1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lí hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh thái nguyên

119 101 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN VŨ THỊ MỸ LỆ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN

VŨ THỊ MỸ LỆ

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC

CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG

DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN

VŨ THỊ MỸ LỆ

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC

CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG

DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI NGỌC TUẤN

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN Luận văn “Quản lí hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên” được thực hiện từ tháng 06/2018

đến tháng 04/2019 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu đã được tổng hợp và xử lí

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019

Tác giả

Vũ Thị Mỹ Lệ

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Đề tài này được hoàn thành với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo cùng sự nỗ lực học hỏi nghiên cứu của bản thân trong thời gian học tập tại trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên

Với sự kính trọng và tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn:

Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng đào tạo Sau Đại học và tập thể quý thầy, cô giáo giảng viên của trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và trang bị những kiến thức,

kĩ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Bùi Ngọc Tuấn, người đã

tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn khoa học, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ của đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, BGH, CB Đoàn, GVCN, GVBM, HS trường PT Vùng cao Việt Bắc và trường PT dân tộc nội trú Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn luôn quan tâm giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung của các quý thầy cô, của đồng nghiệp và những người quan tâm tới vấn đề được trình bày trong luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019

Tác giả

Vũ Thị Mỹ Lệ

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 7

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Tư vấn và tư vấn giáo dục 12

1.3 Trường phổ thông dân tộc nội trú và quản lí nhà trường PTDTNT 15

1.3.1 Trường phổ thông dân tộc nội trú 15

1.3.2 Quản lí nhà trường PTDTNT 18

1.4 Một số vấn đề về TVGD cho HS ở các trường PT DTNT 18

1.4.1 Mục tiêu TVGD cho HS ở trường PT DTNT 18

1.4.2 Ý nghĩa HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT 19

1.4.3 Nội dung TVGD cho HS ở trường PT DTNT 20

1.4.4 Hình thức, phương pháp TVGD cho HS ở trường PT DTNT 20

1.4.5 Kiểm tra, đánh giá HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT 22

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.5 Quản lý HĐ TVGD cho HS ở trường PTDTNT 22

1.5.1 Lập kế hoạch TVGD cho HS ở trường PT DTNT 22

1.5.2 Tổ chức triển khai chương trình TVGD cho HS ở trường PT DTNT 23

1.5.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch TVGD cho HS ở trường PT DTNT 24

1.5.4 Kiểm tra đánh giá kết quả HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT 24

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT 25

1.6.1 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo 25

1.6.2 Trình độ chuyên môn và năng lực của GVTV 26

1.6.3 Hệ thống văn bản chỉ đạo của Ngành, Sở GD&ĐT về HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT 26

1.6.4 Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THÁI NGUYÊN 29

2.1 Vài nét về khảo sát thực trạng 29

2.1.1 Một vài nét về HS và GV ở các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 29

2.1.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 32

2.2 Thực trạng hoạt động tư vấn giáo duc tại các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 34

2.2.1 Nhận thức của BGH, GV và HS về sự cần thiết của HĐ TVGD 34

2.2.2 Thực trạng nhận thức về mục tiêu, ý nghĩa HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT 35

2.2.3 Thực trạng nội dung TVGD ở các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 38

2.2.4 Thực trạng hình thức, phương pháp tư vấn tổ chức HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 43

2.2.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 45

2.2.6 Đánh giá chung về HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 47

2.3 Thực trạng quản lý HĐ TVGD ở các trường PT DTNT tại tỉnh Thái Nguyên 48

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.3.1 Thực trạng lập kế hoạch HĐ TVGD ở các trường PT DTNT tại tỉnh

Thái Nguyên 48

2.3.2 Thực trạng tổ chức HĐ TVGD ở các trường PT DTNT tại tỉnh Thái Nguyên 49

2.3.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐ TVGD ở các trường PT DTNT tại tỉnh Thái Nguyên 51

2.3.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐ TVGD ở các trường PT DTNT tại tỉnh Thái Nguyên 52

2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến HĐ TVGD trong các trường PT DTNT tại tỉnh Thái Nguyên 54

2.5 Đánh giá chung 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THÁI NGUYÊN 59

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 59

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đáp ứng mục tiêu giáo dục THPT 60

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính cấp thiết 61

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa, tính thực tiễn 62

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 62

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả, toàn diện 62

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HS PT DTTS 63

3.1.7 Nguyên tắc đảm bảo sự phối hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng tham gia hoạt động 63

3.2 Một số biện pháp quản lí HĐ TVGD cho HS ở các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 64

3.2.1 Biện pháp 1: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của CBQL, GV, HS về tầm quan trọng của HĐ TVGD 64

3.2.2 Biện pháp 2: Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch nội dung tư vấn giáo dục cho HS phù hợp với thực tiễn các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 66

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường chỉ đạo tổ chức HĐ TVGD, quản lý việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia thực hiện HĐ TVGD cho

học sinh trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 70

3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường kiểm tra, đánh giá đảm bảo HĐ TVGD cho học sinh trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 76

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 79

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 81

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Khuyến nghị 86

2.1 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 86

2.2 Đối với các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số liệu về phát phiếu khảo sát 33

Bảng 2.2 Số HS được khảo sát 34

Bảng 2.3 Đánh giá của HS về mức độ cần thiết của công tác TVGD 34

Bảng 2.4 Đánh giá của BGH, GV về hiệu quả của công tác TVtrong nhà trường 36

Bảng 2.5 Đánh giá của học sinh (theo khối) về hiệu quả của công tác tư vấn học tập, hướng nghiệp 37

Bảng 2.6 Kết quả khảo sát GV về những khó khăn của HĐ TVGD cho HS 38

Bảng 2.7 Kết quả khảo sát BGH và GV về hiệu quả các nội dung tư vấngiáo dục ở các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 39

Bảng 2.8 Đánh giá của HS về các nội dung tư vấn giáo dục ở các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 41

Bảng 2.9 Kết quả khảo sát học sinh về hiệu quả một số hình thức tư vấn trong nhà trường 44

Bảng 2.10 Kết quả khảo sát HS về hiệu quả một số phương pháp tư vấn trong nhà trường 45

Bảng 2.11 Kết quả khảo sát về kiểm tra, đánh giá HĐ TVGD cho HS 46

Bảng 2.12 Ý kiến của BGH, GV về lập kế hoạch HĐ TVGD ở các trường PT DTNT tại tỉnh Thái Nguyên 48

Bảng 2.13 Tổ chức hình thức báo cáo HĐ TVGD của GVTV 49

Bảng 2.14 Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ 50

Bảng 2.15 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐ TVGD ở các trường PT DTNT tại tỉnh Thái Nguyên 51

Bảng 2.16 Hình thức kiểm tra, đánh giá của BGH đối với hoạt động TVGD 52

Bảng 2.17 Đánh giá của GV về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đếncông tác quản lí HĐ TVGD trong trường PT DTNT 54

Bảng 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lí hoạt động tư vấn giáo dục cho HS trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 82

Bảng 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp quản lí hoạt động tư vấn giáo dục cho HS trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên 83

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào, Giáo dục - đào tạo luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân tộc và cả nhân loại Trước sự biến đổi của xã hội và tiến trình hội nhập quốc tế, mục tiêu của giáo dục Việt Nam phải hướng tới bốn trụ cột “học để biết, học để làm, học

để chung sống và học để làm người” là tất yếu Xã hội phức tạp và biến động cho nên nhu cầu sống ngày càng đa dạng và phong phú Những yêu cầu đó đặt ra cho nền giáo dục nhiệm vụ không chỉ cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng các môn học

mà phải bồi dưỡng kỹ năng sống và năng lực xã hội theo hướng hoà nhập với thế

giới

Trong khoảng mười năm trở lại đây, cùng với sự hội nhập và giao lưu quốc tế, Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế cũng như xã hội, mỗi cá nhân trong xã hội đều được sống trong môi trường văn minh hơn, hiện đại hơn

Cũng chính trong khoảng thời gian này, đã xuất hiện hàng loạt vấn đề liên quan đến tâm lí, nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi thường có những suy nghĩ, hành động rất bồng bột, nông nổi, tiêu cực: như đánh bạn, đánh thầy cô, tự tử hay thậm chí là có hành vi giết người… Ở lứa tuổi này, diễn biến tâm lí của các em thường khá phức tạp và khó lường Khi xảy ra bất cứ một vấn đề nào đó, các em thường băn khoăn không biết phải làm gì và chia sẻ với ai Trong guồng quay vội

vã của cuộc sống, cha mẹ của các em đang phải quay cuồng để mưu sinh, quay cuồng với cơm áo gạo tiền, quay cuồng cho bắt kịp với nhịp của cuộc sống; chúng

ta mong muốn thầy cô phải gần gũi, lắng nghe học sinh của mình Tuy nhiên, với chương trình học quá nặng nề như hiện nay, chỉ riêng việc truyền đạt kiến thức, hoàn thành nội dung chương trình cũng đã chiếm hết thời gian của giáo viên Vì vậy, không phải học sinh nào cũng tìm được sự hỗ trợ kịp thời và hiệu quả từ cha

mẹ hoặc thầy cô của mình Người gần gũi nhiều hơn với học sinh hiện nay thường

là bạn bè,nhưng họ cùng trang lứa, không có đủ kiến thức cũng như kinh nghiệm sống để có thể đưa lời khuyên một cách sáng suốt nhất Trong khi đó, các dịch vụ

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tư vấn tâm lí chưa phổ biến ở nước ta và quan trọng nhất là độ tin cậy của đội ngũ chuyên viên tư vấn, tư vấn của các dịch vụ này chưa cao và chi phí tư vấn cũng khá tốn kém

Do vậy, hầu hết các em đều tự loay hoay giải quyết vấn đề của mình bằng cách tìm hiểu ở các kênh thông tin khác như sách báo hay trên mạng internet Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ thông tin 4.0 như hiện nay, việc tìm kiếm các nguồn thông tin trên mạng internet không phải là quá khó đối với các em Và với nguồn thông tin không có sự kiểm chứng, không có sự sàng lọc, không có sự định hướng tràn lan trên mạng như vậy, học sinh rất khó giải quyết vấn đề của bản thân một cách đúng đắn

Thực tế đó khẳng định sự cần thiết phải có phòng tư vấn tâm lí trong các trường học để giúp học sinh chia sẻ những bức xúc, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong học tập, trong quan hệ bạn bè, ứng xử với thầy cô, quan hệ với các thành viên trong gia đình, các vấn đề tâm sinh lí, giới tính và nhiều vấn đề khác trong cuộc sống là hết sức cần thiết

Để việc tư vấn mang lại hiệu quả thiết thực cho học sinh, cho nhà trường, cho gia đình và cho cả xã hội, chúng ta cần phải thật sự tôn trọng các em, đừng cho rằng

đó chỉ là “chuyện trẻ con” mà để các em loay hoay tự điều chỉnh Phải xem công tác tư vấn cho học sinh là một hoạt động nghiêm túc, thiết thực cần có sự quan tâm, đầu tư đúng mức, như: mời chuyên viên có năng lực, phòng tư vấn phải kín đáo, lịch sự, thoải mái; thông tin, tâm sự của HS phải được bảo mật; việc giải quyết phải

cụ thể, có tính giải tỏa tức thì chứ không phải gợi ý chung chung, đại khái…

Tại Đại hội lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định “Giáo dục và

đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển”, đó là một sự khẳng định hết sức đúng đắn xuất phát

từ lợi ích của nhân dân ta, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến của lịch sử thế giới Từ đó đến nay, nhiều Hội nghị chuyên đề của Đảng tiếp tục ban hành các nghị quyết về đổi mới, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo Chính vì vậy mà sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước ta ngày càng phát triển cả về quy mô và chất lượng Trong

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 xác định rõ mục tiêu chiến lược

của giáo dục Việt Nam là:“Đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện

đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; trong đó, đổi mới cơ chế quản

lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện gồm: giáo dục đạo đức,

kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước ”[18]

Giáo dục - Đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Đó là nền móng quyết định sự phát triển khoa học kỹ thuật của đất nước lâu dài và có hiệu quả Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã

xác định “Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực của sự phát

triển kinh tế xã hội” [36]

Thái Nguyên là một tỉnh có truyền thống năng động, sáng tạo; có tốc độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội khá cao trong những năm gần đây Nhận thức được

ý nghĩa cũng như nhu cầu của tư vấn giáo dục, tỉnh Thái Nguyên đã tích cực tiên phong đưa HĐ TVGD vào nhà trường và bước đầu đem lại hiệu quả nhất định Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” kêu gọi xây dựng môi trường sư phạm tích cực, phù hợp để học sinh học tập, rèn luyện và phát triển toàn diện Để thực hiện nhiệm vụ đó, HĐ TVGD là biện pháp tích cực, hết sức quan trọng, là giải pháp căn cơ, có tính phòng ngừa cao giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong nhà trường, định hướng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh

Tuy nhiên có thể nhận thấy, công tác quản lí HĐ TVGD hiện vẫn còn một số bất cập do chưa có hành lang pháp lí hoàn chỉnh, thiếu cơ sở lí luận, hạn chế kinh nghiệm thực tiễn, đội ngũ GVTV còn thiếu về số lượng và hạn chế về trình độ Đến nay, chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu cặn kẽ về công tác quản lí nhà nước đối với HĐ TVGD đặc biệt là tư vấn giáo dục trong các trường PT DTNT

Xuất phát từ những cơ sở về lí luận và thực tiễn trên, tôi lựa chọn vấn đề

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

“Quản lý hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận và thực tiễn công tác tư vấn giáo dục và quản lí HĐ TVGD

ở các trường PT DTNT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp quản lí HĐ TVGD nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn giáo dục cho HS ở các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

HĐ TVGD ở một số trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên

4 Giả thuyết nghiên cứu

Hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh hiện nay ơ các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên bước đầu đã đem lại một số hiệu quả như: đã được các

em HS, GV… quan tâm; HS bắt đầu tin tưởng và tìm đến chuyên viên tư vấn, GVTV Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại trong nhận thức và cách thức tổ chức triển khai của đội ngũ CBQL đối với hoạt động này Vì vậy, nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn giáo dục cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý HĐ TVGD cho HS ở các trường

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Quản lí HĐ TVGD ở các trường PT DTNT bao gồm rất nhiều nội dung Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lí HĐ TVGD của Ban Giám hiệu các trường PT DTNT gồm: lập kế hoạch TVGD; Tổ chức thực hiện kế hoạch TVGD; Chỉ đạo thực hiện hoạt động TVGD; Kiểm tra, đánh giá hoạt động TVGD

Quản lí HĐ TVGD ở từng loại hình nhà trường khác nhau sẽ có cách quản lí không giống nhau Trong giới hạn đề tài này, chỉ tìm hiểu và khảo sát hoạt động quản lí của trường PT DTNT đối với HĐTVGD ở 2 trường: trường PT DTNT Thái Nguyên và trường PT Vùng Cao Việt Bắc

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các vấn đề về lý luận quản lý hoạt động tư vấn giáo dục cho HS từ các văn bản, tài liệu khoa học về quản lý hoạt động dạy học

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động hoạt động tư vấn giáo dục cho HS

và quản lý hoạt động tư vấn giáo dục cho HS

Phương pháp điều tra viết: xây dựng các phiếu điều tra để thu thập các ý kiến đánh giá từ các đối tượng cần khảo sát Hai phiếu hỏi cho CBQL, GVTV, GVCN, GVBM và HS 2 trường PT DTNT nhằm đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp QLHĐ TVGD

Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn các giáo viên, chuyên gia, CBQL giáo dục và học sinh về hoạt động hoạt động tư vấn giáo dục cho HS và quản lý hoạt động

tư vấn giáo dục cho HS

Phương pháp chuyên gia: trao đổi trực tiếp hoặc thông qua phỏng vấn để các chuyên gia tư vấn, góp ý các nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu

Phương pháp thử nghiệm: tiến hành thử nghiệm nhằm kiểm tra tính hiệu quả

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

và tính khả thi của một số biện pháp quản lý mà đề tài đề xuất

7.3 Phương pháp xử lý số liệu

Dùng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý HĐ TVGD cho HS ở các trường PT DTNT Chương 2 Thực trạng quản lý HĐ TVGD cho HS ở các trường PT DTNT

tỉnh Thái Nguyên

Chương 3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả QLHĐ TVGD cho HS các

trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong bất cứ hoàn cảnh nào dù thời kì đất nước khó khăn nhất thì sự nghiệp phát triển giáo dục vẫn luôn chú trọng đến giáo dục toàn diện cho HS Những tư tưởng đó được thể hiện rõ trong nguyên lí: "Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội" Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới hiện nay, phương châm giáo dục toàn diện càng được quán triệt mạnh mẽ trong các hoạt động giáo dục theo mục tiêu đào tạo con người Việt Nam XHCN nhằm hình thành

và phát triển nhân cách HS

Hiện nay ở nước ta, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường

đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực như đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh trật tự ngày càng ổn định Tuy nhiên, cũng đồng thời xuất hiện những tiêu cực ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giáo dục Trong đó, vấn đề nổi cộm là tình trạng suy thoái về đạo đức của HS do ảnh hưởng của lối sống thực dụng và các tệ nạn xã hội đang len lỏi vào nhà trường Chính vì vậy, việc xác định mục tiêu giáo dục toàn diện, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực…là thực sự cần thiết

Các nghiên cứu ở nước ngoài

Tham vấn tâm lý học đường (School Counseling) hay còn gọi là tham vấn học đường là một nhánh của ngành tham vấn tâm lý được xuất hiện vào đầu thế kỷ

20 tại Hoa Kỳ Jesse B Davis có thể được xem là một trong những người đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Những hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) cho học sinh các trường học công Frank Parsons, được xem như cha đẻ của nghề Hướng dẫn (còn gọi Khải đạo),

đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation) vào năm 1909 qua

đó trình bày phương pháp kết nối những đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp Jesse Davis, Frank Parsons, Eli Weaver và nhiều người khác nữa

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đã tạo thành một trào lưu thúc đẩy cho sự phát triển của ngành tham vấn học đường [49]

Thế chiến thứ nhất, xuất hiện nhu cầu đánh giá (trắc nghiệm) các cá nhân, từ lúc này thuật ngữ nhà tham vấn (counselor), thường được đề cập như là những chuyên gia làm việc với những người trầm cảm, đã bắt đầu trở thành một phần trong

từ điển của các nhà giáo dục [49]

Thế chiến thứ hai kết thúc với những hậu quả nặng nề làm nảy sinh một nhu cầu rất lớn về các trắc nghiệm tâm lý và nó đã tác động một cách trực tiếp đến hoạt động khải đạo trong trường học Cũng vào thời gian thế chiến thứ hai này, chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra yêu cầu cho các nhà tham vấn làm công việc sàng lọc, tuyển chọn các quân nhân và những chuyên gia cho các ngành công nghiệp [49]

Những năm 1930, lý thuyết đầu tiên về Khải đạo được giới thiệu: Lý thuyết

về các nhân tố và đặc điểm của E G Williamson, (E G Williamson’s Trait and Factor theory) Lý thuyết này trở nên nổi tiếng như là một sự chỉ đạo cho hoạt động tham vấn [49]

Năm 1940, đạo luật George Barden (George Barden Act) - đạo luật về giáo dục hướng nghiệp - ra đời đã mang lại những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển

và hỗ trợ hoạt động khải đạo và tham vấn trong môi trường học đường cũng như những môi trường khác Đây là lần đầu tiên những nhà tham vấn học đường, những kiểm huấn viên địa phương và các tiểu ban nhận được những sự hỗ trợ chính thức

từ chính phủ (sự điều hành, tài chính và nguồn nhân lực…) [49]

Năm 1957, năm mà vệ tinh Sputnik của Nga được phóng vào quỹ đạo cũng

là thời điểm mà ngành tham vấn và khải đạo được “phóng lên” Tiếp theo đó, đạo luật Nat’l Defense Ed Act (NDEA) ra đời năm 1958 Có thể tham khảo đạo luật này tại đây Đạo luật NDEA tập trung vào hai vấn đề: 1) Cung cấp những nguồn lực để các bang thiết lập và duy trì các hoạt động tham vấn, trắc nghiệm và khải đạo trong trường học; 2) Ủy quyền và cho phép các trường cao đẳng và đại học thiết kế các chương trình đào tạo tham vấn học đường [49]

Năm 1953, hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) tham gia vào APGA (American Personnel and Guidance Association), tiền thân của

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (American Counseling Association) ngày nay Năm 1962, cuốn sách của Wrenn, Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi (The Counselor in a Changing World) đã định chế hóa các mục tiêu của tham vấn học đường Năm 1964, ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn học đường [49]

Năm 1965, đạo luật Giáo dục Tiểu học và Trung học (Elementary and Secondary Education Act) ra đời và cung cấp nguồn quỹ để phát triển những cơ hội giáo dục cho những gia đình nghèo Đến những năm 80s và 90s, nhu cầu về việc làm rõ những đặc tính và vai trò của nhà tham vấn học đường được xuất hiện với sự

“chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan [49]

Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tham vấn học đường (National Standards for School Counseling Programs) ra đời và kể từ đó, ngành tham vấn học đường được xem là đã hoàn thiện [49]

Hiện nay, hiệp hội các nhà tham vấn học đường Hoa Kỳ (ASCA) được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới ASCA hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội của ACA với hơn 60.000 hội viên trên toàn thế giới [49]

Những nghiên cứu ở Việt Nam

Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, chương trình khải đạo học đường

đã được triển khai trong các trường học Sau ngày thống nhất đất nước, với sự thay đổi gần như hoàn toàn cách thức tiếp cận của giáo dục, chương trình khải đạo đã không còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó [49]

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, với sự xuất hiện hàng loạt những vấn đề liên quan đến đạo đức, kỷ luật trường học, học sinh tự tử, áp lực thi cử, những rối loạn tâm lý, quan hệ thầy trò… của các trường học Việt Nam, những nhà giáo dục, tâm lý và cùng những tổ chức và các cơ quan hữu trách đã “giật mình” và bắt đầu

đề cập đến việc phải có các hoạt động tham vấn tâm lý trong trường học [49]

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Từ khoảng năm 2000, nhiều trường học tại Tp HCM như trường Khánh Hội

A - quận 4, Nguyễn Gia Thiều - quận Tân Bình, Diên Hồng - quận 10, Trương Công Định, Phú Mỹ - quận Bình Thạnh, Mạc Đỉnh Chi - quận 6 và rất nhiều trường khác nữa… đã chủ động phối hợp với các chuyên viên tâm lý và các tổ chức trong và ngoài nước để triển khai các chương trình tham vấn học đường cho học sinh [49]

Năm 2003, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại Tp HCM” được Viện Nghiên cứu Giáo dục, trường ĐHSP Tp HCM tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý, giáo dục và hiệu trưởng các trường có hoạt động tham vấn học đường

để “mổ xẻ” và kêu gọi sự quan tâm của giới chuyên môn cũng như các cơ quan chính phủ trong việc có các chiến lược nhằm phát triển hoạt động tham vấn học đường tại Việt Nam Cũng trong thời gian này, một vài sinh viên khoa Tâm lý - Giáo dục trường ĐHSP TP HCM đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

về vấn đề tham vấn học đường Những “sự kiện” này được xem là những bước khởi đầu cho nhiều sự thay đổi tiếp theo của ngành tham vấn học đường tại Việt Nam [49]

Năm 2004, Trung tâm Hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội được thành lập và cũng đề cập đến hoạt động nghiên cứu và hỗ trợ hoạt động tham vấn học đường [49]

Năm 2005, với sự chấp thuận của Ủy ban Dân số - Gia đình - Trẻ em TP HCM

và sự hỗ trợ của UNICEF, Văn phòng tư vấn trẻ em Tp HCM đã tổ chức hội thảo

“Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong trường học” cũng nhận được sự quan tâm và chia sẻ kinh nghiệm thực tế của nhiều chuyên gia và những nhà lãnh đạo các trường học Đầu năm 2006, hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý - giáo dục - thực tiễn và định hướng phát triển” do Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục Tp HCM tổ chức cũng đề cập đến vấn đề tham vấn học đường như là một điều “khẩn thiết” nhằm hỗ trợ học sinh và nhà trường trong hoạt động giáo dục Sở Giáo dục - Đào tạo Tp HCM cũng tổ chức những buổi sinh hoạt đề cập đến hoạt động tư vấn học đường trong thời gian này với sự tham gia của các nhà tâm lý, giáo dục, nhà trường và phụ huynh học sinh [49]

Trong khoảng thời gian này, một văn bản của Bộ Giáo dục đã được ban hành

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nhằm chỉ đạo và hướng dẫn các Sở và trường học cùng những tổ chức liên quan trong việc triển khai thực hiện chương trình tham vấn học đường [49]

Ngoài ra, chuyên mục tham vấn học đường do báo Phụ nữ Tp HCM khởi xướng (ThS Nguyễn Thị Oanh phụ trách) cũng nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo học sinh, phụ huynh và các trường học Tháng 06 năm 2006, cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc [49]

Đến nay, vấn đề tham vấn học đường tại Việt Nam đã trở thành một đề tài nóng bỏng và nhận được nhiều sự ủng hộ từ các em học sinh, phụ huynh, nhà trường, các nhà tâm lý - giáo dục và các tổ chức thuộc chính phủ cũng như các tổ chức phi chính phủ Tuy nhiên, diện mạo của một ngành nghề chuyên nghiệp vẫn chưa thật

Từ khoảng năm 2010, nhiều trường học đã chủ động phối hợp với các chuyên viên tâm lí và các tổ chức trong và ngoài nước để triển khai các chương trình TVGD cho học sinh

Việt Nam đang tiến hành “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn hội nhập toàn cầu hóa Thế giới có nhiều sự thay đổi như thị trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự phát triển của công nghệ thông tin, lao động trí thức và văn hóa công ty Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trở thành một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay Thực hiện chủ trương “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” của Bộ GD&ĐT, các cơ sở đào tạo chuyển từ “đào tạo những gì mình có” sang “đào tạo những gì xã hội cần” nhằm thu hẹp khoảng cách cung cầu giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực Trong đó, công tác hướng nghiệp,

tư vấn việc làm được phát triển nhanh ở các trường đại học của Việt Nam

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Ở một số cơ sở giáo dục và đào tạo trong nước, việc hình thành và phát triển những trung tâm là đầu mối cho HĐTVGD Tại Thái Nguyên, Trung tâm dịch vụ việc làm trực thuộc Sở Lao động - TB&XH Tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm tư vấn và

hỗ trợ sinh viên của đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh, Trung tâm Tư vấn và hỗ trợ sinh viên của đại học Công Nghiệp, Trung tâm Tư vấn và hỗ trợ sinh viên của đại học Nông Lâm trực thuộc Đại học Thái Nguyên; cùng hàng loạt các trung tâm giới thiệu việc làm, tư vấn du học tư nhân khác được thành lập… đều thực hiện mục đích

tư vấn, định hướng và tăng cường sự tương tác giữa Nhà trường và học sinh Sự ra đời của các trung tâm đào tạo kĩ năng mềm; kĩ năng sống như: Trung tâm phát triển

kĩ năng con người Tâm Việt, Trung tâm đào tạo kĩ năng mềm Vietskill Thái Nguyên…nhận được nhiều sự ủng hộ từ các em HS, GV, nhà trường và các nhà tâm

lí - giáo dục

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Tư vấn và tư vấn giáo dục

1.2.1.1 Khái niệm tư vấn

Ở Việt Nam, việc cung cấp thông tin, cho lời khuyên, trợ giúp những khó khăn tâm lí, chỉ bảo hay hướng dẫn… cho một cá nhân, hoặc một tổ chức khi họ

có nhu cầu thường được gọi là tư vấn Thuật ngữ tham vấn (counseling) và tư vấn

(consultant) trong từ điển hiện nay đều được dịch sang tiếng Việt là tư vấn

Trên thực tế, hiện nay các nhà chuyên môn vẫn còn nhiều tranh cãi quanh việc sử dụng từ “tham vấn” hay “tư vấn” Tuy nhiên, để thống nhất với cách dùng

từ trong các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Ủy ban nhân dân Thành phố và Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên, trong khuôn khổ luận văn này,

sử dụng cụm từ “tư vấn” và “tư vấn giáo dục”

Tư vấn là quá trình tương tác giữa chuyên viên tư vấn (người có chuyên môn,

kĩ năng, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và thân chủ (là người có khó khăn trong cuộc sống cần được giúp đỡ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chân tình (dựa vào nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu

và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của chính mình

Theo cuốn từ điển Hoàng Phê chúng ta hiểu định nghĩa về tư vấn như sau:

“Tư vấn là góp ý kiến về một vấn đề được hỏi, nhưng không có quyền quyết định”.[40]

Theo Điều 5, nghị định 87/2002/NĐ - CP ngày 5/11/2002 về hoạt động tư vấn

chuyên nghiệp thì “Tư vấn là hoạt động thu thập, xử lý thông tin, vận dụng kiến thức

chuyên môn, phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, phương án, lập dự án và giám sát, đánh giá do các tổ chức chuyên môn, cá nhân người Việt Nam thực hiện độc lập, khách quan theo yêu cầu của người sử dụng tư vấn”

Các chức năng tư vấn:

- Cung cấp thông tin: Cung cấp cho HS cần tư vấn thông tin chính xác,rõ

ràng làm thay đổi nhận thức và quan điểm lệch lạc không đúng của họ

- Thể hiện sự hỗ trợ: Đa phần HS sống xa gia đình nên họ phải tự lập Vì

vậy,tư vấn là quá trình thể hiện sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt tâm lý, tình cảm, hiểu và

làm yên lòng HS

- Giải quyết mâu thuẫn: Giúp HS cần tư vấn giải quyết những khác biệtvà

mâu thuẫn với những người khác và chính bản thân HS

- Giải quyết vấn đề: Giúp HS cần tư vấn phân tích những khó khăn, tìm ra

những giải pháp hành động và cuối cùng tìm được giải pháp hiệu quả để giải quyết

vấn đề

- Ra quyết định: Giúp HS cần tư vấn xác định các phương án, tự đưa ra quyết

định cụ thể về cách giải quyết trong đời sống sinh hoạt, học tập

- Thay đổi hành vi: Trang bị cho HS kỹ năng trong cuộc sống, trong học tập,

sinh hoạt phù hợp để họ có thể quyết định các thay đổi liên quan đến suy nghĩ, tình

cảm, hành vi

1.2.1.2 Khái niệm tư vấn giáo dục

Hiệp hội GD của Mỹ - ASCA (1990) định nghĩa TVGD là “Giúp đỡ tất cả

các HS trong học tập, trong quan hệ xã hội, trong công việc, trong việc nâng cao năng lực cá nhân và giúp họ trở thành người có trách nhiệm và hữu ích Nhà TVGD trợ giúp hình thành và tổ chức tất cả chương trình này, cũng như cung cấp các hoạt

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

động can thiệp tư vấn thích hợp” [dẫn theo 46]

Tương tự, các tác giả Trương Bích Nguyệt (2003), Trần Thị Hương (2006)

đã định nghĩa TVGD là tiến trình tương tác giữa chuyên viên tư vấn và HS nhằm khơi dậy tiềm năng của các em, để họ có đủ sức mạnh vượt qua những khủng hoảng của lứa tuổi và những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống, để tự giải quyết vấn đề của mình, ổn định việc học, phát triển nhân cách đúng đắn [dẫn theo 46]

Có thể nói, các tác giả trên quan niệm đối tượng hướng đến của TVGD là các vấn đề của HS và công việc của nhà tư vấn là hỗ trợ cho từng cá nhân học sinh Như thế, TVGD chỉ là một hoạt động hẹp của HĐTV, ở đó thân chủ là những HS đang gặp khó khăn và cần được giúp đỡ

Tuy nhiên, TVGD là hoạt động không chỉ dành cho HS mà còn dành cho cả

GV và các LLGD khác trong nhà trường Tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) nêu một

số đặc điểm của HĐ TVGD như sau:

- Đối tượng hướng đến của TVGD không chỉ là HS có “vấn đề” mà là tất cả các HS cũng như các LLGD trong nhà trường (GV, nhân viên…)

- Nội dung của TVGD không chỉ là giải quyết những khó khăn, vướng mắc của HS mà còn giúp HS ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực trong học đường cũng như huấn luyện cho HS các kỹ năng xã hội căn bản để giúp các em ứng phó một cách tích cực hơn với những vấn đề trong học tập và cuộc sống

- Hình thức của TVGD được tổ chức đa dạng như: tư vấn cho cá nhân,tư vấn cho nhóm và dạy ở lớp học

- Vai trò của GVTV trong trường không chỉ tư vấn cho HS mà còn tư vấn cho nhà QL, GV về những vấn đề liên quan đến giáo dục HS và là cầu nối với các lực lượng bên ngoài trường học (công tác xã hội, pháp luật, y tế…) trong việc giải quyết các vấn đề của HS

- HĐ TVGD không chỉ giúp đỡ cho HS, GV mà còn ở quy mô rộng lớn hơn, đó là hỗ trợ hoạt động giáo dục bằng tri thức và công nghệ tâm lý học, tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động giáo dục cũng như sự phát triển nhân cách của

HS

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy, với khái niệm này, chúng tôi hiểu TVGD là hoạt động hướng vào việc trợ giúp HS nhận thức được thế mạnh/ tiềm năng của mình để tự giải quyết/ ứng phó với các khó khăn, vướng mắc gặp phải; phát hiện sớm những nguy cơ gặp khó khăn, vướng mắc của HS trong học tập, quan hệ xã hội để phòng ngừa thông qua việc xây dựng những chương trình nhằm cải thiện môi trường học tập, quan hệ

xã hội trong nhà trường; tác động can thiệp nhằm trợ giúp HS giải quyết những khó khăn nảy sinh trong học tập và cuộc sống

1.2.2 Khái niệm quản lý HĐ TVGD

Quản lý HĐ TVGD là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, có khoa học của Hiệu trưởng đến đội ngũ GVTV, tập thể GV, HS và những LLGD trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả hoạt động tư vấn giúp HS phát triển toàn diện nhân cách

Căn cứ theo các định nghĩa của quản lí giáo dục và mục tiêu của HĐ TVGD, có

thể tạm định nghĩa: “Quản lí HĐ TVGD là quá trình nhà quản lí giáo dục thực hiện có

định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với HĐ TVGD nhằm đạt tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, hỗ trợ kịp thời những HS có khó khăn tâm lí.”

QL HĐ TVGD trong trường học bao gồm các công việc:

- Chuẩn bị cho công tác tổ chức nhân sự, kế hoạch, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho công tác TVGD

- Chỉ đạo thực hiện hoạt động theo kế hoạch đã đề ra

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá hiệu quả và rút kinh nghiệm cho hoạt động tư vấn tại trường

1.3 Trường phổ thông dân tộc nội trú và quản lí nhà trường PTDTNT

1.3.1 Trường phổ thông dân tộc nội trú

1.3.1.1 Khái niệm

Trường PTDTNT nằm trong hệ thống các trường phổ thông công lập của cả nước Trường PTDTNT là trường dành cho thanh thiếu niên các DTTS, bản thân và gia đình thường trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa… HS được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết để ăn học, được nhà trường tổ chức nuôi dạy và sống nội trú

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ở trường trong quá trình học tập Tính chất của trường là phổ thông và dân tộc Đặc điểm nổi bật của trường là nội trú [7]

Trường PT DTNT có những đặc trưng như của trường phổ thông, nhưng có tính chất của trường dân tộc và có đặc điểm của trường nội trú Do vậy, việc quản

lý trong trường PTDTNT có những nét rất khác so với các trường THPT khác

1.3.1.2 Vị trí trường phổ thông dân tộc nội trú

Trường ở vị trí mũi nhọn trong sự nghiệp giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc Trường được coi là một loại trường tạo nguồn đào tạo cán bộ dân tộc, một trung tâm văn hóa khoa học của địa phương

Trường PTDTNT được tổ chức và hoạt động theo quy định của Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 02/4/2007 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo [11]; Các quy định tại Quy chế về tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú ban hành theo Quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 25/8/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [8]; Thông tư số 06/2009/TT-BGDĐT, ngày 31/3/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung Điều 10 và Điều 13 của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú ban hành kèm theo Quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT [13]

1.3.1.3 Mục tiêu, vai trò, tính chất, nhiệm vụ trường phổ thông dân tộc nội trú

Mục tiêu: Mục tiêu của hệ thống các trường PTDTNT là góp phần nâng cao

dân trí, tạo nguồn cán bộ có chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH cho các địa phương có đồng bào dân tộc sinh sống

Mục tiêu đào tạo của trường PTDTNT là chuẩn bị cho HS sau khi học hết cấp

ra trường có thể thích ứng nhanh chóng với sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương,

cụ thể là:

- HS phải được trang bị kiến thức để có hiểu biết về Tổ quốc, về cộng đồng các DTTS ở Việt Nam, về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, về tinh thần làm chủ và nếp sống văn minh, về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của các DTTS, về những cuộc vận động, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đang tiến hành ở miền núi, vùng dân tộc…

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- HS phải được chuẩn bị để đạt được chuẩn kiến thức các môn học ở các lớp như HS các trường Phổ thông: “Mọi hoạt động của trường PTDTNT phải nhằm mục đích giáo dục cho HS tinh thần đoàn kết dân tộc, ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng và bảo vệ truyền thống tốt đẹp của các dân tộc anh em, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần chịu khó học tập, nếp sống văn minh, khoa học để sau khi ra trường có thể tham gia quản lý, lãnh đạo các hoạt động cải tạo và xây dựng quê hương" [7]

Vai trò: Trường PTDTNT có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển

KT-XH và củng cố AN-QP ở miền núi, vùng DTTS, tạo nguồn đào tạo cán bộ người

dân tộc, tạo nhân tố cho sự phát triển VH, KT-XH ở địa phương

Tính chất: Trường PTDTNT là loại trường giáo dục chuyên biệt mang tính

chất "phổ thông", "dân tộc" và đặc điểm nổi bật của trường là "nội trú"

Trong các trường PTDTNT chỉ có tối đa 5% số HS là người dân tộc Kinh, còn lại là con em các DTTS Đại đa số các em đến từ các vùng cao, vùng sâu với điều kiện kinh tế xã hội của các địa phương còn rất khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, với nhiều phong tục tập quán lạc hậu Việc sống ở vùng cao đã tạo cho người dân tộc nói chung và HS người dân tộc nói riêng có những tố chất rất đáng quý như chăm chỉ lao động, khỏe mạnh, thật thà… Nhưng bên cạnh đó, một số không nhỏ

HS người dân tộc còn có những nhược điểm như có lối sống tự do, thích uống rượu, không chịu khó học, hay tự ti Song song đó, HS của mỗi dân tộc lại có những đặc trưng riêng về văn hóa, phong tục tập quán, các quan niệm về giá trị đạo đức lối sống về khả năng nhận thức khác nhau Chính vì vậy, người làm QLGD trong quá trình quản lý của mình, phải quan tâm đến các đặc điểm đó của HSdân tộc Có như vậy mới phát huy được hiệu quả QL của mình

Nhiệm vụ: Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ được quy định trong điều lệ

trường THPT, trường PT DTNT còn thực hiện các nhiệm vụ như:

Thực hiện tuyển sinh đúng đối tượng theo chỉ tiêu kế hoạch; thực hiện giáo dục HS về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa các DTTS, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước; tổ chức nuôi

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

dưỡng HS theo đúng các chế độ chính sách, chăm lo tổ chức tốt đời sống nội trú cho HS cả về vật chất, tinh thần; giáo dục hướng nghiệp, hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp, tổ chức các HĐ TVGD cũng như các kỹ năng sống cho HS, giáo dục HS

ý thức phục vụ quê hương, lòng yêu nước

1.3.2 Quản lí nhà trường PTDTNT

Hệ thống trường PTDTNT thuộc hệ thống trường phổ thông công lập, vì thế nên việc quản lý nhà trường phổ thông DTNT được thực hiện theo sự phân cấp quản

lý như sau:

1 Trường PTDTNT cấp huyện do phòng GD&ĐT quản lý

2 Trường PTDTNT cấp tỉnh và trường PTDTNT cấp huyện có mở cấp THPT

do Sở GD&ĐT quản lý

3 Trường PTDTNT trực thuộc Bộ do Bộ chủ quản quản lý

1.4 Một số vấn đề về TVGD cho HS ở các trường PT DTNT

1.4.1 Mục tiêu TVGD cho HS ở trường PT DTNT

HĐ TVGD nhằm mục đích hỗ trợ và can thiệp đối với hững HS đang gặp phải những khó khăn trong đời sống tâm lí Bao gồm những khó khăn về xúc cảm, tình cảm, tâm lí, tinh thần trong đời sống hang ngày, trong hành vi ứng xử, quan hệ bạn bè, thầy cô, gia đình, trong học tập, định hướng nghề nghiệp… Qua đó, giúp

HS tìm được hướng giải quyết phù hợp và giúp ổn định đời sống tâm lí để có thể đạt được sự phát triển cao nhất và hiệu quả nhất trong suốt quá trình học tập tại trường học

Mục đích chung của tư vấn giáo dục:

- Giúp HS bớt các cảm xúc tiêu cực khi gặp hoàn cảnh khó khăn và cảm thấy thoải mái khi trò chuyện cùng GVTV về vấn đề của mình

- Giúp HS tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của họ; Giúp đối tượng biết chấp nhận vấn đề của mình như nó đang có

- Giúp HS đưa ra được các quyết định lành mạnh và có khả năng xử lí được vấn đề của bản thân

- Hướng dẫn HS thi hành các quyết định của họ và có khả năng dự phòng các

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tình huống tương tự xảy ra trong tương lai

1.4.2 Ý nghĩa HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Căn cứ Điều lệ trường trung học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trong đó, trường THPT gồm 3 khối lớp 10, lớp 11 và lớp 12, là những lớp cuối cùng trong khối phổ thông Tuổi trung bình của HS học trong trường THPT là từ 15 đến 18 tuổi, lứa tuổi

cuối cùng trong độ tuổi thanh niên (theo Luật Thanh niên)

Lứa tuổi HS THPT đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Lứa tuổi này đã trải qua thời kì đầu của tuổi dậy thì nên bắt đầu đi vào thời kì phát triển tương đối

êm ả về mặt sinh lí Vì vậy, ở giai đoạn này, các em ít có những “tò mò” về giới tính nhưng lại nhiều hơn những “rung động” đầu đời Những kiến thức về tình dục,

về quan hệ giữa những bạn đồng giới - khác giới, hiểu biết về hôn nhân và gia đình,… được các em quan tâm, thắc mắc nhiều

Đây là lứa tuổi quyết định của sự hình thành nhân cách Trong quá trình tìm hiểu để tạo nên mẫu người lí tưởng, thúc đẩy các em vươn lên và tự hoàn thiện nhân cách của mình, HS THPT thường gặp phải sự xung đột về hệ tư tưởng, thái độ, suy nghĩ, lối sống,… với các thế hệ đi trước Trong thời đại “mở” hiện nay, sự xung đột này lại càng gia tăng và dễ bùng phát Người lớn không hiểu các em và bản thân các

em bị căng thẳng trong các mối quan hệ dễ dẫn đến những khó khăn về đời sống tâm lý cần được tư vấn và giải tỏa Do đó, lứa tuổi HS THPT dễ gặp phải những khó khăn tâm lí cần được hỗ trợ

Một vấn đề quan trọng của HS THPT là việc chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân mà trước hết là chọn nghề Nghề nghiệp tương lai chi phối khá nhiều đối với hứng thú học tập HS có nhu cầu tìm hiểu nhiều về xu hướng ngành nghề, lao động trong xã hội; sự phù hợp giữa năng lực bản thân với tình cảm dành cho công việc và khả năng thành công trong tương lai Đây cũng là quá trình xây dựng động lực cho việc học tập và rèn luyện của các em Thực tế cho thấy, những

HS sớm xác định được hướng đi của mình trong tương lai sẽ học tập hăng say hơn,

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sống tích cực hơn Là nhu cầu rất thiết thực và gắn liền với nhiệm vụ của nhà trường phổ thông

1.4.3 Nội dung TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Tại Việt Nam, dù trong bất cứ văn bản nào về HĐ TVGD cũng đều nhận định nội dung tư vấn khá đa dạng

Văn bản số 9971/BGD&ĐT-HSSV ngày 28 tháng 10 năm 2005 của Bộ GD&ĐT về việc triển khai công tác tư vấn cho HS đã quy định rõ nội dung tư vấn đối với HSphổ thông tập trung vào các vấn đề sau:

- Hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh,

- Tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới,

- Tư vấn tâm lý, tình cảm;

- Phương pháp học tập;

- Tham gia các hoạt động xã hội;

- Giáo dục lý tưởng sống, lý tưởng cách mạng cho HS;

- Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc;

- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường;

- Giáo dục HS biết giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc;

- Giáo dục truyền thống hiếu học;

- Giáo dục lối sống lành mạnh, kỹ năng mềm, kỹ năng xử lý tình huống;… Các nội dung được liệt kê rất cụ thể, rõ ràng và cũng thể hiện sự đa dạng, tính phức tạp của HĐ TVGD

1.4.4 Hình thức, phương pháp TVGD cho HS ở trường PT DTNT

HĐTV được tổ chức một cách đa dạng thông qua các hình thức TV cho các

cá nhân, TV cho nhóm như:

- Tư vấn trực tiếp: Là hình thức người tư vấn trực tiếp nói chuyện vớiHScần

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sinh (chi hội, Câu lạc bộ ) qua các diễn đàn kĩ năng sống, giờ sinh hoạt, giờ chào cờ.Tư vấn trên phương tiện truyền thanh, bản tin, tập san của nhà trường: Là hình thức trao đổi với học sinh thông qua mục hỏi, đáp

Việc sử dụng nhiều hình thức tư vấn đa dạng là hết sức cần thiết để chủ động tiếp cận với những nhu cầu của HS Mỗi hình thức tư vấn đều có mặt mạnh và hạn chế riêng Trong từng trường hợp, tùy từng mục đích nhất định, GVTV phải biết chọn lựa những hình thức tư vấn cho phù hợp, nhằm đạt được mục đích tư vấn

Để đảm bảo thực hiện công tác tư vấn cho HS, nhà trường phải có Tổ Tư vấn,

hỗ trợ HS và bố trí cán bộ, GV kiêm nhiệm để thực hiện công tác tư vấn cho học sinh Cán bộ, GV kiêm nhiệm công tác tư vấn cho HS phải là người có kinh nghiệm và được

đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ tư vấn (có chứng chỉ nghiệp vụ tư vấn

tâm lý học đường theo chương trình do Bộ GDĐT ban hành) GVTV được hưởng định

mức giảm tiết dạy theo quy định của Bộ GD&ĐT

Về cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tư vấn cho học sinh, Thông tư31/2017/TT-BGDĐT yêu cầu nhà trường bố trí phòng tư vấn tâm lý riêng, đảm bảo tính riêng tư, kín đáo, dễ tiếp cận và phù hợp để tổ chức HĐTV; trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu, học liệu cần thiết để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ tư vấn Các phương pháp được sử dụng là:

- Phương pháp thuyết trình: là phương pháp GV sử dụng lời nói của mình

để trình bày các nội dung tư vấn giáo dục GV cung cấp các thông tin cập nhật

và nội dung kiến thức về hoạt động tư vấn giáo dục PP thuyết trình đòi hỏi GV phải có mở đầu gây hứng thú cho HS, tránh tình trạng giảm sự chú ý của HS trong giờ học trải nghiệm

- Phương pháp đàm thoại, GV gợi mở vấn đề: là phương pháp trò chuyện chủ yếu giữa GV và HS về nội dung tư vấn giáo dục… Thông qua đàm thoại, HS có cơ hội bày tỏ những vướng mắc, khó khăn về các vấn đề tâm lý, tình cảm, tình yêu, ý thức bảo vệ môi trường, những tình huống trong cuộc sống đòi hỏi kỹ năng để giải quyết

- Thảo luận theo nhóm nhỏ nhằm giải quyết từng phần của vấn đề: Giáo viên

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tổ chức tình huống có vấn đề về các nội dung tư vấn giáo dục, đó là các tình huống

về cư xử trong tình bạn, tình yêu, tình huống khó khăn trong cuộc sống, học tập ở môi trường nội trú…từ đó HS hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, trao đổi và thảo luận trong nhóm Nếu gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết thì dưới sự chỉ đạo của giáo viên, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục tiêu dạy học và các nội dung cụ thể đã xác định

1.4.5 Kiểm tra, đánh giá HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Mục tiêu của kiểm tra, đánh giá kết quả HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT là đánh giá được nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh về các nội dung

tư vấn giáo dục như: Hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh; Tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới…

Nội dung kiểm tra, đánh giá:

(1) Đánh giá nhận thức của học sinh về các nội dung tư vấn như: hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh; Tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới; Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, GV và bạn bè…

(2) Đánh giá thái độ của học sinh về các nội dung tư vấn như: Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, GV và bạn bè; Tham gia các hoạt động xã hội…

(3) Đánh giá về hành vi của học sinh về các nội dung tư vấn như: tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới; Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, GV

và bạn bè…; Tham gia các hoạt động xã hội…

1.5 Quản lý HĐ TVGD cho HS ở trường PTDTNT

1.5.1 Lập kế hoạch TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Việc lập kế hoạch trong tổ chức có một tầm quan trọng to lớn Hussey (1985)

và Bryson (1988) đã đưa ra định nghĩa về lập kế hoạch như sau:

“Lập kế hoạch là một hoạt động có tính hướng đích nhằm xác định một cách

chính xác chúng ta muốn đến đâu và làm thế nào để đến đó”

Kế hoạch sẽ giúp nhà QL có được cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn và thấy được sự tác động qua lại giữa các bộ phận trong tổ chức Hơn hết là ứng phó với thay đổi và chi phối của các nhân tố bên trong ngoài nhà trường như: những thay đổi về số lượng, chất lượng liên quan đến GV, HS; những tác động của hội nhập

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

kinh tế thị trường; những mặt tích cực và tiêu cực của xã hội…bằng cách điều chỉnh những quyết định trước đó, đảm bảo hướng vào mục tiêu đã định

Kế hoạch phải được xây dựng cùng với việc dự thảo kế hoạch năm học của trường và được cụ thể hóa thành kế hoạch từng học kỳ, từng tháng, từng tuần phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường, phù hợp với từng khối lớp và đảm bảo cho mục tiêu phát triển nhân cách cho HS

Kế hoạch HĐ TVGD phải được xây dựng trong sự phối hợp với kế hoạch của các bộ phận khác trong nhà trường như kế hoạch dạy - học, kế hoạch hoạt động ngoại khóa của tổ bộ môn, kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất…

Một số yêu cầu cần chú ý:

- Căn cứ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, có kế hoạch hoạt động đều đặn, cân đối từ đầu năm đến cuối năm và trong hè.Cần vận dụng và khéo léo sắp xếp thời gian để kết hợp với các HĐ TVGD khác nhằm tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về hướng nghiệp, giao tiếp ứng xử, chăm sóc sức khỏe nhằm làm phong phú đa dạng nội dung giúp HS tìm thấy sự bổ ích trong TVGD

- Căn cứ vào kế hoạch năm học

- Căn cứ vào tình hình đào tạo (học tập và rèn luyện) HS thực tế của trường

- Căn cứ vào nhu cầu hiện tại của học sinh

- Căn cứ vào năng lực thực tế của đội ngũ GVTV

- Căn cứ vào chương trình tư vấn đã có từ năm học trước

1.5.2 Tổ chức triển khai chương trình TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Là giai đoạn thực hiện những ý tưởng đã được kế hoạch hóa, là sự phân công, phối hợp các nguồn lực, vật lực một cách khoa học, hợp lý Cụ thể: ngay từ đầu năm học, thông báo cụ thể chương trình hành động đến các tổ chức, bộ phận trong trường, phân công và xác lập sự phối hợp trách nhiệm giữa các đơn vị, các hoạt động phát sinh sẽ do BGH phân công riêng cho từng đơn vị Để làm tốt nhiệm vụ này, lãnh đạo Nhà trường cần có sự chỉ đạo đúng đắn và xác định HĐTVGD là một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường

Chỉ đạo tổ chức các hình thức báo cáo HĐ TVGD của GVTV gồm các hình thức:

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Báo cáo định kì bằng văn bản

Báo cáo định kì bằng phương pháp đối thoại trực tiếp

Kết hợp cả báo cáo định kì bằng văn bản và đối thoại trực tiếp

Báo cáo khi có trường hợp cần có sự hỗ trợ từ BGH hoặc LLGD khác Báo cáo khi BGH yêu cầu

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho những người làm công tác tư vấn:

Tạo điều kiện về thời gian, còn kinh phí do cá nhân tự túc

Tạo điều kiện về thời gian và hỗ trợ một phần kinh phí cho GVTV

Tạo điều kiện về thời gian và kinh phí cho GVTV

1.5.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Hiệu trưởng tập hợp, phối hợp các lực lượng giáo dục tiến hành thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch đã phân công, nhằm đạt được mục tiêu đã định Mục đích của sự can thiệp của Hiệu trưởng nhằm đảm bảo cho kế hoạch diễn ra đúng tiến độ, thời gian

Chỉ đạo đa dạng hóa hình thức tư vấn giáo dục cho HS nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này

Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực tư vấn giáo dục cho những người làm công tác tư vấn

Chỉ đạo đổi mới đánh giá kết quả hoạt động tư vấn giáo dục cho HS

Chỉ đạo đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính phục vụ hoạt động

tư vấn giáo dục

Chỉ đạo chủ thể thực hiện hoạt động TVGD có sự phối hợp gồm: Sở Giáo dục và Đào tạo; Hiệu trưởng; Ban Giám Hiệu; Đoàn TNCS HCM trường; Các tổ trưởng chuyên môn; GV chủ nhiệm; GV bộ môn; Chính quyền địa phương; Báo đài; Các chuyên gia; Các trung tâm phối hợp về tư vấn kĩ năng sống, sức khỏe, điều trị tâm lý ;Các đơn vị đào tạo (Đại học - Cao đẳng - Trung tâm giới thiệu việc làm, )

1.5.4 Kiểm tra đánh giá kết quả HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Hoạt động kiểm tra, đánh giá trong QL HĐ TVGD nhằm thu thập những thông tin ngược về tình hình công việc giúp nhà trường thực hiện các nhiệm vụ giáo dục nói chung và thực hiện HĐ TVGD nói riêng Có thể kiểm tra, đánh giá thường xuyên hoặc theo định kỳ Cụ thể là: đánh giá tiến độ, chất lượng của các hoạt động đã thực hiện mức độ đạt được so với mục tiêu đã đề ra, những thiếu sót và nguyên nhân, những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện để xử lý và rút kinh nghiệm cho công tác quản lý sau này hoặc để điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết

Việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch và kết quả HĐ TVGD phải thường xuyên Đồng thời công tác kiểm tra, đánh giá phải tiến hành kết hợp với sơ kết, tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm để các HĐ TVGD sau tốt hơn, hiệu quả hơn

Kiểm tra, đánh giá HĐ TVGD được thể hiện qua:

Đọc báo cáo của GVTV

Trực tiếp nghe báo cáo của GVTV

Trao đổi, phỏng vấn HS

Dự 1 số ca tư vấn (nhưng không để HS biết có sự hiện diện của người thứ 3) Tham dự một số hoạt động tập thể để nắm bắt thông tin từ HS

Nghiên cứu kết quả học tập và rèn luyện của HS

Trao đổi với GVCN, GVBM về những hoạt dộng ngoại khóa, vui chơi, học tập của HS, kể cả những biểu hiện lệch lạc của HS

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT

1.6.1 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo

Việc nhận thức về vai trò vị trí của HĐ TVGD trong các LLGD là rất quan trọng, nhất là nhận thức của các Hiệu trưởng Nhà trường hiện nay đang hoạt động theo chế độ thủ trưởng, có sự phân quyền tự chủ rất mạnh cho HT nhà trường Chính vì vậy, nếu HT nhà trường nhận thức được HĐ TVGD là quan trọng sẽ truyền được nhận thức đó đến với Hội đồng sư phạm, các lực lượng đoàn thể, tổ chức, cá nhân trong nhà trường Đồng thời, sẽ tạo điều kiện thuận lợi về

cơ sở vật chất, chế độ chính sách, thời gian, phương tiện, để giúp HĐ TVGD trong nhà trường đạt được hiệu quả cao Ngược lại, nếu HT cho rằng HĐ TVGD

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

không thực sự quan trọng, nhận thức đó sẽ chuyển đến từng thành viên trong nhà trường, HĐ TVGD sẽ không nhận được sự ủng hộ, tham gia của từng thành viên trong trường, cũng như không có những điều kiện để GVTV thực hiện các nội dung như mong muốn

1.6.2 Trình độ chuyên môn và năng lực của GVTV

Trong bất kì hoạt động gì, năng lực của người thực hiện luôn là yếu tố quan trọng, quyết định cho thành công của mỗi công việc Như đã phân tích, HĐ TVGD

đa dạng, phong phú với nhiều nội dung, nhiều hình thức diễn ra song hành, đồng thời, tác động đến trẻ phải từ nhiều chiều, với nhiều lực lượng khác nhau và luôn luôn phải cập nhật kiến thức mới, tìm kiếm những hình thức sáng tạo, phù hợp với thực tiễn nhà trường

Điều đó đòi hỏi GVTV phải có năng lực, niềm đam mê với công việc tư vấn, tình thương và khả năng hoàn nhịp với học sinh, sự kiên nhẫn, có kiến thức tổng hợp trên nhiều lĩnh vực và hiểu biết sâu về tâm lí, khả năng diễn đạt tốt, thu hút người nghe, năng động, sáng tạo, luôn có ý thức tìm tòi cái mới, biết huy động các thành viên khác trong nhà trường cùng tham gia

1.6.3 Hệ thống văn bản chỉ đạo của Ngành, Sở GD&ĐT về HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Tất cả chúng ta đều đang sống và làm việc trong một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Vì vậy, bất kì hoạt động gì cũng đều phải có hành lang pháp lí cụ thể,

rõ ràng, chi tiết, đầy đủ Đó là cơ sở để có sự hỗ trợ, tham gia của tất cả các LLGD trong và ngoài nhà trường cho HĐ TVGD; để các cơ quan quản lí xây dựng kế hoạch, các văn bản hướng dẫn hoạt động, đẩy mạnh hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; để Lãnh đạo nhà trường tạo điều kiện về chế độ, chính sách, xây dựng văn hóa nhà trường phù hợp; để GVTVGD xác định chính xác mục tiêu, những nội dung, hình thức tổ chức hoạt động, có cơ sở để tham mưu Lãnh đạo nhà trường những điều kiện cần thiết, những hoạt động bổ trợ phù hợp cho HĐTV tại đơn vị mình

1.6.4 Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Cũng như trong dạy, học các môn văn hóa, HĐ TVGD rất cần có cơ sở vật

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chất, kỹ thuật để đạt được hiệu quả giáo dục mong muốn Điều kiện tổ chức, phương tiện sẽ làm tăng tính hấp dẫn của hoạt động Thiết bị tối thiểu cho tổ chức HĐ TVGD cần có: đài, đầu video, đàn, micro, các loại sách tham khảo bổ trợ và kinh phí cũng

là yếu tố quan trọng

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

HĐ TVGD là hoạt động được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến quan tâm, xây dựng và hoàn chỉnh về mô hình hoạt động Tuy nhiên, tại Việt Nam, hoạt động này còn khá mới, chỉ hình thành một cách rời rạc ở một số tỉnh thành Do vẫn còn khá mới mẻ nên có những khác biệt và chưa thống nhất về mục tiêu, nội dung, hình thức và đặc biệt là công tác quản lí HĐ TVGD

Một số vấn đề về TVGD cho HS ở các trường PT DTNT cho thấy, hoạt động này có mục tiêu và ý nghĩa vô cùng quan trọng Trong nội dung TVGD cho HS ở trường PT DTNT gồm các nội dung về tư vấn hướng nghiệp, chọn nghề; tư vấn tâm

lý tình cảm; tư vấn giữ gìn bản sắc dân tộc…Bên cạnh đó, hình thức, phương pháp TVGD cho HS ở trường PT DTN cùng công tác kiểm tra, đánh giá HĐ TVGD cho

HS ở trường PT DTNT là cơ sở lý luận để tác giả triển khai nghiên cứu thực trạng

Quản lý HĐ TVGD cho HS ở trường PTDTNT gồm các nội dung: Lập kế hoạch TVGD cho HS ở trường PT DTNT; Tổ chức triển khai chương trình TVGD cho HS ở trường PT DTNT; Chỉ đạo thực hiện kế hoạch TVGD cho HS ở trường

PT DTNT; Kiểm tra đánh giá kết quả HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT như: Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo; Hệ thống văn bản chỉ đạo của Ngành, Sở GD&ĐT về HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT; Trình độ chuyên môn và năng lực của GVTV; Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ HĐ TVGD cho HS ở trường PT DTNT

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC

CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ

TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1 Vài nét về khảo sát thực trạng

2.1.1 Một vài nét về HS và GV ở các trường PT DTNT tỉnh Thái Nguyên

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay, hệ thống các trường PT DTNT được chia làm hai bậc học chính: bậc THPT với 01 trường và bậc THCS với mạng lưới các trường trải rộng gần khắp các huyện trong tỉnh Các trường này dành cho con

em các DTTS (từ 95% trở lên số HS là người DTTS, còn lại gần 5% số HS là người Kinh); HS được ở tại trường và được cấp kinh phí ăn, ở trong suốt quá trình học tập tại trường Trong phạm vi luận văn này, tôi chọn hai trường đào tạo bậc THPT là trường Phổ Thông Vùng Cao Việt Bắc (trực thuộc quản lý của Bộ GD&ĐT) và trường PT DTNT Thái Nguyên (trực thuộc quản lý của Sở GD&ĐT tỉnh Thái Nguyên) làm đối tượng nghiên cứu

 Trường PT Vùng cao Việt Bắc

Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc do Trung ương quản lí, là cánh chim đầu đàn trong hệ thống trường chuyên biệt này Trường được Khu ủy và ủy ban hành chính Khu tự trị Việt Bắc thành lập vào đầu năm 1957 (khi đó mang tên là Trường Thiếu nhi rẻo cao Khu tự trị Việt Bắc) Sự ra đời của Trường là thể hiện chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm tạo cơ hội học tập cho con em các DTTS vùng cao Đội ngũ thầy cô giáo, cán bộ, công nhân viên lúc đầu chỉ có hơn chục người với hơn 30 HS là con em các dân tộc Tày, Nùng, H’Mông, Dao, Sán chí, Bu-Y, ở 6 tỉnh của Khu tự trị Việt Bắc được tập trung về học theo chương trình phổ thông cấp I Quy mô trường lớp nhỏ, đơn sơ Từ tháng 9/1959 cùng với sự phát triển của trường thiếu nhi rẻo cao, ở Việt Bắc còn có trường Bổ túc Công nông đóng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Vào năm 1970, Khu ủy, UBHC Khu và Sở Giáo dục Việt Bắc nhận thấy mục tiêu đào tạo của hai trường là như nhau chỉ khác đối tượng tuyển sinh nên quyết định hợp nhất hai trường và lấy tên

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chung là Trường Bổ túc công nông và Phổ thông Vùng cao Khu tự trị Việt Bắc Đến năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước ta hoàn toàn giải phóng, khu tự trị Việt Bắc giải thể Ngày 9 tháng 7 năm 1976, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra quyết định số 1134/QĐ tiếp nhận nhà trường và ngày 12/3/1977 với quyết định số 134/QĐ Trường được đổi tên thành Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc cho đến ngày nay Cùng với sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, dưới sự chỉ đạo sát sao của Bộ GD&ĐT, trường đã cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đưa nhà trường vượt qua nhiều giai đoạn thử thách

để đứng vững và phát triển Từ sau năm 2002, quy mô đào tạo của nhà trường được giữ vững và phát triển cả về số lượng và chất lượng, CSVC ngày càng được củng

cố hoàn thiện theo hướng hiện đại, Bộ GD&ĐT tin tưởng do vậy giao thêm nhiệm

vụ dạy hệ Dự bị Đại học Dân tộc cho trường từ năm 2003 với chỉ tiêu năm sau cao hơn năm trước

Về thành tích đào tạo:

Hơn 60 năm qua đã giáo dục, đào tạo trên 14.000 HS là con em của 32 dân tộc thiểu số thuộc 21 tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra Trên 9.000 HS đã vào học ĐH,

CĐ (có 280 em học ở nước ngoài), số còn lại vào học THCN hoặc dạy nghề, một

số ít trở về làm việc tại địa phương và bổ sung vào đội ngũ cán bộ cốt cán của thôn bản Trong số các HS đã ra trường nhiều người trở thành lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, bác sỹ, kỹ sư, nhà giáo, nhà báo, nhà khoa

học góp phần xây dựng miền núi giàu mạnh

Về phần thưởng cao quý:

- Vinh dự đón 3 lần Bác Hồ về thăm (1960, 1962, 1964)

- 01 Huân chương Lao động Hạng Ba (1983)

- 01 Huân Chương Lao động Hạng Hai (1989)

- 01 Huân chương Lao động Hạng Nhất (1997)

- 01 Huân chương Độc lập Hạng Ba (2002) Nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước về thăm và làm việc tại trường

Ngày đăng: 20/12/2019, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Danh Ánh (2005), “Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông”, Tạp chí giáo dục, số 121 - 9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông”", Tạp chí giáo dục
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2005
2. Nguyễn Thị Ánh (2009), Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ Giáo Dục Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh
Năm: 2009
3. Đào Thanh Âm (2004), Lịch sử giáo dục thế giới, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục thế giới
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
4. Đặng Quốc Bảo (1999), Khoa học tổ chức và quản lý, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và quản lý
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
Năm: 1999
5. Đặng Quốc Bảo (2010), Những vấn đề cơ bản của hoạt động quản lý và sự vận dụng vào quản lý nhà trường, Đại học Quốc gia Hà Nội - trường Đại học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của hoạt động quản lý và sự vận dụng vào quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2010
6. Nguyễn Thanh Bình, Giáo dục một số kỹ năng sống cho HS THPT, Mã số B2005-75-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục một số kỹ năng sống cho HS THPT
8. Bộ Giáo dục và đào tạo (2000), Hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục - đào tạo, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục - đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
9. Bộ Giáo dục và đào tạo (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
10. Bộ giáo dục và đào tạo (2002), Chiến lược phát triển giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
14. Các Mác-Ănghen (1995), Tuyển tập II, NXB Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập II
Tác giả: Các Mác-Ănghen
Nhà XB: NXB Sự thật Hà Nội
Năm: 1995
15. Nguyễn Phúc Châu (2010), Quản lý nhà trường, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Phúc Châu
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2010
16. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003), Quản lý nhà trường, Tài liệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2003
17. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010), Đại cương khoa học quản lí, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lí
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
19. Nguyễn Đức Chính (2011), Chất lượng và quản lý chất lượng trong giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - trường Đại học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng và quản lý chất lượng trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2011
22. Phạm Tất Dong (1989). Nghề nghiệp tương lai, giúp bạn chọn nghề. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp tương lai, giúp bạn chọn nghề
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1989
23. Phạm Tất Dong (2007). Hoạt động giáo dục hướng nghiệp 10. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục hướng nghiệp 10
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
24. Phạm Tất Dong (2007). Hoạt động giáo dục hướng nghiệp 11. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục hướng nghiệp 11
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
25. Ngô Thị Dung, Nguyễn Thị Hồng Nga (2009), “Xây dựng môn hình tư vấn học đường - Một tổ chức hỗ trợ học sinh, sinh viên học tập, lập nghiệp”, Tạp chí Tâm lý học (11/128) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môn hình tư vấn học đường - Một tổ chức hỗ trợ học sinh, sinh viên học tập, lập nghiệp”
Tác giả: Ngô Thị Dung, Nguyễn Thị Hồng Nga
Năm: 2009
26. Vũ Dũng, Từ điển tâm lý học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Nhà XB: NXB Giáo dục
27. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w