.3.Biện pháp 3: Giải nghĩa từ 46

2.2.3.5.Biện pháp 5 : Sử dụng trò chơi ngôn ngữ 48

2.2.3.6.Biện pháp 6: Sử dụng tranh 48

2.2.3.7.Biện pháp 7: Tổ chức hoạt động góc sách, truyện 49

Kết luận chương 2 51

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52

3.1 Mục đích thực nghiệm 52

3.2 Đối tượng thực nghiệm 52

3.3 Nội dung thực nghiệm 52

3.4 Phương pháp thực nghiệm 52

3.5 Giáo án thực nghiệm 52

3.6 Tiêu chí đánh giá 60

3.7 Kết quả thực nghiệm 61

Kết luận chương 3 66

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bác Hồ kính yêu lúc sinh thời luôn dành cho các cháu trẻ em sự quan tâm và tình thương yêu đặc biệt Với Người, trẻ em là những chủ nhân tương lai của đất nước , những mầm non cần được giáo dục và bảo vệ Bác cho rằng:

“Cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường tự lập” Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Người luôn nhắc nhở, quan tâm và giao nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em cho các ngành, đoàn thể Trong Di chúc trước lúc đi xa, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết” [13] Nhận thức được điều này, ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung luôn thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh và trách nhiệm của mình trong nuôi dưỡng

- chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ở tất cả các cấp học từ mầm non đến đại học

Đặc biệt, bậc học mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ Hiểu được vai trò, tầm quan trọng của giáo dục mầm non, Đảng, nhà nước luôn dành cho bậc học mầm non những gì tốt nhất, thể hiện trước hết ở việc xác định rõ ràng mục tiêu giáo dục mầm non “ Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp Một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời”[22] Để đảm bảo các mục tiêu đã đặt ra, phải kể đến vai trò của ngôn ngữ bên cạnh các mặt như: trí tuệ, thể chất, tình cảm, thẩm mĩ…

Trang 9

Với xã hội loài người nói chung và với trẻ em nói riêng, ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng Ngôn ngữ được coi là một hệ thống tín hiệu , mang ý nghĩa cá nhân và xã hội, xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa người với người, từ đó thúc đẩy xã hội loài người phát triển theo hướng văn minh, hiện đại Ngôn ngữ cũng là điểm đặc biệt phân biệt loài người với tất cả các loài khác trên trái đất Đồng thời, với trẻ em, ngôn ngữ giúp trẻ gia nhập vào xã hội người lớn và sống đúng với ý nghĩa con người Có rất nhiều câu chuyện về những đứa trẻ không may bị lạc vào những khu rừng, sống với những con vật hoang dã ở thiên nhiên và hoàn toàn không có bất cứ giao tiếp bằng ngôn ngữ nào với thế giới loài người Sau một thời gian, chúng không nói, không giao tiếp và làm theo những gì bản năng như loài vật Như vậy, ta thấy được tầm quan trọng của ngôn ngữ và giao tiếp bằng ngôn ngữ với trẻ mầm non nói riêng và với con người nói chung

Với ý nghĩa kể trên, phát triển ngôn ngữ được coi là nhiệm vụ hàng đầu, mà mở rộng vốn từ là biện pháp tối ưu nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Đặc biệt, chương trình GDMN đã đưa ra 5 mặt phát triển của trẻ : tình cảm - quan hệ xã hội, nhận thức, ngôn ngữ, thể chất, thẩm mỹ; trong đó phát triển tình cảm - quan hệ xã hội là một lĩnh vực mới, rất cần thiết trong chương trình GDMN và cần giáo dục cho trẻ ngay từ lúc nhỏ Trong đó có nội dung phát triển kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc Để thực hiện nội dung này, phải kể đến bộ phận từ biểu cảm thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm thơ văn viết cho thiếu nhi; có tác dụng hình thành và phát triển cho trẻ tình yêu cuộc sống, con người, yêu quê hương đất nước, tình yêu gia đình, thầy cô,

bè bạn…

Có nhiều nhà thơ dành cả cuộc đời mình để sáng tác cho thiếu nhi phải

kể đến như: Xuân Quỳnh, Phạm Hổ, Phan Thị Vàng Anh, Định Hải…Trong

đó có một em nhỏ làm thơ, một hiện tượng lạ xưa nay chưa từng có - Trần

Trang 10

Đăng Khoa - một thời làm rung động cả trẻ em lẫn người lớn Trần Đăng Khoa đã góp mặt xuất sắc vào phong trào thơ viết cho thiếu nhi từ những năm

68 với tập thơ để đời “Từ góc sân nhà em” sau được đổi tên thành “Góc sân

và khoảng trời” Cho đến tận bây giờ “Góc sân và khoảng trời” vẫn được coi

là sách gối đầu giường của mỗi em nhỏ Như tác giả Trần Thanh Vân cho rằng : “Thơ Khoa gợi rõ và làm cho ta yêu mến biết bao quê hương bình dị, thân thuộc và đang đổi mới, những con người lao động cần cù, vất vả, một quê hương gắn bó biết bao với sự nghiệp chiến đấu và xây dựng” Quê hương, những con người lao động, cảnh sắc làng quê chính là sợi dây nối tâm hồn trẻ thơ với nhà thơ Trần Đăng Khoa dù có khác nhau về khoảng cách về thời gian, về không gian địa lí và về thế hệ thông qua những từ ngữ mang đậm

ý nghĩa biểu cảm Bởi hẳn trong mỗi chúng ta đều quen thuộc và văng vẳng đâu đó tiếng gà ò…ó…o, tiếng ếch nhái, tiếng chim; mùi bùi, mùi đất; hình ảnh mưa qua bốn mùa xuân, hạ, thu đông… Nói như Nguyễn Đăng Mạnh :

“Làng quê đã tạo nên thơ Khoa từ màu sắc đến linh hồn” Để qua tập thơ này, chúng ta hoàn toàn tin tưởng có thể phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ mầm non

Từ những lí do kể trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa” Cũng nhờ đó, tôi tích lũy được cho bản thân thêm nhiều kinh

nghiệm hữu ích cho việc chăm sóc - giáo dục trẻ sau này

2 Lịch sử vấn đề

Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, có rất nhiều công trình mang tâm huyết, sự hiểu biết và đóng góp của các tác giả, các nhà nghiên cứu đã ra đời và được xã hội ghi nhận

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” [8] đã đề cập một cách “toàn diện, có hệ thống các vấn

Trang 11

đề khoa học và thực tiễn của tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện trong các lớp nhà trẻ, mẫu giáo ở nước ta bằng phương pháp tiếp cận hoạt động – nhân cách, tích hợp”… Bằng sự nghiên cứu dày công các tư liệu khoa học trong và ngoài nước, tác giả đã đưa ra các biện pháp dạy trẻ nghe và phát âm đúng,, phương pháp dạy trẻ đặt câu câu, phương pháp phát triển từ ngữ, cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn chương, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết

Tiếp theo cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”[15] nhóm tác giả Hoàng Thị Oanh - Nguyễn Kim Đức - Phạm Thị Việt

đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ đồng thời nêu nội dung, biện pháp, phương phápphát triển vốn từ, để luyện

âm, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc

Trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”[19] tác giả Nguyễn

Ánh Tuyết đã đưa ra những quy luật chung về sự phát triển của tâm lí trẻ em qua các mốc từ lọt lòng đến 6 tuổi, trong đó có sự ảnh hưởng cũng như vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển tâm lí trẻ Từ đó tác giả đưa ra các hoạt động chủ đạo ở mỗi giai đoạn để nhà giáo dục có phương hướng đúng đắn về mặt phương pháp, con đường giáo dục phù hợp nhằm tạo ra hiệu quả tốt nhất Đây cũng là cơ sở quan trọng ảnh hưởng đến phát triển, mở rộng vốn từ cho trẻ

Trong cuốn “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” của

tác giả Đinh Hồng Thái [17], ngoài các nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ như:

“giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt ; dạy trẻ sử dụng mẫu câu tiếng Việt; phát triển lời nói mạch lạc; chuẩn bị cho trẻ đọc, viết ở trường phổ thông” ; tác giả đề cập đến hai nội dung quan trọng có liên quan mật thiết đến đề tài đó

là : “hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ; phát triển lời nói nghệ thuật thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với thơ, truyện”

Trang 12

Trong cuốn “Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành” [11] đã đưa ra đại

cương về Tiếng Việt, ngữ âm học Tiếng Việt, từ vựng Tiếng Việt, ngữ pháp Tiếng Việt…làm cơ sở để dạy tiếng mẹ đẻ trong nhà trường mầm non

Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục “Phát triển vốn từ vựng tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’Mông tỉnh Lào Cai thông qua tập thơ Góc sân và khoảng trời của nhà thơ Trần Đăng Khoa” [12] Đinh Thị Mận nêu ra các biện

pháp phát triển vốn từ

Như vậy, đã có nhiều tác giả, các bài nghiên cứu sâu về vốn từ vựng của trẻ mầm non, về những phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ Tuy nhiên, phát triển vốn từ biểu cảm là một vấn đề mới và chưa có nhiều sự quan tâm

Cho nên, tôi chọn đề tài “Phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa” Với đề tài này

chúng tôi đã tìm được hướng đi riêng, dựa trên sự hiểu biết của mình

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này để đưa ra biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các biện pháp phát triển vốn từ biểu

cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần

Đăng Khoa

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Những bài thơ Trần Đăng Khoa viết

cho trẻ em in trong tập “Góc sân và khoảng trời”

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi đề ra các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Trang 13

- Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi

thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa

- Thực nghiệm sư phạm phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi

thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa

Trên cơ sở của ba nhiệm vụ trên, chúng tôi đưa ra kết luận

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông

qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trong từ điển Wikipedia: “ Từ là đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ Từ là

đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để cấu thành nên câu Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ) Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực.Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp độ khác nhau như: cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong cách học, cú pháp học ”

Trong Ngonngu.net định nghĩa: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết

cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.”

Trong cuốn Cơ sở Tiếng Việt [3], Hữu Đạt đã đưa ra định nghĩa về từ

như sau: “ Từ chính là hệ thống vốn từ của một ngôn ngữ Nói cách khác, từ vựng là tập hợp tất cả các từ ngữ cố định trong một ngôn ngữ theo một hệ thống nhất định.”

Hay trong cuốn “Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành” [11], tác giả Lã Thị Bắc Lý cũng đưa ra định nghĩa ngắn gọn về từ như sau: “ Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có ý nghĩa và chức năng độc lập tạo câu”

Cho đến nay, các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít, song định nghĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu được sử dụng phổ biến nhất:

Trang 15

“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”[1].

Với đề tài này, nghiên cứu của chúng tôi đồng ý với nhận định của tác giả Đỗ Hữu Châu khi tìm hiểu và định nghĩa về từ

“ Từ vựng của một ngôn ngữ là tập hợp các từ và các ngữ cố định của ngôn ngữ đó”

1.1.1.3 Phân loại từ tiếng Việt

Có rất nhiều cách phân loại từ tiếng Việt Ở nghiên cứu này, chúng tôi đƣa ra các cách phân loại nhƣ sau:

- Phân loại dựa vào cấu tạo

- Phân loại dựa vào đặc điểm ngữ pháp

- Các cách phân loại khác: Theo nghĩa, theo nguồn gốc, theo phạm vi sử dụng

1.1.1.3.1 Phân loại dựa vào cấu tạo

Theo cấu tạo, từ tiếng Việt bao gồm: Từ đơn và từ phức

a Từ đơn

a.1.Khái niệm: Từ đơn là những đƣợc cấu tạo bởi một âm tiết

Trang 16

a.2.Phân loại:

+ Từ đơn đơn âm: nhà, đường, người, đẹp,…

+ Từ đơn đa âm: ) Thuần Việt: ễnh ương, tắc kè, bồ kết…

.) Vay mượn: xà phòng, ri đô,gác đờ bu, gác đờ xen, ti vi, ra-đi-ô, ăng ten…

- Khái niệm: Từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức láy toàn bộ (âm đầu

và phần vần) và láy bộ phận âm đầu hoặc phần vần

- Phân loại: Căn cứ vào số lần láy, người ta chia thành láy đôi, láy ba và láy tư + Láy đôi:

Trang 17

.) Láy toàn bộ (láy hoàn toàn): xanh xanh,xinh xinh, thanh thanh, đa đa, xa

xa, chang chang

Láy toàn bộ có 2 biến thể :

Láy toàn bộ có biến thanh VD: đu đủ, nhè nhẹ, khe khẽ…

Láy toàn bộ có biến thanh, vần VD: thiêm thiếp, rừng rực, đèm đẹp…

.) Láy bộ phận: dễ dãi, lanh chanh, mập mạp, lùm xùm, lò dò,liêu xiêu, lênh khênh…

+ Láy ba: Trong tiếng Việt, loại này xuất hiện không nhiều

VD: sạch sành sanh, tuốt tuồn tuột, tất tần tật…

a.1 Danh từ:

Danh từ là những từ chỉ sự vật theo nghĩa khái quát (sự vật được hiểu theo nghĩa khái quát nhất: đồ vật, con vật, cây cối, người, khái niệm…) Cụm danh từ được hình thành bởi từ chỉ số lượng ở trước danh từ và từ chỉ định ở sau danh từ , danh từ là thành tố trung tâm Danh từ bao gồm:

- Danh từ riêng: Là tên gọi riêng của một người, một địa danh hay một vật

VD: Thái Bình, Hà Nội, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp,Gia Lai…

- Danh từ chung: Là tên gọi của một loại sự vật (gọi chung cho một loại sự vật)

VD: bàn ghế, giường tủ, bát đĩa, quần áo…

Trang 18

a.2 Động từ:

Động từ là những từ có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động, trạng thái

(trạng thái vật lí, sinh lí, tâm lí)

Động từ gồm: Động từ độc lập và động từ không độc lập

- Động từ độc lập là động từ có thể đứng một mình trong một cú pháp câu

VD: Nhảy, múa, hát, chạy, đi, đá…

- Động từ không độc lập là động từ không thể đứng một mình trong một cú pháp câu mà phải có một từ hay một cụm từ đi kèm Động từ không độc lập gồm:

+ Động từ tình thái: nên, cần, phải, có thể, không thể, bị, được…

- Tính từ tự thân: Là những tính từ chỉ có chức năng biểu thị phẩm chất, , hình dáng, kích thước, màu sắc, mức độ… của hiện tượng, sự vật

- Tính từ không tự thân: Là những từ vốn không phải là tính từ mà là những

từ thuộc các nhóm từ loại khác (ví dụ: danh từ, động từ) nhưng được sử dụng như là tính từ Tính từ loại này chỉ có thể xác định được trên cơ sở quan hệ của chúng với các từ khác trong câu hay cụm từ Bình thường, nếu không có quan hệ với các từ khác, chúng không được coi là tính từ Như vậy, đây là loại tính từ lâm thời

b.Nhóm 2: Hư từ

Hư từ “ là những từ rỗng nghĩa, tức không có ý nghĩa chân thực, không nhằm chỉ các sự vật, hiện tượng nhưng có giá trị ngữ pháp, ngữ cảnh ”

Trang 19

Gồm: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ

b.1 Phụ từ

Phụ từ là những từ không thực hiện chức năng định danh, nó chỉ có chức năng bổ sung một loại ý nghĩa nào đó cho các từ định danh Phụ từ chuyên đi kèm với một từ loại nào đó nhằm xác định từ loại cho một từ

Bao gồm:

- Phụ từ đi kèm danh từ Là các từ: những, các, mỗi, mọi, một, từng,

- Phụ từ đi kèm động từ Là các từ : đã, sẽ, đang, sắp, vừa…

- Phụ từ đi kèm tính từ Là các từ : rất, lắm, quá, hơi…

- Phân loại: Tình thái từ bao gồm:

+ Tiểu từ tình thái: ạ, nhé…

+ Trợ từ nhấn mạnh: những, chính, cả, chỉ, đến, tận, ngay, đích…

+ Từ cảm thán: ơi, vâng, dạ, ôi, trời ơi, ô, ơ kìa…

c.Nhóm 3: Từ trung gian: Đại từ

Trang 20

Đại từ: Là những từ ngữ có chức năng để xưng hô hoặc để thay thế (cho danh từ, tính từ , động từ)

- Dựa vào chức năng thay thế có thể chia đại từ thành ba nhóm :

+ Đại từ thay thế cho danh từ : Tôi, chúng tôi, tao, mày, chúng, nó, họ

+ Đại từ thay thế cho động từ, tính từ: Thế, vậy, như thế, như vậy

+ Các đại từ thay thế cho số từ : Bao, bao nhiêu, bấy, bấy nhiêu

- Dựa vào mục đích sử dụng, có thể chia đại từ thành các nhóm :

+ Đại từ xưng hô: Tôi, chúng tôi, ta, chúng ta, mình, chúng mình, tớ, chúng

tớ, mi, mày, chúng mày, ngươi ; Nó, chúng nó, hắn, thị, y, chúng, họ

+ Các đại từ để hỏi : Ai, Đâu, Bao giờ, Nào, cái gì, Bao, bao nhiêu, Sao, + Các đại từ chỉ định: Ấy, đó, kia, nọ, này, đấy, bây, đây, này, bấy

1.1.1.3.3.Một số cách phân loại khác :

- Phân loại theo nguồn gốc: Gồm từ từ Hán - Việt, từ thuần Việt, từ mượn tiếng Pháp…

- Phân loại theo nghĩa: Gồm từ trái nghĩa và đồng nghĩa

- Phân loại theo phạm vi sử dụng: Gồm từ địa phương và từ toàn dân

1.1.1.4.Từ biểu cảm

- Khái niệm: Biểu cảm là “biểu hiện tình cảm, cảm xúc ”

Từ đó ta hiểu: Từ biểu cảm là những từ chỉ tình cảm, cảm xúc của , người viết, người nói đối với một hiện tượng, một đối tượng, một sự vật nào

đó trong cuộc sống

- Nói về tính biểu cảm của ngôn ngữ thơ, có thể tìm thấy một số định nghĩa như sau:

+ Hocvanvanhoc.vn cho rằng: “Biểu cảm là một thuộc tính quan trọng

của ngôn ngữ văn chương, bên cạnh tính chính xác, điêu luyện và tính hình tượng Thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc của nhà thơ qua ngôn ngữ thơ Nhà nghệ

sĩ giàu cảm xúc nên ngôn ngữ thơ giàu tính biểu cảm Biểu cảm có thể bộc lộ

Trang 21

dưới nhiều dạng thức: trực tiếp, gián tiếp, có hình ảnh hoặc là ngôn từ thuần túy”

+ Một định nghĩa khác cho rằng: “Tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương, xét từ phía người sáng tác là đặc tính thể hiện những cảm xúc thông qua những hình tượng nghệ thuật được tạo ra bằng chuỗi ngôn từ của tác phẩm văn chương; và xét từ phía người thưởng thức là đặc tính gây kích thích của chuỗi ngôn từ có khả năng khắc hoạ những hình tượng nghệ thuật, làm dấy lên những cảm xúc ở người thưởng thức, giúp họ có được những tri nhận, cảm nhận và thức nhận văn chương”

Nói một cách khái quát, trong các bài thơ nói chung và các bài thơ viết cho trẻ nhỏ nói riêng, nhà thơ luôn đặt tình cảm, cảm xúc của mình vào ngôn

từ, đó có thể là tình cảm gia đình: “Con yêu mẹ bằng ông trời/Rộng lắm

như hạt muối/Đẹp như hoa rừng/Cô giáo của con/Ai mà chẳng quý” [6]; hay

đó là tình yêu quê hương , bản quán, yêu đất nước đến từ những điều bình dị :

“Ấm nước chè tỏa nóng/Thơm như hương lúa đồng” [9]… Chính những cảm

xúc ấy truyền đến tâm hồn trẻ thơ một cách tự nhiên, gần gũi và hình thành ở trẻ những cảm xúc, tình cảm đẹp đẽ

- Các loại cảm xúc được thể hiện qua từ biểu cảm:

+ Định nghĩa cảm xúc :

Ngô Minh Duy cho rằng :

“ Cảm xúc là những thái độ rung cảm của con người với sự vật hiện tượng có liên quan đến việc thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu cá nhân Hay nói một cách khác, cảm xúc là những rung động của con người đối với hiện thực, trong quá trình tác động tương hỗ với môi trường xung quanh

và trong quá trình thoả mãn nhu cầu” [2]

Trang 22

+ Phân loại cảm xúc : Cảm xúc rất phong phú và đa dạng Dưới những tác động khác nhau của điều kiện môi trường, hoàn cảnh đã tạo ra ở con người những cảm xúc khác nhau Có rất nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu

về cảm xúc và chia cảm xúc thành 6 loại cơ bản: vui, buồn, sợ hãi, giận dữ, ngạc nhiên và ghê tởm [2] Với trẻ em, những cảm xúc này cũng có phần tương tự như người lớn Tuy nhiên, trẻ thường thể hiện cảm xúc một cách trực tiếp, bộc lộ ngay ra bên ngoài, ít thể hiện cảm xúc nội tâm hoặc có nhưng đơn giản hơn so với người lớn

+ Vai trò của từ biểu cảm trong thể hiện cảm xúc con người

Từ biểu cảm là một dạng trình bày cảm xúc của con người đối với những sự vật, hiện tượng, con người… trong đời sống Từ biểu cảm có thể được phát ra trực tiếp khi con người nói chuyện, trao đổi (ngôn ngữ nói) ; cũng có thể được ghi lại gián tiếp thông qua ngôn ngữ trên sách, vở, thơ, truyện (ngôn ngữ viết)

- Phân loại từ biểu cảm : Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy, có thể có 2 loại từ biểu cảm đó là : Từ trực tiếp biểu cảm và từ gián tiếp biểu cảm

+ Từ trực tiếp chỉ tình cảm, cảm xúc con người : Với những từ ngữ này ta có thể dễ dàng nghe và hiểu được thái độ, tình cảm của con người cũng như mức

độ, sắc thái tình cảm mà người nói, người viết muốn đề cập Khi vui ta nói là vui, vui vẻ ; khi buồn ta có thể than thở rằng buồn, buồn rầu hay ngạc nhiên ta

có thể thốt lên rằng ôi, chao ôi… Những từ này khi đến với trẻ, với tâm hồn non nớt, ngây thơ và tư duy tưởng tượng chưa mấy phát triển thì trẻ hoàn toàn

có thể hiểu và nắm bắt được

+ Từ gián tiếp chỉ tình cảm, cảm xúc con người

Tại sao có từ gián tiếp chỉ tình cảm, cảm xúc ? Có lẽ chúng ta không còn quá xa lạ với bộ phận từ tượng thanh, tượng hình - một gia tài từ ngữ đặc sắc của tiếng Việt Trước hết để hiểu tại sao từ tượng thanh và từ tượng hình

Trang 23

có khả năng chỉ tình cảm, cảm xúc ; ta cần nắm được khái niệm của 2 loại từ này Từ tượng thanh tượng thanh gồm các từ ngữ dùng để mô phỏng theo âm thanh phát ra trong tự nhiên hoặc âm thanh của con người Từ tượng hình gồm các từ gợi tả, mô phỏng theo hình dáng, trạng thái của sự vật [24] Cả từ tượng thanh từ tượng hình đều có tác dụng mang lại sự biểu cảm, phong phú, sinh động cho sự diễn đạt Đặc biệt trong văn miêu tả từ tượng thanh và từ tượng hình giúp mọi thứ hiện ra thật tự nhiên, sống động, nhiều sắc thái.Vì vậy có thể khẳng định các loại từ này tạo nên sự đặc sắc, giá trị nghệ thuật cho các tác phẩm Nói về tính biểu cảm mà từ tượng thanh và từ tượng hình mang lại, có thể kể đến ví dụ sau : Trong bài “Qua đèo ngang”, Bà huyện Thanh Quan đã miêu tả nỗi nhớ nước thương nhà giữa cảnh đèo cô đơn tĩnh

lặng qua câu thơ: “Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà/ Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc/ Thương nhà, mỏi miệng cái da da” Ở đây tác giả sử dụng từ tượng hình “ lom khom ” để gợi ra sự vất vả,

gian nan của người tiều phu lên núi đốn củi giữa không gian hoang vu chỉ lẻ

tẻ vài căn nhà “ lác đác ” Đồng thời nhà thơ lại gợi nên sự nhớ nước thương nhà khắc khoải, da diết qua tiếng chim kêu “ quốc quốc, da da ” - cặp từ

tượng thanh mà chỉ nghe thoáng qua cũng gợi cho con người ta khôn nguôi lòng nhớ thương tổ quốc, đất nước, quê hương Tất cả gợi nên nét buồn man mác trong tâm hồn người thi sĩ

Vậy mới nói, bộ phận từ tượng hình, tượng thanh đã ẩn ý thể hiện cảm xúc, tình cảm của nhân vật trữ tình Đây cũng là một điểm tôi dành nhiều tâm

huyết khi tìm hiểu về tập thơ “Góc sân và khoảng trời ” nhằm phát triển vốn

từ biểu cảm cho trẻ Tuy vậy, để hiểu tính hình tượng, biểu cảm ẩn sâu sau lớp ngôn từ đơn thuần, cũng là một vấn đề khá khó đối với trẻ Xuất phát từ nhận thức cũng như lứa tuổi của trẻ, tôi nhận thấy trẻ mầm non, nhất là với độ tuổi lớn nhất là trẻ 5 - 6 tuổi, trẻ tư duy trực quan là chủ yếu ; tưởng tượng và

Trang 24

logic mới đang dần hình thành và phát triển Nên, trẻ khó hình dung các từ tượng hình, tượng thanh Điều này cũng đặt ra thách thức, yêu cầu lớn đối với giáo viên khi phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ bằng các từ tượng hình, tượng thanh

1.1.2 Đặc điểm phát triển vốn từ biểu cảm của trẻ 5-6 tuổi

1.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vốn từ biểu cảm của trẻ

a.Cơ sở sinh lí học

Cho đến lúc chào đời, não bộ của trẻ vẫn chưa được phát triển, hoàn thiện đầy đủ, dù cấu tạo giải phẫu và hình thái không khác với não người lớn Trẻ sơ sinh, não bộ có kích thước bé, trọng lượng bằng1/8 - 1/9 trọng lượng

cơ thể (khoảng 370 - 392g) Trong 9 năm đầu, đa số các tế bào thần kinh đã được biệt hóa và trọng lượng não của trẻ tăng lên gấp đôi lúc sơ sinh

Nghiên cứu về đặc điểm hoạt động thần kinh cao cấp ở người đã chỉ ra rằng: Ở con người có hai hệ thống tín hiệu, đó là : Tín hiệu cụ thể (hệ thống tín hiệu thứ nhất) là những sự vật, hiện tượng cụ thể, trực tiếp như ánh sáng, nhiệt độ, màu sắc… và tín hiệu ngôn ngữ (hệ thống tín hiệu thứ hai) là những vật kích thích có tính chất khái quát, gián tiếp như chữ viết, lời nói Trong đó đặc trưng cho con người là ngôn ngữ, tiếng nói là giá trị tín hiệu mà con vật khác không thu nhận được; ngôn ngữ là âm thanh (nếu là ngôn ngữ nói) và là hình ảnh (nếu là ngôn ngữ viết) Giữa hai hệ thống tín hiệu kể trên, hệ thống tín hiệu ngôn ngữ (thứ hai) nổi bật hơn ở khả năng khái quát hóa và trừu tượng hóa các hiện tượng, sự vật xảy ra bên trong cơ thể con người và ở thế giới bên ngoài Vì vậy, cơ sở của tư duy ở người là hệ thống tín hiệu thứ hai

Ở người, hai hệ thống tín hiệu có liên hệ mật thiết với nhau, trong đó chiếm

ưu thế là hệ thống tín hiệu thứ hai Hệ thống tín hiệu này được xây dựng trên

cơ sở hệ thống tín hiệu thứ nhất và nó ảnh hưởng trở lại đối với hệ thống tín hiệu thứ nhất Vậy nên, muốn nhận thức đầy đủ hiện thực khách quan chỉ

Trang 25

bằng cách tác động qua lại chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu Nhận thức được điều này, trong giáo dục, chăm sóc trẻ cần kết hợp giữa lời nói với các biểu tượng trực quan để có hiệu quả cao nhất

Ở trẻ, hệ thống tín hiệu thứ hai được hình thành như sau: từ tháng thứ

6, ở trẻ đã xuất hiện phản xạ có điều kiện với kích thích ngôn ngữ, nhưng thường kết hợp với những kích thích khác như nụ cười, nét mặt …Do đó, kích thích này chỉ được gọi là kích thích ngôn ngữ có điều kiện bởi trẻ chưa phân biệt được từ ngữ với nghĩa tư duy của từ ngữ, mà chỉ phân biệt được âm sắc với cao độ của giọng nói, tiếng nói Lúc này, nếu thay đổi hoàn cảnh và hình dáng của người nói sẽ gây ức chế phản ứng Ngôn ngữ trực tiếp bắt đầu xuất hiện khi trẻ 7,8 tháng và mối liên hệ “trực tiếp - ngôn ngữ” Trẻ nhờ sự giúp

đỡ của người lớn mà có thể giao tiếp với những người xung quanh bằng ngôn ngữ khi trẻ bước vào 1,5 tuổi Từ đó vốn từ của trẻ được tăng lên đáng kể Trẻ 4 tuổi ngôn ngữ của chúng có thêm các từ mới vì vậy rất phong phú Do vậy, trẻ nói đúng ngữ pháp hơn và số lượng các khái niệm được chúng lĩnh hội cũng tăng hơn Trẻ có thể dùng ngôn ngữ để đáp lại ngôn ngữ từ khi 5 - 7 tuổi do vốn từ khá nhiều Lúc này, mối liên hệ “ngôn ngữ - ngôn ngữ” ở trẻ xuất hiện

Bộ máy phát âm không thể không nhắc đến khi tạo ra giao tiếp hiệu quả Bộ máy phát âm đã có sẵn khi con người sinh ra - đó là một trong những tiền đề quan trọng nhất ; nếu không có nó sẽ không có ngôn ngữ; nếu nó có một khiếm khuyết nào đó về mặt cấu tạo (như hở hàm ếch, sứt môi, ngắn lưỡi

…) thì lời nói hình thành hết sức khó khăn Bộ máy phát âm của con người khi sinh ra chưa hoàn chỉnh Giai đoạn mầm non chính là lứa tuổi để hoàn thiện dần dần bộ máy đó với sự hình thành của răng, sự vận động của môi,

lưỡi, hàm dưới… Cùng với sự lớn lên của trẻ, quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy luật sinh học Mỗi trẻ có sự phát triển ngôn ngữ khác nhau do bộ

Trang 26

máy phát âm khác nhau và chăm sóc giáo dục cũng khác nhau Tuy nhiên tiền

đề là bộ máy phát âm Còn việc rèn luyện, học tập và giáo dục một cách có mới là yếu tố quyết định sự hoàn thiện của bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ Âm thanh được hình thành khi không khí thở ra đi qua khe thanh môn hẹp của thanh quản Vì vậy, thanh quản được gọi là cơ quan tạo tiếng Do tính chất của hòa âm xác định và phụ thuộc vào các khoang cộng hưởng của phần trên các bộ phận thanh quản, họng, khoang miệng, mũi đã tạo nên âm sắc và tiếng nói Trẻ phát triển bộ máy phát âm chưa đầy đủ, chưa liên kết chặt chẽ các bộ phận tạo thành tiếng nói nên trẻ còn phát âm không chính xác, chưa chuẩn Do đó, cần nghiên cứu

sự hình thành và hoàn thiện bộ máy phát âm theo lứa tuổi để tìm ra cách phát triển vốn từ cho trẻ Những năm trước đây, việc giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo được mở rộng, rèn luyện thường xuyên tai nghe âm vị để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói, mặt khác trẻ có thể phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng do cơ quan phát

âm đã hoàn thiện Trẻ mẫu giáo đã biết sử dụng vốn từ một cách phù hợp với nội dung giao tiếp trọn vẹn nhất

b.Cơ sở tâm lí học

Độ tuổi 5 - 6 là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầm non Những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây

ở giai đoạn này vẫn tiếp tục hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ

Xét về góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ thấy rằng: “việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều điểm khác biệt so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác”

Từ rất sớm ngôn ngữ đã được hình thành Những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữđã hình thành ngay từ giai đoạn hài nhi Giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người lớn là nhu cầu của trẻ Cũng giống với giai đoạn trước, trẻ ở giai

Trang 27

đoạn này trong mọi hoạt động của mình đều hoàn toàn phụ thuộc vào người lớn, nên nhu cầu bức thiết của trẻ là giao tiếp với người lớn Trẻ lĩnh hội ngôn ngữ của người lớn thông qua việc hiểu âm điệu, tiếng nói quen thuộc của

người lớn Đến 11 - 12 tháng trẻ đã biết phát âm một số từ “ba, ma, bà…”,

bắt chước một số hành vi đơn giản: cầm thìa nghịch, muốn đi chơi thì cầm tay

người lớn chỉ ra cửa nói “đi, đi chơi, chơi…”

Tư duy trực quan hành động là đặc điểm ghi nhớ của trẻ mẫu giáo Trẻ ghi nhớ hình ảnh tốt hơn âm thanh, ghi nhớ đặc điểm bên ngoài tốt hơn đặc điểm bên trong Đặc biệt, trẻ kém bền vững trong khả năng tập trung chú ý, với một hoạt động quá lâu trẻ không thể tập trung, nhất là những hoạt động căng thẳng đầu óc và trẻ thường bị sao nhãng bởi những tác động bên ngoài Khi trẻ 5 - 6 tuổi chú ý có chủ định đã xuất hiện nhưng còn hạn chế, chú ý không phát chủ định phát triển mạnh Trí nhớ chủ định xuất hiện và phát triển mạnh vào cuối tuổi mẫu giáonhớ - đây là một bước biến đổi quan trọng về chất

Ngôn ngữ giúp trẻ biết định hướng chú ý của mình, biết tự giác hướng chú ý vào những đối tượng nhất định, khối lượng chú ý tăng và sức tập trung chú ý bền vững So với mẫu giáo bé ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn ngày càng

có chủ đích hơn Tuy vậy, các quá trình tâm lý không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong hoạt động tâm lý của trẻ, ngay cả hoạt động trí tuệ cho đến cuối tuổi mẫu giáo

Đặc điểm tâm lí về mặt cảm xúc đòi hỏi phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ thể hiện như sau:

Trẻ sơ sinh mới chỉ có những phản ứng cảm xúc không điều kiện Chẳng hạn khi có tiếng động to thì có phản ứng sợ, trẻ biểu lộ bằng cách khóc lên Những âm thanh nhỏ nhẹ, sự xoa dịu, đu đưa…kích thích phản ứng tiêu cực biểu hiện ở chỗ trẻ nằm yên… Trong quá trình tham gia hoạt động do

Trang 28

người lớn tổ chức, cũng như mở rộng các mối quan hệ với những người xung quanh, ở trẻ nảy sinh những nhu cầu và hứng thú mới Hứng thú của trẻ lan sang thế giới rộng lớn của sự vật hiện tượng và sự kiện xung quanh, đồng thời các cảm xúc của trẻ phong phú, phức tạp hơn

Đến 3 tuổi, thời gian đầu, tình cảm, cảm xúc của trẻ mau thay đổi, chưa

có tính ổn định Trẻ dễ nhưng cũng rất dễ dàng chán, khóc rồi cười nhanh chóng Các bé ở độ tuổi này bắt đầu có tình cảm đối với những người gần gũi như ông bà, cha mẹ, anh chị Sau đó những hình thái mới xuất hiện: sợ khi người lớn tỏ ra không bằng lòng , mong được người lớn khen ngợi, âu yếm Với bạn cùng tuổi, bằng cách dỗ dành hay chia sẻ đồ chơi, bánh kẹo cho bạn

bé đã bộc lộ được mối thiện cảm của mình Xúc cảm của người kháccó ảnh hưởng đến trẻ, ví dụ thấy mẹ buồn cũng buồn theo, thấy bạn khóc thì khóc theo, thấy bạn chơi đùa vui vẻ cũng cười theo… Đặc biệt, ở lửa tuổi này tình cảm tự hào của trẻ bắt đầu hình thành

Vào cuối tuổi mẫu giáo, các quá trình tâm lý khác của trẻ bị chi phối bởi cảm xúc Sự hình thành tương đối rõ nét của các tình cảm bậc cao như: tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ….Là nét đặc biệt trong đời sống tình cảm của trẻ 5 tuổi

- Tình cảm đạo đức thể hiện ở : trẻ đồng cảm, dễ xúc cảm với những cảnh vật xung quanh, với con người, nhất là trẻ rất dễ thương cảm đối với những người gặp phải những cảnh ngộ bất hạnh hay người tàn tật Đặc biệt, với cây cối , động vật trẻ cũng bộc lộ tình cảm yêu thương Đối với trẻ, “ tất

cả đều mang hồn người ” Vì vậy giáo dục lòng nhân ái cho trẻ ở giai đoạn này là vô cùng thuận lợi

- Tình cảm trí tuệ, biểu hiện ở : trẻ ham hiểu biết, khám phá, tìm tòi những gì còn bí ẩnvàmới lạ

Trang 29

- Tình cảm thẩm mĩ, thể hiện ở : trẻ biết yêu thích cái đẹp, mong muốn làm ra cái đẹp để mang đến niềm vui cho mọi người vàcho chính mình Trẻ thích những bức tranh đẹp, những loại hình nghệ thuật, những chuyện cổ tích, những bài hát hay Do vậy, đối với lứa tuổi này phương pháp giáo dục có hiệu quả nhất là giáo dục bằng nghệ thuật So với lứa tuổi trước, đời sống tình cảm của trẻ ở lứa tuổi này sâu sắc và phong phú hơn rất nhiều Trẻ trải nghiệm nhiều trạng thái tình cảm, cảm xúc, hướng tình cảm của mình đến nhiều đối tượng khác nhau Chính vì vậy nếu được giáo dục đúng đắn thì thái độ của trẻ đối với những người xung quanh sẽ theo hướng tích cực, như vậy có thể phát triển kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc cho trẻ

Viêc cho trẻ tiếp xúc, làm quen với thơ, đặc biệt là tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa sẽ giúp tâm hồn trẻ thơ được mở

rộng và giàu biểu cảm

c.Cơ sở giáo dục học

Giáo dục học trong đó có giáo dục học mầm non với tư cách là một khoa học có đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp đặc trưng của nó Theo đó, phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi tập trung vào đối tượng 5 - 6 tuổi, đưa ra nhiệm vụ mở rộng vốn từ cho trẻ, đặc biệt là bộ phận từ biểu cảm với những phương pháp, biện pháp đặc trưng như: Quan sát, trò chơi, dùng lời…

1.1.2.2.Khái quát vốn từ biểu cảm của trẻ mẫu giáo

a.Vốn từ xét về mặt số lượng

Từ 12 tháng trở đi, ngoài các âm bập bẹ, các từ chủ động đầu tiên bắt đầu xuất hiện Số từ bình quân là 11 từ, ít nhất là 0, nhiều nhất là 25 từ(18

tháng tuổi) Trẻ bắt chước người lớn lặp đi lặp lại một số từ đơn: bà, ba, ma…

Số lượng từ tăng nhanh khi trẻtừ 19 - 21 tháng Trẻ đạt 220 từkhi đến

21 tháng Tốc độ chậm lại ở giai đoạn 21 - 24 tháng, chỉ đạt 234 từ (tháng 24), sau đó lại tăng nhanh: đạt 434 từ (30 tháng) , đạt 486 từ (36 tháng)

Trang 30

Trẻ đã sử dụng được trên 500 từ khi bắt đầu năm thứ 3, phần lớn là động từ, danh từ, tính từ và các từ loại khác như danh từ chỉ đồ dùng quen

thuộc, đồ chơi, các con vật gần gũi như: gà, chó, mèo… ; động từ chỉ hoạt động gần gũi như: ăn, ngủ, chơi, đi…

Trẻ có thể nắm được xấp xỉ 700 từ khi 4 tuổi Động từ và danh từ vẫn chiếm ưu thế Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ

Vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1033 từ lúc 5 - 6 tuổi, tỉ lệ tính từ và các từ loại khác đã cao hơn

Ở các độ tuổi khác nhau, tốc độ tăng vốn từ chậm dần theo độ tuổi: tăng 107% (cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi); tăng 40,58% (cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi); chỉ tăng 10,40% (cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi) ; cũng chỉ tăng 10,01% (cuối 6 tuổi so với đầu 6 tuổi)

Quy luật tăng số lượng từ của trẻ như sau:

- Tăng theo thời gian

- Sự tăng có tốc độ không đều; nhanh, chậm tùy giai đoạn

- Tốc độ tăng nhanh nhất ở năm thứ 3

- Tốc độ tăng giảm dần từ 3 - 6 tuổi

Xuất phát từ đặc điểm cuối cùng của quy luật trên, đòi hỏi phải phát triển vốn từ cho trẻ 5 - 6 tuổi

b.Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại

Trong Tiếng Việt có 9 loại từ: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, , phó từ,định từ, quan hệ từ, tình thái từ Trong vốn từ của trẻ các loại từ này xuất hiện dần dần Danh từ, động từ , tính từ xuất hiện trước Các loại từ khác xuất hiện muộn hơn

Về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ khi trẻ 3 - 4 tuổi Tuy nhiên, tỉ lệ danh từ, động từ cao hơn nhiều so với các loại khác: 38%

Trang 31

danh từ; 32% động từ; 7% tính từ; 8% phó từ; 5% tình thái từ ; 3% đại từ; số

từ và quan hệ từ ít xuất hiện

Giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ làgiai đoạn 5 - 6 tuổi Danh từ, động từ giảm (còn khoảng 50%), tính từ và các

từ loại khác tăng: 15% tính từ, 6% quan hệ từ, còn lại là các loại từ khác

Bộ phận từ loại giúp phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ là các từ thuộc: tính từ, tình thái từ - bộ phận tăng lên đáng kể ở giai đoạn 5 - 6 tuổi

c.Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mầm non

5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ ở trẻ em theo Fedorenko (Nga) như sau:

- Mức độ zero (mức độ không): Gắn với mỗi sự vật là tên gọi của nó

Trẻ hiểu được ý nghĩa gọi tên này: ông, bà, mẹ, bố, bát, bàn …(nghĩa biểu

danh)

- Mức độ 1: Tên gọi chung của các sự vật cùng loại: bóng, búp bê, nhà , cốc, …(nghĩa biểu niệm ở mức thấp)

- Mức độ 2: Khái quát hơn: quả cam, quả lê, quả nho, xe đạp, xích lô…

- Mức độ 3: Ở mức độ cao hơn mà trẻ 5 - 6 tuổi có thể nắm được như

đồ vật: đồ nấu bếp, đồ chơi, đồ dùng học tập…phương tiện giao thông: ô tô,

xe máy, tàu thủy;

- Mức độ 4: Khái quát tối đa, gồm những khái niệm trừu tượng: chất lượng, số lượng, hành động…

Ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểu danh (mức độ zero và 1) Trẻ mẫu giáo, đặc biệt là mẫu giáo lớn hiểu được ở mức độ 2 và 3

d.Vốn từ thụ động và tích cực

- Vốn từ thụ động: Bao gồm những từ người ta hiểu nhưng không dùng được Khi nghe người khác nói, ta hiểu, đoán được hết nghĩa của từ nhưng lại không sử dụng vào giao tiếp được Có giai đoạn trẻ mẫu giáo chỉ nghe hiểu

Trang 32

mà không nói được Cho nên một nội dung quan trọng của giáo dục ngôn ngữ

là tích cực hóa vốn từ của trẻ

- Vốn từ tích cực: Bao gồm những từ người ta hiểu và dùng trong giao tiếp được

e.Đặc trưng của việc lĩnh hội vốn từ của trẻ em

Ở tuổi mầm non, để trẻ giao tiếp được với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trong trường mầm non, chuẩn bị học tập ở trường phổ thông, xem các chương trình truyền hình, truyền thanh… thì trẻ phải nắm được một vốn từ cần thiết Vì thế, hình thành vốn từ là một nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ của giáo dục học mẫu giáo

Phát triển vốn từ được hiểu như một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã lĩnh hội được trong lịch sử Nó bao gồm hai mặt: tăng dần số từ tích cực - tích lũy số lượng và lĩnh hội dần dần nội dung xã hội tích lũy trong từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức - nâng cao chất lượng

3 đặc trưng trong lĩnh hội vốn từ của trẻ mẫu giáo là:

Thứ nhất: “Nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quan hình

tượng của tư duy nên trước hết trẻ nắm được các tên gọi của sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quan hệ mang tính chất biểu tượng trực quan và phù hợp với hoạt động của chúng”

Thứ hai: “Sự lĩnh hội nghĩa từ diễn ra dần dần Thoạt đầu, trẻ chỉ đối

chiếu từ với sự vật cụ thể (không có tính khái quát); sự thâm nhập dần của trẻ

và hiện thực (khám phá ra những thuộc tính, dấu hiệu bản chất, khái quát theo dấu hiệu nào đó…) Dần dần, cùng với sự phát triển tư duy, trẻ mới nắm được nội dung khái niệm trong từ, việc nắm nghĩa của từ còn biến đổi trong suốt tuổi mẫu giáo Chẳng hạn: trẻ mẫu giáo lớn không coi cà chua, dưa chuột là rau Khi mở rộng nghĩa của từ này, trẻ lại đưa một số loại quả vào khái niệm rau với lí do chúng được trồng dưới đất và ăn được.”

Trang 33

Thứ ba: “Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so

với số lượng vốn từ của người lớn Vì khối lượng tri thức của chúng còn quá hạn hẹp Vì thế mở rộng vốn từ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ.”

1.1.2.3.Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ

1 “Cần phải tích lũy số lượng từ cần thiết cho giao tiếp ngôn ngữ của trẻ Mặc dù chức năng cơ bản của từ không phải là giao tiếp nhưng thiếu từ thì giao tiếp trở nên khó khăn Vì vậy, phải cung cấp cho trẻ vốn từ cần thiết

Đó là những từ liên quan đến những gì có ở xung quanh trẻ (ở gia đình, ở trường mầm non), những từ có liên quan đến cuộc sống cá nhân và quan hệ của trẻ, những từ cần cho cuộc sống sinh hoạt, học tập, vui chơi của trẻ”

2 “Cần phải chú ý đến cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ sao cho có đủ các từ loại tiếng Việt với tỉ lệ thích hợp Số lượng từ lớn mà cơ cấu từ loại không hợp lí hoặc thiếu một số từ loại nào đó thì trẻ sẽ khó khăn khi diễn đạt Thường vốn từ của trẻ có số lượng danh từ lớn nhất, sau đó là động từ và tính

từ Các từ loại khác xuất hiện muộn hơn với một tỉ lệ thấp Đến 4 tuổi thì cần

có đủ loại các từ trong vốn từ của trẻ, đặc biệt là các từ chỉ tình cảm, cảm xúc, của trẻ, nhằm hình thành cho trẻ đời sống tình cảm phong phú.”

3 “Giúp trẻ lĩnh hội ý nghĩa của từ Hiểu nghĩa từ là một nội dung quan trọng của phát triển lời nói Ở trường mầm non, nhiệm vụ này bao gồm:

- Giúp trẻ nắm được ý nghĩa của từ trên cơ sở đối chiếu chính xác chúng với các đồ vật ở xung quanh

- Giúp trẻ lĩnh hội được ý nghĩa khái quát của từ trên cơ sở phân biệt được những dấu hiệu đặc trưng của sự vật và hiện tượng

- Thâm nhập vào thế giới hình tượng của lời nói và biết cách sử dụng chúng (thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với thơ, truyện)”

4 “Tích cực hóa vốn từ cho trẻ có nghĩa là giúp trẻ không những hiểu biết mà còn sử dụng được chúng trong giao tiếp Đây là quá trình biến những

Trang 34

từ thụ động thành những từ chủ động Trẻ phải phát âm đúng mỗi từ và sử dụng chính xác trong các ngữ cảnh khác nhau.”

1.1.2.4 Biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm

“Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” Biện pháp

dạy học là một thành tố quan trọng của quá trình dạy học, có mối quan hệ mật thiết với các thành tố khác như phương tiện, cách thức, hình thức…trong đó

có phương pháp dạy học Có thể nói, biện pháp thuộc phương pháp Với lứa tuổi mầm non, mang những đặc điểm tâm sinh lí đặc trưng như ưa thích những gì mới lạ, độc đáo; dễ bị thu hút bởi các kích thích…thì biện pháp cũng như phương pháp dạy học đóng vai trò vô cùng đặc biệt giúp lôi cuốn trẻ vào bài học, duy trì sự tập trung, hứng thú của trẻ; khiến cho giờ học được diễn ra một cách thoải mái, nhẹ nhàng, không gây áp lực cho trẻ

Vậy biện pháp giáo dục mầm non là gì? Nhận định về điều này, tác giả

Nguyễn Thị Hòa trong cuốn Giáo dục học mầm non [4] cho rằng: “Biện pháp giáo dục mầm non được hiểu là cách làm cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa giáo viên và trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục

đã đặt ra ở lứa tuổi mầm non Phương pháp giáo dục có quan hệ mật thiết với biện pháp giáo dục Phương pháp mang tính khái quát chung còn biện pháp mang tính cụ thể”

Có nhiều tác giả định nghĩa về biện pháp phát triển vốn từ, trong đó

nhận định của tác giả Nguyễn Xuân Khoa [6] là khái quát nhất: “Biện pháp phát triển vốn từ là cách thức cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa giáo viên và trẻ nhằm mục đích nâng cao khả năng sử dụng từ tiếng Việt cho trẻ cả về số lượng lẫn chất lượng”

Qua tổng hợp qua một số giáo trình về mở rộng vốn từ cho trẻ nói riêng

và phát triển ngôn ngữ nói chung, của các tác giả (Nguyễn Thị Hòa, Đinh

Trang 35

Hồng Thái, Nguyễn Xuân Khoa …), để phát triển vốn từ cho trẻ 5 - 6 tuổi có thể khái quát một số biện pháp như sau:

* Hướng dẫn trẻ quan sát hiện tượng sự vật:

Hướng dẫn trẻ quan sát là dạy trẻ biết nhìn, phân tích, so sánh để tìm ra những thuộc tính, đặc điểm của đối tượng quan sát và mối quan hệ của nó với MTXQ Quá trình này đã huy động đa giác quan ở trẻ: thính giác, thị giác, khứu giác, xúc giác…

Đây là quá trình có kế hoạch, mục đích, thứ tự, phân tích các mặt một cách có trình tự, logic và hợp lí Trong quan sát, có thể cho trẻ xem tranh ảnh bởi trẻ nhỏ rất thích xem tranh và bị thu hút bởi màu sắc, hình khối, đường nét Qua đó, vừa tăng về mặt vốn từ vừa giáo dục thị hiếu thẩm mĩ cho trẻ Cũng có thể cho trẻ quan sát bằng cách tổ chức những buổi thăm quan và giới thiệu một số sự vật, hình ảnh, đồ vật… cho trẻ quan sát Giáo viên cần chú ý giúp trẻ định hướng quan sát, quan sát theo trình tự từ tổng thể đến chi tiết và quan sát một cách có chủ đích, tránh quan sát tản mạn,vụn vặt hoặc quan sát theo ý thích

Trong quá trình quan sát, GV chú ý sử dụng các từ thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình đối với sự vật, hiện tượng được quan sát VD: Đứng trước một bông hoa đẹp, GV có thể nói “Hoa đẹp quá”, hay cho trẻ quan sát ao hồ,

GV có thể nói “nguy hiểm quá” để dặn dò, nhắc nhở trẻ

* Sử dụng đồ chơi

Đồ chơi cần được lựa chọn đảm bảo phù hợp vơi lứa tuổi, đảm bảo an toàn với trẻ, có tính thẩm mĩ cao Với trẻ 5 - 6 tuổi, đồ chơi thường được lắp ghép từ nhiều bộ phận, chi tiết, đòi hỏi trẻ có óc quan sát, tư duy logic để chơi thành thạo đồ chơi và tạo ra sản phẩm có ý nghĩa

Để phát triển vốn từ cho trẻ, có thể sử dụng một số đồ chơi và chơi các trò chơi như “Cái gì biến mất?”, “Chiếc túi thần kì”… bằng cách cho trẻ

Trang 36

xem, sử dụng và trao đổi về đồ chơi Với trò chơi “Chiếc túi thần kì”, cô giấu

đồ chơi vào trong túi, mỗi khi cô đưa một đồ chơi ra, cô yêu cầu trẻ phải gọi tên chính xác đồ chơi đó, miêu tả hình dáng, màu sắc, bộ phận của nó Chú ý cho trẻ được sử dụng đồ chơi (tháo lắp, hoạt động với đồ chơi…)

* Sử dụng trò chơi ngôn ngữ

Một số trò chơi ngôn ngữ phục vụ việc phát triển vốn từ cho trẻ: “Cái

gì biến mất?”, “Chiếc túi thần kì”, “Gặp gỡ bạn mới”, “Hãy kể đủ ba thứ”,

“Hãy nói nhanh”…

* Các biện pháp dùng lời:

- Trẻ tự kể về những gì trẻ đã được làm quen: Là một biện pháp tích cực hóa vốn từ của trẻ Khi trẻ tự kể chuyện, trẻ sẽ kể ra, gọi tên các đặc điểm của các con vật, các loại hoa, quả, và đó là điều kiện để các từ ngữ từ trạng thái bị động chuyển thành tích cực, chủ động Đồng thời, trẻ sẽ thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, cách đánh giá của mình về đối tượng

- Đối chiếu, so sánh với những từ trái nghĩa /đồng nghĩa: Ở trong tác phẩm, giáo viên lựa từ có thể đem ra đối chiếu, so sánh để làm nổi bật nghĩa của từ Và đưa nó về những từ trái nghĩa/đồng nghĩa trẻ đã biết để giúp việc hiểu nghĩa của từ đạt hiệu quả

- Biện pháp đặt từ vào ngữ cảnh: Giúp trẻ hiểu từ bằng cách đặt từ vào ngữ cảnh dễ hiểu, gần gũi, quen thuộc với trẻ Ngữ cảnh đó có từ cần giải thích Trẻ có thể dựa vào vốn từ đã có của mình, dựa vào sự liên tưởng, dựa vào các từ khác trong câu để hiểu nghĩa của từ

Ngoài những biện pháp dùng lời kể trên, có hai biện pháp thường xuyên được dùng để phát triển vốn từ cho trẻ, đó là biện pháp sử dụng lời của

cô giáo và trò chuyện với trẻ theo câu hỏi Hai biện pháp này có ý nghĩa như sau:

Trang 37

- Biện pháp sử dụng lời của cô giáo: Lời kể, lời đọc của cô giáo dễ gây hứng thú cho trẻ và giúp trẻ tri giác toàn bộ đối tượng, thấy được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng Điều này làm cho trẻ dần hiểu ý nghĩa của từ Lời

kể, lời đọc của cô giáo sẽ hàm chứa trong đó cách nhìn nhận, đánh giá, cảm xúc của cô giáo khiến trẻ có thể hiểu được sắc thái biểu cảm của lời nói Ngoài ra, lời kể của cô giáo còn tạo ra mẫu mực ngôn ngữ cho trẻ noi theo (giọng nói, ngữ điệu, điệu bộ…) Yêu cầu lời kể phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu với trẻ, chủ yếu mô tả các đặc điểm, tính chất các hành động của đối tượng Lời kể cần ngắn gọn, logic, đầy đủ các phần: Mở đầu, mô tả, kết thúc

- Trò chuyện với trẻ theo câu hỏi: Là biện pháp chính hướng dẫn trẻ làm quen với những sự vật, hiện tượng có trong đời sống; trong các lĩnh vực phát triển trí tuệ, nhận thức Các câu hỏi có tác dụng hướng sự chú ý của trẻ tới đối tượng cần nhận thức, dạy trẻ biết tri giác đối tượng tử tổng thể đến chi tiết Các câu hỏi cũng đồng thời kích thích trẻ nói, gọi tên hoặc mô tả các đối tượng Qua đó, vốn từ của trẻ ngày càng được mở rộng hơn Cần chú ý sao cho câu hỏi phong phú, kích thích trẻ trả lời bằng các nhiều cách và từ loại khác nhau

=> Bên cạnh các hoạt động như KPKH, âm nhạc, tạo hình, thể chất…hai biện pháp trò chuyện trên thường xuất hiện nhiều nhất trong hoạt động LQVVH - hoạt động đóng vai trò quan trọng với phát triển vốn từ cho trẻ, đặc biệt là vốn từ biểu cảm Bởi văn học xây dựng hình tượng bằng chất liệu ngôn từ Ngôn từ với tư cách là chất liệu của văn học có những ưu thế đặc biệt với mỗi người Trong đời sống, ngôn từ cũng là phát ngôn của chủ thể lời nói mà ai cũng có thể hiểu và tiếp thu Trong thơ và truyện chứa đầy những nội dung lí thú; những hình tượng nghệ thuật đẹp, trong sáng; nguồn tưởng tượng giàu có; vốn từ giàu chất mĩ cảm Mà tưởng tượng lại phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mầm non, cho nên văn học lôi cuốn trẻ, đem lại cho

Trang 38

trẻ niềm vui sướng và có ý nghĩa trong giáo dục phát triển toàn diện các mặt: nhận thức - trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, kĩ năng đọc và hiểu tác phẩm, ngôn ngữ

và hứng thú “đọc sách” Do vậy, tôi chọn hoạt động LQVVH để “phát triển

vốn từ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần

Đăng Khoa” Một số nội dung cho trẻ LQVVH ở trường MN: “Kể chuyện cho trẻ nghe; đọc truyện cho trẻ nghe; dạy trẻ kể lại truyện; đọc thơ cho trẻ nghe; dạy trẻ đọc thuộc thơ diễn cảm; dạy trẻ học thuộc tục ngữ, ca dao, đồng dao; tổ chức trò chơi đóng kịch dựa theo tác phẩm văn học…”

=> Mối quan hệ giữa hoạt động LQVVH và việc phát triển vốn từ biểu cảm:

- Chương trình GDMN bao gồm 9 chủ đề (với nhà trẻ, mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ) và 10 chủ đề (thêm chủ đề: Trường tiểu học, với lứa tuổi mẫu giáo lớn)

ở tất cả các môn học, lĩnh vực Đây là điều kiện để phát triển tiếng Việt cho trẻ, đặc biệt là qua hoạt động LQVVH Tổ chức hoạt động làm quen với văn học theo chủ đề đảm bảo tính hệ thống, khoa học, thực tiễn, toàn diện; góp phần mở rộng và phát triển vốn từ cho trẻ theo hướng tăng lên về mặt số lượng và nâng cao về mặt chất lượng; và giúp trẻ hiểu từ sâu sắc Từ đó giúp

hệ thống hóa, tích cực hóa vốn từ ở trẻ

- LQVVH hấp dẫn, lôi cuốn trẻ, thỏa mãn ở trẻ lòng ham hiểu biết, tìm hiểu cuộc sống xung quanh qua lăng kính của người nghệ sĩ; giúp trẻ tự tin, vững vàng khi bước vào đời sống thực, giao tiếp chủ động, tích cực, rõ ràng và mạch lạc hơn

- Đặc biệt, các tác phẩm thơ, văn trong LQVVH thường sử dụng hệ thống từ gợi hình, gợi cảm; bồi đắp những tình cảm đẹp đẽ, trong sáng, phù hợp để phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ

1.1.3 Về tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa

a.Đôi nét về tác giả

Trang 39

Trần Đăng Khoa (sinh năm 1958), quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Ông là một nhà thơ, biên tập viên, nhà báo, hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam Nguyên là Trưởng ban Văn học Nghệ thuật, Giám đốc Hệ Phát thanh có hình VOVTV của Đài tiếng nói Việt Nam Hiện nay, ông giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy của Đài Tiếng nói Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Từ nhỏ, ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn, 8 tuổi đã có thơ được đăng báo, 10 tuổi cho ra đời

tập thơ đầu tiên: “Từ góc sân nhà em” (Sau được đổi thành “Góc sân và khoảng trời” ) được xuất bản bởi nhà xuất bản Kim Đồng

b.Tập thơ “Góc sân và khoảng trời”

Góc sân và khoảng trời là tập thơ của Trần Đăng Khoa được xuất bản lần đầu tiên khi tác giả mới 10 tuổi (năm 1968) Ban đầu có tên là “Từ góc sân nhà em”, sau nhiều lần tái bản và chỉnh sửa, nay tập thơ tên là “Góc sân

và khoảng trời” Tập thơ như là trang nhật ký của tác giả thời ấu thơ Tập thơ

gồm có 136 bài thơ (Bản xuất bản năm 2018).Một số bài thơ nổi tiếng trong

tập thơ này là: “Con bướm vàng”, “Trăng sáng sân nhà em”, “Õ Ó O ”,

“Khi mẹ vắng nhà”, “Trăng ơi Từ đâu đến?”, “Kể cho bé nghe” , “Hạt gạo làng ta”, “Lời của than”, “Thơ vui”, “Mưa”, “Cây dừa”

“Góc sân và khoảng trời” mang đến một gia tài đồ sộ các từ ngữ thuộc

nhiều từ loại khác nhau; trong đó có các tính từ, tình thái từ, các từ tượng hình, từ tượng thanh thể hiện nhiều sắc thái cảm xúc Qua đó mở rộng vốn từ biểu cảm nói riêng và vốn từ nói chung cho trẻ về thiên nhiên và cuộc sống lao động của những người nông dân nơi thôn dã, đồng thời cả một không khí

chiến tranh “Những năm bom Mĩ/Trút trên mái nhà/ Những năm cây súng/ Theo người đi xa/ Những năm băng đạn/ Vàng như lúa đồng ”[9]…dội vào

thơ bằng tất cả sự tự hào, yêu mến Chính vì vậy, giáo viên có thể chọn lựa

Trang 40

những bài thơ thuộc tập thơ “Góc sân và khoảng trời” với nội dung phù hợp

thuộc các chủ đề để mở rộng vốn từ biểu cảm cho trẻ

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chương trình GDMN và việc phát triển vốn từ cho trẻ

Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy, chương trình GDMN và bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi có nội dung quan trọng liên quan đến phát triển vốn từ biểu cảm, được thể hiện như sau:

- Chương trình GDMN [23]

+ Giáo dục trẻ bày tỏ tình cảm, nhu cầu và hiểu biết của bản thân rõ ràng, dễ hiểu bằng các câu đơn, câu ghép khác nhau

+ Sử dụng các từ biểu cảm, hình tượng

- Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi [22]

“ Chuẩn 14: Trẻ nghe hiểu lời nói

Chỉ số 61 Nhận ra được sắc thái biểu cảm của lời nói khi vui, buồn, tức, giận,

ngạc nhiên, sợ hãi”

“Chuẩn 15: Trẻ biết sử dụng lời nói để giao tiếp

Chỉ số 66 Sử dụng các từ chỉ tên gọi, hành động, tính chất và từ biểu cảm

trong sinh hoạt hàng ngày;

Chỉ số 68 Sử dụng lời nói để bày tỏ cảm xúc, nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm

của bản thân”

Để trẻ có được vốn từ biểu cảm và ứng dụng được vào trong thực tế, trong hoạt động học tập, sinh hoạt hàng ngày ở trường MN, ở gia đình và trong cuộc sống ; đòi hỏi giáo viên phải am hiểu biết về vốn từ biểu cảm cũng

Ngày đăng: 23/12/2019, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w