Mục đích nghiên cứu “Thông qua việc đánh giá mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài, cho trẻ để đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao việc giáo d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
ĐINH THỊ KIM NGÂN
GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ
CHO TRẺ 5 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc và vệ sinh trẻ em
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
ĐINH THỊ KIM NGÂN
GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ
CHO TRẺ 5 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc và vệ sinh trẻ em
Người hướng dẫn khoa học
ThS DƯƠNG THỊ THANH THẢO
Trang 3LỜI CẢM ƠN
“Tôi xin được bày tỏ lời biết ơn sâu sắc và trân thành nhất đến ThS Dương Thị Thanh Thảo, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài cho đến khi đề tài khóa luận được hoàn thành”
“Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và học sinh trường Mầm non Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và các em học sinh khối lớp 5 tuổi đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm tại trường”
“Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Sinh học – KTNN đã tạo điều kiện giúp đỡ tận tình vào thành công của đề tài”
“Trong quá trình nghiên cứu do thời gian ngắn hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của các thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn”
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Người thực hiện
Đinh Thị Kim Ngân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu
trong khóa luận “Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi tại Trường Mầm non Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” là chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu nào
khác, hoàn toàn xác thực Nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm”
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Người thực hiện
Đinh Thị Kim Ngân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Giả thiết nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 4
1.2 Thói quen vệ sinh 5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Quá trình hình thành 5
1.2.2.1 Hình thành kĩ xảo vệ sinh 5
1.2.2.2 Điều kiện để kỹ xảo vệ sinh trở thành thói quen vệ sinh 6
1.3 Thói quen vệ sinh thân thể 6
1.3.1 Khái niệm “Thói quen vệ sinh thân thể” 6
1.3.2 Nội dung giáo dục thói quen vệ sinh thân thể 7
1.3.2.1 Thói quen rửa mặt 7
1.3.2.2.Thói quen rửa tay 8
1.3.2.3 Thói quen đánh răng 9
1.3.2.4 Thói quen chải tóc 10
1.3.2.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ 10
1.4 Phương pháp và hình thức giáo dục thói quen vệ sinh thân thể 11
1.4.1 Hoạt động học tập 11
1.4.2 Hoạt động vui chơi 12
1.4.3 Tổ chức chế độ sinh hoạt hàngngày 12
1.4.4 Phối hợp với gia đình 12
1.5 Đặc điểm của trẻ 5 tuổi 12
Trang 6Chương 2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÌNH THÀNH THÓI QUEN VỆ SINH THÂN
THỂ CỦA TRẺ 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 15
2.1 Mục đích đánh giá 15
2.2 Đối tượng đánh giá 15
2.3 Nội dung đánh giá 15
2.4 Phương pháp đánh giá 15
2.4.1 Các tiêu chí đánh giá thói quen vệ sinh thân thể 15
2.4.2 Cách tổ chức đánh giá thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 17
2.5 Kết quả 17
2.5.1 Thói quen rửa mặt 17
2.5.2 Thói quen rửa tay 19
2.5.3 Thói quen đánh răng 20
2.5.4 Thói quen chải tóc 20
2.5.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ 21
Chương 3 GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ CHO TRẺ 5 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI 23
TẠI TRƯỜNG MẦM NON 23
3.1 Đề xuất một số biện pháp giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi tại trường mầm non 23
3.1.1 Thói quen rửa mặt 23
3.1.2 Thói quen rửa tay 24
3.1.3.Thói quen đánh răng 25
3.1.4 Thói quen chải tóc 26
3.1.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ 27
3.2 Tổ chức thực nghiệm ở trường mầm non 28
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 28
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 29
3.2.3 Kết quả thực nghiệm 29
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Sức khỏe là vốn quý nhất của con người Ngoài yếu tố chăm sóc sức khỏe chế độ dinh dưỡng hợp lí, do di truyền thì phần lớn sức khỏe phụ thuộc vào yếu tố chăm sóc vệ sinh Đối với trẻ mầm non việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể nhằm giúp trẻ khỏe mạnh, có thói quen vệ sinh có hành vi văn minh và phòng chống bệnh tật Cho nên việc tạo sức khỏe tốt cho trẻ là điều cần thiết Để có sức khỏe tốt thì trước hết trẻ phải có thói quen vệ sinh thân thể tốt”
“Xã hội ngày càng đi lên, đời sống con người ngày càng tiến bộ đòi hỏi mỗi
cá nhân cần phải hoàn thiện hơn để đáp ứng những yêu cầu phát triển, hệ thống giáo dục cần chú trọng hơn đến chất lượng giảng dạy và giáo dục cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ Trong công tác chăm sóc và giáo dục vệ sinh cho trẻ mầm non cần hình thành cho trẻ một số thói quen tốt, rèn luyện những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ”
“Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục mầm non để bảo vệ sức khỏe và chăm sóc cho trẻ góp phần nâng cao phát triển toàn diện nhân cách và phát triển thể chất cho trẻ Ngay từ khi còn nhỏ, nếu như trẻ không được trang bị những thói quen và kỹ năng cần thiết, trong đó có thói quen tự chăm sóc bản thân thì sẽ làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ về quãng đời sau này Bởi thiếu thói quen vệ sinh thân thể sẽ dẫn đến
hệ lụy khó khăn khi tham gia vào các hoạt động, trẻ luôn sống phụ thuộc vào người khác, khó khăn khi tự chăm sóc bản thân, trẻ lười biếng, thụ động”
“Việc hình thành thói quen vệ sinh thân thể có vai trò quan trọng đối với trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5 tuổi Trẻ sẽ hình thành tính tự lập, giúp trẻ tự tin hơn, tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, biết tự chăm sóc cho bản thân và tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ trong các hoạt động học tập và lao động trong các cấp bậc học tiếp theo Củng cố cho trẻ kĩ năng đơn giản từ đó sẽ có những hiểu biết đúng đắn về việc giữ vệ sinh thân thể”
“Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo và nó có vai trò quan trọng đối với việc hình thành nhân cách trẻ nói chung, giáo dục thói quen vệ sinh nói riêng Tham gia vào trò chơi là quá trình trẻ tiếp nhận tri thức một cách tự nhiên, không bị ép buộc Do vậy, khi chơi trẻ có thể lĩnh hội tri thức, kĩ năng và tạo được những xúc cảm, tình cảm nhất định Thông qua tổ chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non, giúp trẻ luôn ghi nhớ và thực hiện vệ sinh thân thể hằng ngày”
Trang 8“Chính vì những lí do trên nên tôi chọn đề tài “ Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi tại trường Mầm non Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” nhằm hình thành thói
quen vệ sinh thân thể cho trẻ, đặc biệt là trẻ 5 tuổi”
2 Mục đích nghiên cứu
“Thông qua việc đánh giá mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài, cho trẻ để đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non”
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- “Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ
5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non”
- “Đánh giá mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 5 tuổi ở trường mầm non”
- “Đề xuất biện pháp giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non”
- “Tiến hành thực nghiệm đề tài ở trường mầm non”
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- “Khách thể nghiên cứu: Trẻ 5 tuổi”
- “Đối tượng nghiên cứu: Thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 5 tuổi ở trường mầm non”
5 Giả thiết nghiên cứu
“Nếu các biện pháp giáo dục thói quen vệ sinh thân thể thông qua tổ chức hoạt động vui chơi đưa ra có hiệu quả thì sẽ nâng cao chất lượng giáo dục và hình thành thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ ở trường mầm non”
6 Phạm vi nghiên cứu
- “Phạm vi về nội dung: Trong chương trình giáo dục mầm non về giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non”
- “Địa điểm nghiên cứu: Lớp 5 tuổi C Trường mầm non Ngô Quyền – Thành phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc”
- “Số lượng trẻ nghiên cứu: 30 trẻ”
Trang 97 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
“Chúng tôi nghiên cứu tài liệu liên quan, phân tích – tổng hợp tài liệu có liên quan tới đề tài nghiên cứu để tìm hiểu cơ sở lí luận của việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non”
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- “Phương pháp điều tra: quan sát, trao đổi với giáo viên chủ nghiệm,bằng bảng hỏi, phỏng vấn (trò chuyện) để tìm hiểu thực trạng của việc hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ”
- “Phương pháp thực nghiệm: đưa ra các biện pháp đề xuất vào tổ chức hoạt đông vui chơi ở trường mầm non để giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi”
Trang 10Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
“Đã từ rất lâu việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ em là mối quan tâm của
cả cộng đồng quốc tế” “Điều này được thể hiện ở quyền trẻ em đã được thông qua ngày 20 – 11- 1989 tại Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc và được duyệt ngày 02 – 09 –
1990” Công ước đã chỉ đạo “Loài người phải dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất
mà mình có, những lợi ích của trẻ em phải được quan tâm đầu tiên, phải chú ý và ưu tiên trẻ em trong mọi vấn đề có liên quan” “Điều này cho thấy công tác chăm sóc
và giáo dục trẻ em nhất là giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ là một nhiệm
vụ rất quan trọng.Việc nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến vệ sinh trẻ em được rất nhiều các tác giả trên thế giới quan tâm”
“Tổ chức Y tế Thế Giới đã đưa ra các bước các bước rửa mặt ,rửa tay bằng
xà phòng sao cho đúng và đảm bảo vệ sinh nhất”
“Hiệp hội Nha khoa Mỹ khuyến cáo dùng chỉ nha khoa hàng ngày giữa các kẽ răng và sử dụng nước súc miệng kháng khuẩn kết hợp để loại bỏ các mảng bám và vi khuẩn”
“Vào năm 2003, một nghiên cứu về quần áo của Mark Stoneking và một số nhà khoa học đã chỉ ra rằng con người bắt đầu biết mặc quần áo từ cách đây 107 nghìn năm”
“Nghiên cứu về vấn đề ăn mặc có văn hóa Miguelde Cervantesy Saavedra (1547 – 1616) đã nhận định: “Quần áo vừa che đậy, vừa bóc trần con người” Việc chăm sóc vẻ bề ngoài của một con người có thể được so sánh với việc trang trí một cửa hàng bách hóa Minh họa: “Cửa hàng với các gian hàng cũ kỹ, lộn xộn sẽ khó làm cho mọi người quan tâm, còn những cửa hàng mà chủ nhân biết bày biện đẹp mắt với phong cách tinh tế sẽ hút khách hàng như một thỏi nam châm” Vì vậy, việc
ăn mặc phù hợp với điều kiện môi trường, sạch sẽ, phù hợp với thời tiết là hết sức quan trọng”
“Như vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về các thói quen vệ sinh thân thể đã được các nhà nghiên cứu ngoài nước hết sức chú trọng và quan tâm, việc nghiên cứu chắc hẳn sẽ không dừng lại ở đây mà sẽ được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn nữa”
1.1.2 Ở Việt Nam
“Chăm sóc – giáo dục trẻ em ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc sống là một việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết trong sự
Trang 11nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người tương lai của đất nước Trong xu thế đổi mới mạnh mẽ của giáo dục mầm non Việt Nam hiện nay, với mục tiêu chủ yếu là phát huy tối đa tính chủ động tích cực của trẻ trong tất
cả các hoạt động, phát triển năng lực chung cho trẻ, các hoạt động giáo dục ở trường mầm non phải hướng tới việc dạy cho trẻ biết cách học như thế nào Giáo dục trẻ thói quen vệ sinh thân thể được ra đời là nhằm đáp ứng các yêu cầu của đổi mới giáo dục mầm non Tuy nhiên, tổ chức cho trẻ mầm non rèn luyện thói quen vệ sinh thân thể vẫn là một vấn đề mới Tuy đã có một số trường mầm non bước đầu tổ chức một số hoạt động cho trẻ tự vệ sinh thân thể, vận dụng song trên bình diện lí luận chưa có tài liệu nào trình bày cụ thể, đầy đủ quá trình tổ chức cho trẻ rèn luyện thói quen vệ sinh thân thể Trong thực tiễn, phần lớn các giáo viên mầm non cũng chưa biết rõ phương pháp tổ chức cho trẻ rèn luyện thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ như thế nào để có thể vận dụng một cách đồng bộ vào các trường mầm non Vì vậy: “Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi tại Trường Mầm non Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc ” là một đề tài mới có ý nghĩa thiết thực trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ, phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay”
1.2 Thói quen vệ sinh
1.2.1 Khái niệm
“Thói quen thường để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ra trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan hệ xã hội nhất định Thói quen có nội dung tâm lí ổn định và thường gắn với nhu cầu cá nhân Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lí trở nên cố định, cân bằng và khó loại bỏ”[5]
“Kĩ xảo được hình thành qua ba giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 Hiểu cách làm: Trẻ cần hiểu mỗi hành động gồm những thao tác
nào? Các thao tác đó diễn ra như thế nào? Và cách tiến hành mỗi thao tác đó cụ thể
Trang 12+ Giai đoạn 2 Hình thành kĩ năng: Trẻ cần biết vận dụng các tri thức đã biết
để tiến hành một hoạt động cụ thể nào đó Việc tiến hành các hoạt động ở giai đoạn này đòi hỏi sự tập trung chú ý
+ Giai đoạn 3 Hình thành kĩ xảo: Trẻ cần biết biến các hành động có ý chí
thành các hành động tự động hóa bằng cách tự luyện tập nhiều lần để giảm tới mức tối thiểu sự tham gia của ý thức vào hành động”
Vậy kĩ xảo: “là những hành động tự động hóa, nhưng trong quá trình hình thành nhất thiết phải có sự tham gia của ý thức Trong quá trình hoạt động kĩ xảo cần được củng cố và hoàn thiện nhằm hướng tới việc bảo vệ và củng cố sức khỏe
Về bản chất, kĩ xảo vệ sinh thuộc nhóm kĩ xảo vận động”[5]
1.2.2.2 Điều kiện để kĩ xảo vệ sinh trở thành thói quen vệ sinh
“Trong cuộc sống, có những hành động vừa là vừa là thói quen vừa là kĩ xảo nhưng không phải lúc nào cũng trùng hợp như vậy Trong giáo dục trẻ, cần làm cho cách hành động trong học tập, vui chơi, vệ sinh cá nhân vừa là kĩ xảo vừa trở thành thói quen”
“Do vậy, để cho các kĩ xảo vệ sinh trở thành thói quen vệ sinh cho trẻ cần đảm bảo các điều kiện như:
- Trẻ phải tự thực hiện các hành động vệ sinh trong cuộc sống hàng ngày;
- Trong quá trình thực hiện, phải kiểm tra việc thực hiện của trẻ và dạy trẻ tự kiểm tra hành động của chúng;
- Sự gương mẫu của người lớn có ý nghĩa lớn đối với việc hình thành thói quen của trẻ;
- Các biện pháp khen thưởng, trách phạt được sử dụng trong quá trình giáo dục phải phù hợp với tình cảm của trẻ nhỏ và đặc điểm nhận thức;
- Phải tạo ra nhiều tình huống để củng cố thói quen trong điều kiện mới” [5]
1.3 Thói quen vệ sinh thân thể
1.3.1 Khái niệm “Thói quen vệ sinh thân thể”
“Thói quen vệ sinh thân thể là những thói quen vệ sinh, những hành động của cá nhân phục vụ bản thân giúp cơ thể sạch sẽ, phòng chống bệnh tật để có sức khỏe, thể lực tốt Việc giữ gìn vệ sinh thân thể không những nhằm chấp hành những yêu cầu vệ sinh, mà còn nói lên mức độ quan hệ của con người với nhau Bởi vì, chính việc thực
Trang 13hiện các yêu cầu vệ sinh là thể hiện sự tôn trọng mọi người xung quanh”[5]
1.3.2 Nội dung giáo dục thói quen vệ sinh thân thể
“Các thói quen vệ sinh thân thể bao gồm”:
1.3.2.1 Thói quen rửa mặt
“ Hướng dẫn trẻ cách rửa mặt:
+ Xắn tay áo (nếu tay áo dài)
+ Rửa tay sạch trước khi rửa mặt
+ Vò khăn, vắt khô nước Nếu dùng chậu thì múc nước ra chậu, nhúng khăn vào chậu nước, vò khăn và vắt khô nước
+ Rũ khăn, trải khăn lên hai lòng bàn tay, lau 2 mắt trước (rửa từ khóe mắt ra đuôi mắt), di chuyển khăn, đảm bảo mặt luôn tiếp xúc với khăn sạch, lau sống mũi,di chuyển khăn, cứ như vậy lau miệng, cằm Gấp đôi khăn lau trán, từng bên má
+ Gấp đôi khăn lần nữa hoặc vò khăn lần hai, vắt khô nước, lau gáy, cổ, lật mặt sau khăn ngoáy 2 lỗ tai, vành tai cuối cùng dùng 2 góc khăn ngoáy mũi Chú ý luôn để da mặt tiếp xúc với khăn sạch; chiều hướng rửa từ trong ra ngoài và từ dưới lên trên
+ Vò khăn lần cuối, vắt kiệt nước, rũ thẳng và phơi lên giá
Sau mỗi lần rửa mặt nên thay nước khác, tránh không để trẻ rửa chung một chậu và lau chung một khăn rửa mặt”
Trang 14Hình 1 Các bước rửa mặt
1.3.2.2.Thói quen rửa tay
“ Trẻ cần nắm được:
- Tại sao phải rửa tay? (Nếu tay bẩn sờ vào quần áo sẽ làm bẩn và xấu quần
áo đẹp, đưa lên mắt có thể gây đau mắt, cho vào mồm có thể gây đau bụng Rửa tay sạch sẽ để mọi người yêu mến, tay thơm tho, sạch sẽ, không bị bệnh )
- Khi nào thì cần rửa tay? (Đi vệ sinh, sau khi chơi, trước và sau khi ăn, hoạt động, khi tay bẩn, )
- Cách rửa tay: Lấy nước từ vòi nước hoặc múc nước ở trong thùng, bể, xô, chậu, lấy nước nhẹ nhàng không làm bắn nước ra nhà
Các bước rửa tay bằng xà phòng:
Bước1: Làm ướt hai bàn tay bằng nước sạch Xoa xà phòng vào lòng bàn tay
Chà xát hai lòng bàn tay vào nhau
Bước 2: Dùng ngón tay và lòng bàn tay này cuốn và xoay lần lượt từng ngón
tay của bàn tay kia và ngược lại
Bước 3: Dùng lòng bàn tay này chà xát chéo lên tay, mu bàn tay kia và
ngược lại
Bước 4: Dùng ngón tay của bàn tay này miết vào kẽ giữa các ngón tay của
bàn tay kia và ngượclại
Bước 5: Chụm năm đầu ngón tay của tay này cọ vào lòng bàn tay kia bằng
cách xoay đi, xoay lại
Trang 15Bước 6: Xả nước cho tay sạch hết xà phòng dưới nguồn nước sạch và lau
khô.”
Hình 2 Các bước rửa tay đúng cách (của Bộ Y tế)
1.3.2.3 Thói quen đánh răng
Bước 1: Rửa sạch bàn chải, lấy kem đánh răng, lấy nước súc miệng (hướng
dẫn trẻ cách lấy kem từ típ vào bàn chải, lấy nước vào cốc)
Bước 2: Đặt bàn chải nghiêng 45 độ so với mặt răng, làm sạch mặt ngoài của
các răng hàm trên theo hướng từ trên xuống dưới, hàm dưới theo hướng từ dưới lên đặc biệt chú ý tới vùng tiếp xúc giữa răng và nướu
Bước 3: Chải mặt trong của các răng hàm trên, hàm dưới cùng với động tác
như vậy theo hướng xoay tròn hoặc lên xuống
Bước 4: Chải mặt nhai, đưa bàn chải đi lại vuông góc với mặt răng
Bước 5: Chải nhẹ nhàng lưỡi của trẻ
Bước 6: Súc miệng thật kỹ, rửa sạch bàn chải, vẩy ráo nước và cất vào nơi
quy định”
Trang 16Đối với các bạn nữ: “Khi buộc tóc thì tay phải cầm lƣợc, tay trái thu tóc vào lòng bàn tay, lần lƣợt chải đầu cho suôn và gọn tóc, khi nào thấy tóc đã gọn, bỏ lƣợc xuống lây dây buốc lồng vào sát chân bím tóc và buộc nhiều vòng đến khi thấy dây buộc tóc chặt lại Đối với tóc ngắn ngang vai thì nên cột 2 bên cho đẹp (buộc tóc bổng, buộc tóc thấp, buộc tóc chéo, cao hoặc thấp tùy sở thích và cột cho phù hợp)”
1.3.2.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ
Trang 17nhiều, lúc thời tiết lạnh hoặc nóng hơn, khi ra ngoài hoặc vào nhà, trước và sau khi ngủ, trước và sau khi tắm rửa
- Hướng dẫn trẻ phân biệt quần áo theo mùa, theo giới tính: quần áo bé trai,
bé gái Theo mùa: mùa hè, mùa đông thông qua tranh ảnh hoặc vật minh họa Dạy trẻ nhận biết mặt phải và mặt trái của quần áo
Dạy trẻ biết phân biệt quần áo khô và ẩm ướt, không mặc quần áo ướt
Hướng dẫn trẻ cách thay, mặc quần áo:
+ Áo chui đầu: cổ áo chui qua đầu trước rồi đến mặc hai tay và cài cúc (nếu có)
+ Áo cài cúc: mặc lần lượt từng ống tay và cài cúc, bẻ cổ áo, kéo áo phẳng phiu, ngay ngắn
+ Hướng dẫn trẻ mặc quần: ngồi ghế hoặc giường để giữ thăng bằng, lần lượt mặc từng ống quần sau đó cài móc hoặc nút hoặc kéo dây
+ Cởi quần áo theo thứ tự từ cởi bỏ cúc, tháo từng ống tay, ống chân” [5]
1.4 Phương pháp và hình thức giáo dục thói quen vệ sinh thân thể
“Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động giáo dục và dạy học ở trường mầm non Bằng hoạt động giáo dục phong phú như vui chơi,lao động,sinh hoạt hằng ngày,ăn ngủ, trẻ được rèn luyện kĩ xảo, thói quen và phát triển những xúc cảm tốt của trẻ đối với quá trình thực hiện Bằng hoạt động dạy học, thông qua các tiết học làm quen với môi trường xung quanh, văn học, trẻ sẽ lĩnh hội được các biểu tượng đúng về các quá trình vệ sinh, hiểu được ý nghĩa của nó ”
“Hai con đường thống nhất với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau nhưng nó có những ưu thế riêng đối với việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ mầm non có thể tiến hành thông qua các hình thức giáo dục sau [5]:”
1.4.1 Hoạt động học tập
“Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể không nên tiến hành trên một tiết học riêng biệt mà lồng ghép, liên hệ, tích hợp vào các tiết học ở các mức độ khác nhau Có thể sử dụng các phương pháp như: giảng giải, kể chuyện, trình bày trực quan, nêu gương, tổ chức trò chơi, xử lý các tình huống, khen thưởng, giao nhiệm vụ, ”
Trang 181.4.2 Hoạt động vui chơi
“Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo và nó có vai trò quan trọng đối với việc hình thành nhân cách trẻ nói chung, giáo dục thói quen vệ sinh nói riêng Tham gia vào trò chơi là quá trình trẻ tiếp nhận tri thức một cách tự nhiên, không bị ép buộc Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể được lồng ghép vào trong các trò chơi tuỳ thuộc vào chủ đề chơi và mức độ hình thành thói quen vệ sinh của trẻ để xác định nội dung giáo dục thói quen vệ sinh trong trò chơi của trẻ”
1.4.3 Tổ chức chế độ sinh hoạt hàngngày
“Tổ chức chế độ sinh hoạt chính là tổ chức cuộc sống của trẻ và bằng chính cuộc sống đó mà giáo dục trẻ em Nội dung giáo dục thói quen vệ sinh thân thể trong cuộc sống hàng ngày phụ thuộc vào nội dung hoạt động và sinh hoạt của trẻ Muốn xác định nội dung giáo dục cụ thể cần phân tích cuộc sống của trẻ thành hệ thống các hoạt động, các mối quan hệ Từ đó, phân tích thành việc làm, các cách cư xử và các thao tác, cử chỉ, cho trẻ định hướng vào “mẫu” cần giáo dục trẻ rồi tổ chức cho trẻ luyện tập, đưa nội dung giáo dục thành yêu cầu của nếp sống hàng ngày.”
1.4.4 Phối hợp với gia đình
“Việc giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ chỉ có thể đạt hiệu quả nếu có sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường.Trao đổi thường xuyên với gia đình nhằm nâng cao hiểu biết của phụ huynh, thống nhất yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục, tạo ra các điều kiện giáo dục cần thiết ở trường và ở gia đình”
1.5 Đặc điểm của trẻ 5 tuổi
“Lứa tuổi mẫu giáo là lứa tuổi đặc biệt kỳ diệu Trẻ rất tò mò, hiếu động, ham muốn học hỏi, tìm hiểu thế giới tự nhiên và xã hội Để có thể lớn lên đứa trẻ phải lĩnh hội kiến thức, phải sống, trong một môi trường bao gồm tất cả các yếu tố khoa học và tự nhiên xã hôi, tất cả những điều này đan quyện vào nhau tạo thành một khối thống nhất cho sự phát triển tâm sinh lí của trẻ Muốn giáo dục thói quen cho trẻ cần dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của bản thân trẻ để việc giáo dục giúp hoàn thiện bản thân trẻ đạt hiệu quả cao.”
- “ Đặc điểm tâm lí
+ Một trong những đặc điểm nổi bật của tâm lý trẻ lên 5 là sự tưởng tượng Bước vào độ tuổi này, quan điểm về điều thiện, ác rõ ràng, trẻ bắt đầu hình thành những khái niệm trên Bố mẹ có thể thấy rõ đặc tính này qua việc trẻ thể hiện biết
Trang 19bất bình với những nhân vật xấu trong truyện - như ghét phù thủy, thích hóa thân vào những nhân vật cổ tích có tính cách tốt sự yêu thích những câu chuyện có hậu, - như thích làm công chúa, Thêm vào đó, trẻ còn có khả năng tiếp thu nhiều chi tiết của các câu chuyện mà mình nghe được và bịa ra các câu chuyện để kể cho bạn bè nghe câu chuyện của riêng trẻ
+ Kế đến, sự tò mò của trẻ lên 5 cũng được kích thích phát triển Trẻ đặt câu hỏi liên tục về tất cả mọi thứ đang diễn ra xung quanh mình Cảm thấy vô cùng thú
vị với những thứ mới lạ và li kỳ, trẻ trầm trồ Trẻ kết nối với những thứ mới lạ này giúp cho trí tưởng tượng của mình thêm đa dạng và phong phú hơn từ những kiến thức có sẵn Và bố mẹ có tin không - chính những câu hỏi tưởng chừng như "linh tinh lang tang ấy", lại giúp bé gia tăng khả năng phát triển trí thông minh đấy
+Sự ý thức về bản thân mình được định hình khá rõ ràng trong giai đoạn phát triển tâm lý trẻ lên 5 Ý thức cái gì là sở hữu của mình, cái gì là của người khác, trẻ biết yêu bản thân mình Nghĩa là, trẻ chỉ chăm chăm vào lợi ích của bản thân, mà không cần biết những người xung quanh
+ Tình bạn là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển tâm lý trẻ lên 5 Chia sẻ những suy nghĩ và thể hiện lý lẽ của mình với bạn bè, trẻ thích nói chuyện Thêm vào đó, trẻ còn có thêm người nghe mình kể những câu chuyện của riêng mình Để có thể thành công trong gây dựng những mối quan hệ bạn bè ở trường
+ Trẻ biết nói câu dài, thích nghe hát, nghe nhạc, thích ca hát, biết bộc lộ cảm xúc trước vẻ đẹp của sự vật hiện tượng xung quanh
+ Trẻ có khả năng lao động tự phục vụ cho bản thân và mong muốn giúp đỡ cho người khác, vui chơi đoàn kết với bạn bè, hòa nhập với cộng đồng, biết thể hiện tình cảm với mọi người xung quanh[7]
- Đặc điểm sinh lí
Sự phát triển của cơ thể diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước về số lượng:
“chiều cao trung bình hằng năm tăng được từ 5cm – 8cm, cân nặng trung bình hằng năm tăng được từ 1kg – 1,5kg”
Có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng phát triển:
+ Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, sự hấp thụ thức ăn ngày càng tốt hơn, quá trình hình thành men tiêu hóa được tăng cường
Trang 20+ Hệ thần kinh ngày càng phát triển, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn
+ Hệ cơ xương hoàn thiện dần, cơ quan điều khiển vận động được tăng cường, các mô cơ ngày càng phát triển Do vậy, trẻ có thể tiến hành hoạt động đòi hỏi sự phối hợp hoạt động của tay, chân, thân (chạy, nhảy, vẽ, nặn, cắt dán )
+ Cơ quan phát âm cũng phát triển và hoàn thiện dần Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ ở giai đoạn này [5]
- Đặc điểm bệnh lí
Bệnh tật của trẻ ở giai đoạn này giảm đi rõ rệt, ít gặp hơn các bệnh về đường tiêu hóa Tuy nhiên, trẻ hay mắc các bệnh nhiểm khuẩn do tiếp xúc: các bệnh dị ứng, hen, thấp, viêm họng, viêm phế quản, mề đay, [5],[6].”
Trang 21Chương 2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÌNH THÀNH THÓI QUEN VỆ SINH
THÂN THỂ CỦA TRẺ 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
2.1 Mục đích đánh giá
“Xác định thực trạng về mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ
5 tuổi Từ đó, đề ra những biện pháp giáo dục phù hợp nhằm nâng cao mức độ hình thành các thói quen này ở trẻ.”
2.2 Đối tượng đánh giá
“Tôi tiến hành tại lớp 5 tuổi C, trường Mầm non Ngô Quyền, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Số lượng trẻ: 30 trẻ.”
2.3 Nội dung đánh giá
“Việc đánh giá được tiến hành theo 5 nội dung: Thói quen rửa mặt, thói quen rửa tay, thói quen đánh răng, thói quen chải tóc, thói quen mặc quần áo sạch sẽ.”
2.4 Phương pháp đánh giá
“Theo Bloom mục tiêu giáo dục con người thường được thực hiện trên các lĩnh vực: nhận thức, kĩ năng, thái độ Do vậy, việc đánh giá kết quả giáo dục cũng phải quan tâm đến cả ba lĩnh vực này Nghĩa là, nhà giáo dục phải biết được những thay đổi về mặt nhận thức ở đối tượng giáo dục, họ có khả năng làm được cái gì? Và thái độ nhìn nhận sự việc của họ ra sao? Khi đánh giá thói quen vệ sinh của trẻ cần phải tìm hiểu cả mức độ nhận thức và thực hiện của trẻ để có thể tìm ra những tác động giáo dục phù hợp với chúng Để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ, có giá trị và đủ độ tin cậy, cần lựa chọn các tiêu chí đánh giá Các tiêu chí được xây dựng phải bao quát được mọi khía cạnh của vấn đề cần được đánh giá, phải độc lập với nhau nhưng lại cho phép có thể kiểm tra nhiều tiêu chí cùng một lúc” [5]
Trang 22⃰ “ Các tiêu chí đánh giá việc thực hiện
hiểu ý nghĩa của hành động;
biết rõ các yêu cầu đối với hành động đó; hiểu cách thể hiện
Trẻ thực hiện đúng các yêu cầu của hành động; thể hiện thái độ đúng; thực hiện thành thạo; thực hiện một cách tự giác
Trẻ thực hiện đúng các yêu cầu của hành động; có thể hiện thái độ đúng; thực hiện tương đối thành thạo; tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc
Trẻ thực hiện đúng các yêu cầu của hành động; có
cố gắng thể hiện đúng thái
độ, thực hiện chưa thành thạo; tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có mặt của giáo viên
3
Trang 23Loại yếu
Trẻ có biết về hành động;
nêu ra các yêu cầu của hành động không phù hợp với cụ thể tình huống
Trong những tình huống quen thuộc, có cố gắng thực hiện một số yêu cầu đốivới hành động, khi được giáo viên nhắc nhở, nhưng thể hiện thái độ không đúng 2
Loại kém Trẻ không biết các hành động vệ sinh văn hóa Không động vệ sinh văn hóa thực hiện hành
1
“Để đánh giá thói quen văn hóa vệ sinh của trẻ, cần phối hợp sử dụng nhiều phương pháp thu thập thông tin phỏng vấn trao đổi với trẻ, quan sát hành vi của trẻ trong các hoạt động và sinh hoạt hàng ngày, tạo tình huống giáo dục.… Đồng thời, kết hợp trao đổi với giáo viên và phụ huynh để biết thêm thông tin về trẻ Kết quả thu được sẽ được xử lí bằng phương pháp toán thống kê.”
- “ Khảo sát sự nhận thức của trẻ: Người kiểm tra tạo tâm trạng thoải mái
cho trẻ dễ hòa vào công việc sắp thực hiện bằng những câu hỏi thăm trẻ, câu chào Giới thiệu công việc khi trẻ thoải mái, sẵn sàng: “Cô và cháu sẽ cùng trò chuyện với nhau: cô sẽ hỏi cháu, cháu nghe và trả lời cô nhé!” Người kiểm tra đặt ra các câu hỏi để xác định trẻ biết gì về các thói quen vệ sinh thân thể.”
- “ Khảo sát việc thực hiện: Tiến hành bằng các sinh hoạt hằng ngày của trẻ
và quan sát hoạt động của trẻ tại trường mầm non Mỗi loại thói quen cần tạo điều kiện cho trẻ được thực hiện ít nhất 3 lần Nếu không có cơ hội quan sát đủ số lần, người kiểm tra tạo tình huống cho trẻ tự giải quyết Ngoài ra, kết quả khảo sát còn được xem xét thêm thông qua trao đổi với giáo viên và phụ huynh [5].”
2.5 Kết quả
“Qua khảo sát thực trạng về thói quen rửa mặt ở trẻ 5 tuổi C, Trường Mầm non Ngô Quyền, tôi đã thu được kết quả ở bảng 2.1.”
Trang 24Bảng 2.1 Mức độ hình thành thói quen rửa mặt của trẻ
- “ Nhận thức: Ở giai đoạn này nhận thức của trẻ đã được hình thành từ
trước đó khá tốt, việc nhận thức về thói quen rửa mặt Trẻ biết khi nào cần phải rửa mặt (trước và sau khi ra ngoài, sau khi ngủ dậy, khi mặt bẩn,) Tuy nhiên, qua bảng 2.1 ta thấy mức độ nhận thức về thói quen rửa mặt của trẻ chưa cao chỉ chiếm 36,67% đó là những trẻ biết cách thực hiện việc rửa mặt, hiểu ý nghĩa của hành động rửa mặt, Khả năng nhận thức việc rửa mặt của trẻ ở mức khá chiếm tỉ lệ cao hẳn, trẻ có biết về việc rửa mặt, chiếm 50% tổng số, biết các yêu cầu đối với công việc rửa mặt đó, hiểu cách thể hiện việc rửa mặt trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi được giáo viên gợi ý Khả nặng nhận thức của trẻ ở mức trung bình chiếm
tỉ lệ 6,67% trẻ biết về hành động rửa mặt, chưa hiểu ý nghĩa của hành động rửa mặt ,biết các yêu cầu đối với hành động rửa mặt và hiểu cách thể hiện hành động về rửa mặt trong một số tình huống quen thuộc 3,3% là tỉ lệ % của trẻ ở mức độ yếu trẻ biết về hành động rửa mặt nhưng nêu ra các yêu cầu của hành động rửa mặt không phù hợp với tình huống cụ thể con số này cho ta thấy tỉ lệ yếu của trẻ khá cao 3,3%
là tỉ lệ trẻ nhận thức ở mức độ kém trẻ không biết đến việc rửa mặt Từ bảng trên cho ta thấy khả năng nhận thức về thói quen rửa mặt của trẻ còn thấp.”
- “Thực hiện: Ở giai đoạn này trẻ đã biết tự phục vụ bản thân, làm những
công việc như người lớn khả năng thực hiện của hành động chưa được tốt nên trẻ chỉ dừng lại ở khả năng nhận thức hành động Nhiều trẻ nhận thức tốt nhưng khả năng thực hiện của trẻ lại kém vì thế khả năng nhận thức việc rửa mặt ở mức độ tốt chỉ chiếm 13,3% là những trẻ thực hiện hành động rửa mặt một cách tự giác, thực hiện đúng các yêu cầu của hành động rửa mặt, thể hiện thái độ đúng, thực hiện thành thạo 36,67% trẻ đạt ở mức độ khá tự giác thực hiện trong một tình huống quen thuộc, thực hiện tương đối thành thạo, có thể hiện thái độ đúng 33,3% là tỉ lệ trẻ ở mức độ trung bình, thực hiện chưa thành thạo, tự giác thực hiện hành động rửa mặt trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có mặt của giáo viên 6,67% tỉ lệ
Trang 25trẻ ở mức độ yếu có cố gắng thực hiện yêu cầu với hành động rửa mặt 10% là khả năng thực hiện thói quen rửa mặt ở trẻ có là tỉ lệ trẻ ở mức độ kém con số này chiếm tỉ lệ khá cao.”
2.5.2 Thói quen rửa tay
“Qua quá trình nghiên cứu thói quen rửa tay của trẻ ở lớp 5 tuổi C, tôi thu được kết quả như bảng 2.2”
Bảng 2.2 Mức độ hình thành thói quen rửa tay ở trẻ Mức độ
- “ Nhận thức: Trẻ ở độ tuổi này nhận thức về thói quen rửa tay chưa cao
phần lớn là giáo viên nhắc nhở trẻ rửa tay, do gia đình, trẻ đạt loại tốt chỉ chiếm 16,67% là biết rõ các yêu cầu đối với hành động rửa tay đó, hiểu cách thực hiện, hiểu ý nghĩa của hành động rửa tay Trẻ đạt loại khá chiếm tỉ lệ 70% chiếm con số cao trong tổng số, có thể hiểu được ý nghĩa hành động rửa tay khi được giáo viên gợi ý ,trẻ hiểu cách thể hiện hành động rửa tay trong một số trường hợp quen thuộc 6,67% là tỉ lệ trẻ ở mức độ trung bình là chưa hiểu ý nghĩa của hành động rửa tay, hiểu cách thể hiện hành động rửa tay trong một số trường hợp quen thuộc Không
có trẻ nào ở loại yếu, đưa ra các hành động rửa tay không phù hợp với tình huống
cụ thể 6,67% trẻ không biết đến việc rửa tay ở mức độ kém.”
- “ Thực hiện: Trẻ ở độ tuổi này khả năng thực hiện các thói quen còn chậm
6,67% trẻ đạt loại tốt là thực hiện hành động rửa tay một cách tự giác, thực hiện thành thạo việc rửa tay; thể hiện thái độ đúng 30% là tỉ lệ mức độ của trẻ ở loại khá biết tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc như: sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn, có thể hiện thái độ đúng, thực hiện rửa tay tương đối thành thạo; 36,67% là tỉ lệ trẻ ở mức độ trung bình trẻ có cố gắng thực hiện thái độ đúng nhưng thực hiện việc rửa tay chưa thành thạo; tự giác thực hiện trong một số trường hợp quen thuộc hoặc khi có mặt của giáo viên 20% trẻ ở mức độ yếu, cố gắng thực hiện
Trang 26một số yêu cầu nhưng thể hiện thái độ không đúng; 6,67% là không thực hiện rửa tay là tỉ lệ trẻ ở loại kém.”
2.5.3 Thói quen đánh răng
Qua quá trình nghiên cứu về thói quen đánh răng của trẻ 5 tuổi C, tôi thu được kết quả như bảng 2.3
Bảng 2.3 Mức độ hình thành thói quen đánh răng ở trẻ
- “ Nhận thức: Thói quen đánh răng của trẻ đã được hình thành ở những lứa
tuổi trước, ở giai đoạn này trẻ ở giai đoạn này thực hiện tốt hơn những lứa tuổi trước đó, loại tốt đạt 26,67% là trẻ biết rõ yêu cầu đối với hành động đánh răng, , hiểu ý nghĩa, hiểu cách thể hiện Trẻ đạt loại khá chiếm 20% hiểu cách thể hiện hành động đánh răng trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi giáo viên gợi ý Loại trung bình chiếm tỉ lệ 43,3% trẻ ở mức độ trung bình chiểm tỉ lệ cao biết các yêu cầu đối với hành động đánh răng trong một số tình huống quen thuộc nhưng chưa hiểu ý nghĩa của hành động đánh răng Số trẻ đạt yếu chiếm 10% nêu ra các hành động không phù hợp với tình huống cụ thể Không có trẻ nào ở mức độ kém.”
- “Thực hiện: Trẻ đạt loại tốt chiếm 26,67% trẻ thực hiện hành động đánh
răng một cách vui vẻ, tự giác; thực hiện các bước thành thạo Tỉ lệ đạt loại khá chiếm 23,3% trẻ biết tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc, thực hiện tương đối thành thạo, có thể hiện thái độ đúng Phần lớn trẻ đạt loại trung bình chiếm tới 40% trẻ tự giác thực hiện trong khi có giáo viên gợi ý, một số tình huống quen thuộc Số trẻ đạt loại yếu chiếm 6,67% nhưng thể hiện thái độ không đúng có
cố gắng thực hiện một số yêu cầu với hành động; 3,3% là tỉ lệ trẻ ở loại kém là những trẻ không thực hiện việc đánh răng hàng ngày.”
2.5.4 Thói quen chải tóc
Trang 27Qua quá trình nghiên cứu thói quen chải tóc của trẻ 5 tuổi C, tôi thu được kết quả như bảng 2.4
Bảng 2.4 Mức độ hình thành thói quen chải tóc ở trẻ Mức độ
- “ Nhận thức: Ở lứa tuổi lên 5 trẻ đã biết tự phục vụ bản thân qua những
hành động nhỏ quen thuộc Trẻ đạt loại tốt chiếm 16,67% là hiểu được ý nghĩa của hành động chải tóc đó biết rõ các yêu cầu đối với hành động chải tóc hiểu cách thể hiện Trẻ đạt loại khá chiếm tỉ lệ cao 60% có thể hiểu được ý nghĩa của hành động chải tóc khi được giáo viên gợi ý, hiểu cách thể hiện hành động chải tóc trong một
số tình huống quen thuộc; 13,3% chưa hiểu ý nghĩa của hành động chải tóc là số trẻ đạt mức độ trung bình là hiểu cách thể hiện hành động chải tóc trong một số tình huống quen thuộc; 3,3% trẻ ở mức độ yếu, đưa ra các hành động chải tóc không phù hợp với tình huống cụ thể 6,67% trẻ không biết đến việc chải tóc trẻ ở mức độ kém.”
- “ Thực hiện: Trẻ thực hiện các thói quen còn chậm, 10% thể hiện thái độ
đúng, thực hiện thành thạo; trẻ thực hiện ở mức độ tốt là thực hiện hành động chải tóc một cách tự giác 30% có thể hiện thái độ đúng, trẻ ở mức độ khá biết tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc, thực hiện tương đối thành thạo; 33,3% trẻ ở mức độ trung bình, trẻ tự giác thực hiện trong khi có mặt của giáo viên
và một số tình huống quen thuộc, trẻ ở mức độ trung bình chiếm tỉ lệ cao, cố gắng thực hiện thái độ đúng nhưng thực hiện chưa thành thạo; 20% trẻ mức độ yếu, cố gắng thực hiện một số yêu cầu nhưng thể hiện thái độ không đúng; 6,67% trẻ ở mức độ kém không thực hiện việc chải tóc hàng ngày.”
2.5.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ
Qua quá trình nghiên cứu thói quen mặc quần áo sạch sẽ của trẻ 5 tuổi C, tôi thu được kết quả dưới bảng 2.5
Trang 28Bảng 2.5 Mức độ hình thành thói quen mặc quần áo sạch sẽ ở trẻ
Mức độ Tiêu chí
- “ Nhận thức: Nhìn vào bảng kết quả ta thấy được mức độ nhận thức của trẻ
đang rất tốt, tỉ lệ trẻ ở mức độ tốt chiếm đến 23,3% hiểu cách giữ gìn quần áo sạch
sẽ, trẻ biết rõ các yêu cầu đối với việc mặc quần áo sạch sẽ, hiểu ý nghĩa của mặc quần áo sạch sẽ và giữ cho quần áo sạch sẽ Trẻ đạt loại khá chiếm tỉ lệ 50% trẻ có biết về mặc quần áo sạch sẽ chiếm tỉ lệ cao, biết các yêu cầu đối với việc mặc quần
áo sạch sẽ, hiểu cách giữcho quần áo sạch sẽ trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi được giáo viên gợi ý Khả năng nhận thức của trẻ ở mức độ trung bình chiếm 6,67% trẻ biết về việc mặc quần áo sạch sẽ và hiểu cách giữ gìn quần áo sạch
sẽ trong một số tình huống quen thuộc, chưa hiểu được ý nghĩa của việc mặc quần
áo sạch sẽ, biết các yêu cầu đối với mặc quần áo sạch sẽ 13,3% trẻ ở mức độ yếu đưa ra các hành động mặc quần áo sạch sẽ không phù hợp với tình huống cụ thể 6,67% trẻ ở mức độ kém không biết đến việc giữ gìn quần áo sạch sẽ.”
- “ Thực hiện: Trẻ nhận thức tốt được việc mặc quần áo sạch sẽ nhưng trẻ
thực hiện đạt loại tốt chỉ chiếm tỉ lệ 13,3% là thực hiện việc mặc quần áo sạch sẽ một cách tự giác những trẻ thực hiện đúng các yêu cầu của việc giữ quần áo sạch sẽ, thể hiện thái độ đúng, thực hiện thành thạo Trẻ thực hiện ở mức độ khá chiếm tỉ lệ cao 46,7% có thể hiện thái độ đúng, thực hiện tương đối thành thạo, trẻ tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc 23,3% thực hiện chưa thành thạo trẻ ở mức độ trung bình, tự giác thực hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có sự gợi ý của giáo viên 10% trẻ đạt mức độ yếu trẻ có cố gắng thực hiện yêu cầu với hành động mặc quần áo sạch sẽ nhưng thể hiện thái độ không đúng 6,67% không biết giữ gìn quần áo sạch sẽ và biết cách mặc quần áo trẻ ở mức độ kém.”