Hiệu quả kinh tế của các loạihình sử dụng đất trên địa bàn huyện chưa cao, các loại hình sản xuất tại PhúXuyên phần lớn còn mang tính tự phát theo phương thức sản xuất còn nhỏ lẻ,chưa tư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
==========o0o==========
PHAN THỊ HẢI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC
VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN PHÚ XUYÊN –
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
==========o0o==========
PHAN THỊ HẢI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC
VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN PHÚ XUYÊN –
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồngốc./
Tác giả luận văn
Phan Thị Hải
Trang 4
Tôi xin trân trọng cám ơn Uỷ ban nhân dân huyện Phú Xuyên, tập thểphòng Tài nguyên và Môi trường huyện, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, cấp uỷ, chính quyền và bà con nhân dân các xã, thị trấntrong huyện Phú Xuyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địabàn
Tôi xin cám ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ,tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Phan Thị Hải
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC ẢNH vii
MỞ ĐẦU 1
1.1.2 Sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 7
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
FAO : Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế một số loại hình sử dụng đất ở tiểu vùng 2 Error:Reference source not found
Bảng 3.8: Đánh giá hiệu quả kinh tế của LUT trang trại .Error: Reference sourcenot found
Bảng 3.9: Mức đầu tư lao động và thu nhập trên ngày công lao động ở tiểu vùng 1 Error:Reference source not found
Bảng 3.10: Đánh giá khả năng sử dụng bền vững các loại hình sử dụng đất Error:Reference source not found
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Bình quân diện tích đất nông nghiệp/khẩu nông nghiệp khu vựcAsean năm 2003 (Đơn vị: ha/người) Error: Reference source not foundBiểu đồ 1.2: Bình quân diện tích đất trồng trọt và cho thu hoạch thườngxuyên/dân số nông nghiệp khu vực Asean năm 2003 (Đơn vị: ha/người) Error:Reference source not found
Biểu đồ 3.1: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2005-2012 Error:Reference source not found
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Xuyên năm 2012 Error: Referencesource not found
Trang 9DANH MỤC ẢNH
Hình 3.1: Cánh đồng lúa ở xã Tri Trung Error: Reference source not foundHình 3.2: Cánh đồng trồng rau cần xã Khai Thái Error: Reference source notfound
Hình 3.3: Cánh đồng rau ở xã Hồng Thái Error: Reference source not foundHình 3.4: Cánh đồng lạc ở xã Nam Phong Error: Reference source not foundHình 3.5: Cánh đồng ngô ở xã Bạch Hạ Error: Reference source not foundHình 3.6: Vườn cây lâu năm ở xã Quang Trung Error: Reference source notfound
Hình 3.7: Trang trại chăn nuôi ở xã Phúc Tiến.Error: Reference source not foundHình 3.8: Trang trại chăn nuôi ở xã Văn Hoàng Error: Reference source notfound
Hình 3.9: Nuôi trồng thủy sản ở xã Văn Hoàng Error: Reference source notfound
Hình 3.10: Nuôi ba ba ở xã Khai Thái Error: Reference source not found
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong sựphát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trong khi, xã hội ngày càng pháttriển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực,thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp; các nhu cầu văn hoá, xã hội, nhu cầu vềđất cho xây dựng v.v Cùng với sự vận động và phát triển, con người ngày càng
“vắt kiệt” nguồn tài nguyên quý giá này để phục vụ cho lợi ích của mình Vì vậy, tổchức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm sinhthái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu Mục đíchcủa việc sử dụng đất là làm thế nào để khai thác nguồn tài nguyên có hạn nàymang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo lợiích trước mắt và lâu dài Nói cách khác, mục tiêu hiện nay của loài người là phấnđấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trườngmột cách bền vững
Phú Xuyên là một huyện phía Nam của Thành phố Hà Nội với vị trí địa lý,điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội Và đặc biệt,
từ khi sáp nhập vào Hà Nội và có quy hoạch xây dựng đô thị vệ tinh của Thànhphố trên địa bàn huyện thì một diện tích không nhỏ đất nông nghiệp đã đượcchuyển sang đất phi nông nghiệp Vấn đề đặt ra là phải xác định được hướng sửdụng đất nông nghiệp hiệu quả, đồng thời định hướng sử dụng đất đai bền vữngcho huyện là vấn đề hết sức cần thiết
Phú Xuyên là một huyện có địa hình thấp trũng, sản xuất truyền thống ở đâychủ yếu là 2 vụ lúa, một phần diện tích đất cao có thể trồng một số loại rau, màu(ngô, lạc, đỗ tương, khoai lang, rau các loại ) Những diện tích thấp trũng chủ yếuđược sử dụng để nuôi trồng thủy sản kết hợp với chăn nuôi thủy cầm Sản xuấtnông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện
Trang 11Trong thời gian qua việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp sangcác mục đích khác của huyện diễn ra mạnh mẽ, thiếu kiểm soát, không theo quyhoạch làm đất sản xuất nông nghiệp liên tục giảm Hiệu quả kinh tế của các loạihình sử dụng đất trên địa bàn huyện chưa cao, các loại hình sản xuất tại PhúXuyên phần lớn còn mang tính tự phát theo phương thức sản xuất còn nhỏ lẻ,chưa tương xứng với tiềm năng đất đai của huyện, thiếu tính bền vững do môitrường đất, nước bị ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi sản xuất và quá trình đôthị hóa.
Những thách thức, tồn tại nêu trên đã đặt ra vấn đề cần xây dựng cơ chế,chính sách nhằm quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp củahuyện theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Xuất phát từ những yêu cầu trên, được sự phân công của khoa Tài nguyên
và Môi trường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và sự hướng dẫn của
PGS.TS Đào Châu Thu tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phục vụ định hướng sử dụng đất bền vững huyện Phú Xuyên - Thành phố Hà Nội”.
- Nắm vững điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện
- Điều tra, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện
Trang 12- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững dựa trên các tiêu chí
sử dụng đất bền vững (kinh tế - xã hội - môi trường)
- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp phải có tính khả thi
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và sử dụng đất bền vững
1.1.1 Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp
1.1.1.1 Đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng chonhân loại, con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất.Học giả người Nga, Docutraiep cho rằng “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độclập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của các yếu tố hìnhthành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian” Tuy vậy,khái niệm này chưa đề cập tới sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môitrường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tốnhư nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêutrên Học giả người Anh, Wiliam đã đưa thêm khái niệm về đất như “Đất là lớpmặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây” Bàn về vấn đềnày, C.Mác đã viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất củasản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và sinhsống của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” Trong phạm vi nghiên cứu về
sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả cácthuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đếntiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (FAO, 1990)
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng
“Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” (ViệnThổ nhưỡng nông hóa, 1999) và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai làmột diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành củamôi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ
Trang 14nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vàkhoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người,những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại ” (Viện thổ nhưỡngnông hóa, 1999).
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuấtcủa các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sửdụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Khi nói đất nôngnghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp,bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau củacác ngành Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sảnxuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đấtkhác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính)
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ hợp lý đất, trên thực tế người ta coi đất đai cóthể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần có đầu tư lớn nào
cả Vì vậy, Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vàomục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôitrồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sảnxuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối
và đất nông nghiệp khác”
1.1.1.2 Vai trò cuả đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyếtđịnh sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đềcho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản xuất cótầm quan trọng khác nhau C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của cảivật chất, còn đất là mẹ” Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhấtquản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật”, Luật đất đai 2003 khẳng định “Đấtđai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
Trang 15phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng” Trongsản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt khôngthể thay thế, với những đặc điểm:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâmnghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quátrình sản xuất Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạtđộng của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩmcủa tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên.Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi dưỡng,bảo vệ, làm giàu thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu(Lê Hồng Sơn, 1996) Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy môsản xuất nông - lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nôngsản ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp.Việc khai khẩn đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làmcho quỹ đất nông nghiệp tăng lên Đây là xu hướng vận động cần khuyến khích
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng,các miền (Smith, 1993) Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổnhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động,giao thông, thị trường,…) và có chất lượng đất khác nhau Do vậy, việc sử dụngđất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp đểnhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùnglãnh thổ
- Đất đai được coi là một loại tài sản, người chủ sử dụng có quyền nhấtđịnh do pháp luật của mỗi nước qui định: tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích tụ
và chuyển hướng sử dụng đất từ đó phát huy được hiệu quả nếu biết sử dụng đầy
Trang 16đủ và hợp lý.
Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trìnhsản xuất nông nghiệp Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của xã hộiloài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minhtinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nềntảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp Vì vậy, sửdụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất chonền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
1.1.2 Sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1 Sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới, tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Nhữngloại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đấtquá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổngdiện tích tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và cácnước (châu Mỹ chiếm 35%, châu á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phichiếm 20%, Châu Đại Dương chiếm 6%) (Hoàng Văn Thông, 1992) Bước vàothế kỷ XXI với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinhthái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cơ bản đối vớiloài người (Vũ Năng Dũng, 2004) Nhu cầu của con người ngày càng tăng đãgây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Đất nông nghiệp bị suythoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản
Ngày nay, thoái hoá đất và hoang mạc hoá là một trong những vấn đề môitrường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giảiquyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực Đấtkhô cằn có ở mọi khu vực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái đất Đối với hầu hết các
cư dân ở các vùng đất khô cằn, cuộc sống của họ rất khó khăn và tương laithường bất ổn, với mức sống cùng cực về các mặt kinh tế - xã hội và sinh thái.Trên toàn thế giới, đói nghèo, quản lý đất đai không bền vững và biến đổi khíhậu đang biến các vùng đất khô cằn thành sa mạc và ngược lại, hoang mạc hoá
Trang 17đang làm trầm trọng thêm và dẫn đến đói nghèo Theo ước tính, có khoảng 10 20% diện tích đất khô cằn đã bị thoái hoá (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thếgiới chung tay khắc phục tình trạng đất khô cằn) Điều này đã gây ảnh hưởnglớn đến sản xuất nông nghiệp trên đất Chương trình môi trường Liên hợp quốcước tính, hàng năm có thêm khoảng 20 triệu ha đất nông nghiệp bị suy thoái quámức không sản xuất được hoặc bị lấy để mở mang đô thị gây tổn thất cho sảnxuất nông nghiệp ước tính tới 42 tỷ USD (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thếgiới với vấn đề sa mạc và hoang mạc hóa) Hơn 3 thập kỉ qua, nhu cầu tăng sảnlượng nông nghiệp cao hơn nhằm đáp ứng tỷ lệ dân số thế giới tăng đã gây áplực đối với tài nguyên đất So với những năm 1970 của thế kỷ trước thì đến nay
-đã tăng thêm 2,2 tỷ người cần được cung cấp lương thực (Bộ Tài nguyên và Môitrường, Thế giới với vấn đề sa mạc và hoang mạc hóa) Hiện nay, hoang mạchoá diễn ra trên 30% diện tích đất tưới tiêu nhân tạo, 47% diện tích đất nôngnghiệp được tưới từ nước mưa tự nhiên và 73% diện tích đất chăn thả gia súc.Hàng năm ước tính có từ 1,5 - 2,5 triệu ha đất được tưới nhân tạo; 3,5 - 4 triệu
ha đất nông nghiệp nước mưa tự nhiên và khoảng 35 triệu ha đất chăn thả giasúc mất toàn bộ hay một phần năng suất do suy thoái đất (Bộ Tài nguyên và Môitrường, Thế giới với vấn đề sa mạc và hoang mạc hóa)
Trang 18Biểu đồ 1.1: Bình quân diện tích đất nông nghiệp/khẩu nông nghiệp
khu vực Asean năm 2003 (Đơn vị: ha/người) Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam trong ASEAN (www.ipsard.gov.vn)
Biểu đồ 1.2: Bình quân diện tích đất trồng trọt và cho thu hoạch thường xuyên/dân số nông nghiệp khu vực Asean năm 2003 (Đơn vị: ha/người) (Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam trong ASEAN (www.ipsard.gov.vn)
Đối với các nước có dân số đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan,Bangladesh sự suy thoái đất ở, đất rừng đã tác động đáng kể tới nông nghiệp.Đối với các nước như Campuchia, Lào nạn phá rừng làm củi đun, làm nươngrẫy, xuất khẩu gỗ, chế biến các sản phẩm từ gỗ phục vụ cho cuộc sống của cưdân đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng vốn phong phú (Bộ Xây dựng, Đừng
từ bỏ các vùng đất khô cằn)
Hàng năm, trên toàn thế giới có khoảng 11 - 13 triệu ha rừng bị chặt phálàm ảnh hưởng đến đất (Bộ Xây dựng, Đừng từ bỏ các vùng đất khô cằn) Nhưvậy, các vấn đề về đất đang ảnh hưởng sâu sắc đến sử dụng đất nông nghiệp.Việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả trở nên rất cần thiết khi dân số và nhucầu của con người ngày càng tăng Với một diện tích đất nông nghiệp hạn hẹp
và có nguy cơ ngày càng giảm thì việc định hướng cho phát triển nông nghiệp
và nâng cao hiệu quả sử dụng đất luôn là mối quan tâm của mỗi quốc gia Sửdụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điềukiện quan trọng nhất để có thể phát triển nền kinh tế quốc dân một cách nhanh
Trang 19chóng và bền vững.
1.1.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, ở nước ta, trong tổng số 33,1 triệuhecta diện tích tự nhiên, có 26,23 triệu hecta đất nông nghiệp (đất sản xuất nôngnghiệp 10,13 triệu ha) (Tổng cục kiểm kê Việt Nam) Ở vùng đồng bằng (nhưđồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long), cơ cấu diện tích đất nôngnghiệp chiếm tỷ lệ cao Nhưng ngược lại, ở vùng đồi núi (như trung du miền núiphía Bắc hay duyên hải miền Trung) thì đất nông nghiệp thường chiếm tỷ lệthấp
Hiện nay, nhìn chung, việc sử dụng đất nông nghiệp của cả nước đang pháttriển mạnh Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao đượcđưa vào sản xuất mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân Tuy nhiên, cùngvới những kết quả đã đạt được, việc sử dụng đất nông nghiệp của ta còn một sốvấn đề cần giải quyết như sau:
Việt Nam với khoảng 3/4 diện tích đất đai tự nhiên thuộc về miền núi vàtrung du, có địa hình phức tạp nên tài nguyên đất rất đa dạng và phong phú Tuynhiên, với số dân khoảng 90 triệu người thì nước ta đã trở thành quốc gia khanhiếm đất trên thế giới Nếu tính bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thìViệt Nam là một trong những nước thấp nhất Diện tích canh tác nông nghiệpcủa Việt Nam vào loại thấp nhất trong khu vực Asean
Tuy đất đã chật nhưng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam đếnnay rất thấp và thấp hơn so với các nước trong khu vực
Đất nông nghiệp ngày càng bị thoái hóa, ô nhiễm và chuyển đổi sang cácmục đích sử dụng khác Đặc biệt, trong nhiều năm qua do nhận thức và hiểu biết
về đất đai của người dân còn hạn chế nên đất đã bị lạm dụng và khai thác khônghợp lý dẫn đến nhiều diện tích đất bị thoái hóa, hoang mạc hóa, làm mất đi từngphần hoặc toàn bộ tính năng sản xuất của đất Biểu hiện rõ nhất là hiện tượnggiảm sút hàm lượng chất hữu cơ trong đất cùng với sự mất mát nhanh chóng các
Trang 20chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng ở dạng vô cơ (Hội bảo vệ tài nguyên vàmôi trường Việt Nam, Sau nửa thế kỷ đất Việt Nam đã thoái hóa như thế nào).Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóađất nước, quá trình đô thị hóa đã gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nôngnghiệp Muốn cho nông dân và nông nghiệp nước ta phát triển được trong thời kỳcông nghiệp hoá, chúng ta phải tránh để mất đất nông nghiệp Tuy nhiên, hiệnnay, quá trình mất đất nông nghiệp đang diễn ra rất nhanh Nhiều cánh đồng màu
mỡ nhất đã và đang bị biến mất, mà diện tích đất khai hoang thêm chưa chắc đã
bù được diện tích đã bị mất đi (Đào Thế Tuấn, 2007)
Theo những điều tra gần đây nhất, diện tích đất trồng trọt cho nông nghiệpngày càng giảm, mỗi năm chuyển khoảng 200 nghìn ha đất nông nghiệp sangphi nông nghiệp Vì thế, thời gian nông nhàn ngày càng tăng, tạo sức ép gay gắt
về việc làm, thu nhập ở khu vực nông thôn (Bộ Công nghiệp, Phát triển côngnghiệp nông thôn) Sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp đã ảnh hưởng tới xãhội và việc làm của không ít hộ nông dân, đẩy hàng vạn lao động nông nghiệpvào tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm
Đất đai vùng ven sông lớn, ven biển, tại nhiều nơi ở miền núi có nhữngtrường hợp đã không kịp thời có chính sách giải quyết sớm, gây nên tình trạng
“vô chủ” và “lắm chủ” hoặc tranh chấp có hại cho sản xuất, ảnh hưởng đến đoànkết nông thôn Việc sử dụng quỹ đất công ở nhiều nơi chưa có sự quản lý tốt,vừa tạm bợ, vừa máy móc, kết quả sinh lợi kém, không thống nhất quy mô đấtcũng đang gây ra nhiều tiêu cực trong quản lý và sử dụng Mục tiêu của conngười trong quá trình sử dụng đất là sử dụng một cách khoa học và hợp lý (VũThị Phương Thụy và Đỗ Văn Viện, 1996) Vì vậy, vấn đề sử dụng quỹ đất nôngnghiệp hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trở thành một trongnhững mục tiêu bao trùm nhất của xã hội
1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này có nghĩa là
Trang 21toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu câytrồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suấtcây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao Đây là kết quả củaviệc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông quatính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ
số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sửdụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế
- xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyênliệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu (Nguyễn HoàngĐan và Đỗ Đình Đài, 2003)
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững
Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đấtđai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còncho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môitrường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền vớiviệc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trìnhsản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cầnthiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia
1.1.4 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
1.1.4.1 Quan điểm sử dụng đất bền vững trên thế giới
Sử dụng đất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triểnkinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái vàkhông làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cầnthiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Do đóđất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”
Trang 22Sử dụng đất một cách hiệu quả, bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại
và tương lai phát triển của loài người, chính bởi vậy việc tìm kiếm các giải pháp
sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhà nghiên cứu đất và các tổ chứcquốc tế rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện theo sự phát triển của khoa học.Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable land use) đã trở thành khá thôngdụng trên thế giới hiện nay Nội dung của sử dụng đất bền vững bao hàm mộtvùng trên bề mặt trái đất với tất cả các đặc trưng: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng,chế độ thủy văn, thực vật và động vật và cả những hoạt động cải thiện quản lýđất đai như các hệ thống tiêu nước, xây dựng đồng ruộng… do đó thông quahoạt động thực tiễn sử dụng đất đai, chúng ta phải xác định những vấn đề liênquan đến yếu tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể củatừng vùng, để tránh những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn chế đượcnhững tác hại đối với môi trường sinh thái Sử dụng đất nông nghiệp bền vữngđồng nghĩa với việc phải xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững Nôngnghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền vững cho cuộcsống của con người Có rất nhiều định nghĩa về hệ thống nông nghiệp bền vững: Theo Douglas (1984): hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống sản xuất
đủ lương thực trong một thời gian dài mà không phá huỷ các nguồn lợi thiênnhiên, đồng thời phải đảm bảo tính bền vững xã hội cộng đồng, được dựa trênnền tảng đạo đức, ý thức và mối quan hệ của con người với các thế hệ tương lai
và với các loài sinh vật khác
Conway (1987): Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống phải duy trìđược năng suất sinh khối (sinh khối/đơn vị diện tích/đơn vị thời gian) theo thờigian từ thập kỷ đến thế kỷ
FAO: Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống quản lý thành công cácnguồn lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, để thoả mãn những nhu cầu củacon người, trong khi duy trì hoặc nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ cácnguồn lợi thiên nhiên
Trang 23Okigbo (1991): Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có sản lượngchấp nhận được hoặc tăng lên, thoả mãn các nhu cầu của con người ngày mộtnâng cao; một hệ thống có năng suất tăng liên tục, đảm bảo có hiệu quả kinh tếcao và an toàn sinh thái, thông qua sự quản lý các nguồn lợi thiên nhiên và đầu tư,với những tổn hại ít nhất đến môi trường và ít nguy hiểm nhất đối với con người.Greeland (1994): Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống quản lý đấtbền vững, không làm suy thoái đất, hoặc làm ô nhiễm môi trường trong khi đápứng được những nhu cầu cần thiết của cuộc sống con người
Eckert và Breitchuh (1994): Hệ thống nông nghiệp bền vững là sự quản lý
và sử dụng hệ sinh thái nông nghiệp bằng cách duy trì tính đa dạng sinh học, năngsuất, khả năng tái sinh và hoạt động của nó, để nó có thể hoàn thành những chứcnăng kinh tế, xã hội và sinh thái ở hiện tại và trong tương lai trên phạm vi địaphương, quốc gia và toàn cầu, mà không làm tổn hại đến các hệ sinh thái khác.Mục đích của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định vềmặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của conngười mà không bóc lột đất đai, làm ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bềnvững phải coi thiên nhiên là môi trường lý tưởng để phát triển một cách hòa hợpvới thiên nhiên
Để duy trì khả năng bền vững đối với đất đai Smyth A.J và J Dumanski(1993) đã xác định năm nguyên tắc liên quan đến sử dụng đất:
- Duy trì nâng cao các hoạt động sản xuất
- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất
- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất và nước
- Có hiệu quả lâu bền
Trang 24khả năng bền vững chỉ thành công được ở từng bộ phận.
+ Quan điểm sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
Theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, giáo trình đánh giá đất(1998), việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc và được thểhiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thịtrường chấp nhận
- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai,ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sốngngười dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa
dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bềnvững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùngđất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sảnxuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chứcnăng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định,không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụngđất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật
1.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng đất
Khái niệm về hiệu quả ngày nay được sử dụng rất rộng rãi, nói đến hiệuquả được hiểu là công việc đạt kết quả tốt Hay hiệu quả là kết quả mong muốn,cái sinh ra kết quả mà con người mong đợi và hướng tới Trong sản xuất, hiệuquả có nghĩa hiệu suất, năng suất Với lĩnh vực kinh doanh thì hiệu quả là lãisuất, lợi nhuận Trong lao động thì hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá
Trang 25bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc bằng
số lượng sản phẩm được sản xuất trong một đơn vị thời gian Còn trong xã hội,hiệu quả xã hội là có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội nào đó
Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng,vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết cácnước trên thế giới (Viện thổ nhưỡng nông hóa, Kết quả nghiên cứu khoa học,1999) Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạchđịnh chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn củanông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.Khái niệm hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác vànhững nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt:hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
a Hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của cáchoạt động sản xuất Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sảnxuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tươngquan giữa kết quả lao động, vật tư, tài chính Đó là chỉ tiêu phản ánh trình độ, chấtlượng sử dụng của các yếu tố sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả kinh tế tối
đa với chi phí tối thiểu Tuỳ theo mục đích đánh giá ta có thể đánh giá hiệu quả kinh
tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như: năng suất sử dụng vốn, hàm lượng vật tư củasản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu lại vốn…
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể làquy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao độngtheo các ngành sản xuất khác nhau
Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, 1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn
Simmerman-vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất
Trang 26trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội.
Bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là: trên một diện tích đất đai nhấtđịnh sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tưchi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng
về vật chất của xã hội Xuất phát từ lý do này mà trong quá trình đánh giá đấtnông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao
b Hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải tạo ra được nhiều sảnphẩm, thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, đảm bảo anninh lương thực, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực củađịa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc, và nhucầu sống khác; phải tạo ra được sự ổn định và phong phú về thị trường tiêu thụ
Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng
đó bền vững hơn, ngược lại sẽ không được người dân ủng hộ
Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001) thì hiệu quả xã hội là mốitương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra
Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác địnhbằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp (Nguyễn DuyTính, 1995)
Từ những quan niệm trên đây của các tác giả cho ta thấy giữa hiệu quả kinh tế
và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và
là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợiích xã hội mang lại Trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá hiệu quả xã hội của cácloại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm
c Hiệu quả môi trường:
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môitrường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
Trang 27đa dạng sinh học (Bùi Huy Hiền và Nguyễn Văn Bộ, 2001)
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệuquả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường (Vũ Văn Nâm,2009)
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giáthông qua mức độ sử dụng và tác động của các hóa chất trong nông nghiệp Đó
là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảmbảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây
ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữacây trồng với đất, giữa cây trồng trong mối tương tác với các đối tượng sinh học
có lợi và có hại khác nhằm đảm bảo tính đa dạng mà vẫn đạt được yêu cầu đặt ra Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhấttài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất
để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí năng lượng đầu vào
1.2.1.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất
a Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
- Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nôngnghiệp
- Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đấtnông nghiệp
- Các khả năng về điều kiện tự nhiên, KT-XH và các tiến bộ kỹ thuật mớiđược đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó
b Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống
Trang 28Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh cóthang bậc (Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thế Hùng, 1999).
- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính, cácchỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn
đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dungkinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn (Khắc Hòa, 1996)
- Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật vàđúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng sự lựachọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp vớiđặc điểm và trình độ hiện tại của nền kinh tế
- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại nhất là những sảnphẩm có khả năng xuất khẩu (Vũ Thị Phương Thụy và Đỗ Văn Viện, 2004)
- Phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
Các chỉ tiêu cần tính toán để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệpthường quy về đơn vị 1 ha cho từng loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ,GTGT/LĐ, TNHH/LĐ Thực chất là đánh giá hiệu quả đầu tư lao động sống cho
Trang 29từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hộicủa người lao động.
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH): Là phần thu thuần túy của người sản xuất gồm cảcông lao động của một gia đình và lợi nhuận có thể nhận được trong năm
THHH = GTGT - Khấu hao tài sản - thuê lao động
d Một số chỉ tiêu xã hội:
Phân tích hiệu quả xã hội của bất kỳ loại hình sử dụng đất nông nghiệp nàocũng cần trả lời một số câu hỏi sau đây (Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn ThếHùng, 1999):
- Khả năng đảm bảo đời sống củ nông dân cũng như toàn xã hội (vấn đề anninh lương thực, vấn đề gỗ củi nhiên liệu )
- Có phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và tập quán canh táccủa người dân địa phương hay không ?
- Khả năng thu hút lao động, giải quyến việc làm ?
- Tính ổn định, bền vững của những loại hình sử dụng đất bố trí ở các vùngđịnh canh định cư, kinh tế mới ?
- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật;
- Tỷ lệ sản phẩm hàng hóa ?
e Chỉ tiêu về môi trường:
Phân tích hiệu quả môi trường đối với các loại sử dụng đất nông nghiệpnằm trong khuôn khổ của nội dung đánh giá tác động môi trường các phương án
sử dụng đất hay dự án phát triển nông nghiệp Trong những đánh giá chi tiết vàcác dự án mang tính khả thi thì việc phân tích hiệu quả môi trường là một nộidung quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của loại sử dụng đấtnông nghiệp được lựa chọn đưa vào bố trí
Các chỉ tiêu cần xem xét bao gồm:
- Tỷ lệ che phủ tối đa (tính bằng % diện tích mặt đất) mà loại sử dụng đất nhất
Trang 30định tạo ra, khả năng chống xói mòn rửa trôi (lượng đất mất do xói mòn);
- Nguy cơ gây ô nhiễm hoặc phú dưỡng nguồn nước do bón quá nhiều mộtloại phân bón, do sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật, hay do nước thải;
- Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo
vệ cây trồng;
- Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sứccần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất
để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
- Điều kiện tự nhiên: bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địahình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước…Chúng có ảnh hưởng mộtcách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất (Vũ Ngọc
Hùng, 2007).
+ Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghiệp, thànhphần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, …quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hayxấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất (Trần Thị Minh Châu,2007)
+ Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiệnquan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp chosinh vật sinh trưởng và phát triển
+ Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổnhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởngđến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt
độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp,… sẽ quyết định đến
Trang 31khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâmnghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt đượchiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường.
- Điều kiện kinh tế, xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội, dân
số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách,…) các yếu tố này có ý nghĩa quyếtđịnh, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: trong các yếu tố cơ
sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó gópphần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vàocho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ,nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó,thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay Cácyếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả
sử dụng đất
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sảnxuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều nàygiúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
+ Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đấtthể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốnlao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thốngtrong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất
+ Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấukinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụsản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định
cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyếnkhích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo…các chính sách này đã có những tácđộng rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụngđất mới đặc biệt, cho đối tượng là đồng bào dân tộc tại địa phương
- Yếu tố tổ chức, kỹ thuật: đây là yếu tố chủ yếu hết sức quan trọng trongquy hoạch sử dụng đất, một bộ phận không thể thiếu được của quy hoạch phát
Trang 32triển kinh tế - xã hội Quy hoạch sử dụng đất phải dựa vào điều kiện tự nhiên,điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng mà xác định cơ cấu sản xuất, bố trí cơcấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp Đây chính là cơ sở cho việc phát triển hệthống cây trồng, gia súc với cơ cấu hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao
1.3 Một số hướng nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo quan điểm bền vững trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Những nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp bền vững trên thế giới
Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra nhiềuphương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nôngnghiệp theo hướng phát triển hàng hoá Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ
và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau
Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới đềunghiên cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo rađược một số loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn Viện lúaquốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồngtrên đất canh tác Tạp chí " Farming Japan" của Nhật Bản ra hàng tháng đã giớithiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất, điểnhình là của Nhật Nhà Khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề
cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyếtđịnh của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế- xã hội Các nhàkhoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệthống cây trồng trên đất canh tác là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, cácphương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sảnxuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì việc khai thác và sử dụng đất là yếu
tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ TrungQuốc đã đưa ra các chính sách quản lý sử dụng đất đai ổn định, chế độ sở hữu,giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ độngsáng tạo của nông dân trong sản xuất đã thúc đẩy kinh tế xã hội nông thôn pháttriển toàn diện về mọi mặt và nâng cao được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 33(Vũ Thị Phương Thụy, 2000).
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều nhiều quy chế mớingoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thíchhợp với đất nhằm quản lý và bảo vệ đất tốt (FAO, 1990)
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quantrọng nhất là chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp
là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% trong tổng thu nhập nông nghiệp), Canada tương ứng
là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Oxtraylia 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%), Nhật Bản là 42,3
tỉ USD (chiếm 68,9%), Cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ USD (chiếm 40,1%), Áo là 1,6 tỉUSD (chiếm 35,3%) (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới
có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từchế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả caohơn Nghiên cứu bố trí luân canh các cây trồng hợp lý hơn bằng cách đưa cácgiống cây trồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực,thực phẩm/1đơn vị diện tích đất canh tác trong một năm Ở Châu Á có nhiềunước cũng tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác luân phiêncây lúa với cây trồng cạn đã thu được hiệu quả cao hơn
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đãgắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyểndịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp Các nước Châu Á trong quátrình sử dụng đất canh tác đã rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụngcác tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh tiến bộ để ngàycàng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Nhưng để đạt được hiệu quảthì một phần phải nhờ vào công nghiệp chế biến, gắn sự phát triển công nghiệpvới bảo vệ môi sinh- môi trường
Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đã có sựchuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả
Trang 34xã hội với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xâydựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
1.3.2 Những nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đã có những công trìnhnghiên cứu về sử dụng đất, vì đây là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọngtrong phát triển sản xuất nông nghiệp Các nhà khoa học đã chú trọng đến công tác laitạo và chọn lọc giống cây trồng mới năng suất cao, chất lượng tốt hơn để đưa vào sảnxuất Làm phong phú hơn hệ thống cây trồng, góp phần đáng kể vào việc tăng năngsuất cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các công trình nghiên cứu đánh giá tàinguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1995); đánh giáhiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền; phân vùng sinhthái nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng; Lê Hồng Sơn (1995) với nghiên cứu
"ứng dụng kết quả đánh giá đất vào đa dạng hoá cây trồng đồng bằng Sông Hồng" hayhiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa Sông Hồng huyện Mỹ Văn, tỉnhHải Dương của tác giả Vũ Thị Bình (1993); Đánh giá kinh tế đất lúa vùng đồng băngSông Hồng, Quyền Đình Hà, (1993)
Ở nước ta, khi trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, phần lớn diện tíchđất nông nghiệp đều tập trung vào sản xuất lương thực, thực phẩm Song songvới việc nâng cao mức sống, đòi hỏi phát triển các cây thức ăn cao cấp hơn nhưcây họ đậu (đậu, đỗ ), cây có dầu (lạc, vừng ), rau củ và các loại cây ăn quả cógiá trị phát triển sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu tiêudùng của xã hội, có tác dụng bảo vệ, cải tạo môi trường đất
Bên cạnh việc nghiên cứu đưa ra các giống cây trồng mới vào sản xuất thìcác nhà khoa học còn tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nôngnghiệp dựa vào việc nghiên cứu đưa ra các công thức luân canh mới bằng cácphương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây trồng, từng công thức luâncanh Từ đó các công thức luân canh mới tiến bộ hơn được cải tiến để khai thácngày một tốt hơn tiềm năng đất đai
Trang 35Từ đầu thập kỷ 90, chương trình quy hoạch tổng thể được tiến hành nghiêncứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp, nội dung quan trọng nhất
là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.Những công trình nghiên cứu mô phỏng chiến lược phát triển nông nghiệp vùngđồng bằng Sông Hồng của GS.VS Đào Thế Tuấn (1992) cũng đề cập việc pháttriển hệ thống cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điều kiện Việt Nam.Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống câytrồng vùng đồng bằng Sông Hồng do GS.VS Đào Thế Tuấn (1998) chủ trì và hệthống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do GS.VS Nguyễn Văn Luậtchủ trì cũng đưa ra một kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng nhữnggiống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đấtmang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì
đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhaunhư vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quảcây trồng trên từng vùng đất đó Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năngđất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nôngnghiệp cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng
Vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lợiđất đai, khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng thích hợp cũng được nhiều nhànghiên cứu đề cập như Bùi Huy Đáp, Ngô Thế Dân
Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng Đồngbằng Sông Hồng (1994); quy hoạch sử dụng đất vùng Đồng bằng Sông Hồng(Phùng Văn Phúc,1996); phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù sa Sông Hồng(Nguyễn Như Hà, 2000); đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá câytrồng vùng Đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng (1997) cho thấy đã xuấthiện nhiều mô hình luân canh 3 - 4 vụ trong một năm đạt hiệu quả kinh tế cao,đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, vùng có điều kiện tưới tiêu chủ động đã có
Trang 36những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế cao Nhiều loại câytrồng có giá trị kinh tế cao đã được bố trí trong các phương thức luân canh nhưcây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp.
Tại Phú Xuyên, những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất vànâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm sử dụng đất bềnvững hay theo hướng sản xuất hàng hoá còn chưa nhiều Năm 2010 tác giả TrầnTrọng Vĩnh đã tiến hành nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác theo hướnghàng hóa trên cơ sở đánh giá tài nguyên đất đai ở một số vùng trũng huyện PhúXuyên, kết quả đã xây dựng được những mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồngđạt hiệu quả cao
Tuy nhiên, các đánh giá về phát triển nông nghiệp bền vững ở các địaphương còn chưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu phát triển nông nghiệp của huyệnPhú Xuyên trong những năm tới theo hướng phát triển bền vững là rất cần thiết,
có ý nghĩa trong phát triển kinh tế xã hội của huyện và có thể thực hiện được Đây
chính là lý do tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp phục vụ định hướng sử dụng đất bền vững huyện Phú Xuyên Thành phố Hà Nội” góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bền vững của
-huyện nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp huyện PhúXuyên - Thành Phố Hà Nội
- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Phú Xuyên - Thành phố Hà Nội, nghiêncứu điểm 6 xã đại diện cho 2 tiểu cùng sinh thái trong huyện:
+ Tiểu vùng 1 điều tra tại xã Nam Triều, xã Nam Phong, xã Khai Thái; Gồm 13 xã nằm dọc theo sông Hồng có địa hình vàn cao, vàn là loại đất phù sađược bồi và không được bồi hàng năm nên thích hợp với gieo trồng 3 vụ (2 vụlúa và các loại cây vụ đông hoặc cây công nghiệp ngắn ngày)
+ Tiểu vùng 2 tại Thị trấn Phú Xuyên, xã Vân Từ, xã Văn Hoàng
Gồm 15 xã miền tây huyện, là vùng thấp trũng nên chủ yếu thích hợp với 2
vụ lúa, nuôi trồng thủy sản, nuôi trồng thủy sản kết hợp với nuôi thủy cầm
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp huyện Phú Xuyên
+ Điều kiện tự nhiên
- Cảnh quan môi trường
+ Phân tích, đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội của huyện
- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 38- Thực trưởng phát triển các ngành kinh tế
- Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
- Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội cho sản xuấtnông nghiệp
+ Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội và áp lực đối với sử dụng
đất nông nghiệp.
2.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên
- Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên
- Phân vùng sản xuất nông nghiệp huyện Phú Xuyên
- Thực trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện (Diện tích,năng suất, phạm vi phân bố)
- Những ảnh hưởng và tác động của sử dụng đất đối với môi trường vàđiều kiện sinh thái
2.2.3 Điều tra, mô tả, lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện
- Điều tra, đánh giá hiện trạng hiệu quả của hệ thống sử dụng đất và cácloại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu trong huyện
- Đánh giá khả năng, hiệu quả bền vững của các loại hình sử dụng đấttrong huyện theo các tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường
2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.4.1 Hiệu quả kinh tế
Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất
2.2.4.2 Hiệu quả xã hội
Phân tích đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất
2.2.4.3 Hiệu quả môi trường
Phân tích đánh giá hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất
Trang 392.2.5 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững và các giải pháp thực hiện
- Xác định các loại hình sử dụng đất có hiệu quả và bền vững
- Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững
- Đề xuất các giải pháp thực hiện
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan tại các Sở, ban, ngành củaThành phố Hà Nội và các phòng ban có liên quan của huyện Phú Xuyên
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp
Trên cơ sở điều tra thu thập các thông tin đánh giá hiện trạng và hiệu quả
sử dụng đất bằng phương pháp điều tra nông thôn nhanh (PRA) và điều tra nông
hộ (theo mẫu phiếu điều tra)
2.3.3 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê được ứng dụng để xử lý số liệu điều tra trong quátrình nghiên cứu
- Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel
2.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
2.3.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu sử dụng cho đánh giá:
- Tổng giá trị sản xuất: Tính bằng tổng giá trị tiền (đồng) của sản phẩm
mà LUT thu được/ha/năm
- Tổng chi phí biến đổi: tính bằng tổng giá trị tiền (đồng) chi phí gồm chiphí sản xuất + thuế + tiền lao động thuê ngoài cho LUT/ha/năm (không tính laođộng gia đình)
- Thu nhập hỗn hợp: thu nhập hỗn hợp của các loại hình sử dụng đất(LUT) được tính theo hiệu số giữa tổng giá trị sản xuất và tổng chi phí biến đổi(đồng/ha/năm) của mỗi LUT
Trang 40- Giá trị ngày công lao động = Thu nhập hỗn hợp/Tổng ngày công lao động
- Hiệu quả đồng vốn = Thu nhập hỗn hợp/Tổng chi phí biến đổi
2.3.4.2 Đánh giá hiệu quả xã hội thông qua các chỉ tiêu sau
+ Mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm (công/ha)
+ Giá trị sản xuất trên công lao động (GTSX/công LĐ) và giá trị gia tăngtrên công lao động (GTGT/công LĐ)
+ Đảm bảo an ninh lương thực và an toàn thực phẩm, gia tăng lợi ích chongười nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo
2.3.4.3 Đánh giá hiệu quả môi trường
Xác định cơ sở các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường trong quá trình sửdụng đất nông nghiệp thông qua các chỉ tiêu sau:
+ Duy trì đa dạng sinh học
2.3.6 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan đếnđánh giá đất, cây trồng, các nhà quản lý địa phương và các hộ nông dân điểnhình sản xuất giỏi để xác định các loại hình sử dụng đất có hiệu quả, triển vọngcung cấp cơ sở khoa học để đưa ra hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vữnghuyện Phú Xuyên và đề xuất các giải pháp thực hiện