Giả thuyết khoa học Nếu các hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi được thiết kế và tổ chức dựa theo bản chất và đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề, phù hợp với đặc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
MAI NHƯ QUỲNH
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học
ThS VŨ KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu và dữ liệu trong khóa luận là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ khóa luận nào
Tác giả
Mai Nhƣ Quỳnh
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Vũ Kiều Anh, người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi
và định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của CBQL, GVMN, các cháu lớp mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non Xuân Hòa (Phúc yên – Vĩnh Phúc)
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong Gia đình của tôi đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa luận
Tác giả khóa luận
Mai Nhƣ Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của khóa luận 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 – 6 TUÔI QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 4
1.1 Cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng sống 4
1.1.1 Kĩ năng sống 4
1.1.2 Giáo dục kĩ năng sống 6
1.2 Cơ sở lí luận về trò chơi đóng vai theo chủ đề 8
1.2.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề 8
1.2.2 Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề 9
1.2.3 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề 10
1.2.4 Giáo dục kĩ năng sống qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 11
1.3 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 13
1.3.1 Đặc điểm sinh h c 13
1.3.2 Đặc điểm t m 13
1.3.3 Đặc điểm xã hội 14
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 15
Trang 62.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trò
chơi đóng vai theo chủ đề 17
2.2.1 Tổ chức khảo sát 17
2.2.2 Kết quả khảo sát 19
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 40
3.1 Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 40
3.1.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 40
3.1.2 Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 41
3.2 Thực nghiệm sư phạm 48
3.2.1 Tổ chức thực nghiệm 48
3.2.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 49
3.2.3 Đánh giá kết quả 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 66
Trang 7KN1: Kĩ năng giao tiếp
KN2: Kĩ năng thương lượng thuyết phục
KN3: Kĩ năng tư duy phê phán
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm GVMN được khảo sát 17
Bảng 2.2 Nhận thức của GV về KNS 19
Bảng 2.3 Nhận thức của GV về việc cần thiết GD KNS cho trẻ 20
Bảng 2.4 Nhận thức của GV về vai trò của TCĐVTCĐ 21
trong GD KNS cho trẻ mầm non 21
Bảng 2.5 Nhận thức của GV về nội dung giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo… 22
Bảng 2.6 Hình thức GD KNS cho trẻ mẫu giáo 23
Bảng 2.7 Mức độ lồng ghép nội dung GDKNS trong các hoạt động khác 24
Bảng 2.8: Nội dung GDKNS qua TCĐVTCĐ 24
Bảng 2.9 Thực trạng thiết kế TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ 25
Bảng 2.10 Thực trạng tổ chức TCĐVTCĐ để GD KNS 27
Bảng 2.11 Các yếu tố ảnh hưởng 30
Bảng 2.12 Mức độ biểu hiện KNS của trẻ MG 5-6 tuổi 35
Bảng 3.1 Mức độ biểu hiện KNS của trước thực nghiệm 49
Bảng 3.2 Biểu hiện các KNS của nhóm TN và ĐC trước TN 51
Bảng 3.3 Kết quả giáo dục KNS nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm 53
Bảng 3.5 Biểu hiện 3 KNS của nhóm TN trước và sau thực nghiệm 55
Bảng 3.6 Biểu hiện từng KNS của nhóm TN trước và sau thực nghiệm 56
Bảng 3.8 Biểu hiện 3 KNS của nhóm ĐC trước và sau thực nghiệm 60
Bảng 3.9 Biểu hiện từng KNS của nhóm ĐC trước và sau thực nghiệm 61
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Kết quả biểu hiện KNS ở nhóm TN và ĐC trước TN 50
Biểu đồ 3.2 Biểu hiện từng KNS của trẻ nhóm TN và ĐC trước TN 51
Biểu đồ 3.3 Kết quả giáo dục KNS nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm 54
Biểu đồ 3.4 Biểu hiện các KNS nhóm TN trước và sau thực nghiệm 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xã hội hiện nay luôn biến động, đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, nhiều vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh Bên cạnh những tác động tích cực, còn có những tác động tiêu cực, gây nguy hại cho con người, đặc biệt
là trẻ em Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của dân tộc Việc bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của nhà nước, của xã hội và của mỗi gia đình “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, việc giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ sau này
Nếu mỗi người, trong đó có trẻ em không có năng lực để ứng phó, để vượt qua những thách thức thì rất dễ gặp trở ngại, rủi ro trong cuộc sống Do đó, việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em đang trở thành nhiệm vụ quan trọng giúp mỗi người có thể sống tích cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa
Những năm gần đây, mục tiêu giáo dục trẻ mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo rất chú trọng tới việc lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tính tích cực của trẻ Tuy nhiên, giáo dục kĩ năng sống cho trẻ như thế nào lại là một vấn đề cần đặt ra nhiều câu hỏi Chương trình giáo dục mầm non của nước ta luôn trong tình trạng đổi mới, tuy nhiên nội dung GD KNS trong CT GDMN còn mang tính dàn trải, chưa xác định một cách hệ thống và chính xác những KNS cơ bản cần giáo dục cho trẻ
Với trẻ mầm non, trò chơi đóng vai theo chủ đề (TCĐVTCĐ) giữ vai trò không nhỏ trong sự phát triển nhân cách nói chung, giáo dục kĩ năng sống của trẻ em nói riêng Qua trò chơi, trẻ tiếp thu được những kinh nghiệm đáng giá, những hiểu biết về thế giới xung quanh nói chung và các quan hệ xã hội của người lớn nói riêng Đặc biệt thông qua trò chơi, trẻ được lĩnh hội và rèn luyện những kĩ năng sống một cách tự nhiên và đầy hứng thú, nhờ vậy hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn các hình thức khác Song trong thực tiễn, ở trường mầm non hiện nay, GD KNS cho trẻ mẫu giáo qua các loại trò chơi, đặc biệt là trò chơi đóng
Trang 11vai theo chủ đề còn chưa được quan tâm đúng mức Vì thế việc GD KNS cho trẻ còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến chất lượng GD KNS cho trẻ mẫu giáo
Chính vì những lí do trên mà tôi đã chọn nghiên cứu đề tài:“Giáo dục kĩ
năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mẫu giáo
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quan hệ giữa trò chơi đóng vai theo chủ đề với việc giáo dục kĩ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi
4 Giả thuyết khoa học
Nếu các hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi được thiết kế
và tổ chức dựa theo bản chất và đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề, phù hợp với đặc điểm vận động, đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo thì có thể nâng cao được kết quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
5.2 Nghiên cứu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non tỉnh Vĩnh Phúc
5.3 Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng
sự đúng đắn của những biện pháp đã đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Giới hạn về nội dung: đề tài tập trung vào việc giáo dục nhóm kĩ năng giải quyết vấn đề (kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thương lượng, thuyết phục, kĩ năng tư duy phê phán) cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: điều tra thực trạng được tiến hành đối với giáo viên mầm non và trẻ thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại trường mầm non Xuân Hòa thuộc thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp quan sát
7.2 Phương pháp đàm thoại
7.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
7.4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
7.5 Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.6 Phương pháp thực nghiệm
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị; Tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Chuơng 3: Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO TRẺ 5 – 6 TUÔI QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 1.1 Cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng sống
1.1.1 Kĩ năng sống
Kĩ năng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Quan niệm về kĩ năng của Đặng Thành Hưng [9, tr 155] được lựa chọn sử dụng trong khóa luận, như sau: “Kĩ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức
về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học- tâm lí khác của
cá nhân (chủ thể có kĩ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân… để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay qui định” “Kĩ năng là hành động có thật chứ không phải là khả năng thực hiện hành động và kĩ năng cũng chưa phải là năng lực vì năng lực có cơ cấu phức tạp và giá trị to lớn hơn rất nhiều so với
kĩ năng”
“Tổ chức Y tế thế giới (WHO) từ góc độ sức khỏe, “xem xét kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh Rộng hơn, kĩ năng sống là những năng lực mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp để tương tác hiệu quả với người khác và giải quyết
có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày”[6, tr7]
“Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cho rằng: “kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày, đồng thời coi kĩ năng
sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục đó là: Học để biết (Learning to know);
Học để tự khẳng định mình (Learning to be); Học để chung sống với người khác (Learning to live together); Học để làm (Learning to do)” [6, tr7]
Trang 14“Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), kĩ năng sống là cách
tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý
đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng” [6, tr7]
Những quan điểm về kĩ năng sống như đã trình bày ở trên rất đa dạng, tuy nhiên vẫn chưa lột tả được một cách đầy đủ về bản chất của kĩ năng sống Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến “kĩ năng của cá nhân “có thể duy trì trạng thái tinh thần và có khả năng thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình”, “quan niệm này mang tính khái quát nhưng chưa thể hiện các kĩ năng cụ thể Quan niệm của UNESCO khá chi tiết,
cụ thể vì đã nhấn mạnh thêm kĩ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ Quan niệm của UNICEF nhấn mạnh rằng kĩ năng không hình thành một cách độc lập mà hình thành tồn tại trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ”
Ngoài ra còn có những quan niệm về “kĩ năng sống là nhấn mạnh năng lực điều chỉnh hành vi của con người và thay đổi để có những hành vi tích cực, nhờ đó người ấy có khả năng điều chỉnh và quản lí hiệu quả những nhu cầu của mình”
Kĩ năng sống là kĩ năng bậc cao, là kĩ năng của những kĩ năng khác
Trong khóa luận, sử dụng quan niệm kĩ năng sống của Đặng Thành Hưng: “kĩ
năng sống là những kĩ năng giúp cá nhân thích ứng tốt với hoàn cảnh sống và giải quyết ổn thỏa những vấn đề của cuộc sống nhờ cá nhân sử dụng phù hợp tri thức, những kĩ năng khác và kinh nghiệm của mình và chúng cho phép cá nhân có thể sống hạnh phúc, hiệu quả và thành công” [9, tr122]
Có nghĩa, kĩ năng sống là loại kĩ năng bậc 2, bậc 3, bậc N so với những
kĩ năng khác Nó phản ánh hiệu quả thực tế của những kĩ năng khác trong đời sống hiện thực
Mỗi đứa trẻ trong xã hội là một cá thể với những đặc điểm khí chất, tri thức, kinh nghiệm riêng nên việc sử dụng KNS rất khác nhau và kết quả đem
Trang 15lại cũng rất khác nhau Những trẻ có KNS nói chung, luôn thuận lợi, thành công hơn trong sinh hoạt và cuộc sống Với mỗi hoàn cảnh, môi trường sống mới, trẻ có KNS đều có thể thích nghi được một cách nhanh nhất và trẻ có khả năng giải quyết một cách tốt nhất những vấn đề mà mình gặp phải
Theo khái niệm này, có 2 nhóm kĩ năng sống nền tảng là: [9, tr 156]
“nhóm kĩ năng thích ứng với hoàn cảnh sống và nhóm kĩ năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Các nhóm trên bao gồm các kĩ năng thành phần như:
kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thương lượng thuyết phục, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng hợp tác, kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng phòng ngừa tai nạn thương tích”
“Một kĩ năng cụ thể có thể vừa thuộc nhóm kĩ năng thích ứng với hoàn cảnh sống vừa thuộc nhóm kĩ năng giải quyết vấn đề, điều đó phụ thuộc vào mục đích sử dụng kĩ năng sống của mỗi cá nhân trong những hoàn cảnh thích hợp”
1.1.2 Giáo dục kĩ năng sống
- Khái niệm giáo dục kỹ năng sống
Theo Nguyễn Thanh Bình, “Giáo dục kĩ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp”[5, tr34]
Từ những quan điểm trên, chúng tôi đưa ra quan điểm của mình về giáo
dục kỹ năng sống như sau: “Giáo dục kĩ năng sống là nhiệm vụ giáo dục
chuyên biệt nhằm tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm giúp người học ứng phó có hiệu quả với những thách thức của cuộc sống hàng ngày”
Trang 16- Nội dung giáo dục KNS [9, tr 189]: giáo dục cho người học nhóm kĩ
năng thích ứng với hoàn cảnh sống và nhóm kĩ năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
Nhóm kĩ năng phù hợp với hoàn cảnh sống:
Là nhóm kĩ năng sống mà chủ thể phải” vận dụng những tri thức, kinh nghiệm của một hoặc một vài kĩ năng nào đó để thích ứng với hoàn cảnh sống Bao gồm các kĩ năng”
- Kĩ năng nhận thức:” nhận thức về bản thân, nhận thức về những thay đổi ở trong môi trường sống, trong các mối quan hệ xã hội, qua đó chủ động thiết lập, tạo ra nhiều mối quan hệ mới.”
- Kĩ năng giao tiếp ứng xử: “biết chào hỏi mọi người, biết lắng nghe một cách tích cực, biết xưng hô và có hành vi ứng xử đúng với thứ bậc của mình, phù hợp với chuẩn mực xã hội”
- Kĩ năng hợp tác: “biết phối hợp, chia sẻ, giúp đỡ người khác trong các hoạt động”
- Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ: biết tìm kiếm các sự trợ giúp trong mọi hoàn cảnh…
Ví dụ, kĩ năng giao tiếp giữ vai trò kĩ năng sống khi sử dụng tri thức, kĩ năng và kinh nghiệm giao tiếp để thích ứng với hoàn cảnh sống
Nhóm kĩ năng giải quyết vấn đề của cuộc sống
Là nhóm kĩ năng sống mà chủ thể phải vận dụng những tri thức, kinh nghiệm của một hoặc vài kĩ năng nào đó để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh sống Bao gồm các kĩ năng sau:
- Kĩ năng tự nhận thức: nêu được vấn đề cần giải quyết có tính cụ thể, phân tích khả năng của bản thân, những điểm mạnh và điểm yếu, đưa ra/nêu ra/đưa ra/nghĩ ra được một vài giải pháp/cách thức đơn giản để giải quyết vấn
đề
Trang 17- Kĩ năng giao tiếp: chăm chú lắng nghe người khác trình bày vấn đề, chia sẻ trao đổi để cùng tìm cách thức giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ không lời phong phú Thể hiện cảm xúc của bản thân một cách phù hợp
- Kĩ năng thương lượng, thuyết phục: biết được mong muốn của bản thân, mong muốn của người khác, đưa ra được những lí lẽ thuyết phục người khác chấp nhận ý kiến của mình Trong quá trình thương lượng, thuyết phục kiểm soát được cảm xúc của mình và sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ phù hợp
- Kĩ năng tư duy phê phán: nhận thức được tính đúng, sai của vấn đề Đưa ra các phương án giải quyết vấn đề và lựa chọn được phương án tối ưu nhất
Phương pháp giáo dục kĩ năng sống [4, tr96]: phương pháp đóng vai,
phương pháp trò chơi, phương pháp 6 chiếc mũ tư duy, phương pháp động não, phương pháp tranh luận
1.2 Cơ sở lí luận về trò chơi đóng vai theo chủ đề
1.2.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề
Theo Nguyễn Ánh Tuyết, trong phạm trù hoạt động thì chơi được coi là
“một hoạt động mà động cơ nằm trong quá trình chứ không nằm trong kết quả của hoạt động, trong trò chơi, các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và với xã hội được mô phỏng lại Chơi mang lại cho trẻ em trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn chấn dễ chịu”.[12, tr168]
Theo Đặng Thành Hưng [9,tr69]: “chơi là kiểu hành vi hoặc hoạt động
tự nhiên, tự nguyện, có động cơ thúc đẩy là những yếu tố bên trong quá trình chơi và chủ thể không nhất thiết theo đuổi những mục tiêu và lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó Bản thân quá trình chơi có sức cuốn hút tự thân và các yếu tố tâm lý của con người trong khi chơi nói chung mang tính chất vui đùa, ngẫu hứng, tự do, cởi mở, thư giãn, có khuynh hướng thể nghiệm những tâm trạng hoặc tạo ra sự khuây khỏa cho mình Như vậy, trò
Trang 18chơi chính là sự chơi có luật Những hành vi chơi tuỳ tiện, bất giác không gọi
là trò chơi” [9, tr299]
TCĐVTCĐ là một hình thức “tái tạo lại những hành vi và các quan hệ trong xã hội con người, xuất hiện từ lứa tuổi mẫu giáo Ở độ tuổi này trẻ thích gia nhập vào những mối quan hệ giống như người lớn nhưng khả năng của trẻ còn non yếu, không thể làm nổi những việc đó Để giải quyết vấn đề này, chúng phải tìm đến một hoạt động gần giống với hoạt động của người lớn trong xã hội, đó là TCĐVTCĐ TCĐVTCĐ là hình thức mô hình hóa thế giới người lớn được trẻ dựng nên và hoạt động bên trong mô hình đó”
1.2.2 Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề
TCĐVTCĐ là trò chơi đặc trưng, tiêu biểu cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo, có những đặc điểm sau đây:[12, tr183]
- Hành động chơi của người chơi xoay quanh một chủ đề nhất định,
“trong khi chơi trẻ phản ánh cuộc sống của người lớn xung quanh rất đa dạng với những mảng hiện thực hết sức phong phú của xã hội Đó là những gì được phản ánh vào trò chơi dựa trên trẻ em như: sinh hoạt, gia đình, trường học…Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng nhiều thì chủ đề chơi càng phong phú”
- TCĐVTCĐ “bao giờ cũng có vai và hành động chơi chủ yếu nhất được thể hiện trong trò chơi này là đóng vai, tức là ướm mình vào vị trí của
một người lớn nào đó rồi bắt chước hành động của họ để thực hiện các chức năng xã hội Vai chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi này và đóng vai
là con đường dễ nhất giúp trẻ thâm nhập vào cuộc sống của người lớn”
- TCĐVTCĐ là trò chơi theo nhóm, các thành viên trong nhóm cùng
hoạt động với nhau, cùng chơi với nhau Vì đây “là trò chơi mô phỏng cuộc
sống xung quanh của người lớn mà hoạt động của họ trong xã hội lại không thể mang tính chất đơn độc, riêng lẻ Trong xã hội, hoạt động của mỗi người bao giờ cũng liên quan đến người khác”, bao giờ cũng có tính tương tác
Trang 19TCĐVTCĐ là nơi trẻ có thể nhập vào các mối quan hệ xã hội “Thực chất của
TCĐVTCĐ là mô hình hóa những mối quan hệ xã hội mà trẻ chịu sự chi phối
Đó là những mối quan hệ giữa người lớn với nhau được trẻ quan tâm và trở thành đối tượng hành động của chúng Trong TCĐVTCĐ, các mối quan hệ xã hội được bộc lộ rất rõ rệt Sức sống của trò chơi đóng vai theo chủ đề là ở chỗ
nó tạo ra mối quan hệ giữa các vai chơi chứ không phải là hành động với các
đồ vật” Mỗi TCĐVTCĐ đều có 2 mặt: mặt thứ nhất là động cơ có tính chất
xã hội, mặt thứ hai là kĩ thuật “Điêu đặc biệt trong trò chơi này là ý ghĩa xã
hội đều được thể hiện theo các ngyên tắc đã đặt ra Trong lúc chơi, trẻ phải tự nguyện chấp nhận những nguyên tắc trong xã, trong những quan hệ giữa người lớn với nhau, giữa trẻ em với người lớn Dần dần trẻ chuyển những quan hệ xã hội khách quan vào trong nhân cách của mình tạo ra sự trải nghiệm, tạo ra đời sống nội tâm”
- TCĐVTCĐ “mang tính biểu trưng cao, đó là chức năng kí hiệu -
tượng trưng của trò chơi này (Vugotski, Piaget) Trong khi chơi, đứa trẻ tự
nhận cho mình một vai nào đó và hành động theo vai với những” “vật thay thế” và tất cả những gì diễn ra trong trò chơi đều chỉ là giả vờ, đều mang ý nghĩa tượng trưng nhưng lại rất thực đối với trẻ Có ba chức năng kí hiệu
được trẻ sử dụng khi tham gia TCĐVTCĐ đó là: kí hiệu về vai chơi - Kí hiệu
về hành động theo vai - Kí hiệu về đồ chơi
1.2.3 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề
“TCĐVTCĐ giữ vị trí trung tâm trong hoạt động chơi của trẻ mẫu giáo,
vì trò chơi này mang đầy đủ những đặc điểm của sự chơi (tính tự nguyện, tự chủ, tính hợp tác, tính tượng trưng…) mà trò chơi nào cũng cần và vì nó mô phỏng lại một mảng nào đó sinh hoạt của người lớn TCĐVTCĐ sẽ giúp trẻ”:
- Phát triển tình cảm: tình cảm “được nảy sinh từ mối quan hệ giữa người với người Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải tham gia vào
Trang 20đan xen với nhau, cùng tồn tại trong trò chơi, và cùng tác động đến nhận thức
và tình cảm của trẻ”
- Phát triển ý chí:” tính mục đích, tính tự chủ, tính kiên trì là các phẩm chất của ý chí được hình thành và phát triển mạnh trong khi chơi Vậy đây là hoạt động chủ đạo quyết định sự hình thành và phát triển tâm lí của trẻ mẫu giáo”
Trong quá trình chơi đã giúp trẻ khẳng định “cái tôi” của mình Trẻ xác định rõ ràng vai trò, vị trí của mình trong “xã hội trẻ em”, trong trò chơi Trẻ phân biệt mình với bạn khác và biết nhận xét, đánh giá bạn và đánh giá ngay
1.2.4.2 Mục tiêu và nguyên tắc Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trang 21năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng thuyết phục thương lượng, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng lắng nghe tích cực”
- Trẻ vận dụng kĩ năng đã có để tham gia vào trò chơi, để chơi cùng với bạn và giải quyết được những vấn đề xảy ra trong quá trình chơi; biết lựa chọn, học và thực hành các kĩ năng sống một cách văn hóa, phù hợp qui tắc
để xử lí những khó khăn nảy sinh trong trong khi chơi cũng như trong cuộc sống hàng ngày
- Giúp trẻ tích cực chủ động trong mọi hoạt động Thể hiện thái độ thân thiện, hợp tác trong khi chơi cũng như trong các hoạt động khác Có thái độ bình tĩnh ứng phó trước những thách thức trong mọi hoàn cảnh
1.2.4.3 Nguyên tắc Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
- “Phù hợp với đặc điểm tâm lí - xã hội của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: trong giáo dục KNS cho trẻ, không nên áp đặt hay đưa ra những khuôn mẫu hành
vi, ngôn ngữ của người lớn vào trẻ Nhà giáo dục chỉ nên trang bị cho trẻ các điều kiện cần thiết (các kĩ năng nhận thức, các kĩ năng giao tiếp, những chuẩn mực văn hóa xã hội phải tuân thủ, ) và cho trẻ luyện tập vận dụng KNS theo cách của trẻ Đôi khi những sai sót, vấp váp trong quá trình thực hiện một công việc nào đó sẽ khiến trẻ có thêm kinh nghiệm và làm tốt hơn ở những lần sau”
- Gắn với cuộc sống của trẻ 5-6 tuổi: bởi những điều gần gũi, sống động diễn ra xung quanh và chính bản thân được trải nghiệm sẽ khiến trẻ hứng thú, điều này sẽ giúp trẻ tái hiện cuộc sống sinh hoạt một cách linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn
- Phù hợp phương pháp giáo dục giá trị: trong giáo dục KNS qua TCĐVTCĐ cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp giáo dục giá trị vì KNS của trẻ luôn dựa trên những giá trị sống của từng cá nhân
Trang 221.3 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.3.1 Đặc điểm sinh h c
Đến lứa tuổi 5 - 6 tuổi, trẻ đạt khoảng 106,4 đến 116,1 cm chiều cao, đạt 16 đến 20,7 kg cân nạ ng đối với bé trai và 104,8 đến 114,6 cm chiều cao,
15 đến 19,5 kg cân nạ ng đối với bé gái
Quá trình canxi hóa mạnh làm cho các xương ngày càng cứng cáp ho n, nhất là các xưo ng lớn như họ p sọ, xưo ng cẳng tay và cổ tay, xưo ng cẳng chân
và cổ chân Sự xuất hiẹ n các sợi co và các co lớn làm cho vạ n đọ ng của trẻ mạnh mẽ ho n Sự phát triển của xưo ng và co không chỉ giúp trẻ dẻo dai ho n
mà sự khéo léo mềm mại của các vạ n đọ ng cũng tốt ho n so với tuổi trước
Về hẹ thần kinh, ngoài sự phân hóa rõ rẹ t của não bọ hình thành các trung khu thần kinh chức na ng và Mêtilin hóa các dây thần kinh cùng xung
đọ ng thần kinh có sự lan tỏa và tạ p trung tưo ng đối phù hợp thì sự hoàn thiẹ n các giác quan và mối quan hẹ giữa chúng đã giúp trẻ tri giác tốt ho n
1.3.2 Đạ c điểm tâm lí
Về tâm lí, khả na ng tri giác và quan sát của trẻ hoàn thiẹ n ho n nhiều và khả na ng tư duy trực quan hành đọ ng, khả na ng tưởng tượng của trẻ phát triển thêm mọ t bước mới
Tri giác của trẻ bắt đầu mang tính chủ định và bước đầu mang tính hẹ thống Trong tư duy trực quan hành đọ ng đã xuất hiẹ n tư duy ngược cho phép trẻ tiếp thu và thực hiẹ n các bài học và hành đọ ng ngược chiều nhau
Trí tưởng tượng của trẻ đã có tính hiẹ n thực cao ho n, giúp trẻ lứa tuổi này không chỉ có những sáng tạo nhất định trong quá trình rèn luyện các kỹ năng mà còn sáng tạo trong biểu đạt các hoạt động vui chơi
Trang 231.3.3 Đặc điểm xã hội
Ở mẫu giáo lớn, “cá tính của trẻ đã được bọ c lọ rõ rẹ t, mỗi em mỗi tính, mỗi nết Trong các hoạt đọ ng học tạ p hay vui cho i, trẻ đã biết thiết lạ p những quan hẹ rọ ng rãi và phong phú với các bạn cùng cho i: mọ t xã họ i trẻ em được hình thành” “Xã họ i trẻ em này còn khác xa so với xã họ i người lớn “Hợp rồi tan, tan rồi hợp, thực và cho i, cho i và thực Đó chính là nét đọ c đáo của xã
họ i này Nhưng chính những mối quan hẹ xã họ i đầu tiên trong nhóm bạn bè này lại có mọ t ý nghĩa lớn lao đối với cả đời người sau này”
Trong các hoạt đọ ng trò cho i, “Nếu những ngời chơi không phối hợp với nhau thì sẽ không tạo thành trò chơi, ở lứa tuổi này viẹ c cho i của các em tưo ng đối thành thạo và cho i với nhau trong nhóm bạn đã trở thành nhu cầu cấp bách” “Vào cuối tuổi mẫu giáo, trẻ còn biết liên kết các trò cho i theo các chủ đề khác nhau, làm cho các mối quan hẹ trở nên phong phú ho n Quan hẹ của trẻ ngày càng được đa dạng ho n chẳng khác nào mọ t xã họ i người lớn thu nhỏ” Trong trò cho i đã có nhiều vai ho n so với lứa tuổi MG bé, sự phối hợp với nhau trong các trò cho i đã có sự chạ t chẽ ho n, chính điều này sẽ giúp cho GVMN dễ dàng xây dựng các hoạt động giáo dục kỹ năng cho trẻ hơn
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO
TRẺ 5-6 TUỔI QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 2.1 Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong Chương trình giáo dục mầm non hiện hành
Mục tiêu của Chương trình giáo dục mầm non đã hướng đến “phát triển của trẻ, hướng đến hình thành và phát triển những năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi Trong mục tiêu của lĩnh vực phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội”, giáo dục KNS được thể hiện ở mục tiêu “Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ”
Như vậy mục tiêu giáo dục KNS cho trẻ 5-6 tuổi đã được đặt ra, tuy chưa cụ thể và đầy đủ trong mục tiêu chung của Chương trình giáo dục mầm non
Trong Chương trình giáo dục mầm non được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo kí ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT [4, tr20], vấn đề
giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo được thể hiện trong lĩnh vực Phát triển thể
chất như sau: “có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống
đối với sức khoẻ; Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khoẻ và đảm bảo sự an toàn của bản thân” Nội dung GD KNS ở lĩnh vực này gồm: giúp trẻ có một số KNS và thói quen tự phục vụ liên quan đến sức khỏe,
an toàn, vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường sinh hoạt; Biết cách phòng tránh một số bệnh thông thường; có nề nếp, thói quen tự phục vụ hành vi văn minh trong ăn uống; nhận biết những nơi không an toàn, nguy hiểm và cách phòng tránh…
Nội dung lĩnh vực phát triển thể chất đã bao gồm nhiều KNS như phòng chống tai nạn thương tích, đảm bảo an toàn cho bản thân, giúp trẻ dễ dàng thích ứng môi trường sống và học tập
Trang 25Nội dung có liên quan đến giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo được thể
hiện trong lĩnh vực Phát triển nhận thức như sau: “có một số hiểu biết về môi
trường tự nhiên và xã hội; Có khả năng tốt quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, phân tích để tìm mối quan hệ nhân quả đơn giản; Suy nghĩ có phê phán
về các sự vật, hiện tượng xung quanh”
Nội dung có liên quan đến giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo được thể
hiện trong lĩnh vực Phát triển ngôn ngữ như sau: “kĩ năng nghe hiểu lời nói
trong giao tiếp; Kĩ năng phát âm đúng, kĩ năng diễn đạt rõ ràng, biểu cảmvà giao tiếp có văn hoá, kĩ năng bày tỏ ý kiến, biết lắng nghe”
Những nội dung trong lĩnh vực phát triển nhận thức và phát triển ngôn ngữ đều không gắn kết trực tiếp với GD KNS, đó chỉ là những nền tảng, là cơ
sở để giáo dục KNS cho trẻ mầm non
“Nội dung có liên quan đến giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo được thể
hiện trong lĩnh vực Phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội như sau:” có khả năng
nhận biết và thể hiện tâm tư thái độ tình cảm với mọi người; biết chấp nhận sự khác biệt của bản thân, bạn bè và những người xung quanh; bước đầu có ý thức trách nhiệm và kiên trì thực hiện công việc được giao” Như vậy, nội dung GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi khá phong phú và toàn diện giúp trẻ thích ứng, giải quyết những vấn đề xảy ra trong quá trình chơi cũng như trong cuộc sống hàng ngày”
“Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi đã được đưa phần nào trong từng lĩnh vực: thể chất; nhận thức; ngôn ngữ; tình cảm xã hội [8, tr221], giúp trẻ thích ứng, giải quyết những vấn đề xảy ra trong quá trình chơi cũng như trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên nội dung GD KNS trong CT GDMN còn mang tính dàn trải, chưa lựa chọn được những KNS cơ bản chính xác, cụ thể và sắp xếp có tính hệ thống, phù hợp với đặc điểm phát triển của
cá nhân trẻ”
Trang 26“Hình thức tổ chức các hoạt động GD KNS trong CT GDMN thiên về tính phát triển, gợi mở tùy theo mục đích và nội dung giáo dục” Chương trình GDMN đã chú ý giáo dục các kĩ năng sống thông qua các giờ học, giờ chơi, các hoạt động trong ngày của trẻ ở trường mầm non, qua việc trẻ giải quyết tình huống đặt ra trong quá trình chơi Tuy nhiên chưa chỉ rõ những nội dung
GD KNS có thể thực hiện qua TCĐVTCĐ, kiến thức, các kĩ năng và có cơ hội để ứng dụng các kĩ năng được học
“GV sử dụng các loại trò chơi với các yếu tố chơi phù hợp để kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú hoạt động tích cực giải quyết nhiệm vụ giáo dục đặt
ra Tuy nhiên, việc GD KNS qua TCĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chưa được thể hiện rõ trong Chương trình GDMN”
2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
2.2.1 Tổ chức khảo sát
2.2.1.1 Mục đích, địa bàn, qui mô và đối tượng khảo sát
Mục đích khảo sát:
Tìm hiểu thực trạng của việc GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVTCĐ
ở tại trường mầm non để đề xuất các biện pháp giáo dục phù hợp
Địa bàn khảo sát:
- Trường MN Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Qui mô và đối tượng khảo sát:
- Khảo sát 20 GVMN ở trường mầm non Xuân Hòa và 50 trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi
Bảng 2.1 Đặc điểm GVMN đƣợc khảo sát Tiêu
31-40 tuổi
41-50 tuổi
trên
50
1-5 năm
5-10 năm
10-15 năm
trên 15 năm
Trang 27% 45 10 20 15 10 50 10 10 30
“Hầu hết GV tham gia khảo sát có tuổi đời trẻ, trên 50% GV dưới 30 tuổi Tuổi nghề của GV đa số tập trung trong khoảng dưới 10 năm công tác, trong đó có tới 50% có thâm niên từ 1-5 năm, có thể nói đây là giai đoạn các
GV trẻ có cống hiến và tích lũy các kinh nghiệm làm việc 50% số GV có thâm niên công tác trên 10 năm”
2.2.1.2 Nội dung khảo sát
- Nhận thức của giáo viên về KNS, GD KNS, vai trò của TCĐVTCĐ trong GDKNS ở trường mầm non
- Thực trạng nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Thực trạng thiết kế và tổ chức TCĐVTCĐ để giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Khảo sát mức độ biểu hiện của nhóm kĩ năng giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua TCĐVTCĐ ở trường mầm non
2.2.1.3 Phương pháp khảo sát
Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi kết hợp với phương pháp quan sát các hoạt động giáo dục diễn ra trên lớp của GV, trao đổi những thông tin cần thiết với GV
Kết hợp với sự đánh giá quá trình thiết kế và tổ chức TCĐVTCĐ để giáo dục KNS của GV, quan sát trẻ trong TCĐVTCĐ và các hoạt động khác nhau khi ở trường Mỗi lớp quan sát tối thiểu một tuần và ghi lại những biểu hiện KNS của trẻ khi có tình huống xảy ra Dùng bài tập tình huống để khảo sát mức độ biểu hiện KNS của trẻ Trao đổi với GV về tổ chức TCĐVTCĐ để giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
2.2.1.4 Công cụ khảo sát và tiêu chí đánh giá
Công cụ khảo sát:
Trang 28- Phiếu hỏi dành cho GV: gồm các câu hỏi nhằm tìm hiểu về nhận thức của GVMN về KNS, về TCĐVTCĐ; về hoạt động GD KNS và việc thiết kế,
tổ chứcTCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (Phụ lục số 1)
- Phiếu quan sát, dự giờ (Phụ lục 2)
- Phiếu đánh giá mức độ biểu hiện kĩ năng sống của trẻ (Phụ lục 3)
- Tình huống để khảo sát mức độ biểu hiện nhóm kĩ năng giải quyết vấn
đề của trẻ (Phiếu số 4)
Tiêu chí đánh giá:
- Đánh giá mức độ biểu hiện kĩ năng sống của trẻ theo 3 tiêu chí:
Mức thường xuyên: 3 điểm;
1.3 Là những kĩ năng tương tác với người khác và giải quyết
có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc
Trang 29sống hàng ngày
1.4 Là những kĩ năng giúp cá nhân thích ứng tốt với hoàn
cảnh sống và giải quyết ổn thỏa những vấn đề của cuộc
sống, sống hạnh phúc, hiệu quả và thành công nhờ sử
dụng phù hợp tri thức, những kĩ năng khác và kinh
GV cho rằng KNS “là những kĩ năng tương tác với người khác và giải quyết
có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày” Còn lại 10% giáo viên cho rằng “KNS là hành vi nhằm giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong cuộc sống và là những hành vi bảo đảm sống an toàn và khỏe mạnh Như vậy, hơn nửa số GV được khảo sát đã có nhận thức đúng đắn về KNS, tuy nhiên vẫn còn 40% số giáo viên còn lại chưa có nhận thức một cách đúng đắn và chính xác nhất về kĩ năng sống, điều này dẫn tới việc giáo dục KNS cho trẻ còn gặp nhiều hạn chế”
Trang 30độ rất cần thiết của việc GD KNS cho trẻ
Nhận thức của GV về vai trò của TCĐVTCĐ trong việc GD KNS cho trẻ mầm non:
Bảng 2.4 Nhận thức của GV về vai trò của TCĐVTCĐ
trong GD KNS cho trẻ mầm non
2 Luyện tập các KNS trong các tình huống khác nhau 17 85
3 Thêm hiểu biết về các cách ứng xử phù hợp tình
huống
Đa số GV (85%) đều” hiểu được và hiểu đúng về vai trò của TCĐVTCĐ trong việc GD KNS cho trẻ mầm non là giúp trẻ luyện tập các KNS trong các tình huống khác nhau 5% GV cho rằng vai trò của TCĐVTCĐ là để trẻ bắt chước những hành vi đúng, cách hiểu này không sai nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ bắt chước hành vi một cách đơn thuần chứ chưa mang tính chất GD KNS cho trẻ 10% GV cho rằng qua TCĐVTCĐ sẽ
Trang 31giúp trẻ có thêm hiểu biết về các cách ứng xử phù hợp tình huống, với ý này trẻ mới chỉ được hiểu, được biết chứ chưa được thực hành, luyện tập những cách ứng xử này vào trò chơi, vào cuộc sống”
Nhận thức của GV về nội dung giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 49
Bảng 2.5 Nhận thức của GV về nội dung giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo
KN thương lượng thuyết phục (50%)
Các KN khác thì không được nhiều GV lựa chọn để giáo dục trẻ, như
Trang 32lí thông tin (15%), KN tìm kiếm sự hỗ trợ (5%), KN kiên định (35%).GV cho rằng những KN này chưa thực sự cần thiết và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của trẻ
Hình thức GD KNS cho trẻ mẫu giáo
Bảng 2.6 Hình thức GD KNS cho trẻ mẫu giáo
Theo kết quả này,” 100% GV cho biết họ thường GD KNS cho trẻ qua các giờ học và qua việc tổ chức cho trẻ chơi TCĐVTCĐ Hoạt động tham quan - dã ngoại đứng thứ 2 với 80% ý kiến lựa chọn Tiếp đến là GD KNS cho trẻ qua các buổi lễ hội (60%) Còn lại các hình thức như trò chơi vận động (5%), trò chơi học tập (10%), trực nhật - lao động (20%), ít được GV lựa chọn để GD KNS cho trẻ “
Tóm lại, kết quả điều tra về nhận thức của GV về KNS, GD KNS, vai
trò của TCĐVTCĐ cho thấy phần đông GV đã nhận thức được sự cần thiết phải GD KNS cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi GV đã có ý thức lựa chọn và sử dụng một số nội dung và hình thức GD KNS cho trẻ như kĩ năng tự phục vụ thể hiện qua việc tự xúc cơm ăn, tự lau miệng, rửa mặt rửa tay; kĩ năng hợp tác: trẻ biết phối hợp với nhau để thực hiện những nhiệm vụ cô giao cho trong các hoạt động nhóm, các trò chơi; kĩ năng giao tiếp: giáo dục trẻ nhận biết về bản thân và vị trí của mình trong gia đình, trong xã hội, cách xưng hô cư xử của mình với người lớn tuổi, bằng tuổi…qua các giờ học tập, các buổi tham
Trang 33quan dã ngoại GV cũng đã thấy được ảnh hưởng của TCĐVTCĐ trong việc
GD KNS cho trẻ nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn
2.2.2.2 Thực trạng việc thiết kế và tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ
đề (TCĐVTCĐ) để GD KNS cho trẻ mẫu giáo
Qua điều tra thực trạng chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.7 Mức độ lồng ghép nội dung GDKNS trong các hoạt động khác
100% GV được hỏi khi tổ chức TCĐVTCĐ đều lồng ghép nội dung
GD KNS cho trẻ với mật độ lồng ghép như sau: 60% GV thường xuyên lồng ghép nội dung GD KNS khi tổ chức TCĐVTCĐ, còn lại 40% GV thỉnh thoảng lồng ghép nội dung GD KNS khi tổ chức TCĐVTCĐ cho trẻ Kết quả này cho thấy TCĐVTCĐ đã nhận được sự quan tâm của GV trong việc GD KNS cho trẻ
Trang 3410 KN giải quyết vấn đề 18 90 4
Các KN “được GV hướng dẫn trẻ nhiều nhất là KN tự nhận thức (100%), KN giao tiếp (100%), KN hợp tác (95%) Ngoài ra còn có các KN cũng được GV chú ý tới như: KN giải quyết vấn đề (90%), KN thương lượng thuyết phục (85%), KN phòng ngừa tai nạn thương tích (75%), KN ứng phó với căng thẳng (65%), KN trình bày (50%) Các KN còn lại rất ít khi được
GV lựa chọn để giáo dục trẻ, thậm chí KN tìm kiếm sự hỗ trợ chưa bao giờ được GV lựa chọn”
Như vậy các KN được GV lựa chọn để giáo dục trẻ qua TCĐVTCĐ khá đa đạng, phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của từng GV
Thiết kế TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ mẫu giáo
Bảng 2.9 Thực trạng thiết kế TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ
1 Xây dựng các trò chơi cụ thể nêu rõ mục đích cần đạt, các
bước tiến hành, yêu cầu nhiệm vụ của cô, yêu cầu nhiệm
vụ của trẻ, thời điểm và thời gian tiến hành
2 Chỉ đưa vào kế hoạch từng tuần nhưng không thiết kế
thành các trò chơi cụ thể Trong quá trình tổ chức cho trẻ
chơi, GV đưa ra các tình huống và để trẻ tự giải quyết
Trang 35nhưng không thiết kế thành các trò chơi cụ thể Trong quá trình tổ chức cho trẻ chơi, GV đưa ra các tình huống và để trẻ tự giải quyết
Các chủ đề của TCĐVTCĐ thường được GV lựa chọn để GD KNS cho trẻ rất phong phú, đa dạng như “cô giáo”, “mẹ con”, “bán hàng”, “bác sĩ”
TCĐVTCĐ thường được tổ chức chủ yếu là trong các giờ hoạt động góc Ở mỗi góc chơi trẻ lựa chọn cho mình một nhân vật, sau đó hoạt động ở các góc mà mình lựa chọn
Từ một só tiết dạy của giáo viên, chúng ta thấy việc thiết kế TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ mẫu giáo còn chưa đầy đủ và chính xác, đó là:
- Chưa xác định được mục tiêu giáo dục KNS, giáo dục những kĩ năng sống nào (kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác, kĩ năng thương lượng thuyết phục, kĩ năng tư duy phê phán )
- “GV đã chuẩn bị đồ dùng đồ chơi, nhưng chưa cung cấp cho trẻ những kiến thức nội dung xã hội, về các quan hệ xã hội liên quan đến trò chơi, về kĩ năng sống trong những tình huống trò chơi”
- “GV đã cho trẻ được tự lựa chọn góc chơi và vai chơi mà trẻ thích, điều này cho thấy kĩ năng tự nhận thức đã được quan tâm giáo dục: trẻ đã biết nhận ra bản thân mình là ai? Thích hợp với những công việc như thế nào? Tuy nhiên, GV chưa tạo cơ hội cho trẻ thảo luận về các hành động, lời nói liên quan đến vai chơi và cách ứng xử của nhân vật thay đổi theo nội dung chơi Vì thế, trẻ chưa nhận biết tính đa dạng của các hành động, lời nói của nhân vật tuỳ vị trí xã hội, tùy hoàn cảnh và tùy mục đích hành động (thích ứng /giải quyết vấn đề)”
- Phần kết thúc: GV chưa cho trẻ tự nhận xét, đánh giá về vai chơi, hành động chơi của mình GV chưa yêu cầu trẻ chia sẻ cảm nghĩ của mình về vai chơi, nếu những buổi chơi sau trẻ có tiếp tục chọn vai đó nữa không và vì
Trang 36sao Vì vậy, cơ hội để giáo dục kĩ năng tự nhận thức, trình bày, thuyết phục, lắng nghe, tư duy phản biện đã không được khai thác hiệu quả
Như vậy có thể thấy việc thiết kế TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ vẫn còn sơ sài, chưa tập trung vào các KNS cụ thể, chưa tập trung vào mục đích
Cùng nhau chuẩn bị các đồ
chơi tự tạo cho các vai
Yêu cầu trẻ cùng nhau bàn
bạc đề xuất chủ đề chơi, nội
dung chơi
Yêu cầu trẻ tự thoả thuận
phân công vai chơi
GV phân công vai chơi, chủ
đề chơi cho trẻ
Yêu cầu trẻ lắng nghe ý
kiến của nhau trong khi
chơi
Yêu cầu trẻ tự giải quyết
các xung đột trong khi chơi
GV giải quyết các mâu
thuẫn của trẻ khi chơi
Trang 37Yêu cầu trẻ tự bắt đầu, kết
thúc và điều chỉnh trò chơi:
Yêu cầu trẻ nhận xét các
cách ứng xử và giải quyết
vấn đề của nhau trong và
sau khi chơi
Trẻ biết nhờ GV khi không
tự giải quyết được vấn đề
- Về việc yêu cầu trẻ cùng nhau bàn bạc đề xuất chủ đề chơi, nội dung chơi: 70% GV thường xuyên yêu cầu trẻ làm việc này, còn lại 30% GV cho biết họ thỉnh thoảng mới làm việc này
- Yêu cầu trẻ tự thoả thuận phân công vai chơi: 75% GV thường xuyên
để trẻ tự lựa chọn các góc chơi và vai chơi mà trẻ yêu thích, các trẻ trong nhóm sẽ tự thỏa thuận và phân công vai chơi với nhau 25% GV được hỏi cho biết họ thỉnh thoảng mới làm việc này
- GV phân công vai chơi, chủ đề chơi cho trẻ: 5% GV phải làm công việc này, còn lại 95% GV được hỏi cho biết họ thỉnh thoảng mới phải làm việc này với những trẻ chậm hơn, yếu hơn so với các bạn khác về mặt nhận thức
- Yêu cầu trẻ lắng nghe ý kiến của nhau trong khi chơi: 75% GV cho biết họ thường xuyên yêu cầu trẻ phải có tinh thần hợp tác với các bạn trong nhóm, điều đó đồng nghĩa với việc phải biết lắng nghe ý kiến của các bạn khi
Trang 38- “Yêu cầu trẻ tự giải quyết các xung đột trong khi chơi: 50% GV cho rằng họ thường yêu cầu trẻ làm vậy vì trong quá trình chơi trẻ học làm người, những xung đột trong trò chơi cũng như những tình huống xảy ra trong cuộc sống thực nên trẻ có thể tự giải quyết để rút ra bài học cho mình 50% GV còn lại thỉnh thoảng mới làm việc này, vì đã giải quyết trực tiếp các xung đột của trẻ trong quá trình chơi Do “đó trẻ không có cơ hội thực hành nhóm kĩ năng giải quyết vấn đề thậm chí ngay trong trò chơi, cũng như trong đời thật”
- GV giải quyết các mâu thuẫn của trẻ khi chơi: một số GV cho rằng trẻ còn nhỏ nên khả năng xử lí tình huống cũng như mâu thuẫn còn chưa tốt, do
đó có 25% GV được lấy ý kiến cho rằng họ thường xuyên phải đứng ra giải quyết các mâu thuẫn của trẻ 75 % GV thì cho rằng họ thỉnh thoảng mới phải làm như vậy vì họ tin vào trẻ, tin vào khả năng của trẻ
- Yêu cầu trẻ tự bắt đầu, kết thúc và điều chỉnh trò chơi: 75% GV thường xuyên yêu cầu trẻ làm điều này, còn lại 25% GV thỉnh thoảng mới làm vậy Như vậy, kĩ năng quản lí thời gian như một phần của KNS vẫn còn chưa được quan tâm giáo dục cho trẻ
- Yêu cầu trẻ nhận xét các cách ứng xử và giải quyết vấn đề của nhau trong và sau khi chơi như biểu hiện của kĩ năng tư duy phản biện, kĩ năng trình bày: 60% GV thường xuyên yêu cầu trẻ làm điều này, 40% GV cho biết thỉnh thoảng họ mới yêu cầu trẻ làm như vậy
- “Trẻ biết nhờ GV khi không tự giải quyết được vấn đề như biểu hiện của KN tìm kiếm sự hỗ trợ: 15% số trẻ thường xuyên biết nhờ GV khi không giải quyết được vấn đề, 85% số trẻ thỉnh thoảng mới nhờ GV khi không tự giải quyết được vấn đề Lúc gặp phải vấn đề nào đó trong trò chơi, nhiều trẻ thường im lặng, không nói gì, một số trẻ thường bỏ qua vấn đề đó và tập trung vào những thứ khác Như vậy có thể thấy kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ chưa được GV quan tâm giáo dục cho trẻ, khi gặp khó khăn trẻ không biết tìm kiếm sự hỗ trợ từ người khác”
Trang 39Khảo sát về yếu tố ảnh hưởng đến việc GD KNS cho trẻ
Qua khảo sát tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc GD KNS cho trẻ chúng tôi thu được kết quả như bảng dưới đây:
Bảng 2.11 Các yếu tố ảnh hưởng
Qua bảng 2.11,” có thể thấy theo GV thì chương trình giáo dục mầm non ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ (60%) Chương trình giáo dục mầm non hiện hành chưa đưa ra những nội dung và phương pháp GD KNS cụ thể cho trẻ mà chủ yếu là lồng ghép vào các hoạt động Yếu
tố tiếp theo theo GV là ảnh hưởng đến việc GD KNS cho trẻ đó là sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường (30%) Vì chưa có sự phối hợp giữa gia đình
và nhà trường nên việc GD KNS cho trẻ không được thường xuyên liên tục cũng làm cho chất lượng GD KNS chưa được tốt Nhận thức của GV về KNS
và GD KNS chưa đầy đủ, năng lực nghề nghiệp của giáo viên cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc GD KNS cho trẻ - chiếm 10% các ý kiến của GV”
Khó khăn khi GD KNS cho trẻ qua TCĐVTCĐ
“Dựa trên kết quả tại phiếu điều tra kết hợp với việc trao đổi trực tiếp với giáo viên, chúng tôi thống kê mộ”t số khó khăn của GV trong quá trình
GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVTCĐ:
- “Về cơ sở vật chất: nơi học và nơi chơi của trẻ còn chật chội, số trẻ trong lớp đông gây khó khăn trong việc GD KNS cho trẻ trong trò chơi, việc
bố trí các góc chơi chưa phù hợp dẫn đến hạn chế trong việc liên kết các nhóm chơi”
Trang 40- Về đồ dùng, chương trình tài liệu: đồ dùng đồ chơi ở các trường phong phú đa dạng, tuy nhiên ở một số trường, đồ dùng đồ chơi đã hư hỏng,
cũ Vì vậy, chưa lôi cuốn được hứng thú của trẻ khi tham gia trò chơi này
- Hiện nay chưa có các tài liệu hướng dẫn một cách khoa học, rõ ràng,
cụ thể về vấn đề GD KNS cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là GD KNS cho trẻ 5 – 6 tuổi qua TCĐVTCĐ
- GV chưa có đầy đủ hiểu biết, kinh nghiệm GD KNS cho trẻ nói chung
và thông qua TCĐVTCĐ nói riêng
- “Nhiều cha mẹ trẻ thường nuông chiều con cái, ít để trẻ có cơ hội rèn luyện các KNS; giữa cha mẹ và GV chưa có sự phối hợp trong việc GD KNS cho trẻ Cha mẹ trẻ chưa ý thức được về sư quan trọng của kỹ năng sống.”
Tóm lại, “dù GV đã có những nhận thức về KNS, GD KNS nhưng việc
GD KNS cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua TCĐVTCĐ vẫn chưa được quan tâm đúng mực và chưa đạt hiệu quả Bên cạnh những yếu tố khách quan gây khó khăn tới quá trình GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi thì yếu tố chủ quan là bản thân các cô giáo mầm non chưa thực sự đầu tư tâm huyết và công sức của mình để
tổ chức TCĐVTCĐ cho trẻ”
2.2.2.3 Khảo sát mức độ biểu hiện của nhóm kĩ năng giải quyết vấn đề của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
*Tiêu chí đánh giá:
Kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi
- Trẻ chăm chú lắng nghe và hiểu được vấn đề mà người khác trình bày
- Trẻ biết hỏi lại khi chưa hiểu vấn đề
- Trẻ bày tỏ ý kiến của bản thân một cách rõ ràng, mạch lạc
- Sử dụng ngôn ngữ không lời phong phú và thể hiện cảm xúc phù hợp
Kĩ năng thương lượng, thuyết phục
- Trẻ biết được mong muốn của bản thân, mong muốn của người khác