1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh nghiệm vay nợ nước ngoài của một số quốc gia và bài học cho việt nam (1)

53 127 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 114 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cũng phải lưu ýrằng sử dụng vốn vay cũng chính là tạo cho mình một khoản nợ đáng kể và đặcbiệt đối với các nước đang phát triển, hậu quả của nợ nước ngoài lại càng bộc lộ rõ.C

Trang 1

Trường Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội

KINH NGHIỆM VAY NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Chi

Trang 2

Mục lục

Danh mục viết tắt 4

Danh mục bảng biểu 5

Lời mở đầu 6

Chương 1: Cơ sở lý thuyết 7

1.1 Khái niệm vay nợ nước ngoài 7

1.2 Phân loại vay nợ nước ngoài 8

1.2.1 Phân loại theo chủ thể đi vay 8

1.2.1.1 Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh 8

1.2.1.2 Nợ tư nhân 8

1.2.2 Phân loại theo chủ thể cho vay 9

1.2.3 Phân loại theo loại hình đi vay 9

1.2.4 Phân loại theo thời hạn vay 10

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá vay nợ nước ngoài 10

1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài 10

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài 11

1.3 Vai trò của vay nợ nước ngoài 12

1.3.1 Vay nợ nước ngoài đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư 12

1.3.2 Vay nợ nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý 12

1.3.3 Vay nợ nước ngoài ổn định tiêu dùng trong nước 13

1.3.4 Vay nợ nước ngoài bù đắp cán cân thanh toán 13

Chương 2: Thực trạng vay nợ nước ngoài ở Việt Nam 15

2.1 Các phương thức vay nợ 15

Trang 3

2.1.1 Nợ ODA 15

2.1.2 Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương 16

2.1.3 Phát hành trái phiếu quốc tế 17

2.2 Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam 17

Chương 3: Kinh nghiệm vay nợ nước ngoài của một số quốc gia 23

3.1 Khủng hoảng nợ ở các nền kinh tế mới nổi thập kỷ 1980 và 1990 23

3.1.1 Khủng hoảng nợ châu Mỹ Latinh những năm 1980: 23

3.1.2 Khủng hoảng nợ tại Mexico 1994: 25

3.1.3 Khủng hoảng tài chính Đông Á những năm cuối thập niên 1990: 27

3.2 Bài học vay nợ của Nga và Dubai: 29

3.2.1 Thực trạng và các giải pháp trả vay nợ nước ngoài của Nga 29

3.2.2 Thực trạng và khủng hoảng vay nợ nước ngoài của Dubai 31

3.3 Bài học quản lý vay nợ nước ngoài của Malaysia và Indonesia: 32

3.3.1 Sự thành công từ bài học vay nợ của Malaysia 32

3.3.2 Công tác quản lý và sử dụng vốn vay ở Indonesia 34

Chương 4: Bài học và đề xuất chính sách cho Việt Nam 36

4.1 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 36

4.2 Một số đề xuất giải pháp khắc phục khủng hoảng nợ nước ngoài ở Việt Nam 37

4.2.1 Các giải pháp đảm bảo khả năng tiếp nhận nợ vay nước ngoài 37

4.2.1.1 Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững 37

4.2.1.2 Lựa chọn danh mục vay hợp lý 37

4.2.1.3 Gia tăng dự trữ ngoại hối 38

4.2.2 Các biện pháp giảm chi phí vay nợ 39

4.2.2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái 39

Trang 4

4.2.2.2 Ổn định lạm phát 39

4.2.2.3 Thay đổi hình ảnh của Việt Nam trên thị trường thế giới 40

4.2.3 Biện pháp sử dụng vốn vay hiệu quả 41

4.2.3.1 Kiểm soát nợ nước ngoài 42

4.2.3.2 Các biện pháp nhằm sử dụng nợ nước ngoài có hiệu quả 43

4.2.4 Các biện pháp quản lý nợ vay nước ngoài 44

4.2.5 Biện pháp nâng cao khả năng hoàn trả nợ nước ngoài 46

4.2.5.1 Lựa chọn danh mục vay hợp lý 46

4.2.5.2 Duy trì cơ cấu nợ hợp lý 47

4.2.6 Các biện pháp hỗ trợ khác 48

4.2.6.1 Ổn định môi trường thể chế 48

4.2.6.2 Cải thiện môi trường đầu tư 49

Kết luận 50

Tài liệu tham khảo: 51

Danh mục viết tắt

Trang 5

Bảng 2.1 Cac skhoanr dư nợ nước ngoài quốc gia từ 2013-2017 18Bảng 2.2 Ccác cỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia 19

Bảng 2.4 Tiêu chuẩn phân loại mức độ nợ của ngân hàng thế giới 21

Trang 6

Lời mở đầu

Ngày nay, khi xu thế hội nhập đang trở thành xu thế chung và tất yếu đối vớitất cả các quốc gia Và không một quốc gia nào muốn phát triển lại có thể đứngngoài cuộc của quá trình vận chuyển các luồng vốn quốc tế Đặc biệt với các nướckém phát triển thì hội nhập sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho các nước, có thể tiếp cận vớicông nghệ mới, tận dụng các nguồn vốn từ bên ngoài, nhưng đồng thời cũng đặt racho các nước này những thách thức, khó khăn Sử dụng vốn vay nước ngoài hợp lý

sẽ đem lại những hiệu quả hết sức to lớn, là sự chọn lựa tốt để rút ngắn thời giantích luỹ vốn, nhanh chóng phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, cũng phải lưu ýrằng sử dụng vốn vay cũng chính là tạo cho mình một khoản nợ đáng kể và đặcbiệt đối với các nước đang phát triển, hậu quả của nợ nước ngoài lại càng bộc lộ rõ.Các khoản nợ nước ngoài, nhất là các khoản vay ODA do Chính phủ các nước pháttriển cung cấp cho các nước đang phát triển thường hay đi kèm với những điềukiện và ràng buộc về chính trị, kinh tế, quân sự … Chính vì vậy chúng ta cần phảihiểu rõ việc sử dụng nợ nước ngoài rất cần có một chiến lược cụ thể, hợp lý; nếukhông chính các khoản nợ đó lại là những rào cản đối với sự phát triển kinh tế củađất nước, cản trở quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Nằm trong xu hướng vận động đó, Việt Nam đã từng bước ra khỏi nhómnước kém phát triển thu nhập thấp, chuyển sang nhóm nước đang phát triển cómức thu nhập trung bình Có được thành quả đó, bên cạnh sự phát huy nội lực,Việt Nam đã và đang nhận được sự trợ giúp từ phía các nước phát triển Hiện nay

có trên 50 đối tác đặt quan hệ song phương, đa phương đã và đang nỗ lực hỗ trợViệt Nam đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc vay nợnước từ những quốc gia đó nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu đầu tư, đồng thờithúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng, nhằm tạo nguồn vốn trả nợ và đảm bảo phát triểnbền vững Từ những lợi ích trên, có thể nhận thấy kinh nghiệm đi vay là yếu tốquan trọng hàng đầu trước khi có những chiến lược quản lý hay sử dụng vốn vayhiệu quả Học hỏi từ các bài học đi vay của một số nước trên thế giới, Việt Namkết hợp với tình hình thực tế của đất nước sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm vay nợ nướcngoài trong hiện tại và tương lai

Trang 8

Chương 1: Cơ sở lý thuyết 1.1 Khái niệm vay nợ nước ngoài

Nợ nước ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chínhphủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vaynước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam

Theo Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng táithiết quốc tế (BIS), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra địnhnghĩa nợ nước ngoài một cách bao quát hơn như sau:

“Tổng vay nợ nước ngoài là khối lượng nghĩa vụ nợ vào một thời điểm nào

đó đã được giải ngân và chưa hoàn trả, được ghi nhận bằng hợp đồng giữa người

cư trú về việc hoàn trả các khoản gốc cùng với lãi hoặc không lãi, hoặc về việchoàn trả các khoản lãi cùng với gốc hoặc không cùng với các khoản gốc”

Nợ nước ngoài của một quốc gia đồng nghĩa với việc quốc gia đó thực hiệnmột cam kết để có đồng vốn vay đồng thời kèm theo đó là nghĩa vụ trả nợ Trong

đó, cam kết là nghĩa vụ chắc chắn cho vay, bảo lãnh hoặc bảo đảm một khoản tiền

cụ thể theo các điều khoản và điều kiện tài chính cụ thể Nghĩa vụ trả nợ đề cập tớiviệc hoàn trả cả gốc, lãi và các khoản phí Khoản trả nợ thực tế là tổng số tiền phảithanh toán để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nợ, bao gồm cả gốc, lãi và các khoản phíđến hạn thanh toán Nghĩa vụ nợ trả theo lịch là toàn bộ các khoản thanh toán baogồm thanh toán gốc, lãi và phí phải trả tại từng thời điểm trong thời gian trả nợ

Căn cứ theo quy định tại Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005của Chính phủ xác định: “nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợhiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thờiđiểm của các khoản vay nước ngoài của Việt Nam Nợ nước ngoài của quốc giabao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”.Theo đó, định nghĩa về vay nước ngoài được phát biểu như sau:

“Vay nước ngoài là các khoản vay ngắn hạn (có thời hạn vay đến một năm),trung và dài hạn (có thời hạn vay trên một năm), có hoặc không phải trả lãi, do Nhànước, Chính phủ Việt Nam và các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủ các nước,

Trang 9

các tổ chức và cá nhân là người không cư trú (sau đây gọi tắt là người cho vaynước ngoài).”

Như vậy xét về bản chất của nợ nước ngoài, không có sự khác biệt đáng kểnào trong các định nghĩa về nợ nước ngoài của Việt Nam hay của các tổ chứcQuốc tế Tuy nhiên, định nghĩa về nợ của Quốc tế rõ ràng hơn, đi vào bản chấthơn Khái niệm nợ nước ngoài về cơ bản mang ý nghĩa thống kê và nhất quán với

Hệ thống thống kê tài khoản quốc gia (SNA)

1.2 Phân loại vay nợ nước ngoài

1.2.1 Phân loại theo chủ thể đi vay

1.2.1.1 Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh

Nợ công được định nghĩa là “các nghĩa vụ nợ của khu vực công” và baogồm nợ của khu vực công cùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực côngbảo lãnh Khu vực công bao gồm các loại thể chế sau:

(1) Chính phủ trung ương và các bộ, ban ngành;

(2) Các cơ quan chính trị cấp dưới, như tỉnh, huyện và thành phố;

(3) Các ngân hàng trung ương;

(4) Các thể chế tự quản, trong đó ngân sách của thể chế đó phải được Chínhphủ phê duyệt hoặc đạt trên một nửa số thành viên của Hội đồng quản trị là các đạidiện của Chính phủ hoặc trong trường hợp phá sản, nhà nước sẽ phải chịu tráchnhiệm về khoản nợ của thể chế đó Bất kỳ một đơn vị thể chế trong nước nào khikhông đáp ứng được một trong ba điều kiện nêu trên thì sẽ được phân loại là khuvực tư nhân

Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh được xácđịnh là các khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà nghĩa vụ trả nợ được bảolãnh theo căn cứ trên hợp đồng bởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tạicùng một nền kinh tế với bên nợ đó

Trang 10

1.2.1.2 Nợ tư nhân

Nợ tư nhân bao gồm khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà khôngđược khu vực công trong cùng một nền kinh tế bảo lãnh theo hợp đồng Về bảnchất đây là các khoản nợ do khu vực tư nhân tự vay, tự trả

Trong thực tế, có những khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được mộtthể chế thuộc khu vực công cư trú trong cùng nền kinh tế bảo lãnh một phần theohợp đồng Đối với những khoản nợ như vậy thì giá trị hiện tại của các khoản thanhtoán được bảo lãnh được xếp vào loại nợ nước ngoài của khu vực tư nhân đượccông quyền bảo lãnh, trong khi những khoản thanh toán không được bảo lãnh đượcxếp vào loại nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được bảo lãnh Chẳng hạn,phát sinh một khoản nợ nước ngoài của doanh nghiệp tư nhân hoạt động đa lĩnhvực cả sản xuất và thương mại, chỉ được Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh các khoảnvay liên quan đến vay để sản xuất thì giá trị của các khoản vay sản xuất sẽ đượccộng vào nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh, trong khigiá trị các khoản vay nhằm mục đích thương mại sẽ thuộc loại nợ nước ngoài củakhu vực tư nhân không được công quyền bảo lãnh

1.2.2 Phân loại theo chủ thể cho vay

Gồm các khoản vay song phương và đa phương Vay đa phương chủ yếuđến từ các cơ quan của Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc

tế (IMF), các ngân hàng phát triển trong khu vực, các cơ quan đa phương nhưOPEC và liên chính phủ

Vay song phương đến từ chính phủ một nước như các nước thuộc OECD vàcác nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một chính phủ duy nhấtdưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật

1.2.3 Phân loại theo loại hình đi vay

Bao gồm vay hỗ trợ phát triển chính thức ODA và vay thương mại

Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Theo định nghĩa của tổ chức Hợptác kinh tế và phát triển (OECD) hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các chuyểnkhoản song phương (giữa các chính phủ) hoặc đa phương trong đó ít nhất 25%tổng giá trị chuyển khoản là cho không Vay hỗ trợ phát triển chính thức là loại

Trang 11

hình vay nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu tiên về lãi suất, về thời gian trả nợ vàthời gian ân hạn Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều sovới vay thương mại Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài (có thể10,15 hay 20 năm) và thời gian ân hạn dài Do vậy, các nước đang phát triểnthường hướng tới và vận dụng tối đa nguồn vốn này cho quá trình xây dựng vàphát triển đất nước Tuy nhiên, vay hỗ trợ phát triển chính thức cũng có những mặttrái của nó, việc cho vay hỗ trợ phát triển chính thức đôi khi kèm theo những điềukiện ràng buộc khiến cái giá phải trả tăng lên.

Vay thương mại: Vay thương mại khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức

là không có ưu đãi về lãi suất và thời gian ân hạn Lãi suất vay thương mại là lãisuất thị trường tài chính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường Chính

vì vậy, vay thương mại có giá khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro Việc vay thươngmại của chính phủ phải được cân nhắc hết sức cẩn trọng

1.2.4 Phân loại theo thời hạn vay

Bao gồm vay ngắn hạn và vay dài hạn

Vay ngắn hạn là loại vay có thời gian đáo hạn một năm trở xuống Vì thờigian đáo hạn ngắn nên khối lượng thương lượng không đáng kể, vay ngắn hạnthường không thuộc đối tượng quản lý chặt chẽ như vay dài hạn Tuy nhiên, vayngắn hạn không trả được sẽ gây mất ổn định hệ thống ngân hàng

Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc

đã gia hạn kéo dài trên 1 năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạnkhoản thanh toán cuối cùng Nợ dài hạn là loại nợ cần được quan tâm quản lýnhiều hơn do khả năng tác động lớn tới nền tài chính quốc gia với lượng vốn vaylớn cộng với việc tiềm ẩn rủi ro nhất định trong thời gian vay kéo dài Các tổ chứctài chính quốc tế thường xuyên theo dõi và phân tích nợ dài hạn của tất cả các quốcgia một cách có hệ thống, từ các số liệu phân tích trên có thể đánh giá tình hình vay

nợ của một quốc gia Hàng năm và hàng quý, Ngân hàng Thế giới yêu cầu nướcvay nợ phải nộp bản Báo cáo bên nợ (DRS), trong đó bao gồm báo cáo về tất cảcác khoản nợ dài hạn phải trả bằng đồng tiền của nước bên nợ và bằng hàng hóadịch vụ

Trang 12

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá vay nợ nước ngoài

1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài

● Khả năng hoàn trả nợ nước ngoài

Tổng nợ/Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hài bao gồm nợ tư nhân, nợ đượcChính phủ bảo lãnh trên thu nhập xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ Ý tưởng sử dụngchỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn thu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là phươngtiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài Những khó khăn khi sửdụng chỉ tiêu này là: Nguồn thu xuất khẩu dễ biến động từ năm này sang năm khác,ngoài ra cũng có những phương án khác để nước con nợ có thể sử dụng để trả nợnước ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất khẩu

● Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia (nợ/GNI)

Nợ/GNI: Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ tỵ nói cách khác, nó phảnánh khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài Thông thường các nước đang phát triểnthường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làmgiảm tình trạng trầm trọng của nợ Do vậy, tình trạng nợ có thể không được đánhgiá đúng mức

● Tỷ lệ trả nợ (tổng nợ phải trả hàng năm/kim ngạch thu xuất khẩu)

Tổng lãi phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi là tỷ lệ dịch

vụ nợ (nợ gốc và lãi phải thanh toán so với giá trị xuất khẩu) Đây là một tiêu chíquan trọng, phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ của quốc gia đi vay

● Tỷ lệ trả lãi

Tổng lãi phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi là dịch vụ tỷ

lệ lãi hay tỷ lệ giữa tổng lãi phải trả so với kim ngạch xuất khẩu Một quốc gia phảithanh toán lãi với mức lãi suất được quy định trong cam kết cho vay, thông thườnglãi này được trích từ thu nhập xuất khẩu

Trang 13

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài

Cơ cấu nợ hàm chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việcvay nợ Thông thường rủi ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ thương mại

và tỷ lệ nợ song phương cao Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu gồm:

● Nợ ngắn hạn/Tổng nợ: Phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toán trongthời gian nhỏ hơn một năm trong tổng nợ Tỷ lệ này càng cao, áp lực trả nợcàng lớn

● Nợ ưu đãi/Tổng nợ: Tỷ lệ này càng cao, gánh nặng nợ nước ngoài càng nhẹ

● Nợ đa phương/Tổng nợ: Các khoản nợ đa phương thường nhằm mục đích hỗtrợ, ít ưu cầu về lợi nhuận, do đó việc tăng cường nợ đa phương trong tổng

nợ phản ánh tình hình nợ nước ngoài của một số nước thay đổi theo chiềuhướng tốt

1.3 Vai trò của vay nợ nước ngoài

1.3.1 Vay nợ nước ngoài đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư

Để thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu vốn đầu tư củacác nước đang phát triển rất lớn, vượt qua khả năng của nền kinh tế Vay nợ nướcngoài là nguồn tài trợ đầu tư bổ sung phổ biến của các nước có nền kinh tế thịtrường trong giai đoạn đầu và giữa của quá trình phát triển Nhiều nước trong sốnày, khi đã đạt đến trình độ phát triển cao, lại trở thành các nước cho vay vốn lớn,chẳng hạn như Nhật Bản Nợ nước ngoài cũng có thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh

tế bằng việc đầu tư vào các ngành mũi nhọn, tạo đà cho nền kinh tế phát triển

Nguồn vốn vay nước ngoài là nguồn lực bổ sung để phát triển kinh tế khisản xuất trong nước chỉ đủ để duy trì mức tiêu dùng thấp Với việc đi vay nướcngoài, một quốc gia có cơ hội đầu tư phát triển ở mức cao hơn trong thời điểm hiệntại mà không phải giảm tiêu dùng trong nước, và nhờ vậy, có thể đạt được tỷ lệtăng trưởng trong hiện tại cao hơn mức mà bản thân nền kinh tế cho phép Cái giáphải trả của việc này là sự giảm sút nguồn đầu tư, cũng là nguồn lực tăng trưởngtrong tương lai, khi mà quốc gia sẽ phải trả lãi nợ nước ngoài và vốn gốc Như vậy,đối với các quốc gia đang phát triển, việc sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài vềbản chất là vấn đề cân đối giữa tiêu dùng trong hiện tại với tiêu dùng trong tương

Trang 14

lai Việc vay nợ nước ngoài chỉ có thể có hiệu quả nếu nó đảm bảo không làm ảnhhưởng nghiêm trọng đến tiêu dùng của các thế hệ tương lai.

1.3.2 Vay nợ nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý

Bên cạnh việc dùng các nguồn vốn tự có để nhập khẩu máy móc thiết bị kèmtheo chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, việc vay vốn nước ngoài bổ sungthêm nguồn vốn để nhập khẩu các máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiếncùng với kỹ năng quản lý của nước ngoài Các dự án đầu tư đã góp phần hiện đạihóa nhiều ngành, lĩnh vực, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác chuyển đổi theo, tạo

ra một lực lượng lao động mới, hiện đại có công nghệ tiên tiến và góp phần thúcđẩy hiệu quả của cả nền kinh tế Cùng với các dự án đầu tư là việc chuyển giao kỹnăng quản lý của các chuyên gia nước ngoài Các dự án hợp tác đào tạo cũng tạo rarất nhiều cơ hội đào tạo lại và đào tạo nâng cao cho lực lượng cán bộ chủ chốt củacác ngành, các địa phương, góp phần nâng cao năng lực quản lý của toàn bộ nềnkinh tế xã hội nói chung

1.3.3 Vay nợ nước ngoài ổn định tiêu dùng trong nước

Khi có những cơn sốc đột ngột giáng vào nền kinh tế, sản lượng bị thiếu hụtnăng nề và tiêu dùng trong nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng Chẳng hạn, nhữngđợt thiên tai liên tiếp dẫn đến ngành nông nghiệp bị mất mùa lớn; khủng hoảng tàichính khu vực khiến cho nền kinh tế bị thiệt hại nặng Trong những trường hợpnhư vậy, bên cạnh các khoản viện trợ khẩn cấp, các khoản vay nợ nước ngoài khẩncấp đóng vai trò là biện pháp ổn định tiêu dùng trong nước trong ngắn hạn, trongkhi nền kinh tế dần được phục hồi

1.3.4 Vay nợ nước ngoài bù đắp cán cân thanh toán

Cán cân thanh toán có thể tạm thời bị thâm hụt do điều kiện bất lợi tạm thờitrong thương mại quốc tế Chẳng hạn khi giá hàng xuất khẩu các sản phẩm của mộtnước bị giảm sút so với giá hàng nhập khẩu, nước đó cũng có thể sử dụng biệnpháp vay nợ nước ngoài để duy trì tiêu dùng trong ngắn hạn Tuy nhiên, giải phápnày thường có rủi ro cao, vì không có gì chắc chắn rằng các nước đi vay sẽ có đượcthu nhập khá hơn khi đến hạn phải trả nợ Thêm vào đó, các khoản vay nợ để bùđắp cán cân thương mại thường là ngắn hạn

Trang 15

Các nước đang phát triển cũng sử dụng hình thức đi vay tín dụng thươngmại ngắn hạn để tham gia vào thương mại quốc tế với nguồn vốn ngoại tệ ít ỏi.Bằng cách nhận tín dụng thương mại của đối tác, nước đi vay sẽ tránh được việcphải huy động nguồn dự trữ ngoại tệ của mình để thanh toán cho các khoản nhậpkhẩu hàng hóa, các chi phí xuất khẩu hoặc chi phí vận tải Song, tín dụng thươngmại ngắn hạn đương nhiên có mức lãi suất cao tương ứng mà nước đi vay phảigánh chịu.

Tác động của vay nợ nước ngoài đối với phát triển kinh tế xã hội các nướcđang phát triển là rất rõ Tuy nhiên việc sử dụng giải pháp vay nợ nước ngoài luôntiềm ẩn nguy cơ dẫn đến một nền tài chính không bền vững và không hiếm trườnghợp nợ nước ngoài quá cao và quản lý lỏng lẻo đã dẫn đến khủng hoảng tài chính

và kinh tế suy thoái Tác động của việc vay nợ nước ngoài đến các nền kinh tếđang phát triển rất khác nhau, tùy thuộc vào môi trường chính sách của các nướcnày và năng lực quản lý nguồn vốn vay nước ngoài của các Chính phủ Songkhông phải tất cả các Chính phủ đều nhận thức được và có đủ khả năng thể chế,khả năng quản lý nền kinh tế như mong muốn, nhất là quản lý vốn vay nước ngoàicủa khối kinh tế tư nhân Chẳng hạn, nhiều nước châu Mỹ La-tinh như Mêhicô,Argentina, Chi-lê đã rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng với những bướcthụt lùi đáng kể trong phát triển do hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoàitrong thập kỷ 80 của thế kỷ 20 Cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á trong thập

kỷ 90 của thế kỷ 20 là một ví dụ tương tự Do lệ thuộc quá lớn và nguồn vốn vaynước ngoài, nhiều nước đang phát triển như Thái Lan, Indonesia đã rơi vào tìnhtrạng hệ thống tài chính mất cân đối nghiêm trọng, dẫn đến khủng hoảng kinh tếvới sự phá sản đồng loạt của các thể chế tài chính và các công ty

Trang 16

Chương 2: Thực trạng vay nợ nước ngoài ở Việt Nam 2.1 Các phương thức vay nợ

Ngoài yếu tố tiết kiệm trong nước, các quốc gia đang phát triển, Chính phủcần phải huy động các nguồn lực từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn phục

vụ cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước Nợ của Chính phủ chủ yếu xuấtphát từ ba nguồn chủ yếu sau đây:

● Nợ ODA (Nguồn vốn vay phát triển chính thức - phần cho vay ưu đãi trongkhoản hỗ trợ phát triển chính thức ODA)

● Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương

● Phát hành trái phiếu quốc tế

2.1.1 Nợ ODA

Trong tổng số vốn ODA cam kết mà chúng ta nhận được giai đoạn 1993

-2007, khoảng 15 - 20% là viện trợ không hoàn lại, còn phần lớn là vốn cho vay ưuđãi đối với Chính phủ Nguồn vốn ODA huy động được sử dụng để bổ sung chođầu tư phát triển kinh tế - xã hội, chiếm khoảng 12% tổng đầu tư toàn xã hội, bằng28% tổng vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước (NSNN) bằng 50,5% vốn tín dụngđầu tư phát triển của Nhà nước

Trong số 51 nhà tài trợ thường xuyên cho Việt Nam, có 28 nhà tài trợ songphương và 23 nhà tài trợ đa phương, có 3 nhà tài trợ cung cấp chủ yếu là Nhật Bản,Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), chiếm khoảng80% tổng giá trị ODA đã ký kết

Mức cam kết ODA hàng năm đều tăng, năm sau cao hơn năm trước Điềunày thể hiện sự tin tưởng, ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với quá trìnhxây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Đó vừa là thuận lợi nhưngcũng đầy thử thách cho các nhà hoạch định chính sách vĩ mô, đặc biệt là Chínhphủ, đòi hỏi các vị lãnh đạo phải có một kế hoạch đúng đắn và sử dụng có hiệu quảnguồn vốn này

Nguồn vốn ODA được ưu tiên sử dụng cho đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế

- xã hội Các lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA là giao thông vận tải, bưu chính

Trang 17

viễn thông (28,06%), năng lượng và công nghiệp (21,78%), nông nghiệp và pháttriển nông thôn kết hợp xoá đói giảm nghèo (15,66%) Nhờ tập trung vốn ODAquy mô lớn nên hầu hết các lĩnh vực đều có bước phát triển nhất định, hàng loạtcác dự án được thực hiện, hỗ trợ đáng kể cho việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế

- xã hội của Chính phủ Đối với nước tiếp nhận viện trợ, ODA được xem như mộtnguồn lực thực sự nếu nó được kết hợp hiệu quả với các nguồn lực trong nướckhác để đạt được mục tiêu quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Đối với các nhàtài trợ, ODA sẽ trở thành nguồn vốn viện trợ thật sự nếu nó được chuyển giao chonước tiếp nhận để gián tiếp hay trực tiếp tạo ra các điều kiện cho phát triển

Từ những tác động của nguồn vốn này trong thời gian qua, có thể khẳngđịnh ODA ở Việt Nam đã trở thành một nguồn vốn thực sự và hiệu quả trong tiếntrình đổi mới đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành công trong thu hút và sửdụng vốn ODA, còn tồn tại nhiều vấn đề mà Việt Nam cần phải giải quyết để sửdụng nguồn vốn này có hiệu quả hơn trong tương lai

2.1.2 Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương

● Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương của chínhphủ:

Khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại không có ưu đãi

cả về lãi suất và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tàichính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường Chính vì vậy, vay thươngmại thường có giá khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro Việc vay thương mại củaChính phủ phải được cân nhắc hết sức thận trọng và chỉ quyết định vay khi khôngcòn cách nào khác Loại hình vay này của nước ta chiếm tỉ trọng khoảng 9,2 %tổng dư nợ nước ngoài (2009)

● Bảo lãnh Chính phủ đối với vay thương mại nước ngoài của các doanhnghiệp và tổ chức tín dụng:

Bảo lãnh Chính phủ đối với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khivay nước ngoài được thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệpphát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi nguồn lực có giới hạn Cácdoanh nghiệp vay nợ có bảo lãnh gồm các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp từ nướcngoài (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) và các doanh nghiệp

Trang 18

nhà nước có quy mô lớn trong các ngành bưu chính viễn thông, dầu khí, điện lực,

xi măng, hàng không và dệt

Trong cơ cấu nợ vay có bảo lãnh, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ(khoảng 4,8%), chủ yếu là nợ trung và dài hạn Nhìn chung nợ có bảo lãnh đáp ứngđược yêu cầu cho quá trình phát triển trung và dài hạn

2.1.3 Phát hành trái phiếu quốc tế

Việc phát hành trái phiếu quốc tế có thể thực hiện qua 3 hình thức: Chínhphủ Việt Nam phát hành về cho vay lại, Chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp pháthành trái phiếu doanh nghiệp, doanh nghiệp tự trực tiếp phát hành

Tuy nhiên, với hình thức Phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trườngquốc tế, nếu không kiểm soát tốt việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp (với lãisuất huy động quá cao) sẽ có rủi ro, ảnh hưởng tới thị trường tín dụng và cân đối vĩ

mô Tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp hầu như chưa được xếp hạng tínnhiệm nên tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư cá nhân không đủthông tin phân tích rủi ro 70% doanh nghiệp phát hành trái phiếu sử dụng tài sản

và tài sản hình thành từ nguồn hình thành trái phiếu nhưng chưa được định giá bởi

tổ chức định giá độc lập và khó xác minh các tranh chấp pháp lý

2.2 Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam

Số liệu về nợ nước ngoài ở Việt Nam do Bộ Tài chính tổng hợp và báo cáocho IMF trong các bản Báo cáo nợ quốc gia hàng năm Số liệu về nợ nước ngoàicho đến nay chưa được công khai trong hệ thống số liệu thống kê hàng năm củaTổng cục Thống kê Mặc dù vậy, theo Báo cáo nào nhưng kết quả về nợ nướcngoài của Việt Nam đều cho thấy tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam hiệnđang có xu hướng tăng nhanh, thậm chí có giai đoạn, tốc độ tăng của nợ nướcngoài còn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Với ưu thế ổn định về chính trị và sựđiều hành hợp lý của Chính phủ nên nền kinh tế đã tăng trưởng khả quan và nhậnđược sự tín nhiệm rất cao của cộng đồng quốc tế Việt Nam liên tục nhận đượcnhững khoản vay ưu đãi hỗ trợ phát triển mà nổi bật là những khoản ODA đến từNhật Bản, WB và ADB Cùng với đó, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bắt đầutăng nhanh trong nhu cầu vay nợ khiến cho tổng nợ nước ngoài của Việt Nam có

xu hướng liên tục tăng trong những năm gần đây

Trang 19

Bảng 2.1: Các khoản dư nợ nước ngoài quốc gia từ 2013 - 2017

Nguồn: Bản tin nợ công 7

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia

Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung, dài

hạn của quốc gia so với tổng kim ngạch

xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (%)

Trang 20

Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với thu

Nguồn: Bản tin nợ công 7

Nợ nước ngoài ở nước ta theo công bố từ bản tin nợ công của Bộ tài chínhthì càng ngày càng tăng dần về số lượng vay, chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia

so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có xu hướng tăng nhanh, bình quân tăng16,7%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP theo giá hiện hành là 13,0%/nămtrong cùng giai đoạn Trong giai đoạn 2013-2017, tổng dư nợ nước ngoài của nước

ta đã tăng từ 63,4 tỷ USD (2013) lên đến 109,2 tỷ USD (2017) Nợ nước ngoài củaViệt Nam trong năm 2013 là khoảng 69.5 tỷ USD ứng với 37.3% GDP và đến năm

2017 đã tăng đến khoảng 192 tỷ USD, chiếm 48.9% GDP Con số nợ cũng như số

dư nợ nước ngoài đã tăng lên Tổng dư nợ nước ngoài của Việt Nam vẫn nằmtrong giới hạn nợ an toàn (45% GDP) tuy nhiên cũng chỉ cách con số giới hạn nợmột con số tương đối nhẹ Đến ngày 31/12/2018, tổng nợ nước ngoài của quốc gia

so với GDP giảm xuống còn khoảng 46%, trong đó cơ cấu nợ nước ngoài của quốcgia đều giảm Cụ thể, nợ nước ngoài của Chính phủ còn 19,3% GDP, nợ nướcngoài của Chính phủ bảo lãnh còn 4,4% GDP, nợ nước ngoài tự vay tự trả củadoanh nghiệp còn 22,3% GDP

Trong đó nợ nước ngoài của Chính phủ và do Chính phủ bảo lãnh luônchiếm tỷ trọng lớn Vào những năm đầu giai đoạn 2013, nợ nước ngoài chính phủ

và do chính phủ bảo lãnh chiếm đến hơn nửa tổng nợ nước ngoài của cả nước Tuynhiên đến nay, tỷ lệ nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh có

xu hướng ngày càng giảm trong khi nợ nước ngoài khu vực tư nhân có xu hướngtăng cao Nguyên nhân chủ yếu là do Nhà nước đã bắt đầu thắt chặt kiểm soát chặtchẽ những khoản vay đầu tư của Chính phủ, đưa ra những điều luật chính sách mớiđảm bảo tính hiệu quả của việc vay nợ nước ngoài Cùng lúc đó, việc tăngnhanh nợ nước ngoài theo hình thức tự vay tự trả chủ yếu nằm ở khối doanhnghiệp đầu tư nước ngoài (chiếm 76% tổng lượng nợ của doanh nghiệp), tập trung

ở một số doanh nghiệp FDI có quy mô lớn, là nguyên nhân chủ yếu khiến quy mô

nợ nước ngoài quốc gia vẫn tăng nhanh

Trang 21

Bảng 2.3: Tỷ lệ nợ nước ngoài so với tổng dư nợ quốc gia

Tỷ lệ dư nợ nước ngoài của chính phủ trên

tổng dư nước quốc gia

Tỷ lệ dư nợ nước ngoài của doanh nghiệp

trên tổng dư nước quốc gia

và mức lãi suất khoảng từ 1 đến 2%/năm)

74.26%

18.81%

6.93%

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu nợ nước ngoài Việt Nam

Vay ODA Vay ưu đãi khác Vay thương mại

Đánh giá tổng quan về tình hình nợ nước ngoài, IMF và WB cho rằng nợnước ngoài của Việt nam có thể quản lý được Xét về giá trị tuyệt đối và số nợ bình

Trang 22

quân trên đầu người thì số nợ của Việt Nam không quá lớn so với các con số về nợnước ngoài của một số nước đang phát triển

Qua bảng 2.2 ta thấy, trong những năm gần đây nợ nước ngoài so với GDPcủa Việt Nam tăng nhanh về quy mô Trong cơ cấu nợ công Việt Nam, nợ nướcngoài hiện chiếm khoảng 60%, vì thế, khi nợ nước ngoài tăng kéo theo tổng nợcông tăng lên Về mặt lý thuyết, nợ nước ngoài của Việt Nam vẫn chưa vượtngưỡng 50% (nợ/GNP) tức là mức nợ quá nhiều mà luôn duy trì trong mức nợ vừaphải Đến nay, Việt Nam vẫn duy trì mức nợ nước ngoài ở trong giới hạn an toàn

Kế hoạch trả nợ hàng năm từ 2013 đến 2017 rơi vào khoảng 12% - 18% tổng thungân sách nhà nước, thấp hơn giới hạn cảnh báo là dưới 30% Nghĩa vụ trả nợnước ngoài so với tổng kim ngạch hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu đã tăng từ khỏng4% đến 6.1% nhưng vẫn năm trong giới hạn cảnh báo là dưới 15% Các chỉ sốđánh giá khả năng trả nợ nước ngoài vẫn nằm trong giới hạn an toàn, gánh nặng nợnước ngoài chưa ở mức nghiêm trọng, các chỉ số đánh giá cơ cấu nợ nước ngoàivẫn cho thấy Việt Nam có cơ cấu nợ bền vững Có thể nói, mức nợ nước ngoài củaViệt Nam còn đang nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ

Bảng 2.4: Tiêu chuẩn phân loại mức độ nợ của Ngân hàng thế giới

Hệ số Nợ / GNP Nợ / Xuất khẩu Dịch vụ nợ/ Xuấtkhẩu Chi phí trả lãi / Xuấtkhẩu

Nợ quá

Nguồn : World Bank

Vấn đề quản lý nợ nước ngoài đã được Quốc hội, Chính phủ quan tâm, kiểmsoát chặt chẽ Nợ nước ngoài đã được thống nhất quản lý một cách toàn diện.Trong một vài năm trở lại đây, khung thể chế về quản lý nợ nước ngoài đã liên tụcđược đổi nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý nợ quốc gia và phù hợp hơn vớithực tiễn hội nhập quốc tế Điều này đã dẫn đến tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP

Trang 23

giảm xuống trong năm 2018 Mặc dù vậy, nhiều chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng

nợ nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn nằm khá gần mức trần được định ra bởi Nhànước nên việc tăng cường rà soát, điều hành quản lý nợ là việc cần được chú trọng

Trang 24

Chương 3: Kinh nghiệm vay nợ nước ngoài của một số quốc gia

3.1 Khủng hoảng nợ ở các nền kinh tế mới nổi thập kỷ 1980 và 1990

3.1.1 Khủng hoảng nợ châu Mỹ Latinh những năm 1980:

● Diễn biến

Khủng hoảng nợ của châu Mỹ Latinh vào những năm 1980 được biết đếnvới cái tên “Thập kỷ mất mát” và đã manh nha từ những năm 1970 Trong giaiđoạn đó, các nước Mỹ Latinh như Brazil, Argentina và Mexico đã có những bướcphát triển khá ấn tượng, chủ yếu là do vay nợ nước ngoài quy mô lớn, với mục tiêuphát triển các ngành công nghiệp trong nước và cải thiện cơ sở hạ tầng Đây cũng

là giai đoạn giá dầu mỏ tăng mạnh khiến các nước xuất khẩu dầu mỏ gom gópđược những khoản tiền lớn, đầu tư nhiều vào các ngân hàng trên thế giới, theo đó,các tổ chức tài chính dư dả cho vay các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước

Mỹ Latinh với những điều khoản dễ dãi

Tuy nhiên, đến đầu những năm 1980, các nước Mỹ Latinh bắt đầu gặp khókhăn trong việc trả những khoản nợ khổng lồ Từ giữa năm 1975-1982, các khoản

nợ công của các nước Latinh đối với các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giớităng với tỷ lệ gộp hàng năm lên đến trên 20%, khiến tổng nợ vay đã tăng từ 75 tỷUSD năm 1975 lên đến hơn 315 tỷ USD năm 1983, trong đó, thanh toán lãi suất vàtrả vốn gốc tăng mạnh, từ 12 tỷ USD năm 1975 đến 66 tỷ USD năm 1982 (Theberge 1999) Trong khi đó, vào năm 1979, khi đối diện với sức ép lạm phát lớn,

Mỹ đã phải theo đuổi chính sách thắt chặt, dẫn đến lãi suất tăng cao Lãi suất cũngtăng mạnh ở châu Âu, khiến Mỹ và châu Âu trở nên hấp dẫn hơn châu Mỹ Latinhvới các khoản đầu tư quốc tế, đồng thời cũng khiến các khoản nợ của các nước MỹLatinh gia tăng chi phí trả lãi vay Bên cạnh đó, kinh tế thế giới suy thoái nhữngnăm 1979, 1980 ảnh hưởng lớn đến các quốc gia phát triển OECD, theo đó, tácđộng tiêu cực đến tăng trưởng xuất khẩu của các con nợ Latinh và đến tăng trưởngcủa các nước này Các nước cũng đã phải huy động các nguồn lực để trả nợ vay, hệquả là sản lượng trong nước và tiêu dùng suy giảm (Hirst và Thompson 2004).Ngoài ra, những khoản nợ lớn mà các chính phủ vay đã được sử dụng một cáchthiếu cẩn trọng và có liên quan đến tham nhũng (Wade và Veneroso 1998)

Trang 25

Như vậy, các quốc gia châu Mỹ Latinh đã không còn có khả năng duy trìđược tăng trưởng kinh tế cao và các khoản nợ nước ngoài phải trả đã vượt quánhững gì các nền kinh tế có thể kiếm được Rủi ro nợ công tích lũy này đã kéo dàitrong nhiều năm và khủng hoảng nợ bùng phát khi thị trường tài chính thế giớinhận thấy các nước này khó có thể trả được các khoản nợ Hầu hết các tổ chức tàichính và ngân hàng thế giới đều đã từ chối hoặc giảm cho vay các nước châu MỹLatinh khác Trong khi đó, các khoản nợ vay của chính phủ các nước lại chủ yếu làngắn hạn và các nước gặp khó khăn trong thanh toán nợ khi các tổ chức cho vay từchối gia hạn các khoản vay Hàng tỷ USD nhanh chóng đến hạn thanh toán và cácdòng vốn bắt đầu thoái lui khỏi các quốc gia trong khu vực và các nước không còn

có thể vay thêm

Khủng hoảng nợ châu Mỹ Latinh bắt đầu vào tháng 8/1982 khi Mexicotuyên bố vỡ nợ, sau đó một loạt các nước trong khu vực khác như Brazil,Venezuela, Argentina và Bolivia đều lần lượt tuyên bố không còn khả năng trả nợnước ngoài Trong suốt cuộc khủng hoảng những năm đầu 1980, tỷ lệ tăng trưởngGDP của các nước trong khu vực chỉ còn hơn 2% Nếu tính theo đầu người, tăngtrưởng của các nước đã giảm tới gần 9% (Palat 2003) Tiền lương thực tế và mứcsống của người dân giảm mạnh Chênh lệch giàu nghèo của các quốc gia đã tănglên 50% chỉ riêng từ năm 1976 đến năm 1983 Khủng hoảng nợ cũng là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của một vài chính thể độc tài trong khu vựcnhư ở Brazil và Argentina

● Phản ứng chính sách:

Các nước châu Mỹ Latinh đều phải cầu viện đến sự hỗ trợ từ các tổ chứcquốc tế như IMF và WB để có thể tiếp tục trả các khoản nợ khổng lồ Tuy nhiên,đổi lại, các nước phải thực thi các chính sách điều chỉnh cơ cấu khắc nghiệt củaIMF như chính sách thắt lưng buộc bụng (cắt giảm ngân sách để giảm thâm hụt,duy trì tăng trưởng tín dụng thấp và chính sách tiền tệ thắt chặt để giảm chi tiêutrong nước và lạm phát), phá giá đồng nội tệ để tăng cường xuất khẩu và cải cách

cơ cấu như tự do hóa thương mại, tư nhân hóa, gỡ bỏ kiểm soát của Chính phủ,v.v… để hỗ trợ tăng cung khu vực tư nhân và cải thiện môi trường tài chính Trongkhi đó, các chương trình điều chỉnh cấu trúc của WB tập trung vào đổi mới cơ cấusâu rộng hơn và trong dài hạn Với các chương trình khắc khổ như vậy, các nướcchâu Mỹ Latinh đã phải chịu tác động nặng nề như kinh tế tăng trưởng trì trệ, thu

Trang 26

nhập bình quân đầu người suy giảm, nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo ngàycàng gia tăng.

Bản thân Mỹ, nơi các tổ chức tài chính và ngân hàng là chủ nợ của hơn 30%

nợ công các nước châu Mỹ Latinh cũng đã phải có những động thái giải quyếtkhủng hoảng cho châu Mỹ Latinh Năm 1985, Mỹ khởi động kế hoạch Baker Plan,theo đó, các nước được phép giãn nợ và được vay mới, với giả định rằng vấn đềcủa các nước châu Mỹ Latinh là thiếu thanh khoản nên trì hoãn trả nợ sẽ giải quyếtđược vấn đề Tuy nhiên, cuối cùng các con nợ cũng không thể trả được nợ và tìnhtrạng trở nên tồi tệ hơn Vấn đề được làm sáng tỏ: vấn đề không phải là thiếu thanhkhoản mà là vỡ nợ - không có khả năng trả được nợ Vì vậy, giải pháp là phải giảmquy mô nợ chứ không phải chỉ trì hoãn trả nợ Vì thế, năm 1989, Mỹ đưa ra Kếhoạch Brady (Brady Plan) và việc giảm nợ theo cơ chế thị trường được thực thi.Các nước châu Mỹ Latinh có cơ hội tham gia mua nợ của chính mình với giá thấp

ở các thị trường thứ cấp với những công cụ khác nhau Những khoản cứu trợ củaIMF và WB đều có thể sử dụng cho cơ chế này Tuy nhiên, kế hoạch này gặp phảimột số vấn đề ngay từ khi thực hiện và sau đó đã dẫn đến hệ quả là một số chínhphủ đã tiếp tục không thể trả được nợ vay Ví dụ, phần lãi chưa trả là một phần củakhoản nợ sẽ được thương thảo lại, khiến cho các nước phải trả lãi suất kép trên cáckhoản nợ (tức là trả lãi trên những khoản trả lãi trước đó) Kết quả là khủng hoảng

nợ ở châu Mỹ Latinh kéo dài chỉ dần lắng dịu vào đầu những năm 1990, khi cácnước chính thức tuyên bố chấm dứt “Thập kỷ mất mát”, thoát hoàn toàn khỏikhủng hoảng nợ và bắt đầu giai đoạn phát triển tiếp theo

3.1.2 Khủng hoảng nợ tại Mexico 1994:

● Diễn biến:

Sau khủng hoảng những năm đầu 1980, Mexico có gần một thập niên tăngtrưởng kinh tế yếu kém và lạm phát cao, Chính phủ đã tiến hành tự do hóa thươngmại năm 1985, thực thi kế hoạch bình ổn kinh tế vào cuối năm 1987 và dần ápdụng thể chế kinh tế thị trường Những cải tổ này đã giúp kinh tế phục hồi (tăngtrưởng đạt trung bình 3,1% giai đoạn 1989-1994) Năm 1993, lạm phát đã giảm chỉcòn một chữ số lần đầu tiên trong hai thập niên Cùng với tăng trưởng, Mexico lạibắt đầu thu hút đầu tư nước ngoài với sự kiểm soát dễ dãi, những dòng vốn nướcngoài đổ vào trong nước ngày càng nhiều Từ năm 1984 đến 1994, Mexico đã thu

Ngày đăng: 21/12/2019, 18:54

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w