1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa BQ10 và KD18 vụ xuân 2012 trên đất gia lâm, hà nội

71 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến đến thời gian sinh trưởng của giống lúa BQ10 và KD18 qua các giai đoạn sinh trưởng...23 4.2... Chính vì vậy cần bón phân đạm hợp lý cho mỗi giống lú

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bảnthân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn

bè và người thân

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới

cô giáo PGS TS Hà Thị Thanh Bình đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viêntôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở Bộ môn Canh tác học cùng toànthể cán bộ công nhân viên Bộ môn đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng tôitrong suất quá trình thực tập

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Nông học trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - những người đã trực tiếp giảng dạy, trang

-bị cho tôi những kiến thức cần thiết trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn bè,gia đình - những người luôn bên cạnh , động viên, giúp đỡ tôi trong quá trìnhhọc tập và thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18 tháng 7 năm 2012 Sinh viên

Vũ Thị Trang

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC ĐỒ THỊ v

PHẦN I : MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 3

2.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 4

2.2 Đặc điểm dinh dưỡng lúa 8

2.2.1 Yêu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa 8

2.2.2 Yêu cầu dinh dưỡng lân của cây lúa 10

2.2.3 Yêu cầu dinh dưỡng kali của cây lúa 12

2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón cho lúa 13

2.3.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón cho lúa trên thế giới 13

2.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón đối với cây lúa ở Việt Nam 14

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 18

3.2 Vật liệu thí nghiệm 18

3.2.1 Phân bón 18

3.2.2 Giống 18

3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 18

Trang 3

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18

3.3.2 Quy trình thí nghiệm 19

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 20

3.4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển 20

3.4.2 Theo dõi sâu bệnh 20

3.4.3 Các chỉ tiêu năng suất 21

3.4.4 Xử lý số liệu 22

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến đến thời gian sinh trưởng của giống lúa BQ10 và KD18 qua các giai đoạn sinh trưởng 23

4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến chiều cao cây 24

4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái ra lá của giống lúa BQ10 và KD18 28

4.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến số nhánh của hai giống lúa BQ10 và KD18 29

4.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá 33

4.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tích lũy chất khô 36

4.7 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến đến mức độ nhiễm sâu bệnh của hai giống lúa BQ10 và KD18 37

4.8 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất của hai giống lúa BQ10 và KD18 39

4.9 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất sinh vật học, hệ số kinh tế và hiệu suất bón đạm 44

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Đề nghị 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 50

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 2000 –2010 6Bảng 2.2 : Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 15Bảng 2.3 : Liều lượng phân bón được nông dân sử dụng cho lúa trên một số loạiđất ở miền Bắc Việt Nam 16Bảng 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng của cácgiống lúa BQ10 và KD18 23Bảng 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm tới động thái tăng trưởng chiều caocủa giống BQ10 và KD18 25Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều luợng đạm đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 27Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái ra lá của giống BQ10 vàKD18 28Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái đẻ nhánh của giống lúaBQ10 và KD18 30Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ đẻ nhánh 32Bảng 4.7 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chỉ số diện tích lá của giốngBQ10 và KD18 34Bảng 4.8 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến khối lượng chất khô tích lũy củagiống BQ10 và KD18 36Bảng 4.9 Ảnh hưởng lượng đạm tới một số sâu bệnh hại giống lúa BQ10 vàgiống KD18 38Bảng 4.10 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suấtcủa giống BQ10 vàKD1 40Bảng 4.11 : Năng suất sinh vật học, hệ số kinh tế và hiệu suất sử dụng đạm củacác công thức thí nghiệm 44

Trang 5

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 2.1: Diện tích và sản lượng lúa gạo thế giới từ năm 2001 – 2012 3

Đồ thị 2.2: Khối lượng xuất khẩu gạo của các nước giai đoạn 7

Đồ thị 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái tăng trưởng chiều caocây 26

Đồ thị 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ ra lá của giống BQ10 vàKD18 29

Đồ thị 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ đẻ nhánh của giống BQ10

Trang 6

PHẦN I : MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây lúa ( Oryza sativa L.) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá

trình phát triển của lịch sử loài người Từ xa xưa các nước châu Á, Trung cậnđông và cả châu Âu đã có một số con đường giao lưu vật tư được khai thông vàlúa gạo cũng theo đó mà phát tán đi khắp nơi Đến nay cây lúa đã trở thành câylương thực chính của châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng và có vai trò quantrọng trong nét văn hóa ẩm thực của dân tộc ta

Ngày nay cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì nền nôngnghiệp trên thế giới nói chung và nông nghiệp Việt Nam nói riêng có nhữngbước phát triển đáng kể Theo thống kê của Tổ chức Nông nghiệp lương thựcLiên Hợp Quốc thì tổng diện tích trồng lúa hiện nay khoảng gần 154 triệu ha,tổng sản lượng lúa gạo đạt trên 615 triệu tấn, cung cấp cho cả dân số thế giới

Việt Nam, dân số 87 triệu người, 70% là nông dân, sản xuất nông nghiệptrồng lúa là cây lương thực chính Năm 2009, cả nước xuất khẩu hơn 6,052 triệutấn gạo các loại, với giá trị 2,464 tỉ USD Những năm gần đây nước ta luônđứng vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo sau Thái Lan

Trước tình hình dân số thế giới gia tăng nhanh, cùng với diện tích dấtnông nghiệp bị thu hẹp dần do quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ramạnh mẽ thì vấn đề về đảm bảo lương thực thực phẩm, tăng năng suất sản lượnglúa gạo là một nhiệm vụ hàng đầu

Phân bón là một vật tư quan trọng góp phần tăng năng suất và sản lượngcây trồng, đặc biệt là đối với cây lúa Tuy nhiên việc lạm dụng phân bón sẽ dẫnđến năng suất và phẩm chất nông sản giảm, đặc biệt là phân đạm

Bên cạnh đó, nước ta là một nước nông nghiệp và cũng là một nước nhậpkhẩu phân bón Ngành phân bón trong nước mới chỉ đáp ứng được một lượngnhỏ nhu cầu phân bón của sản xuất nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu khoảng

Trang 7

90-93% phân đạm, 100% Kali, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK với tổng

số trên 3 triệu tấn/năm Lượng phân bón sử dụng tăng trung bình 9% mỗi nămtrong 15 năm qua và trong thời gian tới có xu hướng tăng khoảng 10% mỗi năm

Vì vậy khi chúng ta làm tăng hiệu quả sử dụng đạm (kilogram lúa được tạo ratrên kilogram đạm được bón) thêm 5% sẽ tiết kiệm được đáng kể lượng phânbón, giảm ô nhiễm môi trường, giảm sâu bệnh, tăng sản lượng, phẩm chất lúagạo và tăng hiệu quả kinh tế

Xuất phát từ thực tế trên để cung cấp lương thực đáp ứng nhu cầu ngàycàng tăng và nâng cao hiệu quả canh thâm canh cây lúa, dưới sự hướng dẫn của

PGS TS Hà Thị Thanh Bình, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài ”Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa BQ10 và KD18 vụ xuân 2012 trên đất Gia Lâm, Hà Nội”

Trang 8

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới

Lúa gạo là một trong 3 cây lương thực quan trọng trên thế giới, là cây cógiá trị kinh tế cao Lúa gạo được con người trồng là lương thực cách đây từ hơn

10 nghìn năm và là cây lương thực được con người trồng sớm nhất Ngày nay,sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực nuôi sống hơn một nửa dân số thế giới và

có vị trí quan trọng trong vấn đề an ninh lương thực của nhiều quốc gia Cácnước phát triển ở châu Âu, Nam Mỹ coi lúa gạo là nguồn thức ăn tốt nhất chosức khỏe, thậm chí vai trò của lúa gạo còn được tăng lên khi xem xét theo khíacạnh tín ngưỡng và xã hội Châu Á là châu lục đứng đầu thế giới về diện tíchcũng như sản lượng, tiếp theo là châu Âu, Bắc Mỹ và đến Nam Mỹ

Cây lúa là cây có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao Hiệnnay, trên thế giới có khoảng trên 100 nước trồng lúa, trong đó 18 nước có diệntích trồng lúa trên 1,000,000 ha, tập trung ở châu Á, 31 nước có diện tích trồnglúa trong khoảng 100.000 ha – 1.000.000 ha; 27 nước có năng suất trên 5 tấn/ha,đứng đầu là Ai Cập (9,7 tấn/ha), Úc (9,5 tấn/ha), El Savador (7,9 tấn/ha)

Nguồn: Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA)

Đồ thị 2.1: Diện tích và sản lượng lúa gạo thế giới từ năm 2001 – 2012

Trang 9

Sản lượng lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có mức tăng đáng kểnhưng do dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển (châu Á, châuPhi, châu Mỹ La Tinh) nên vấn đề về lương thực vẫn là vấn đề phải quan tâmtrong những năm trước mắt và lâu dài.

Diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng rõ rệt từ năm 1955 đến năm 1980.Trong vòng 25 năm này, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,36triệu ha/năm Từ năm 1980, diện tích trồng lúa tăng chậm và đạt cao nhất vàonăm 1999 (165,77 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm

Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xuhướng giảm dần, đến năm 2011 còn mức 164,6 triệu ha Diện tích trồng lúa tậptrung ở châu Á (khoảng 90%)

Các nước có diện tích lúa lớn nhất theo thứ tự phải kể đến là Ấn Độ,Trung Quốc, Indonesia, Bangadesh, Thái Lan, Việt Nam Tốc độ tăng năng suất

và sản lượng lúa của các nước trong khu vực châu Á đã góp phần đảm bảolương thực, thực phẩm cung cấp cho toàn cầu một cách tích cực và có vai tròquan trọng Năm 2011, tổng sản lượng lúa của châu Á là 651 triệu tấn, chiếm90,3% sản lượng lúa toàn thế giới Như vậy, châu Á có thể coi là nguồn cungcấp lương thực cho toàn cầu

Sản lượng lúa gạo thế giới tăng, nhưng không tăng nhanh bằng mức tăngdân số, thêm vào đó diện tích trồng trọt giảm và thời tiết không thuận lợi là nhữngnguyên nhân làm giá gạo biến động mạnh, đe dọa an ninh lương thực thế giới

Như vậy, nhu cầu tiêu dùng gạo trên thế giới vẫn tăng cao hơn so vớinguồn cung ứng sẽ là một trong những nhân tố gây tác động tăng đối với giá gạotrong thời gian tới

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

Cây lúa là một trong những cây trồng quan trọng hàng đầu trong sản xuấtnông nghiệp ở nước ta Nó không chỉ cung cấp lương thực cho người dân mà

Trang 10

còn là cây trồng có giá trị xuất khẩu đem lại nguồn doanh thu đáng kể cho nềnkinh tế quốc dân.

Việc phát triển lúa gạo trong thời kỳ Pháp thuộc chủ yếu phục vụ quyềnlợi của người Pháp và cộng sự của họ Đa số nông dân Việt Nam lâm vào cảnh

vô cùng khốn khó, nạn đói với 2 triệu người chết trong năm 1945 là một minhchứng Những tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và lúa gạo đã được người Pháp dunhập vào Việt Nam để nâng cao năng suất lúa nước từ 1,2 tấn/ha ở đầu thế kỷ

XX lên 2,0 tấn/ha vào đầu thập niên 1960

Từ năm 1868 đến 1873, diện tích trồng lúa Việt Nam ước khoảng 600 –

700 nghìn ha; sau đó tăng lên 2,3 triệu ha trong năn 1912 và 4,4 triệu ha trongnăm 1927; diện tích phát triển cao nhất 5 triệu ha, với sản lượng 6 triệu tấn (thời

kỳ Pháp thuộc) vào năm 1942; trong đó Nam Kỳ chiếm gần 50% tổng số diệntích cả nước, Bắc Kỳ 27%, Trung Kỳ 23%

Năng suất lúa bình quân của cả nước tăng chậm, khoảng 1,2 tấn/ha trong

50 năm đầu của thế kỷ 20 Miền bắc luôn dẫn đầu về năng suất (1,4 tấn/ha) Đầuthập niên 1960, năng suất lúa Việt Nam đạt 1,9 tấn/ha do nông dân bắt đầu sửdụng phân hóa học, công tác tuyển chọn giống lúa được Đảng và Nhà nước quantâm các nhà khoa học vào cuộc đã nâng sản lượng lúa đạt 9 triệu tấn/năm

Cách mạng xanh được thực hiện trên thế giới từ giữa những năm 1960 –

1970 Việt Nam là một trong những nước tiên phong trong phong trào này Năm

2000, diện tích lúa được tưới chiếm 65% và đạt 85% hiện nay, đó là tiền đề quantrọng cho sự gia tăng năng suất lúa

Việt nam có diện tích lúa khoảng 7,4 triệu ha đứng thứ 7 sau châu Á theothứ tự Ấn Độ (44,0 triệu ha), Trung Quốc (29,5 triệu ha), Indonesia (12,3 triệuha), Bangadesh (11,7 triệu ha), Thái Lan (10,2 triệu ha), Myanmar (8,2 triệu ha).Việt Nam có năng suất 5,2 tấn/ha đứng thứ 24 trên thế giới sau Ai Cập (9,7tấn/ha), Úc (9,5 tấn/ha), El Salvador (7,9 tấn/ha), đứng đầu khu vực Đông Nam

Á và đứng thứ 4 trong khu vực châu Á sau Hàn Quốc (7,4 tấn/ha), Trung Quốc

Trang 11

(6,6 tấn/ha), Nhật (6,5 tấn/ha), có mức tăng năng suất trong 8 năm qua là 0.98tấn/ha đứng thứ 12 thế giới và đứng đầu của 8 nước có diện tích lúa nhiều ởchâu Á về khả năng cải thiện năng suất lúa trên thế giới Việt Nam vượt trộitrong khu vực Đông Nam Á nhờ thủy lợi được cải thiện đáng kể và áp dụngnhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón và bảo vệ thực vật.

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam

giai đoạn 2000 – 2010

Năm

Diện tích(nghìn ha)

Năng suất(tấn/ha)

Sản lượng(nghìn tấn)

Nguồn: Tổng cục thống kê, Niên giám Thống kê năm 2010

Trong những năm gần đây, tuy diện tích trồng lúa có xu hướng giảm dầm từ7,666 triệu ha năm 2000 xuống còn 7,440 triệu năm 2009 nhưng năng suất lại tăng4,243 tấn/ha năm 2000 lên 5,229 tấn/ha Do đó sản lượng lương thực đã tăng từ32,530 triệu tấn năm 2000 lên 38,896 triệu tấn vào năm 2009 không những đảm bảo

an ninh lương thực trong nước mà còn xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới

Trang 12

Nguồn: Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA)

Đồ thị 2.2: Khối lượng xuất khẩu gạo của các nước giai đoạn

Việt Nam vẫn là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn, điều đó đượcminh chứng bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều thế lợi cạnh tranh trong sảnxuất gạo so với các nhà sản xuất khác và lợi thế này phát triển mạnh đối với sảnphẩm gạo chất lượng cao Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi đặt ra là làm thếnào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như hiện nay Đểđạt được mục tiêu trên ở nước ta có hai con đường chủ yếu:

- Tăng diện tích đất trồng trọt: bằng biện pháp tăng vụ hay tăng hệ số sửdụng đất

- Thâm canh: để có năng suất cao, phẩm chất tốt con người đã lai tạo tìm

ra các giống lúa mới nhưng để phat huy hết tiềm năng của giống thì người trồngtrọt phải có những biện pháp kỹ thuật nhất định Trong đó sử dụng phân bón mànhất là phân đạm có ý nghĩa quan trọng

Cả hai con đường này đòi hỏi phải cung cấp cho nông nghiệp một lượngchất dinh dưỡng khá lớn Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra phải nâng cao hơn nữahiệu quả phân bón để tăng năng suất và chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhucầu lương thực cho người dân và cho xuất khẩu

Trang 13

2.2 Đặc điểm dinh dưỡng lúa

Phân bón có vai trò tối quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển củacây lúa, nó cần thiết cho suốt quá trình phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thuhoạch Phân bón cung cấp cho cây là nguồn nguyên liệu để tái tạo ra các chất dinhdưỡng như: tinh bột, chất đường, chất béo, prôtêin Ngoài ra chúng còn giữ vai tròduy trì sự sống của toàn bộ cây lúa, không có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết,không thể tồn tại

Các yếu tố dinh dưỡng trong phân bón cung cấp cho cây lúa có vai trò khácnhau, với hàm lượng cung cấp khác nhau trong quá trình sinh trưởng, phát triển củacây lúa Vì vậy việc bón phân, bổ sung dinh dưỡng cho lúa người ta đã nghiên cứu

và đưa ra những công thức bón phân hợp lý cho từng giống lúa, cho từng giai đoạnsinh trưởng, phát triển, theo từng điều kiện đất đai, khí hậu cụ thể

2.2.1 Yêu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa

Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng vàphát triển của cây trồng Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của câytrồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trong thànhphần chất khô của cây có chứa 0,5 -6% đạm tổng số hàm lượng đạm trong láliên quan chặt chẽ tới cường độ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối Đối vớicây lúa thì đạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộrễ; thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn đếnlàm tăng năng suất lúa Do vậy, đạm góp phần thúc đẩy sinh trưởng nhanh(chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt chắc và tăng hàmlượng protein trong hạt Đạm ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, pháttriển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa

Trong 3 yếu tố phân bón chính (đạm, lân, kali) thì đạm là yếu tố hàng đầuđược nhiều nhà khoa học quan tâm nhất, nó cũng là yếu tố làm tăng năng suấtnhanh nhất nhưng lại gây ô nhiễm môi trường mạnh nhất

Trang 14

Phân tích các bộ phận non của cây trồng, người ta thấy trong các bộ phậnnon hàm lượng đạm nhiều hơn ở các bộ phận già Hàm lượng đạm trong các mônon có từ 5,5 – 6,5%, vì vậy trong thực tế cây lúa cần nhiều đạm trong nhữngthời kỳ đầu nếu giai đoạn đẻ nhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do

đẻ nhánh ít, dẫn đến số bông ít Nếu bón không đủ đạm sẽ làm thấp cây, đẻnhánh kém, phiến lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ, từ đó

sẽ làm cho năng suất lúa giảm còn nếu thừa đạm cây lúa sẽ hút nhiều đạm làmtăng hô hấp, tăng lượng gluxit tiêu hao Vì thế gluxit tích lũy do quang hợp tùytheo sự hút đạm hutd nhiièu đạm làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, đẻ nhiềunhánh vô hiệu, lúa trỗ muộn, cây cao vống dẫn đến hiện tượng đổ non, khả năngchống chịu kém và năng suất giảm một cách rõ rệt Khi cây lúa được bón đủđạm thì nhu cầu tất cả các dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng

Chính vì vậy cần bón phân đạm hợp lý cho mỗi giống lúa, hợp lý chotừng thời kỳ sinh trưởng của cây lúa trong những điều kiện cụ thể (chất đất, điềukiện khí hậu, kỹ thuật thâm canh, vốn đầu tư) để mỗi giống lúa thể hiện được hếttiềm năng năng suất

Theo Lê Văn Căn (1968), do hiện tượng đạm bị rửa trôi, nên chia đạm ralàm nhiều lần, bón vào các thời kỳ bón lót, đẻ nhánh và làm đòng Tùy theo thời

kỳ sinh trưởng của cây lúa mà bón sớm hay muộn, nhưng khi bón lót phải dựavào thời tiết khí hậu

Bùi Huy Đáp (1970), cho rằng mỗi giống khác nhau, lượng đạm thích ứng

là khác nhau, trong phạm vi đó lượng đạm tăng thì năng suất cũng tăng, cần bónđạm vào thời kỳ đẻ nhánh rộ và giảm dần khi lúa đứng cái

Thời kỳ phân hóa đòng và phát triển đòng thành bông, tạo các bộ phận ainhsản cây lúa cũng cần đạm Tuy nhiên, lượng đạm cần ít hơn so với giai đoạn đẻnhánh thời kỳ này cây lúa hút 10 – 15% lượng đạm, là thời kỳ bón đạm có hiệu suấtcao (Đào Thế Tuấn, 1980; S, Yoshida, 1985) Nếu bón đầy đủ đạm thời kỳ này sẽlàm tăng số hạt/bông, số hạt chắc trên bông và trọng lượng 1000 hạt

Trang 15

Yoshida, (1981) cho biết khi bón tất cả số lượng đạm đạm cho từng thời

kỳ thì thời kỳ có hiệu quả cao nhất đối với năng suất lúa là 10 ngày sau cấy.Hiệu quả đối với năng suất của mỗi gam đạm mà cây đã hút nói chung giảm vàocác thời kỳ sinh trưởng sau và có đỉnh cao thứ nhì vào 40 ngày sau cấy (tươngđương với thời kỳ làm đòng)

Phạm Văn Cường (2003) đã kết luận việc cung cấp đủ đạm lúc cây trưởngthành là điều cần thiết để làm chậm quá trình già hóa của lá, duy trì cường độquang hợp khi hình thành hạt chắc và tăng trưởng Protein khi tích lũy vào hạt

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới năng suất và chất lượng hạt lúanhiều tác giả đã kết luận: Năng suất của các giống lúa tăng dần theo lượng đạm bón.Nếu bón 100 – 150 kg N/ha có thể tăng năng suất từ 10,34 lên 38.92 tạ/ha

Tại Nhật Bản sau nhièu năm nghiên cứu và thí nghiệm các nhà khoa học

đã chứng minh rằng nếu coi nếu coi năng suất lúa trong trường hợp bón đầy đủphân vô cơ (đủ thành phần N, P, K) thì không bón Kali năng suất giảm 4%, khikhông bón lân năg suất giảm 5% và khi không bón đạm năng suất giảm 117%.Như vậy, những thông tin cho thấy cây lúa rất cần dinh dưỡng đạm mới tạo đượcnăng suất cao Do vậy, bón phân đạm cho lúa để tăng năng suất, phẩm chất làmột nhu cầu tất yếu

2.2.2 Yêu cầu dinh dưỡng lân của cây lúa

Lân là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng đối với sinh trưởng và phát triểncủa cây trồng vì là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là chất chủ yếu của nhân

tế bào Lân có quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục, protit và sự dichuyển tinh bột

Lân được rễ hấp thụ sau đó được chuyển lên các cơ quan bên trên thôngqua xylem, từ đó tham gia vào các phản ứng hình thành các hợp chất chứa lânmới Ở trong tế bào lân tham gia vào thành phần của photpholipit, axitnucleic,nucleprotit, ATP, ADP, là sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi chất trongcây lân cũng tồn tại dưới dạng vô cơ Lân vô cơ có thể chiếm đến ½ lân tổng số

Trang 16

hiện tượng hút lân và di chuyển lân với việc hữu cơ hóa lân là không thể táchrời lân vô cơ sau khi kết hợp với các sản phẩm trao đổi chất trung gian khônglâu lại trở thành lân vô cơ tự do, quá trình tuần hoàn này rất nhanh Lân vô cơtồn tại nhiều có tác dụng duy trì mức năng lượng cao trong cơ thể giúp cho quátrình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ, thời kỳ cuối của cây thường là thời kỳ tíchlũy tinh bột, lượng lân vô cơ giảm, lượng phytin trong cây tăng lên do nănglượng của cây giảm, hoạt động sinh lý của cây cũng giảm rõ rệt.

Vai trò chủ yếu của lân thể hiện ở các mặt sau:

- Xúc tiến sự phát triển của bộ rễ lúa, đặc biệt là rễ bên và lông hút

- Làm tăng số nhánh và tốc độ đẻ nhánh của lúa, sớm đạt số nhanha cực đại,tạo thuận lợi cho việc tăng số nhánh hữu hiệu, dẫn đến làm tăng năng suất lúa

- Thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả, tăng nhanh quá trình trỗ, chín củalúa và ảnh hưởng tích cực đến chất lượng hạt

- Tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi và sâu bệnh hại

- Thúc đẩy phân chia tế bào, tạo thành các hợp chất béo và protein

- Ngoài ra, lân còn có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục,protit và sự vận chuyển tinh bột

Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng từ khi cây lúa mọc đến khilúa trỗ, nhưng hút lân mạnh nhất vẫn là thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng, tuy nhiêngiai đoạn đầu nhu cầu về lân của cây lúa là rất thấp

Cây lúa được bón đầy đủ lân và cân đối đạm sẽ phát triển xanh tốt, khỏemạnh, chống đỡ với điều kiện bất thuận như hạn, rét

- Cây lúa đủ lân đẻ khỏe, bộ rễ phát triển tốt, trỗ và chín sớm ngay cả trongđiều kiện nhiệt độ thấp trong vụ đông xuân, hạt thóc mẩy và sáng

- Cây lúa thiếu lân cây còi cọc, đẻ nhánh kém, bộ lá lúa ngắn, phiến lá hẹp, lá

có tư thế dựng đứng và có màu xanh tối; số lá, số bông và số hạt/bông đều giảm

Trang 17

Trong sản xuất, khi bón phân lân cho lúa, lượng lân supe bao giờ cũnggấp 1,5 - 2 lần so với đạm Urê và thường bón lót toàn bộ phân lân cùng với phânchuồng hay phân xanh để cung cấp kịp thời lân cho sự phát triển của bộ rễ lúa.

Như vậy, muốn cây lúa sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao thìkhông những cần cung cấp đầy đủ đạm mà còn cung cấp đủ cả lân cho cây lúa

2.2.3 Yêu cầu dinh dưỡng kali của cây lúa

Kali là một trong ba nguyên tố quan trọng đối với cây trồng tuy khôngtham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào nhưng tham gia vào thành phần traođổi chất của cây thông qua tác dụng hoạt hóa các enzyme xúc tác các phản ứngquan trọng trong cây

Cũng như đạm, lân, Kali chiếm tỉ lệ cao hơn tại các cơ quan non của câylúa Kali tồn tại dưới dạng ion nên nhờ vậy mà kali có thể len lỏi vào giữa các bàoquan, xúc tiến quá trình vận chuyển dinh dưỡng, giúp cây lúa tăng cường hô hấp.Kali còn giúp thúc đẩy tổng hợp prôtit, do vậy nó hạn chế việc tích lũy nitrat trong

lá, hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm cho lúa Ngoài ra kali còn giúp bộ rễ tăngkhả năng hút nước và cây lúa không bị mất nước quá mức ngay cả trong lúc gặpkhô hạn, kali làm tăng khả năng chống hạn và chống rét cho cây lúa

Cây lúa được bón đầy đủ kali sẽ phát triển cứng cáp, không bị ngã đổ,chịu hạn và chịu rét tốt Cây lúa thiếu kali lá có màu lục tối, mép lá có màu nâuhơi vàng dẫn đến sự quang hợp của cây bị giảm sút rõ rệt, kéo theo cường độ hôhấp tăng lên, làm cho sự tích lũy sản phẩm trong quá trình quang hợp trong câygiảm Thiếu kali nghiêm trọng trên đỉnh lá có vết hoại tử màu nâu tối trong khicác lá già phía dưới thường có vết bệnh tiêm lửa Khi tỉ lệ kali trong cây giảmxuống chỉ còn bằng 1/2 - 1/3 so bình thường thì mới thấy xuất hiện triệu chứngthiếu kali trên lá, cho nên khi triệu chứng xuất hiện thì năng suất đã giảm nênviệc bón kali không thể bù đắp được đặc biệt vai trò của kali đựoc thể hiện rõnhất trong thời kỳ đầu làm đòng Trong thời kỳ này, nếu thiếu kali sẽ làm cho

Trang 18

gié bông bị thoái hóa nhiều, số bông ít, trọng lượng nghìn hạt giảm, hạt xanh,hạt lửng và bạc bụng nhiều, phẩm chất gạo giảm.

Trong sản xuất, khi bón phân kali cho lúa, lượng kali clorua bao giờ cũng ítnhất trong 3 loại phân bón chính và thường sử dụng để bón thúc cùng với phân đạm

2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón cho lúa

2.3.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón cho lúa trên thế giới

Trong lịch sử nông nghiệp thế giới, các hệ thống nông nghiệp khác nhau,

do trình độ thâm canh khác nhau, mà chủ yếu là do khả năng bồi dưỡng dinhdưỡng đất khác nhau, đã cho năng suất rất khác nhau

Sang thế kỷ XX, nền nông nghiệp hiện đại, nhờ sự phát triển của côngnghệ sản xuất phân hóa học đã khiến cho năng suất tăng gấp đôi so với nền nôngnghiệp truyền thống, chỉ dựa vào chăn nuôi

Phân bón là thức ăn của cây trồng, là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho câyphát triển trên từng loại đất, đối với từng loại cây trồng hoặc các giai đoạn sinhtrưởng, phát triển khác nhau, cây cần số lượng và chất lượng phân bón khácnhau Theo khối lượng, chất dinh dưỡng có 2 nhóm, đa lượng: N, P, K và vilượng: Mg, Mn, Bo, Zn,… Theo nguồn gốc, phân bón chia thành hai loại: Phânbón hữu cơ có nguồn gốc từ động thực vật và phân vô cơ được tổng hợp từ cácloại hóa chất hoặc khoáng chất phân rã

Đối với sản xuất nông nghiệp, phân bón đã góp phần đáng kể làm tăngnăng suất cây trồng, chất lượng nông sản theo đánh giá của Viện Dinh dưỡngQuốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30 – 35% tổng sản lượng cây trồng.như vậy, cho thấy vai trò của phân bón có ảnh hưởng đến năng suất, sản lượngquốc gia và thu nhập của nông dân thật to lớn

Qua nghiên cứu người ta thấy khi giảm đi một nửa lượng phân đạm trongtrồng trọt năng suất cây trồng giảm 22 lần nếu xét trong giai đoạn ngắn và 25 –30% trong trung hạn lợi nhuận nông trại giảm 40% thu nhập giảm 12%, tổngsản lượng hoa màu giảm 40% Do vậy công nghiệp chế biêns giảm, xuất khẩu

Trang 19

nông phẩm giảm, xuất khẩu nông phẩm giảm, để đảm bảo tiêu dùng phải nhậpkhẩu khiến cho giá ngũ cốc trên thị trường thế giới tăng 5% (Schmitz vàHarmann, 1994).

Theo thống kê của IFA, nếu như giai đoạn1960/1961 nhu cầu phân bóncủa thế giới là 10,83 triệu tấn N, 10,73 triệu tấn P2O5 và 8,48 triệu tấn K2O thìđến giai đoạn 2005/2006 nhu cầu của thế giới là 90,86 triệu tấn N, 36,78 nghìntấn P2O5 26,44 triệu tấn K2O năm 1961, ở châu Á chỉ mới tiêu thụ khoảng 3,12triệu tấn phân bón nhưng đến năm 1993 đã tiêu thụ 60,91 triệu tấn tăng 1852,2%trong khi đó thế giới tăng 341,5% (FAO Fertilizer Yearbook) Trong giai đoạn 5năm tới nhu cầu phân bón thế giới dự kiến sẽ đạt 178,2 triệu tấn trong năm năm2011/2012 tăng 15,7% so với năm 2005/2006 Nhu cầu phân có gốc nitơ trong

vụ mùa này dự báo sẽ tăng 3,1%, lên 107,7 triệu tấn, phân có gốc photpho sẽtăng 1% lên 41,1 triệu tấn, và phân có gốc kali sẽ tăng 5,7% lên 29,4 triệu tấn.Theo IFA, hầu hết sự gia tăng về tiêu thụ phân bón đều xuất phát từ thj trườngchâu Á, trong đó khu vực Đông Nam Á và Đông Á chiếm hơn một nửa tổngmức tăng này Ngoài ra các khu vực khác trên thế giới dự kiến mức tiêu thụ tăngtrưởng bình quân hàng năm: Mỹ la tinh và vùng Caribe (3%), Bắc Mỹ (2,1%),Đông Nam Á (3.3%), Đông Âu và Trung Á (3%), châu Đại Dương (2,1%), Tây

Á và Đông Bắc Phi (1,9%)

2.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón đối với cây lúa ở Việt Nam

Trong các nguyên tố cấn thiết cho cây lúa thì đạm là yếu tố hạn chế chủyếu của năng suất mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn đạm, 456.000 tấn lân

và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62% và còn tăng nữa trongnhững năm tiếp theo

Trang 20

Bảng 2.2 : Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020

và hiệu quả sử dụng phân bón thực tế năng suất lúa ở Việt Nam chưa cao vìphần lớn nông dân bón phân không cân đối phân đạm được chú trọng nhiềuhơn, tiếp theo là lân, kali được sử dụng rất ít mặc dù Bùi Đình Dinh (1995) chorằng cần thiết phải bón kali cho lúa trên tất cả các loại đất bón Kali giúp lúa đẻnhnáh tập trung và cho năng suất cao hơn ( Lê Vĩnh Thảo, 2002) Võ MinhKha, (1996) nghiên cứu trên đất phù sa sông Hồng nhận thấy: khi năng suất lúadưới 2,5 tấn/ha thì hiệu lực cảu kali không rõ, năng suất từ 2,5 - 4,5 tấn/ha hiệulực của kali thể hiện rõ hơn, năng suất lớn hơn 4,5 tấn/ha thì nhất thiết phải bónkali liều lượng nông dân bón phân cho lúa trên một số loại đất ở miền Bắc ViệtNam thể hiện qua bảng

Trang 21

Bảng 2.3 : Liều lượng phân bón được nông dân sử dụng cho lúa trên một số loại đất ở miền

(Nguồn: Nguyễn Văn Bộ và cs, 2003)

Trên thực tế đã có nhều công trình nghiên cứu xác định lượng phân bóncho nhiều loại đất ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, tuy nhiên người dân bón phânkhông theo quy trình kỹ thuật, phân đạm thường được sử dụng nhiều hơn Do bónphân mất cân đối nên hiệu quả sử dụng phân bón thấp, gây ô nhiễm môi trường

Viện Nông hóa - thổ nhưỡng đã thiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất,mùa vụ và liều lượng phân bón đến tỷ lệ đạm do cây lúa hút Không phải do bónnhiều đạm thì tỷ lệ đạm của lúa sử dụng nhiều Ở mức phân đạm 80kg N/ha, tỷ lệ

sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có kết hợp với phân chuồng tỷ lệ đạmhút được là 47,4% nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160N và 240N có bónphân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống trên đất bạc màu

so với đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn

Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông CửuLong: trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60 P2O5 và 30 K2O làm nềnthì khi có bón đạm làm tăng năng suất lúa từ 15 – 48,5% trong vụ Đông xuân và

vụ Hè thu tăng 8,5 – 35,6% Hướng chung của cả 2 vụ đều bón đến mức 90N cóhiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90N năng suất lúa tăng không đáng kể theoNguyễn Thị Lẫm (1994) khi nghiên cứu về bón phân đạm cho lúa cạn đã kết

Trang 22

luận: liều lượng đậm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa phương là60N/ha đối với những giống thâm canh cao thì lượng đạm thích hợp là từ 90 –120N/ha.

Trên đất bạc màu, khi bón lượng đạm từ 40 – 80 kg N/ha thì hiệu suất 1

kg N là 10 – 13,5 kg thóc ở vụ mùa, bón trên 120 kg N/ha hiệu suất giảm xuốngcòn 5 – 6 kg thóc/1 kg N (Phạm Tiến Hoàng, Trần Thúc Sơn, Phạm Quang Hà,1996) đối với đất phù sa sông Hồng khi bón lượng đạm từ 80 – 100 kg N/ha thìhiệu suất 1 kg N là 10 – 15 kg thóc ở vụ xuân và 6 – 9 kg thóc ở vụ mùa Nếubón trên 160 kg N/ha thì hiệu suất đạm giảm rõ

Trang 23

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Vụ Xuân năm 2012

- Địa điểm: Khu thí nghiệm đồng ruộng, Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 24

Số lượng công thức gồm 8 công thưc được ký hiệu như sau:

Trang 25

+ Chuẩn bị giống: giống được kiểm tra độ nảy mầm trước khi làm thínghiệm, giống phải đạt tiêu chuẩn trên 85% hạt nảy mầm mới dùng cho thínghiệm.

+ Chuẩn bị đất: đất được cày bừa kỹ, san phẳng, làm sạch cỏ dại

+ Phương pháp làm mạ: áp dụng phương pháp làm mạ dược

+ Làm cỏ, sục bùn

+ Phòng trừ sâu bệnh

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển

Theo dõi 5 cây theo đường chéo 5 điểm, tiến hành theo dõi hàng tuần cácchỉ tiêu sau:

- Động thái tăng trưởng chiều cao cây: đo chiều cao cây theo phươngpháp mút lá

- Đo diện tích lá: phương pháp cân nhanh

- Tốc độ tích lũy chất khô CGR (g/m2 đất/ngày đêm)

- Hiệu suất quang hợp thuần NAR (g/m2 lá/ngày đêm)

3.4.2 Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi sâu bệnh hại chính trên các ô thí nghiệm, sau đó phân cấp chođiểm theo thang điểm của Viện lúa quốc tế (IRRI):

Trang 26

TT Tên Điểm Cách đánh giá

1

Sâu đục thân

Sâu cuốn lá nhỏ

13579

1-10% cây bị hại11-20% cây bị hại21-35%cây bị hại36-50% cây bị hại51-100% cây bị hại

2

13579

Không bị bệnhVết bệnh 1-5% diện tích láVết bệnh 6-12% diện tích láVết bệnh 13-25% diện tích láVết bệnh 26-50% diện tích láVết bệnh trên 51% diện tích lá

3

3579

Vết bệnh < 20% chiều cao câyVết bệnh 20-30% chiều cao câyVết bệnh 31-45% chiều cao câyVết bệnh 46-65% chiều cao câyVết bệnh > 65% chiều cao cây

3.4.3 Các chỉ tiêu năng suất

Mỗi ô lấy 3 khóm theo dõi các chỉ tiêu sau:

Trang 27

- Năng suất sinh vật học (NSSVH) (tạ/ha)

- Hệ số kinh tế (HSKT) (%)

- Năng suất thực thu tính trên toàn bôn ô quy ra tạ/ha

- Hiệu suất phân đạm (kg thóc/kg N)

3.4.4 Xử lý số liệu

Các số liệu theo dõi được xử lý bằng chương trình Excel, IRRISTAT 4.0

Trang 28

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến đến thời gian sinh trưởng của giống lúa BQ10 và KD18 qua các giai đoạn sinh trưởng.

Thời gian sinh trưởng của cây lúa tính từ khi gieo đến chín, thay đổi tùytheo đặc tính sinh học của giống, thời vụ cấy, điều kiện đất thời tiết và kỹ thuậtcanh tác Theo dõi thời gian sinh trưởng của cây lúa là cơ sở để xác định thời vụgieo cấy và sắp xếp trong hệ thống luân canh tăng vụ ở các vùng trồng lúa khácnhau

Kết quả theo dõi thời gian sinh trưởng của 2 giống lúa thí nghiệm đượctrình bày trong bảng 4.1

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng của

các giống lúa BQ10 và KD18 (Ngày)

Giống phânMức Gieo-Cấy KTĐNCấy- KTĐN-KTT KTT-Chín TGSTTổng

Ghi chú: KTĐN: Kết thúc đẻ nhánh; KTT: Kết thúc trỗ; TGST: Thời gian sinh trưởng.

Qua bảng trên cho thấy, thời gian cấy đến kết thúc đẻ nhánh với giốngBQ10 là từ 35 – 38 ngày, còn với KD18 là 36 – 38 ngày Sau giai đoạn đẻnhánh, cây lúa bước vào thời kỳ làm đốt, làm đòng Với giống BQ10, thời gian

Trang 29

từ kết thúc đẻ nhánh đến trỗ dao động từ 34 - 36 ngày, còn với KD18 là 33 – 35ngày Nhìn chung, các công thức bón liều lượng đạm khác nhau không ảnhhưởng tới thời gian làm đòng của cả 2 giống.

Thời gian từ khi trỗ đến lúc chín biến động từ 26 – 29 đối với giống BQ10

và từ 27 – 29 ngày đối với giống KD18

Qua các công thức thí nghiệm, các công thức bón đạm đều có thời gian từcấy đến đẻ nhánh và từ đẻ nhánh đến trỗ cao hơn các công thức không bón đạm.Việc kéo dài thời gian đẻ nhánh với mức bón đạm hợp lý sẽ giúp cho lúa cóđược số nhánh hữu hiệu tối đa, nhưng nếu kéo dài sẽ làm tăng số nhánh vô hiệudẫn đến giảm năng suất Còn kéo dài quá trình đẻ nhánh đến trỗ sẽ làm tăng khảnăng tích lũy và hình thành hoa của cây lúa, nâng cao đựoc số hạt/bông và làmtăng năng suất Đây cũng là một cơ sở để khẳng định tác dụng của đạm trongcanh tác lúa

Như vậy, thời gian sinh trưởng của 2 giống thí nghiệm đều có chiềuhướng tăng lên khi tăng lượng đạm bón Tổng thời gian sinh trưởng của BQ10trên các công thức thí nghiệm với liều lượng phân bón khác nhau dao động từ

130 – 138 ngày, với giống lúa KD18 là từ 131 – 137 ngày Kết quả trên cho thấy,

sự biến động về thời gian sinh trưởng giữa các công thức không lớn, song cáccông thức không bón, hoặc bón ít thì có xu hướng rút ngắn thời gian sinh trưởng

so với các công thức bón nhiều đạm

4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến chiều cao cây

Chiều cao cây trên đồng ruộng là một tiêu chí quan trọng phản ánh tìnhhình sinh trưởng cây lúa ở các mức phân bón khác nhau Chiều cao của cây lúa

là kết quả của sự tăng trưởng thân lá từ khi nảy mầm đến lúc hình thành đốt,vươn lóng và trỗ bông hoàn toàn Chiều cao cây là một đặc tính của giống Sựtăng trưởng chiều cao cây nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều yếu tố như: nhiệt độ,ánh sáng, mật độ cấy, lượng phân bón đặc biệt là phân đạm

Trang 30

Kết quả theo dõi về động thái tăng trưởng chiều cao của giống lúa BQ10

và KD18 dưới ảnh hưởng của lượng đạm bón được trình bày trong bảng 4.2

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm tới động thái tăng trưởng chiều

cao của giống BQ10 và KD18

Trang 31

Đồ thị 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái tăng trưởng

chiều cao cây

Nhìn chung ở các lần theo dõi, chiều cao cây có xu hướng tăng cùng vớilượng đạm bón tăng 12 tuần sau cấy, chiều cao cây khác nhau đáng kể ở mứctin cậy 95% giữa các mức bón đạm khác nhau

Chiều cao cây cuối cùng của hai giống lúa tăng cùng với lượng đạm bóntrong phạm vi thí nghiệm Ở công thức không bón đạm có chiều cao cây thấpnhất là 102.2 cm và cao nhất ở công thức bón 120N là 110,1 cm đối với giốngBQ10 Với giống KD18, kết quả thu được cũng tương tự - chiều cao cây thấpnhất là 99,3 cm ở công thức không bón đạm và cao nhất là 106,4 ở công thứcbón 120N Như vậy, đạm có ảnh hưởng rõ đến sự tăng trưởng chiều cao của cây.Các công thức mức đạm bón cao luôn có tốc độ tăng trưởng chiều cao lớn hơn

so với các công thức bón đạm mức thấp và tăng trưởng chiều cao thấp nhất luônquan sát được ở công thức không bón đạm

Trang 32

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều luợng đạm đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây

Ghi chú: TSC (tuần sau cấy)

Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như: thời vụ, đặc tính sinh học của giống, nhiệt độ, ánh sáng, phân bón,mật độ cấy và các kỹ thuật chăm sóc khác

Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của cả hai giống thay đổi qua các giaiđoạn sinh trưởng

Trong giai đoạn đầu, từ 2 tuần sau cấy đến thời kỳ đẻ nhánh hữu hiệu cây

mạ vừa bén rễ hồi xanh nên chiều cao cây tăng chậm, sự khác nhau về chiều caocây giữa các công thức thí nghiệm là không lớn Tốc độ tăng trưởng chiều caocây từ 2TSC đến 3TSC là từ 29,3 cm đến 34,6cm đối với giống BQ10 và từ 28,4

cm đến 33,4 cm đối với giống KD18, tốc độ tương ứng với giống BQ10 là 5,3cm/tuần và với giống KD18 là 5 cm/tuần Chiều cao cây tăng mạnh nhất từ tuần

4 đến tuần 6 sau cấy (từ 45,3 cm đến 67,3 cm đối với giống BQ10 và từ 44,9 cmđến 65,8 cm đối với giống KD18) vì đây là giai đoạn cây vươn lóng, sau đó tăngchậm và ổn định ở tuần 12 sau cấy, đây là lúc cây đã trỗ hoàn toàn và chiều caocây không tăng thêm nữa Chiều cao cây cuối của giống BQ10 trung bình là106,5 cm và của giống KD18 là 103,3 cm

Trang 33

Như vậy qua kết quả theo dõi về sự tăng trưởng chiều cao cây ở cả haigiống thấy chiều cao cây tăng mạnh vào lúc đẻ nhánh hữu hiệu sau đó chậm dầnđến giai đoạn làm đòng, trỗ bông lại tiếp tục tăng cao do có sự vươn cao củalóng trên cùng để đẩy bông ra khỏi bẹ lá đòng, chiều cao cây tăng mạnh đến khilúa trỗ thoát Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây cho rằng chiềucao cây là một chỉ tiêu sinh trưởng của cây lúa thể hiện đặc trưng của đặc tínhcủa mỗi giống Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện ngoại cảnh; kỹthuật canh tác đặc biệt là chế độ bón phân cho lúa trong đó phân đạm có tácđộng lớn đến chiều cao cây (Đào Thế Tuấn, 1970; Nguyễn Hữu Tế và cs, 2001).

4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái ra lá của giống lúa BQ10

và KD18

Lá là bộ phận rất quan trọng với cây trồng nói chung và cay lúa nói riêng

Lá là cơ quan chủ yếu tạo ra năng suất quang hợp và có lêin quan trực tiếp đếnnăng suất, chất lượng hạt lúa Quá trình ra lá và số lá trên cây có ảnh hưởng đếnthời gian sinh trưởng và diện tích lá của quần thể lúa Số lá trên cây phụ thuộcchủ yếu vào giống, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như như biệnpháp kỹ thuật, chăm sóc khác

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái ra lá của giống

Trang 34

Tốc độ ra lá và số lá trên thân chính chủ yếu là do đặc tính di truyền củagiống quyết định Song các yếu tố ngoại cảnh cũng có ảnh hưởng đặc niệt là thờitiết và chế độ canh tác: mật độ, dinh dưỡng, thời vụ…

Đồ thị 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ ra lá của

giống BQ10 và KD18

Kết quả theo dõi động thái ra lá trên các công thức thí nghiệm chúng tôithấy: tốc độ ra lá trong giai đoạn từ 2 – 3 tuần sau cấy diễn ra chậm do điều kiệnthời tiết không thuận lợi Từ sau 4 tuần sau cấy tốc độ ra lá của cả hai giống lúađều tăng Tốc độ ra lá và số lá của giống BQ10 cao hơn của giống KD18 Sốlượng lá ở các công thức khác nhau không có sự sai khác rõ rệt

4.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến số nhánh của hai giống lúa BQ10 và KD18

Sau khi cấy, cây lúa bén rễ hồi xanh và bước vào thời kỳ đẻ nhánh Đây làthời kỳ có ý nghĩa đáng kể trong toàn bộ đời sống của cây lúa Đẻ nhánh là mộtđặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành sốbông hữu hiệu và năng suất sau này Nhánh lúa đựợc hình thành và phát triển từcác mầm nách (mầm nhánh ở gốc thân) Khả năng đẻ nhánh của cây lúa lại phụthuộc vào rất nhiều yếu tố như: điều kiện thời tiết, chế độ dinh dưỡng, mật độ, nguồn

Trang 35

nước cũng như điều kiện kỹ thuật canh tác Quá trình đẻ nhánh của cây tuân theomột quy luật nhất định Thông thường ở ruộng mạ khi gieo dày không có hiện tượng

đẻ nhánh chuyển sang ruộng cấy mới bắt dầu đẻ nhánh, số nhánh tăng dần và đếnmột giai đoạn nào đó thì không tăng nữa mà thậm chí còn lụi đi Vì vậy mà việc tìmhiểu khả năng đẻ nhánh của lúa là rất quan trọng giúp ta xác định các biện pháp kỹthuật tác động để có được số nhánh hữu hiệu cao nhất tạo tiền đề năng suất cao

Kết quả theo dõi động thái đẻ nhánh của hai giống lúa BQ10 và KD18được thể hiện ở bảng 4.3

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái đẻ nhánh của giống

Ngày đăng: 22/12/2019, 21:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Đào Thế Tuấn (1963), “Hiệu lực của phân lân đối cới lúa”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, tháng 5/1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của phân lân đối cới lúa”, "Tạp chí khoahọc kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 1963
25. H.L.S Tandon và I.J Kimo (1995), “Sử dụng phân bón cân đối”, Hội thảo hiệu lực phân kali trong mối quan hệ với phân bón cân đối để nâng cao năng suất và chất lượng nông sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phân bón cân đối”
Tác giả: H.L.S Tandon và I.J Kimo
Năm: 1995
27. Vũ Hữu Yêm (1995), Giáo trình phân bón và cách bón phân. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân bón và cách bón phân
Tác giả: Vũ Hữu Yêm
Nhà XB: Nhà xuấtbản Nông nghiệp
Năm: 1995
28. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2002), Công nghệ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ và kỹ thuật sản xuất nôngnghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
29. Cục khuyến nông và khuyên lâm (1998), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối và hợp lý chocây trồng
Tác giả: Cục khuyến nông và khuyên lâm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w