Bệnh thườngxuyên xảy ra khi xuất hiện các yếu tố bất lợi với sức đề kháng của cơ thể như:lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của lợn mẹ thiếu,không đảm bảo chất di
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-NGUYỄN THỊ SEN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA LỢN MẮC TIÊU CHẢY DO VIRUS (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA - PED) TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỮU NAM
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận vănnày là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Sen
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sựgiúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, nhân dịp hoàn thànhluận văn tốt nghiệp cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, ban Chủ nhiệm khoaThú y, các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập, tiếpthu kiến thức của chương trình học
Hoàn thành luận văn này tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của cácthầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Bệnh lý Đặc biệt là Thầy hướng dẫn khoa họcPGS TS Nguyễn Hữu Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu,xây dựng luận văn và hoàn thiện
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm Thú y cáchuyện Tiên Du, Quế Võ, Lương Tài tỉnh Bắc Ninh, cùng toàn thể đồng nghiệpcùng bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài
Nhân dịp hoàn thành luận văn tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớigia đình, người thân cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôitrong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Sen
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
C.perfringens Clostridium perfringens
E.coli Escherichia coli
MCV: Thể tích trung bình hồng cầu
MCH: Lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu
MCHC: Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu
Lượng HSTBQ: Lượng huyết sắc tố bình quân
PEDV: Porcine Epidemic Diarrhea Virus
TGE: Transmissible Gastro Enteritis
TGEV: Transmissible Gastroenteritis Enteritis Virus
WBC: Số lượng bạch cầu (nghìn/mm3) và công thức bạch cầu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC ẢNH vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY 3
1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn 4
1.1.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn 6
1.1.3 Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy 11
1.1.4 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy 11
1.1.5 Hậu quả của viêm ruột tiêu chảy 12
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH TIÊU CHẢY DO VIRUS (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA - PED) GÂY RA TRÊN LỢN 13
1.2.1 Lịch sử bệnh 13
1.2.2 Một số đặc điểm của virus PEDV 14
1.2.3 Dịch tễ học 15
1.2.4 Triệu chứng của lợn mắc tiêu chảy do virus PED 16
1.2.5 Bệnh tích của lợn mắc tiêu chảy do virus PED 17
1.2.6 Chẩn đoán 18
1.2.7 Phòng và kiểm soát bệnh 21
1.2.8 Điều trị bệnh 22
1.3 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ HUYẾT HỌC 24
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 29
2.1 Đối tượng, địa điểm, nguyên liệu nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
Trang 62.1.2 Địa điểm nghiên cứu 29
2.1.3 Nguyên liệu nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 30
2.3.2 Phương pháp xác định tỷ lệ mắc bệnh 30
2.3.3 Phương pháp điều tra lấy mẫu 30
2.3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu huyết học 31
2.3.5 Phương pháp lấy mẫu xét nghiệm 31
2.3.6 Phương pháp làm tiêu bản vi thể 31
2.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED 35
3.1.1 Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED của 3 huyện điều tra 35
3.1.2 Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED theo lứa tuổi 37
3.1.3 Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED theo điều kiện vệ sinh thú y 40
3.2 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu huyết học của lợn mắc tiêu chảy do virus PED 42
3.2.1 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hồng cầu của lợn bệnh 43
3.2.2 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu bạch cầu của lợn bệnh 45
3.3 Kết quả nghiên cứu triệu chứng chủ yếu của lợn mắc tiêu chảy do virus PED 47
3.4 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể của lợn con mắc tiêu chảy do virus PED 49
3.5 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể của lợn mắc tiêu chảy do virus PED .52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết, tỷ lệ tử vong ở lợn do virus PED của 3 huyện
điều tra 35
Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết, tỷ lệ tử vong ở lợn do virus PED theo lứa tuổi 37
Bảng 3.3 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết, tỷ lệ tử vong ở lợn do virus PED theo điều kiện vệ sinh thú y 40
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hồng cầu của lợn bệnh 43
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát chỉ tiêu bạch cầu của lợn bệnh 46
Bảng 3.6 Triệu chứng của lợn mắc tiêu chảy do virus PED 48
Bảng 3.7 Bệnh tích đại thể của lợn mắc tiêu chảy do virus PED 50
Bảng 3.8 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể ở ruột của lợn mắc tiêu chảy do virus PED 53
Bảng 3.9 Bệnh tích vi thể ở một số cơ quan của lợn con mắc tiêu chảy do virus PED 56
Biểu đồ 3.1: So sánh tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED của 3 huyện điều tra 37
Biểu đồ 3.2: So sánh tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED theo lứa tuổi 40
Biểu đồ 3.3: So sánh tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED theo điều kiện vệ sinh thú y 42
Trang 8DANH MỤC CÁC ẢNH
Ảnh 1: Lợn gầy yếu mất nước nghiêm trọng 51
Ảnh 2: Lợn suy yếu, lông dựng 51
Ảnh 3: Tiêu chảy phân vàng 51
Ảnh 4: Ruột sung huyết nghiêm trọng 51
Ảnh 5: Hạch ruột sung huyết, xuất huyết 51
Ảnh 6: Ruột căng phồng chứa đầy hơi 51
Ảnh 7: Sung huyết hạ niêm mạc ruột HE 10x 59
Ảnh 8: Ruột lợn mắc PED lông nhung tù đầu nhuộm HE 10x 59
Ảnh 9: Ruột thấm nước phù ở hạ niêm mạc ruột nhuộm HE 10x 59
Ảnh 10: Ruột thâm nhiễm tế bào viêm ở hạ niêm mạc nhuộm HE 10x 59
Ảnh 11: Lông nhung ruột bong tróc nhuộm HE 10x 59
Ảnh 12: Lông nhung ruột tù đầu, thâm nhiễm tế bào viêm ở hạ niêm mạc ruột nhuộm HE 10x 60
Ảnh 13: Thâm nhiễm tế bào viêm ở kẽ tuyến ruột .60
Ảnh 14: Hoại tử tế bào biểu mô ruột nhuộm HE 20x 61
Ảnh 15: Ruột lợn thâm nhiễm tế bào viêm ở hạ niêm mạc nhuộm HE 20x 60
Ảnh 16: Gan sung huyết, hồng cầu tràn ngập vi quản xuyên tâm HE 20x 61
Ảnh 17: Tế bào gan thoái hóa mỡ nhuộm HE 20x 60
Ảnh 18: Sung huyết phổi nghiêm trọng nhuộm HE 20x 61
Trang 9MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bướcphát triển đáng kể Với những tiến bộ vượt bậc trong công tác giống, thức ăn,thuốc phòng và trị bệnh từng bước đáp ứng một lượng thực phẩm lớn cho nhucầu thực phẩm trong nước và tiến tới xuất khẩu, trong đó có chăn nuôi lợn Cùngvới sự phát triển chung của cả nước, ngành chăn nuôi của tỉnh Bắc Ninh cũng đã
có những bước phát triển khá cả về chất lượng, số lượng, nhiều tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới đã được áp dụng vào sản xuất Phương thức chăn nuôi đã có sựchuyển dịch tích cực, từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi gia trại và trang trại tậptrung công nghiệp, sản xuất theo hướng hàng hoá Sản phẩm chăn nuôi khôngnhững đáp ứng được nhu cầu về thực phẩm cho người dân trong tỉnh mà còncung cấp một phần cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố khác, góp phần tíchcực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh, tạo công ăn việclàm cho nhiều lao động, nâng cao thu nhập cho người nông dân
Tuy nhiên, sản xuất chăn nuôi của tỉnh về cơ bản vẫn là sản xuất nhỏ,phân tán trong khu dân cư; năng suất, sản lượng chăn nuôi còn thấp; tình hìnhdịch bệnh trong những năm vừa qua diễn biến rất phức tạp, ngoài những bệnhtruyền nhiễm nguy hiểm thường gặp như Lở mồm long móng, Dịch tả, Tụ huyếttrùng, Phó thương hàn còn phải kể đến hội chứng tiêu chảy ở lợn
Hội chứng tiêu chảy ở lợn với đặc điểm dịch tễ hết sức phức tạp đang gâynên những thiệt hại to lớn, làm giảm năng suất, chất lượng đàn vật nuôi nóichung và chăn nuôi lợn nói riêng Hội chứng tiêu chảy xảy ra ở các giống lợn và
ở mọi lứa tuổi: lợn nái sinh sản, lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa Bệnh thườngxuyên xảy ra khi xuất hiện các yếu tố bất lợi với sức đề kháng của cơ thể như:lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của lợn mẹ thiếu,không đảm bảo chất dinh dưỡng; thời điểm cai sữa, các yếu tố stress tạo điềukiện cho bệnh bùng phát sau khi cai sữa lợn con, có thể do vận chuyển mua bánlợn con; sắp xếp lại đàn; thay đổi thức ăn đột ngột; lợn con bị lạnh…trong đó cónguyên nhân tiêu chảy do virus (porcine epidemic diarrhea - PED) Lợn mắc tiêuchảy do virus PED chủ yếu xảy ra ở giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, ởgiai đoạn này lợn con còn yếu, khả năng chống chịu bệnh tật kém Bệnh tiêu
Trang 10chảy do virus PED đang là một trong những vấn đề rất được quan tâm do thiệthại nghiêm trọng trên đàn lợn con không có kháng thể với bệnh này Trên đàn lợncon nhỏ hơn 1 tuần tuổi có những triệu chứng tiêu chảy, gây chết nhanh và rấtkhó hồi phục, thiệt hại có thể đến 100% toàn đàn, làm giảm năng suất và hiệuquả chăn nuôi Mặt khác, phần lớn người chăn nuôi vẫn chưa quan tâm thỏa đángđến việc phòng bệnh, đặc biệt đối với các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ nên thiệthại do virus gây ra càng lớn.
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, nhằm mục đích hiểu rõ về bệnh chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của lợn
mắc tiêu chảy do virus (porcine epidemic diarrhea - PED) trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh”.
Mục tiêu của đề tài.
+ Xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus (porcine epidemic diarrhea PED) gây ra
-+ Xác định các chỉ tiêu huyết học của lợn mắc bệnh
+ Làm rõ được các đặc điểm bệnh lý của lợn mắc tiêu chảy do virus(porcine epidemic diarrhea - PED)
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY
Tiêu chảy là một biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ởđường tiêu hóa Biểu hiện lâm sàng tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến, độtuổi mắc bệnh Tùy theo yếu tố nào được xem là nguyên nhân chính mà nó đượcgọi với nhiều tên khác nhau: Bệnh lợn con ỉa phân trắng, bệnh tiêu chảy sau caisữa, chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa hay Colibacillosis, Salmonellosis,…hoặc tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở nhiều bệnh ký sinh trùng, bệnh dovirus, bệnh do vi khuẩn
Tiêu chảy thường gặp ở gia súc, đã và đang gây thiệt hại lớn cho ngànhchăn nuôi Trong lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy, nhiều tác giả đãnghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy Tuy nhiên, tiêuchảy là một hiện tượng bệnh lý, có liên quan đến rất nhiều các yếu tố, có yếu tố
là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Việc phân biệtrạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy không đơn giản Ngày nay, người ta thốngnhất rằng, phân loại nguyên nhân gây tiêu chảy chỉ có ý nghĩa tương đối, chỉ nêulên yếu tố nào là chính, xuất hiện đầu tiên, yếu tố nào là phụ xuất hiện sau, từ đóvạch ra phác đồ phòng và điều trị bệnh có hiệu quả Nhưng cho dù bất cứ nguyênnhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổnthương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là nhiễm trùng
Theo Fairbrother J.M (1992) tiêu chảy là một bệnh gây thiệt hại đáng kểcho ngành chăn nuôi lợn
Theo Nguyễn Lương (1963), Trịnh Văn Thịnh (1985), Lê Minh Chí(1995) lợn bị tiêu chảy thường mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức Nhữnglợn khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn hoặc hiện tượng viêm nhiễm,tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là quá trình nhiễm trùng dẫnđến lợn chết với tỷ lệ cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế Đó cũng là nguyên nhânlàm cho hiệu quả chăn nuôi không cao
Trang 12Đoàn Thị Băng Tâm (1987), Sử An Ninh (1993), Lê Văn Tạo và cs.(1993), Phan Thanh Phượng và cs (1995) cho biết ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy
ra quanh năm, đặc biệt vào vụ đông xuân, khi thời tiết thay đổi đột ngột và vàonhững giai đoạn chuyển mùa trong năm
Khi nghiên cứu về tình hình dịch tễ, các nhà khoa học đã nhận xét bệnhtiêu chảy xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc trên thế giới (Lecce J.G., 1976); (GriffinJ.F.T., 1989); (Radostits O.M., 1994)
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Tuấn và cs (1998) cho thấy bệnh tiêuchảy xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ sơ sinh cho đến độ tuổi sinh sản, nhưng trầm trọngnhất là ở lợn sơ sinh đến cai sữa
1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn
1.1.1.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Ở gia súc non sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể nhất
là cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, nồng độ HCl và các men tiêu hóa chưa đảmnhiệm đầy đủ chức năng tiêu hóa, rất dễ gây rối loạn trao đổi chất, hậu quả dễnhận biết là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn.Trong dịch vị của gia súc non chưa có đủ axit HCl tự do nên không hoạt hóađược men pepsin vì vậy không tiêu hóa hết sữa mẹ, trong khi đó sữa mẹ lại làmôi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn
Ở lợn con, có giai đoạn không có HCl trong dạ dày, đây được coi
là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên Chính nhờ sự thích ứng này, cơ thể lợncon mới có khả năng hấp thu được kháng thể miễn dịch qua sữa đầu Trong giaiđoạn này dịch vị lại không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làmvón sữa đầu và sữa Albumin và Globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấuvào máu Nhưng trên 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn
là sự cần thiết sinh lý bình thường nữa Việc tập ăn cho lợn con sớm và cai sữasớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, hoạt hóa hoạt động tiết dịch, giúp tăngkhả năng tạo các đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Nhưng giai đoạn sau cai sữa là một giai đoạn khó khăn đối với lợn con khichuyển từ sữa mẹ sang thức ăn ở dạng rắn Điều đó có thể gây mất cân bằng hệ vi
Trang 13sinh vật đường ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển và cũng lànguyên nhân gây ra bệnh, dẫn đến kết quả là lợn con chậm lớn và có thể chết
Ngoài ra, lợn con còn chịu nhiều tác động của lợn mẹ, sự thay đổi ngoạicảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con
1.1.1.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm bệnh khi xâmnhập vào cơ thể Ở gia súc non, mầm bệnh có nhiều thuận lợi khi xâm nhập vào cơthể Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết racòn ít chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêuhóa và hấp thu kém Chính vì vậy, ở giai đoạn này mầm bệnh như Salmonella,E.Coli…dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh
Ngoài ra, ở gia súc non các yếu tố miễn dịch không đặc hiệu như: Bổ thể,protein liên kết, lymsozim được tổng hợp còn ít, phản ứng của đại thực bào rấtyếu, vì thế ở gia súc non không những chưa có kháng thể đặc hiệu mà kháng thểphi đặc hiệu cũng rất yếu Chính vì vậy lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết để tăngsức bảo vệ cơ thể, chống lại mầm bệnh
Với gia súc non mức độ đáp ứng miễn dịch được xác định không chỉ phụthuộc vào sự có mặt của kháng thể mà còn phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của hệthống miễn dịch đối với phản ứng
Chính do cấu tạo đặc biệt của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ởgiai đoạn lợn con tập ăn và cai sữa Bên cạnh đó còn một yếu tố quan trọng nữa
là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột của gia súc non, việc cân bằng
hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột như thế nào để khắc phục, hạn chế sự loạnkhuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể gia súc non là rấtquan trọng
Để nuôi dưỡng tốt và hạn chế được hội chứng tiêu chảy ở lợn con cầntiêm phòng cho lợn mẹ và tạo cho gia súc non điều kiện sống tốt, tránh các yếu tốbất lợi tác động vào cơ thể như: chế độ ăn uống không hợp lý, khẩu phần thức ănkhông đảm bảo dinh dưỡng, ăn không đúng giờ, thời tiết thay đổi đột ngột, chế
Trang 14độ chăm sóc không thích hợp sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập vào cơthể gây bệnh.
1.1.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn
Tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu
tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy, việcphân biệt rạch ròi giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây nên hội chứng tiêuchảy, có thể là nguyên phát hay thứ phát Dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản:
1.1.2.1 Do môi trường ngoại cảnh
Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây ra bệnh dịch, mốiquan hệ giữa cơ thể - mầm bệnh - môi trường là nguyên nhân của sự không ổnđịnh về sức khỏe, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001)
Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện
về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống…
Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tácdụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn và gây bệnh Khẩu phần ăncho vật nuôi không thích hợp, thức ăn kém chất lượng như thối, mốc và nhiễmcác tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hóa kèm theo viêmruột, ỉa chảy ở gia súc
Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức
ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển…làm giảm sức đề kháng của con vậtthì vi khuẩn thường trực sẽ tăng độc tố và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003)
Đào Trọng Đạt và cs (1996); Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) cũng cho rằngcác yếu tố stress lạnh, độ ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngàytuổi Độ ẩm thích hợp cho lợn là từ 75% đến 85% Việc làm khô và giữ ấmchuồng nuôi là vô cùng quan trọng
Sử An Ninh (1981); Niconxki V.V (1986); Phạm Khắc Hiếu (1998) chorằng các yếu tố khí hậu, thời tiết không thuận lợi là yếu tố tác động rất mạnh đếnquá trình loạn khuẩn ở lợn và là nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy
Trang 15Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây tiêu chảy không mangtính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hòatrao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảmsức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hóa có thời cơtăng cường độc lực và gây bệnh.
1.1.2.2 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật
Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu,…là nguyên nhân gây ỉa chảy ởgia súc Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể, đồng thờiphương thức chăn nuôi không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể giasúc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn đường tiêu hóa phát triển và gây bệnh (HồVăn Nam và cs., 1997)
Theo Hoàng Văn Tuấn (1998); Đoàn Kim Dung (2003); cho rằng: Tỷ lệmắc tiêu chảy trong một số cơ sở chăn nuôi lợn phụ thuộc vào điều kiện chămsóc, vệ sinh thú y, còn tỷ lệ chết, mức độ trầm trọng của bệnh ở một đàn phụthuộc vào giai đoạn mắc bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn,nếu chuồng nuôi đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo sẽ là giảm tỷ lệbệnh đường tiêu hóa
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985); Cabrera J.F (1989); Đào Trọng Đạt và cs.(1995) trong quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn thì công tác chăm sóc,nuôi dưỡng lợn con và lợn mẹ đúng kỹ thuật phù hợp với lứa tuổi là yếu tố quantrọng quyết định đến tỷ lệ tiêu chảy cao hay thấp, trong thành phần và sự cân đốicác chất dinh dưỡng trong khẩu phần đóng vai tò quan trọng
Theo Phan Thanh Phượng (1988) trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, cầncho lợn nái ăn thức ăn giàu đạm, vitamin và đủ nguyên tố vi lượng Khi lợn con mớisinh cần cho bú sữa đầu, sau đó tập ăn sớm cho lợn, sau cai sữa cần phải cho lợn ănthức ăn đủ số lượng và chất lượng phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi
1.1.2.3 Tiêu chảy do vi khuẩn
Trong đường tiêu hóa của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đườngruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi tác dụng lên men phân giải
Trang 16các chất dinh dưỡng giúp cho quá trình tiêu hóa được thuận lợi và vi khuẩn cóhại thì khi có điều kiện thuận lợi sẽ gây bệnh.
Họ vi khuẩn đường ruột là họ vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đườngruột Họ vi khuẩn này muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành vi khuẩn gây bệnhthì phải có 3 điều kiện
- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chứcnăng bám dính
- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt sảnsinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin
- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột và từ
đó phát triển lên
Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là Ecoli, Salmonella sp.shigella, Klebsiella, Clostridium perfringens…đó là những vi khuẩn quan
trọng, gây rối loạn tiêu hóa, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loài động vật
Đào Trọng Đạt và cs (1996) cho biết: chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các vikhuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E.coli (45,6%) Cũng theo tác giả, vi khuẩn
yếm khí C perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi nó trở thành
vai trò chính
Vũ Bình Minh và Cù Hữu Phú (1999) khi nghiên cứu về E.coli và
Salmonella ở lợn tiêu chảy cho biết tỷ lệ phát hiện E.coli độc trong phân là 80
-90% số mẫu xét nghiệm
Phan Thanh Phượng và cs (1996) vi khuẩn yếm khí C perfringens là một
trong những tác nhân gây bệnh quan trọng trong hội chứng tiêu chảy của lợn ởlứa tuổi từ 1-120 ngày tuổi Ở lợn con theo mẹ, tỷ lệ mắc bệnh do vi khuẩn nàygây ra có thể đến 100% và tỷ lệ chết là 60%
Hồ Văn Nam và cs (1997); Archie.H (2000) nhấn mạnh: vi khuẩn đườngruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy
Nguyễn Như Pho (2003) cho rằng, khả năng gây bệnh của các loại vikhuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Đối với lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa
Trang 17hoặc giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai
đoạn lúc sơ sinh đến sau cai sữa thường do E Coli; lứa tuổi 6-12 tuần tuổi thì thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; vi khuẩn yếm khí C perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần tuổi
đến cai sữa
1.1.2.4 Tiêu chảy do virus
Virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của viruslàm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thườnggây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao
Khooteng Hoat (1995) đã thống kê có hơn 10 loại virus có tác động làm
tổn thương đường tiêu hóa, gây viêm ruột ỉa chảy như: Enterovirus, Rotavirus, Coronavirus, virus dịch tả lợn
Rotavirus và Coronavirus là những virus gây tiêu chảy quan trọng ở gia
súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê donhững virus này có khả năng phá hủy màng ruột và gây tiêu chảy nặng(Archie.H, 2000)
Lecce J.G (1976); Nilson O (1984) nghiên cứu về virus gây bệnh đườngtiêu hóa đã xác định được vai trò của Rotavirus trong hội chứng tiêu chảy ở lợn
Các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Như Pho (2003) cũng đã cho
rằng: Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong
giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với
tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao
Theo Bergenland H.U (1992) trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợntrước và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại vi rút, 29% phân lợn bệnhtiêu chảy phân lập được Rotavirus, 11,2% có vi rút TGE, 2% có Enterovirus,0,7% có Parvovirus
1.1.2.5 Tiêu chảy do nấm mốc
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm mốc
Một số loài như: Aspergillus, Penicillium, Fusarium…có khả năng sản sinh nhiều
loại độc tố Afratoxin (Afratoxin B1, B2, G1, G2, M1)
Trang 18Độc tố Afratoxin gây độc cho người và gia súc gây bệnh nguy hiểm nhấtcho con người là ung thư gan, hủy hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh.Afratoxin gây độc cho nhiều loài gia súc, gia cầm, mẫn cảm nhất là vịt, gà, lợn
và các gia súc khác Lợn khi nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉachảy, ỉa chảy ra máu Nếu trong khẩu phần có 500 - 700µg Afratoxin/kg thức ăn
sẽ làm cho lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng với các bệnh truyềnnhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997)
1.1.2.6 Tiêu chảy do ký sinh trùng
Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như: Cầu trùng
Eimeria, Isospora suis, Crystosporidium, Ascaris suum, Trichuris suis…hoặc một số loài giun tròn lớp Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongloides, Haemonchus, mecistocirrus…).
Bệnh do Isospora suis, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn
lợn con từ 5 - 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo đượcmiễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuấthiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003)
Cầu trùng và một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là mộttrong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ giađình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2006a) Đặc điểm chủ yếucủa tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh tiêu chảy nhưng không liêntục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt,gia súc kém ăn, thể trạng sa sút
Tác giả Nguyễn Kim Thành (1999) cho biết trong đường ruột của lợn tiêuchảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với lượng không nhỏ
Theo Phan Địch Lân và Phạm Sỹ Lăng (1995) giun đũa ký sinh trong ruộtnon của lợn là loài Ascarissuum Giun đũa lợn phát triển và gây bệnh không cầnvật chủ trung gian, lợn trực tiếp nuốt phải trứng (ấu trùng gây nhiễm), khi vào cơthể lợn trứng sẽ thực hiện quá trình di hành và phát triển thành giun trưởng thành
ký sinh ở đường tiêu hóa
Trang 19Theo Phạm Văn Khuê và Phạm Lục (1996) sán lá ruột lợn và giun đũa lợntrong đường tiêu hóa, chúng làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa gây viêmruột ỉa chảy.
Theo Phan Địch Lân (1995) lợn nhiễm giun đũa với biểu hiện lâm sàng làtiêu chảy vì giun đũa tác động bằng cơ giới gây viêm ruột, tiết độc tố để đầu độc vàchiếm đoạt thức ăn của cơ thể lợn, làm cho lợn con gầy yếu, chậm lớn, suy dinhdưỡng, sinh trưởng phát dục chậm và không đầy đủ, sản phẩm thịt giảm đến 30%
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theochuyên gia chuyên nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Lê Văn Tạo (1993)thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn thì cuối cùng cũng là quá trìnhnhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫnđến chết hoặc tiêu chảy viêm ruột mạn tính
1.1.3 Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy
Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, đã tạo nên một áp lực lớn ở ốngtiêu hóa Kết quả làm tăng nhu động ruột dẫn đến tiêu chảy Đầu tiên tiêu chảy làmột phản xạ có lợi nhằm bảo vệ cơ thể, đẩy các tác nhân gây bệnh ra ngoài.Nhưng do nguyên nhân gây bệnh không ngừng phát triển và kích thích tổnthương niêm mạc, tiêu chảy kéo dài về sau tất yếu sẽ có hại cho cơ thể
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1979); Đoàn Thị Băng Tâm (1987) khi lợncon đi ngoài nhiều lần sẽ dẫn tới tình trạng mất nước, gây rối loạn chức năng sinh
lý tiêu hóa, hấp thu của ống tiêu hóa
Hồ Văn Năm và cs (1997) cho biết, quá trình rối loạn càng trầm trọnghơn khi hệ vi sinh vật trong ống tiêu hóa ở trạng thái mất cân bằng Những vikhuẩn có hại phát triển mạnh, vi khuẩn lên men gây thối phát triển nhanh chóng.Cùng với sự phát triển về số lượng của vi khuẩn thì lượng độc tố do vi khuẩn tiết
ra cũng tăng nhiều hơn Độc tố vào máu quá nhiều sẽ là rối loạn cơ năng giải độccủa gan và quá trình lọc thải của thận
1.1.4 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở gia súc là sự biến đổi về tổchức tình trạng mất nước và điện giải, trạng thái trúng độc của cơ thể bệnh
Trang 20Về giải phẫu bệnh, nhiều tài liệu cho thấy viêm ruột ở gia súc thường làthể cata - viêm chủ yếu ở niêm mạc ruột Những trường hợp viêm dạ dày - ruột ởtầng sâu là rất ít gặp.
Khi nghiên cứu về tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn E.coli, Nguyễn Như Pho(2003) cho rằng, ruột chỉ sung huyết, không thấy xuất huyết, không có vết loéthoặc hoại tử như trong bệnh phó thương hàn
Sự mất nước kéo theo mất các chất điện giải trong đó đặc biệt là các ion:HCO3-, K+, Na+, Cl- đồng thời khi gia súc bị rối loạn tiêu hóa cũng làm cản trởđến khả năng tái hấp thu nước Ở gia súc ỉa chảy nếu lượng dịch mất đi trongđường ruột vượt quá lượng dịch đưa vào khi ăn, uống, thận sẽ cố gắng bù lạibằng cách cô đặc nước tiểu để giảm lượng nước thải ra Nếu thận không bù được,mức dịch thể trong tổ chức bị giảm và máu bị đặc lại Hiện tượng này gọi là mấtnước và triệu chứng lâm sàng là con vật yếu, bỏ ăn, thân nhiệt hạ thấp và có thểtrụy tim, mắt bị hõm sâu, nhìn lờ đờ, da khô, khi véo da lên nếp da chậm trở lại
vị trí cũ (Archie.H, 2000) Lợn bị tiêu chảy gầy sút nhanh, da nhăn, tính đàn hồikém; nếu tiêu chảy lâu ngày, lợn gầy nhô xương sống, da khô, lông dựng ngược
Hiện tượng trúng độc xảy ra do thức ăn lên men phân giải, sinh độc tố, hệ
vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố Các độc tố đó cùng vớicác sản phẩm của viêm, tổ chức bị phân hủy, ngấm vào máu, trước hết tác độngvào gan, làm cho chức năng gan bị rối loạn Đồng thời, khi bị viêm ruột, cơ thểkhông nhưng không hấp thu được nước do thức ăn đem vào mà còn bị mất nước
và điện giải do niêm mạc tăng tiết cùng dịch rỉ viêm, dịch tiết có thể tăng 80 lầnbình thường Mặt khác, do ruột bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột cũngtăng lên nhiều lần Gia súc bị tiêu chảy, đồng thời cũng kéo theo hàng loạt cácbiến đổi bệnh lý khác nhau
1.1.5 Hậu quả của viêm ruột tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể, từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinhbệnh và gây ra hậu quả cụ thể: Tuy nhiên, khi hiện tượng ỉa chảy xảy ra cơ thểchịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung, đó là sự
Trang 21mất nước, mất các chất điện giải, rối loạn cân bằng axit - bazơ (Lê Minh Chí,1995) Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu như khôngđược điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫncảm với sự mất nước Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước, điện giảitrong điều trị tiêu chảy luôn phải đặt lên hàng đầu (Archie.H, 2000).
Ở lợn bị tiêu chảy, khả năng tiêu hóa, khả năng chuyển hóa và hấp thu cácchất dinh dưỡng điều giảm nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc cácbệnh khác (Phạm Sỹ Lăng và cs., 1997)
Ở lợn hiện tượng tiêu chảy thường có quá trình nhiễm khuẩn Khi tiêuchảy do nhiễm khuẩn, các triệu chứng trầm trọng và hậu quả để lại nặng nề hơn.Bệnh có thể lây lan và kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho ngành chănnuôi Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây bệnh khác nhau thì cũng để lạinhưng hậu quả khác nhau
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH TIÊU CHẢY DO VIRUS (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA - PED) GÂY RA TRÊN LỢN
1.2.1 Lịch sử bệnh
Năm 1971, một bệnh dịch cấp tính chưa được biết đến đã xảy ra trên đàn lợn thịt và lợn nuôi vỗ béo ở nước Anh, với triệu chứng lâm sàng gần giống như bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) chỉ khác là dịch không xảy ra ở lợn con theo mẹ TGEV và một số tác nhân gây bệnh khác đã được loại trừ Dịch đã xảy ra lây lan khắp Châu Âu và được gọi với tên ”dịch tiêu chảy do virus”
(Epidemic Viral Diarrhea- EDV).
Năm 1976, nhiều vụ dịch tiêu chảy giống TGE đã xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi
mà nguyên nhân gây bệnh không phải là TGEV và các tác nhân gây tiêu chảy đãbiết Người ta gọi bệnh là ”EDV typ2” (gây bệnh cho cả lợn sơ sinh), để phânbiệt với dịch ”EDV typ 1” đã được biết đến năm 1971
Năm 1978, tác nhân gây bệnh giống với Coronavirus đã phân lập được từdịch EDV typ 2, được coi là nguyên nhân gây bệnh và tên bệnh được đề nghị gọi
là Dịch tiêu chảy ở lợn (Porcine Epidemic Diarhea - PED) Tuy nhiên đến nay sự
khác biệt của EDV typ 1 và EDV typ 2 vẫn chưa được xác định
Trang 22Từ năm 1982 đến năm 1990, kháng thể kháng virus gây dịch tiêu chảy ở
lợn (Porcine Epidemic Diarrhea Virus - PEDV) đã được phát hiện ở nhiều đàn
lợn ở Anh, Bỉ, Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Bulgaria, Đài Loan.Ngoài ra, một số nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, TháiLan cũng ghi nhận đã phân lập được virus Hiện nay, các ổ dịch do virus PED ítđược ghi nhận ở Châu Âu và ngày càng có ít nghiên cứu về bệnh Tuy nhiên, cácnước Châu Á lại có nguy cơ cao xảy ra dịch Năm 2008, virus gây dịch tiêu chảy
ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea Virus - PEDV) đã được phát hiện trong một số
đàn lợn bị tiêu chảy ở Việt Nam
1.2.2 Một số đặc điểm của virus PEDV
1.2.2.1 Phân loại
PEDV được xếp vào nhóm 1, giống coronavirus, họ coronaviridae, cùng với TGEV, coronavirus gây bệnh cho mèo (feline coronavirus), coronavirus gây bệnh cho chó (canine coronavirus), và coronavirus gây bệnh cho người chủng 229E (human coronavirus).
Dựa vào kết quả giải trình tự gen cho thấy PEDV có quan hệ gần gũi nhất
với coronavirus gây bệnh cho người chủng 229E và TEGV.
1.2.2.2 Hình thái, cấu trúc
PEDV có cấu trúc giống các virus khác trong họ, đường kính khoảng 95 190nm, có một lớp bề mặt dùi cui nhô ra dài khoảng 18 - 23 nm Là virus có vỏbọc Nhân có cấu trúc là ARN sợi đơn, kích thước từ 27 - 32 kb
PEDV mang glycoprotein S (spike) có khối lượng phân tử 180.000 200.000 dalton, protein màng M (membran) có khối lượng phân tử 27.000 -32.000 dalton và protein N có khối lượng phân tử 57.000 - 58.000 dalton Viruskhông có khả năng gây ngưng kết hồng cầu
-Hiện nay, người ta mới chỉ phát hiện được 1 serotyp PEDV duy nhất Có 2chủng virus PED là:
+ Chủng PED 1 (ở Châu Âu ): chỉ nhiễm trên lợn trong giai đoạn tăng trưởng.+ Chủng PED 2 (ở Châu Á): nhiễm trên tất cả các loại lợn, kể cả lợn náitrưởng thành
Trang 231.2.2.3 Tính chất nuôi cấy
PEDV có thể nhân lên khi gây bệnh thực nghiệm bằng cách cho lợn conuống virus PEDV có khả năng thích ứng kém trong điều kiện nuôi cấy phòng thínghiệm Người ta đã thử nghiệm nuôi cấy virus trên nhiều loại tế bào nhưng ítthành công Đến nay, tế bào vero có thể cấy chuyển được PEDV, gây bệnh tích tếbào; tuy nhiên sự phát triển của virus phụ thuộc vào sự có mặt của trypsin trongmôi trường nuôi cấy
Hiệu giá virus đạt tối đa sau khi nuôi cấy 15 giờ Ngoài ra, một số loại tếbào có thể nuôi cấy virus như tế bào túi mật lợn và tế bào thận lợn
1.2.2.4 Sức đề kháng
PEDV mẫn cảm với ether và chloroform Với nhiệt độ >60oC, virus mấthoạt tính sau 30 phút, nhưng lại tương đối bền ở 50oC Ở nhiệt độ 4oC, pH daođộng từ 4 - 9 hoặc ở nhiệt độ 37oC, pH từ 6,5 - 7,5 virus tương đối bền
1.2.3 Dịch tễ học
1.2.3.1 Loài vật mắc bệnh
Bệnh xảy ra ở loài lợn Lợn có thể mắc ở mọi lứa tuổi Trong nhiều ổ dịch
tỷ lệ lợn ốm lên đến 100%, tỷ lệ chết trung bình ở lợn con là 50% nhưng cũng cóthể rất cao đến 100%
- Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi 0 - 5 ngày tuổi: tỷ lệ chết 100%
- Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi 6 - 7 ngày tuổi: tỷ lệ chết khoảng 50%
- Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi > 7 ngày tuổi: tỷ lệ chết khoảng 30%
1.2.3.2 Phương thức truyền lây
Bệnh tiêu chảy do virus PED xảy ra quanh năm nhưng phổ biến thườngxuất hiện vào mùa đông do virus có khả năng chịu với nhiệt độ lạnh, không bềnvới nhiệt độ và ánh sáng mặt trời
Virus xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường tiêu hóa Lợn mang trùngthải virus qua phân hoặc dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống thừa nhiễm virushoặc do việc nhập lợn mới (lợn mang trùng hoặc lợn nhiễm bệnh PED) vào trongtrại là nguồn lây lan bệnh Phương thức truyền lây của bệnh không khác với cáchlây lan của bệnh TGE
Trang 24Khi đàn lợn đã mắc bệnh, virus thường tồn tại dai dẳng, là nguyên nhângây tiêu chảy cho đàn lợn sau khi cai sữa.
1.2.3.3 Cơ chế sinh bệnh
Để nghiên cứu cơ chế sinh bệnh của PEDV, người ta sử dụng lợn consinh ra không được bú sữa đầu Cho lợn 3 ngày tuổi uống virus chủng CV777,sau 22 - 36 giờ lợn bắt đầu có biểu bệnh Bằng kính hiển vi điện tử, quan sátthấy virus nhân lên đầu tiên trong tế bào chất của các tế bào biểu mô lôngnhung từ ruột non xuống hết kết tràng Tại ruột non, tế bào nhiễm virus bị pháhủy khiến cho lông nhung ngắn lại (tỷ lệ chiều cao và độ dày của lông nhungthay đổi từ 7:1 xuống còn 3:1) tuy nhiên không quan sát được tế bào biểu môkết tràng bị phá hủy
Cơ chế sinh bệnh ở ruột non của PEDV cũng giống như TEGV, tuy nhiên
do thời gian nhân lên của PEDV trong ruột non chậm hơn nên thời gian nungbệnh thường dài hơn so với TEGV Không có bằng chứng cho thấy sự nhân lêncủa virus ở các tế bào bên ngoài đường tiêu hóa
Cơ chế sinh bệnh của PEDV ở lợn lớn không được nghiên cứu chi tiết,nhưng người ta vẫn ghi nhận có sự nhân lên của virus trong tế bào biểu mô ở cảruột non và kết tràng Tuy nhiên, hiện tượng một số lợn thịt bị chết đột ngột, cơlưng bị hoại tử cấp tính vẫn chưa được làm sáng tỏ
1.2.4 Triệu chứng của lợn mắc tiêu chảy do virus PED
Triệu chứng đặc trưng khi lợn mắc bệnh tiêu chảy do virus PED là hiệntượng lợn bỏ ăn, mệt mỏi, tiêu chảy phân nhiều nước Lợn con theo mẹ: lười bú,
ỉa chảy, phân lỏng, tanh, màu vàng, có sữa không tiêu, nôn mửa, lợn con sụt cânnhanh do mất nước Triệu chứng điển hình là lợn con thích nằm lên bụng mẹ,điều trị bằng kháng sinh đặc trị tiêu chảy không có hiệu quả
Trong thực tế triệu chứng đầu tiên là lợn trên 1 tuần tuổi có biểu hiện nônmửa, 5 - 6 con trong 1 đàn sau đó tăng lên nhiều đàn trong thời gian ngắn, sau đókhoảng 4 - 5 tiếng thì lợn tiêu chảy hàng loạt Sau 1 - 2 ngày lợn mẹ bắt đầu bỏ ăn,
kế đến là tiêu chảy, sau 4 - 5 ngày lợn mẹ trở lại bình thường hoàn toàn, sau đó lợncon cũng trở lại bình thường, nhưng lợn con mới đẻ ra thì chết 100% kéo dài đến
10 ngày, kể từ khi cho ăn ruột lợn, khi heo mẹ đã tạo được kháng thể tốt
Trang 25Nếu dịch xảy ra ở đàn lợn sinh sản, tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết rất khác nhau.Một số trại lợn mọi lứa tuổi đều mắc tỷ lệ lên đến 100% Bệnh xảy ra tương tựnhư bệnh TGE, chỉ khác tốc độ lây lan trong đàn chậm hơn (mất 4 - 6 tuần) vàđôi khi tỷ lệ chết ở đàn sơ sinh thấp.
Lợn 1 tuần tuổi sau khi bị tiêu chảy kéo dài 3 - 4 ngày thường bị chết do mấtnước Tỷ lệ chết trung bình ở lợn con là 50% nhưng cũng có thể lên đến 100%
Lợn trưởng thành thường khỏi sau 1 tuần Tại những trại sau khi có ổ dịchcấp tính xảy ra, lợn sau cai sữa 2 - 3 tuần thường bị tiêu chảy và lây lan bệnh cholợn mới nhập đàn
Trong những năm gần đây, các ổ dịch xảy ra tại Châu Âu có tỷ lệ lợn sơsinh chết thấp nhưng các ổ dịch tại Nhật Bản và Hàn Quốc lại cho thấy tỷ lệ lợn
sơ sinh chết rất cao
Lợn nuôi vỗ béo khi mắc bệnh có triệu chứng nặng hơn so với bệnh TGE Lợn
có biểu hiện đau bụng, nhưng thường qua khỏi sau 7 - 10 ngày Tỷ lệ chết từ 1 - 3%,thường chết ở thể cấp tính khi mới đi ỉa ở giai đoạn đầu hoặc chưa có biểu hiện tiêuchảy Vùng cơ lưng của những lợn chết thể cấp tính thường hay bị hoại tử
1.2.5 Bệnh tích của lợn mắc tiêu chảy do virus PED
* Tổn thương đại thể
Do biểu hiện triệu chứng lâm sàng chủ yếu trên đường tiêu hóa nên biếnđổi bệnh lý trên đường tiêu hóa cũng rất đặc trưng
Dạ dày căng chứa đầy dịch sữa không tiêu màu trắng đục hoặc màu vàngcủa dịch mật Ruột non màu nhợt nhạt, chứa đầy dịch lỏng màu vàng hoặc sữakhông tiêu vón cục Các hạch ruột sung huyết, xuất huyết Thành ruột lợn conmỏng và có thể nhìn xuyên qua
Theo Jazukovoj K.N and Niconxkij (1983) cho biết: Khi bị ỉa chảy nặngnhững lợn còn sống có biến đổi bệnh lý tương đối điển hình là dạ dày thườngcăng chướng trong chứa đầy sữa vón cục không tiêu, xung huyết nặng niêm mạc
dạ dày, ruột non Trên một đoạn dài ở nhiều con thấy xuất huyết niêm mạc ruột.Kết quả này phù hợp với kết luận của Đào Trọng Đạt và cs (1995) khi tổng hợpnghiên cứu của Hooper and Haeltermam (1969)
Trang 26Ngoài ra còn thấy thành ruột mỏng và trong suốt có thể do lông nhung bịbào mòn, xuất huyết, chứa nhiều chất lỏng thối, hạch ruột sưng thủy thũng, đặcbiệt là ở không tràng và hồi tràng, dẫn theo Đào trọng Đạt và cs (1995).
* Tổn thương vi thể
Các biến đổi bệnh lý ở cấp độ vi thể có ý nghĩa quan trọng trong chẩnđoán bệnh tiêu chảy do virus PED Khi quan sát tiêu bản ruột của lợn mắc bệnhPED thấy sung huyết hạ niêm mạc, lông nhung ruột sung huyết, tù đầu…
1.2.6 Chẩn đoán
1.2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào triệu chứng: lợn con tiêu chảy với tỷ lệ chết cao, lợn con thíchnằm trên bụng mẹ, điều trị bằng các loại kháng sinh không có hiệu quả, tỷ lệ chếtđối với lợn dưới 5 ngày tuổi lên đến 100%
1.2.6.3 Chẩn đoán phân biệt
Như chúng ta đã biết ngoài tiêu chảy do virus PED có rất nhiều bệnh kháccũng gây ra triệu chứng tiêu chảy, đó là phản ứng của cơ thể và hậu quả có liênquan đến đường ruột như:
* Bệnh viêm dạ dày, ruột truyền nhiễm (TGE - Transmissible Gastro Enteritis)
Đây là một bệnh mới được phát hiện trong vòng 20 năm trở lại đây, bệnhgây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi tập trung Nguyên nhân do virus thuộc
nhóm Coronavirus gây viêm dạ dày ruột, lây lan nhanh và tỷ lệ chết rất cao trong
vòng vài ngày, tùy theo lứa tuổi Bệnh thường xảy ra ở lợn con dưới 2 tuần tuổi,lợn mất nước sút cân nhanh, lợn bị nôn mửa và ỉa chảy phân có nhiều nước, màuvàng hoặc hơi xanh, lổn nhổn mùi khó chịu
Trang 27Do virus TGE phá hủy gần như toàn bộ nhung mao của ruột nên khi mổkhám thành ruột non mỏng như tờ giấy cuộn thuốc lá và dạ dày có chứa sữakhông tiêu màu trắng Bệnh này xảy ra chủ yếu với lợn con gây tổn thất rất lớn, ởlợn trưởng thành bệnh này ở thể mang bệnh ít biểu hiện.
* Bệnh do Rotavirus
Bệnh do virus thuộc họ Reoviridae gây ra Bệnh hay xảy ra ở lợn 1 - 5
ngày tuổi, tỷ lệ chết cao 50 - 100% Triệu chứng điển hình của bệnh là phân nhãonhư hồ rồi đến phân lẫn nhiều nước màu vàng trắng hoặc xám, chứa nhiều chấtvón Do virus cư trú và hủy hoại làm thoái hóa lớp nhung mao ruột nên khả năngtiêu hóa và hấp thu kém Do vậy khi lợn khỏi bệnh nếu được nuôi tiếp lợn sẽ còicọc và chậm lớn, ở lợn ít có biểu hiện lâm sàng
* Bệnh do E.coli (Colibaccillosis)
Sau khi xâm nhập vào hệ thống tiêu hóa trước hết vi khuẩn bám dính vào
tế bào nhung mao ruột non bằng các yếu tố bám dính Tại đây vi khuẩn phát triển
nhân lên, phá hủy tế bào tổ chức, gây viêm và sản sinh Toxigenic và Verotoxin,
gây tụ huyết, xuất huyết gây tử vong rất nhanh, hoặc vi khuẩn cư trú tại ruột tạo
ra chứng viêm ruột cấp Nếu con vật vượt qua giai đoạn này thường để lại bệnhtích ở hạch màng treo ruột, gan, lách và túi mật Với những gia súc trưởng thànhkhỏe mạnh có thể không có triệu chứng lâm sàng nhưng có bệnh tích ở phủ tạng,vùng bụng Căn cứ vào các giai đoạn gây bệnh cho các lứa tuổi chia ra làm hailoại Bệnh lợn con phân trắng và bệnh tiêu chảy ở lợn
+ Bệnh phân trắng lợn con: thường xảy ra ở lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi vớinhững đặc điểm: lợn xù lông, gầy còm, suy nhược, các đầu xương nhô ra, mắt trũngsâu, phân lỏng nhiều nước thay đổi từ màu sáng trong sang màu trắng
+ Bệnh tiêu chảy ở lợn con: thường xuyên xảy ra ở lợn từ 4 tuần tuổi đếnsau cai sữa Bệnh này có triệu chứng giống bệnh phân trắng lợn con, nhưng mức
độ tiêu chảy của lợn không nặng và phân đổi màu nâu xám hoặc xám xanh
* Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis)
Salmonellosis là vi khuẩn gây bệnh viêm ruột chủ yếu do 2 chủng Salmonella cholera suis chủng Kunzendorf hay Salmonella typhysuis chủng Voldargsen gây bệnh thể mãn tính Bệnh này thường xảy ra ở lợn sau cai sữa đến
4 tháng tuổi lợn lớn ít mắc hơn
Trang 28Triệu chứng: con vật bỏ ăn, sốt cao 40,50C - 41,60C, ho khan khò khè, lúcđầu đi táo, sau khi nhiệt độ hạ xuống, con vật ỉa chảy nặng, phân lỏng sống màuvàng bột như cám, da xuất hiện những đám tụ máu, gan có những điểm hoại tửhoặc áp se, lợn chết ở những ngày đầu lách sưng to, tụ máu Nếu lợn mắc ở thểmãn tính lách dai như cao su Niêm mạc ruột già viêm loét, vết loét lan tràn bờnông, có khi vết loét chất lên nhau Do ỉa chảy nhiều, con vật dễ dẫn đến lòi dom
và giai đoạn sau liệt cơ vòng hậu môn cho nên phân tự chảy ra Da nhợt nhạtlông xù, bụng hóp lại hõm sâu xuống Do đặc tính của bệnh nên kháng sinh điềutrị chúng ta phải thận trọng vì rất dễ làm tăng khả năng mang trùng
* Bệnh hồng lỵ do treponema
Bệnh do xoắn khuẩn Treponema hyodysenteria gây nên thường kết hợp với phẩy trùng Vibro và các nhóm vi khuẩn đường ruột khác Nếu chỉ có một mình vi khuẩn Treponema thì không gây bệnh trong môi trường sạch các vi
khuẩn khác
Bệnh thường xảy ra ở lợn sau cai sữa từ 3 - 6 tháng tuổi, dấu hiệu lâmsàng chủ yếu là tiêu chảy, phân có lẫn máu tươi màng niêm mạc và dịch lầy nhầy
do viêm ruột già, manh tràng, trực tràng Cơ thể suy nhược, mất nước, chậm lớn
và ảnh hưởng đến chỉ số tiêu tốn thức ăn
* Bệnh viêm ruột cấp tính lúc sơ sinh
Bệnh do Clostridium perfringens gây ra Bệnh xảy ra ở lợn trong vòng 1
tuần tuổi nhất là thời điểm 1 - 3 ngày tuổi sau khi sinh Bệnh là do cảm nhiễm kếphát làm cho diễn biến ở mức độ trầm trọng khác nhau
Triệu chứng chủ yếu là tiêu chảy ra máu, tỷ lệ chết cao, có bệnh tích ởruột non xuất huyết máu đỏ tươi
* Bệnh tiêu chảy do protozoa
Các loại protozoa có sẵn trong hệ tiêu hóa của lợn Cryptospodium gây ra
ỉa chảy cho lợn con mới đẻ, các loại khác như: Balantium coli, Coccidia đều
gây ra hội chứng tiêu chảy, trong trường hợp kết hợp các yếu tố khác sẽ gây rarối loạn tiêu hóa
Trang 291.2.6.4 Chẩn đoán huyết thanh học
Để chẩn đoán chính xác bệnh tiêu chảy do virus PED không chỉ dựa vàotriệu chứng lâm sàng do rất dễ nhầm lẫn với TGE Sử dụng phương pháp chẩnđoán miễn dịch huỳnh quang hoặc hóa mô miễn dịch có thể cho kết quả tươngđối nhanh, chính xác Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là mẫu bệnhphẩm để chẩn đoán phải là ruột của lợn được giết khi mới bị tiêu chảy (tốt nhấttrong 2 ngày đầu bị bệnh) Nếu bệnh phẩm của lợn bị chết tự nhiên thì kết quảkhông đáng tin cậy
Hiện nay, một số kit ELISA đã được phát triển để xác định kháng nguyênPEDV có trong phân của lợn cũng như xác định sự có mặt của kháng thể tronghuyết thanh
1.2.7 Phòng và kiểm soát bệnh
1.2.7.1 Phòng bệnh khi chưa có dịch xảy ra
Do tốc độ lây lan của bệnh chậm, nên các biện pháp nhằm hạn chế sự xâmnhập của virus vào những đàn nái mới đẻ là việc làm rất cần thiết, giúp lợn nếumắc bệnh có độ tuổi lớn hơn thì tỷ lệ chết sẽ thấp hơn
- Tăng cường kiểm soát người, các phương tiện vào trại, đặc biệt là các
xe và người vào bắt lợn, mua lợn vì đây là nguyên nhân chính làm lây lan dịchbệnh
- Có hàng rào ngăn cách giữa, trong và ngoài trại, đặc biệt là xe bắt lợnkhông được vào trong trại mà phải đỗ ở ngoài trại đúng nơi quy định
- Xe vận chuyển trong trại sau khi vận chuyển lợn phải được rửa, sát trùng
để khô mới được vận chuyển lợn tiếp
- Có chuồng bán lợn nằm sát vòng ngoài của trại
- Cấm đưa lợn từ khu vực bán trở về trại
- Không cho nước thải ở chuồng bán chảy ngược vào trong trại
- Người lao động không nên tiếp xúc với lợn khác ngoài khu vực làm việcchính của mình
- Hạn chế khách tham quan nếu không thật sự cần thiết
- Thực hiện cách ly giữa các trại, ô chuồng, dụng cụ sử dụng trong trại
Trang 30- Làm vệ sinh lối đi thường xuyên, có hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng(vệ sinh trong trại ngày 2 lần, ngoài trại ngày 1 lần).
Theo Kweon et al (2000); Shibata et al (2001), cho lợn sơ sinh uống lòng
đỏ trứng gà hoặc sữa đầu của bò chứa globulin miễn dịch chống lại PEDV sẽgiúp làm giảm tỷ lệ chết
1.2.7.2 Phòng bệnh bằng vaccin
Tại Châu Âu, thiệt hại về kinh tế do bệnh gây ra chưa đến mức phảinghiên cứu vaccin phòng bệnh Tuy nhiên, dịch lại gây thiệt hại tại Châu Á đãbuộc phải có các nghiên cứu về vaccin phòng bệnh
Tại Nhật Bản, từ năm 1997 đã có vaccin nhược độc chủng P - 5V thíchứng trên môi trường tế bào được thương mại hóa giúp phòng bệnh Tuy vaccinđược coi là có hiệu quả phòng bệnh nhưng không phải tất cả lợn nái sinh sản đềuđáp ứng miễn dịch qua sữa
1.2.8 Điều trị bệnh
Hiện nay chưa có thuốc nào chữa bệnh đặc hiệu Nhưng theo Dimitrov
(1981); Potopalsky et al (1983) cho biết có một vài hợp chất kháng virus có tác
dụng ngăn cản virus phát triển trên tế bào nuôi như amuntadine và isathiazone.Vẫn đang trong quá trình thí nghiệm tìm kiếm chất diệt virus (viricide)
Lợn con ỉa chảy gây nên mất nước và giảm canxi huyết, theo kinh nghiệm chothấy việc bổ xung điều trị bằng truyền dịch và bằng chế phẩm sinh học, cho lợn conđạt kết quả rất tốt Khiến tỷ lệ chết ở lợn bệnh 3-4 ngày tuổi giảm đi khá nhiều
Lợn con theo mẹ nếu bị mắc bệnh cho uống nước tự do để hạn chế hiệntượng mất nước Lợn con vỗ béo nên cho nhịn ăn
Lợn con lớn hơn 7 ngày tuổi cho uống kháng sinh Amoxycillin - Colistin, tiêm kháng sinh Ampisur, Apramycin để phòng vi khuẩn kế phát như: Salmonella, Clostridium perfringens, E.coli Pha Glucose 5% và Electrolyte cho lợn uống để chống mất nước do tiêu chảy Nếu đến lúc lợn cai sữa có trọng lượng nhỏ hơn 4,5kg nên loại thải do lợn sẽ bài thải virus ra môi trường và gây bệnh cho lợn khác.
Tự tạo miễn dịch cho lợn con bằng cách cho lợn mẹ ăn ruột của lợn contrước khi đẻ là biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả
Trang 31Phương pháp tiến hành:
- Lấy ruột của 2 - 3 lợn con có triệu chứng ỉa chảy do virus PED đangcòn sống, chưa được điều trị thuốc, có độ tuổi nhỏ hơn 5 ngày tuổi, cho vàomáy xay, xay nhỏ
- Trộn hỗn hợp thu được với 1lít nước cất Lọc qua vải gạc lấy phần nướctrong, cho vào 100g Colistin để diệt tạp khuẩn Đem dung dịch trên trộn với thức
ăn trong toàn trại cho lợn nái, lợn hậu bị ăn (mỗi con 10ml)
* Quản lý và chăm sóc đàn mắc bệnh
Quản lý, chăm sóc là cách hiệu quả và ít tốn kém nhất để giảm đàn bịnhiễm virus gây bệnh Nó không chỉ trực tiếp cứu các con đã nhiễm bệnh mà cònphòng nhiễm sang các con khác, quan trọng hơn là tránh lây lan truyền sang cácđàn khác trong vùng
Rất khó đưa ra lời khuyến cáo chung cho các đàn bị nhiễm bệnh vì mỗiđàn đều khác nhau về chuồng trại, thời gian đẻ, mục đích nuôi, khả năng nhâncông và các yếu tố khác ảnh hưởng đến các quyết định điều hành Do đó để cầnnắm rõ quá trình sinh bệnh, dịch tễ học và miễn dịch học của bệnh nên tập trungvào một số vấn đề sau:
- Lợn nái đẻ trong 10 ngày hoặc 2 tuần sau khi bắt đầu một ổ dịch cầnchuyển qua các khu vực khác Điều này làm giảm khả năng đàn con bị nhiễmbệnh và rút ngắn thời gian nơi đẻ bị ô nhiễm
- Ở các đàn nhiễm virus, người ta gây nhiễm cho các lợn chửa bằng virusđang có trong trại có thể mang lại hiệu quả Theo kinh nghiệm chăn nuôi lànghiền ruột có chứa virus của các lợn nái nhiễm bệnh trong nước và trộn vàothức ăn lợn nái Với cách làm này chưa thấy trường hợp nào cho lợn nái ăn virussống lại gây xảy thai hoặc nhiễm trùng tử cung ở nái chửa Nái nhiễm bệnh pháttriển độ miễn dịch khoảng 10 ngày và trở nên mạnh hơn trong vài tuần sau
Ở các đàn nhiễm virus, theo kinh nghiệm chăn nuôi, người ta gây nhiễmcho các lợn chửa bằng virus đang có trong trại có thể phòng, chống bệnh có hiệuquả bằng cách cho lợn mẹ ăn ruột của lợn con đã nhiễm bệnh PED trước khi đẻ
Trang 32* Cách cho ăn chế phẩm ruột non: Cho lợn nái hậu bị, nái cai sữa và nái
mang thai tới 14 tuần ăn chế phẩm ruột non Lưu ý: Không cho lợn nái mang thaitrên 15 tuần và nái đang nuôi con ăn do lợn nái sẽ truyền bệnh cho lợn con Một
bộ ruột chia đều cho 20 nái ăn, sau khi lợn nái ăn sẽ có biểu hiện tiêu chảy nhẹ.Nếu lợn nái ăn chế phẩm ruột nhưng chưa có biểu hiện tiêu chảy thì cho lợn ăntiếp với liều lượng tăng dần cho đến khi nái tiêu chảy Khi cho lợn nái ăn chế
phẩm ruột, nên tiêm kháng sinh Dynamutilin 20% hoặc Ampisur cho nái phòng
vi khuẩn kế phát như: Clostridium perfringens, Salmonella, Ileitis, hồng lỵ Miễn
dịch sẽ có sau khi lợn nái có biểu hiện tiêu chảy 2 - 3 tuần Nái mang thai đãđược cho ăn chế phẩm ruột thì sau khi sinh con sẽ truyền kháng thể cho lợn conqua sữa đầu và lợn con sẽ có khả năng miễn dịch đối với bệnh này
- Nếu phát hiện, xử lý nhanh có thể sau 3 tuần dập tắt được dịch bệnhtrong toàn trại
1.3 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ HUYẾT HỌC
Máu là một thành phần tổ chức của cơ thể rất quan trọng vì máu liên lạcmật thiết với mọi cơ quan, bộ phận trong cơ thể Do đó về mặt bệnh lý, máu chịuảnh hưởng của những bệnh ở riêng các cơ quan tạo máu và tất cả các bệnh ở mọi
cơ quan, tổ chức khác trong cơ thể
Về phương diện vật lý, máu là một tổ chức lỏng lưu động trong hệ thốngtuần hoàn nhưng luôn có sự trao đổi mật thiết với các chất dịch gian bào, qua đólàm nhiệm vụ vận chuyển các chất dinh dưỡng và các sản phẩm chuyển hóa cho
tổ chức và cơ quan trong cơ thể Máu gồm hai thành phần chính là thành phần vôhình và hữu hình:
Thành phần vô hình: hay còn gọi là huyết tương, chiếm 60% thể tích củamáu Huyết tương có màu vàng nhạt, có 90 - 92% là nước, 8 - 10% vật chất khôtrong đó:
Protein huyết tương gồm các thành phần cơ bản là: Albumin, Globulin vàFbrinogen (chiếm 6 - 8%) Protein huyết tương luôn ở thế cân bằng động, tức làluôn có quá trình phân giải và tổng hợp nhờ sự điều khiển của hệ thần kinh.Protein đóng vai trò hết sức quan trọng:
Trang 33Albumin tham gia cấu tạo lên các mô bào, là tiểu phần chính tạo lên ápsuất thẩm thấu thể keo của máu, tham gia vận chuyển các chất như axit béo, axit mật…
Globulin gồm có 3 loại α, β, γ- globulin Trong đó α, β - globulin tham giavận chuyển hooc môn steroit, phosphat và axit béo Còn γ- globulin tham gia vàochức năng miễn dịch của cơ thể (Vũ Triệu An và cs., 1978) Để đánh giá mốitương quan giữa Albumin và Globulin người ta thường tính tỷ lệ A/G và gọi đây
là chỉ số protein huyết thanh Mối tương quan này phản ánh tình trạng sức khỏecủa con vật, phẩm chất con giống và một số chỉ tiêu sinh hóa để chẩn đoán bệnh
Đường huyết chủ yếu là glucose trong máu toàn phần ở dạng tự do, ngoài racòn có một lượng nhỏ các hợp chất gluxit dưới dạng phosphat, dạng phức hợp gluxit -protit và glycogen Trong điều kiện sinh lý bình thường khoảng 65% tổng lượng glucosetrong cơ thể được phân bố ở máu và các dịch gian bào, 35% dự trữ gan dưới dạngglycogen và lipit Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng cung cấp năng lượng cho mọihoạt động của cơ thể sống Ở trạng thái bình thường hàm lượng đường huyết được duy trì
ổn định nhờ lượng đường hấp thu từ thức ăn và thông qua quá trình sinh tổng hợp,phân giải glycogen tại gan Khi cơ thể rơi vào trạng thái bệnh lý, đặc biệt là trườnghợp gây tổn thương gan hoặc bị thừa, thiếu Insulin và glucagon thì hàm lượngđường huyết sẽ bị rối loạn, ảnh hưởng đến toàn thân (Vũ Triệu An và cs., 2006)
Ngoài các thành phần kể trên, trong huyết tương còn có các chất hòa tannhư: Các loại hooc môn, vitamin, enzym, các hạt mỡ, các muối khoáng đa lượng,
vi lượng,
Thành phần hữu hình của máu bao gồm các tế bào hồng cầu, bạch cầu vàtiểu cầu Đây là các thành phần quan trọng quyết định các chức năng cơ bản củamáu đó là vận chuyển, dinh dưỡng và bảo vệ…
Hồng cầu là loại tế bào máu được biệt hóa từ nguyên bào máu của tủyxương và phát triển kế tiếp nhau là kết quả của một quá trình phân hóa phức tạp.Hồng cầu của gia súc hình đĩa, lõm hai mặt và không có nhân Vai trò chủ yếucủa chúng là vận chuyển O2 từ phổi tới tổ chức, mô bào và vận chuyển khí CO2
từ các tổ chức, mô bào tới phổi để thải ra ngoài Tính chất này do huyết sắc tố(hemoglobin) qui định
Trang 34Hồng cầu là quần thể tế bào đồng nhất ở máu ngoại vi Thành phần cấutạo của hồng cầu bao gồm 60% là nước và 40% là vật chất khô, trong đóHemoglobin chiếm 90 - 95%, còn 3 - 8% là các protein khác: Leucoxitin chiếm0,5%, Cholesterol chiếm 0,3%, các muối kim loại Trong hồng cầu có một sốenzym quan trọng đó là anhydraza, cacbonicatalaza Ngoài ra trên màng hồngcầu có enzym glucose-6 cacbonicatanaza, glutationreductaza có vai trò quantrọng trong việc đảm bảo tính bền vững, thẩm thấu của màng và sự trao đổi chấtqua màng hồng cầu.
Số lượng hồng cầu thay đổi tùy loài, giống, tuổi, giới tính, chế độ dinhdưỡng và trong trường hợp bệnh lý Hồng cầu tăng trong các trường hợp gia súc
bị trở ngại hô hấp như: viêm khí quản, phế quản Sự thay đổi điều kiện khí hậu,môi trường càng làm ảnh hưởng đến số lượng hồng cầu trong cơ thể Ở vùng núicao, áp xuất khí quyển giảm thấp, phân áp oxi trong không khí giảm, hồng cầutăng lên có tác dụng bù, đảm bảo cung cấp oxi cho cơ thể Ở cơ thể vận độngmạnh, trong môi trường nóng đột ngột, hồng cầu cũng tăng lên Hồng cầu có thểgiảm trong các bệnh như: thiếu máu, chảy máu nhiều, sốt rét, giun móc, bệnhnhiễm khuẩn, nhiễm độc gây thiếu máu và suy tủy xương (Vũ Triệu An, 1999)
Theo Bush et al. (1995) thể tích bình quân của hồng cầu ở lợn dao động
50 - 68 µm3
Bạch cầu là những tế bào máu có khả năng di động theo kiểu amip, kíchthước thay đổi từ 5 - 20 µm (tùy theo loại) Chúng có chức năng chính là thựcbào và tham gia vào các đáp ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể
Hình thái chung của bạch cầu thường có dạng hình cầu, tuy nhiên khitham gia vào các quá trình xuyên mạch và thực bào bạch cầu thường thay đổihình dạng rất linh hoạt
Căn cứ vào thành phần cấu trúc đặc biệt trong bào tương, người ta chiabạch cầu ra thành hai nhóm lớn đó là bạch cầu có hạt và bạch cầu không hạt:
+ Bạch cầu có hạt: Là loại bạch cầu bên trong bào tương có các hạt sinhchất có ái lực cao với các loại thuốc nhuộm Căn cứ vào tính chất này, bạch cầu
có hạt chia thành ba loại đó là: Bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm và bạch cầu đanhân trung tính:
Trang 35Bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophils) là loại tế bào chiếm số lượngnhiều nhất trong các loại bạch cầu Tế bào này có kích thước trung bình khoảng
từ 10 ÷ 15 µm Nhân có nhiều dạng khác nhau từ dạng hình củ ấu đến dạng phânthùy hình gậy Bên trong bào tương có chứa các hạt bắt màu cả thuốc nhuộm toantính (eosin) và thuốc nhuộm kiềm tính (xanh methylen) nên chúng được gọi là bạchcầu đa nhân trung tính Đây là loại bạch cầu có vài trò quan trọng nhất trong thực bàobảo vệ cơ thể nên chúng thường tăng trong các trường hợp khi cơ thể bị tổn thương,khi bị xuất huyết nhẹ trong ổ bụng, đặc biệt viêm cấp tính… Trái lại, số lượng bạchcầu đa nhân trung tính giảm trong những trường hợp cơ thể bị nhiễm virus và nhiễmđộc thủy ngân (Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001)
Bạch cầu ái toan: Có nhân phân đoạn như bạch cầu trung tính, nhưng bắtmàu hồng đỏ khi nhuộm Giemsa, số lượng ít hơn bạch cầu trung tính, chiếm 9%tổng số bạch cầu, kích thước trung bình từ 10 ÷ 15 µm Chức năng sinh lý chủyếu là khử độc protein Do đó số lượng bạch cầu ưa axit tăng trong trường hợp bị
dị ứng và tập trung ở nơi xảy ra phản ứng kháng nguyên, kháng thể Niêm mạcruột và phổi cũng có nhiều loại bạch cầu này Vì đó là các địa điểm mà protein lạxâm nhập vào cơ thể Bạch cầu axit tăng trong các bệnh ký sinh trùng đường ruột(Nguyễn Quang Mai, 2004)
Bạch cầu ái kiềm là loại tế bào máu có kích thước trung bình 10 ÷ 15 µm.Nhân thường được phân thành hai đến ba thùy, trong bào tương có các hạt bắt màuxanh tím khi nhuộm Giemsa Trong trạng thái cơ thể khỏe mạnh, bạch cầu ái kiềm có
số lượng rất ít và chúng thường tăng lên trong các bệnh viêm mãn tính
+ Bạch cầu không hạt: là loại bạch cầu bên trong bào tương không có cáchạt bắt màu thuốc nhuộm như bạch cầu có hạt Bạch cầu không hạt bao gồm bạchcầu đơn nhân lớn và lâm ba cầu
Lympho bào, chiếm khoảng 25% tổng số bạch cầu Trong cơ thể bạch cầu
có kích thước 5 ÷ 15 µm Nhân hình tròn hoặc hình hạt đậu, khối lượng nhân lớn,bắt màu đậm, bào tương ít Người ta phân biệt lympho T do tuyến ức sản sinh vàLympho B do hạch bạch huyết sản sinh ra Chức năng chủ yếu là bảo vệ cơ thểbằng các phản ứng miễn dịch Lympho bào thường tăng trong các trường hợpnhiễm khuẩn mãn tính và các bệnh do virus, vi khuẩn ở giai đoạn hồi phục
Trang 36Ngược lại chúng thường bị giảm trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp và các bệnhung thư đường tiêu hóa như dạ dày, ruột và đại tràng….
Bạch cầu đơn nhân lớn là loại tế bào máu có khả năng thực bào mạnhnhất Mỗi tế bào đơn nhân lớn sau khi được hoạt hóa trở thành đại thực bào cóthể thực bào được khoảng 100 vi khuẩn trong khi đó một bạch cầu trung tínhtrung bình trong cuộc đời chỉ thực bào được khoảng 5 ÷ 25 vi khuẩn Bạch cầuđơn nhân lớn tăng trong các bệnh truyền nhiễm mãn tính, các bệnh nhiễm trùnghuyết và giảm trong các bệnh bại huyết cấp tính và các bệnh mà bạch cầu trungtính tăng nhiều (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Tiểu cầu là những tế bào máu có kích thước nhỏ nhất, hình tròn hay bầudục, có đường kính 2 - 4 µm, khi mới được phóng thích từ tủy xương thì tiểu cầulớn, theo thời gian chúng giảm dần kích thước và số lượng Tiểu cầu dính vào colagen
và những sợi trong nền thành mạch, một diễn biến phụ thuộc vào sự trùng phân củacolagen và những nhóm amin tự do trên colagen Để tiểu cầu ngưng tập hữu hiệuchúng phải có canxi, fibrinogen và những yếu tố đông máu khác
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Đối tượng, địa điểm, nguyên liệu nghiên cứu.
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Lợn từ sơ sinh đến 5 tuần tuổi, nghi mắc tiêu chảy do Porcine epidemicdiarrhea virus (PEDV) gây ra Lợn được nuôi tại các hộ gia đình và trang trạichăn nuôi của 3 huyện Tiên Du, Lương Tài, Quế Võ tỉnh Bắc Ninh
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm, bộ môn Bệnh lý, khoa Thú y Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Địa điểm theo dõi và lấy mẫu: Tại 3 huyện: Tiên Du, Quế Võ, Lương Tàitỉnh Bắc Ninh
2.1.3 Nguyên liệu nghiên cứu:
- Máu của lợn nghi nhiễm Porcine Epidemic Diarrhea Virus (PEDV) và lợn khỏe.
- Mẫu bệnh phẩm: Gồm các loại mẫu lấy từ cơ thể lợn nhiễm hoặc nghi
nhiễm Porcine Epidemic Diarrhea Virus (PEDV) bao gồm: hạch, phổi, gan, lách,
ruột, dạ dày…
- Dụng cụ, hóa chất:
+ Dụng cụ: Tủ lạnh, tủ sấy, tủ ấm 37ºC, tủ ấm 56ºC, máy đúc Block,khuôn đúc, máy cắt mảnh Microtom, kính hiển vi quang học, đũa thủy tinh, ốngnghiệm, máy li tâm, vòng vớt, lam kính, la men, dao, pank, kẹp, cốc đựng hóachất, đèn cồn, xi lanh, kim lấy máu, buồng đếm Mc.Master
+ Hóa chất:
Môi trường dùng để bảo quản mẫu bệnh phẩm: Formol 10%
Hóa chất dùng để nhuộm tiêu bản: nước cất, cồn ở các nồng độ, xylen,paraffin nấu với sáp ong, thuốc nhuộm Hematoxylin - Eosin (HE),…
2.2 Nội dung nghiên cứu.
+ Xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED
+ Xác định các chỉ tiêu huyết học của lợn mắc bệnh
+ Xác định triệu chứng lâm sàng chủ yếu ở lợn mắc tiêu chảy do virus PED.+ Xác định bệnh tích đại thể của lợn mắc bệnh
+ Xác định bệnh tích vi thể ở một số cơ quan: ruột, hạch ruột, gan, phổi,thận của lợn bệnh