1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỷ yếu hội thảo GIÁO DỤC NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

418 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 418
Dung lượng 4,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận điểm “con người là thước đo của mọi sự”, “con người là kẻ làm luật cho chínhmình”, “con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” như quan niệm củamột số nhà tư tưởng th

Trang 1

1

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Thế kỷ XXI với những đặc điểm phát triển mang tính thời đại như: cuộc cách côngnghiệp lần thứ 4; sự phát triển của nền kinh tế tri thức; và đặc biệt là xu thế toàn cầu hóa

đã làm thay đổi mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Đối với Việt Nam, hầu hết các quan điểm chính sách đều cho rằng: sự thành công củacác chiến lược phát triển con người là nhân tố quyết định đến sự phát triển đất nước.Trong đó, giáo dục đóng vai trò then chốt để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao Nhiệm

vụ cốt lõi của giáo dục được xác định là: “cung cấp cho người học sự am hiểu và kỹ năng

để họ trở thành những công dân tốt, những con người có nhân cách”

Thực tế phát triển nhiều năm qua cho thấy, đang có những tác động đa chiều, phức tạp,ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ Điển hình làmột bộ phận thanh thiếu niên đang bị đe dọa bởi tình trạng bạo lực, sự gia tăng các tệ nạn

xã hội, áp lực và mất định hướng trong cuộc sống, thiếu ý thức đối với các vấn đề mangtính cộng đồng, xã hội Đứng trên quan điểm “tiếp biến” cũng cần phải thấy rằng, nhữngxáo trộn về hệ giá trị cũng đang diễn ra một cách mạnh mẽ Cụ thể, một số giá trị truyềnthống trước đây được đề cao bây giờ tỏ ra không còn thích hợp Một số giá trị mới nảysinh nhưng chưa có được vị trí ổn định đang là những thách thức không những đối vớibản thân thế hệ trẻ mà còn là thách thức đối với sự nghiệp giáo dục hiện nay

Xác lập các chỉ báo của một hệ giá trị nhân văn hiện đại; để sau đó đưa giá trị nhânvăn từ quan điểm lý luận vào thực hành giảng dạy có phải là một ý niệm hợp lý để giảiquyết các thực trạng đang diễn ra?

Trường đại học Duy Tân tổ chức hội thảo “giáo dục nhân văn trong giáo dục đại học”

cũng là một cố gắng để phần nào đó kiến giải cho câu hỏi lớn trên

Hội thảo đã thu hút hơn 120 bài viêt của các nhà khoa học ở cả 3 miền đất nước Trong

đó có 48 bài được Ban biên tập lựa chọn đăng in trong kỷ yếu Điều đó chứng tỏ sự quantâm sâu sắc, sự trăn trở của các nhà khoa học đối với thế hệ trẻ và công tác giáo dục nhânvăn cho thế hệ trẻ trong trường đại học hiện nay

Nội dung của kỷ yếu được chia thành 3 phần

Phần 1: Giá trị nhân văn & giáo dục nhân văn ở Việt Nam – Những góc nhìn Phần 2: Giá trị nhân văn trong các triết thuyết Đông – Tây và kinh nghiệm thế giới về giáo dục nhân văn

Phần 3: Giải pháp cho giáo dục nhân văn trong môi trường đại học Việt Nam.

Nhìn chung, các tác giả đã mang đến cho Hội thảo những ý tưởng mới mẻ nhất định,những đề xuất giải pháp hữu hiệu Chúng tôi hy vọng, những ý tưởng khoa học này sẽ góp

2

Trang 3

phần lớn vào việc định hướng giáo dục nhân văn trong các trường đại học ở Việt Namtrong thời gian sắp tới

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các tác giả đã quan tâm gửi tham luận đến Hội thảo

Vì khuôn khổ Kỷ yếu có hạn nên chúng tôi chỉ thể hiện được phần nào ý tưởng khoa họccủa các tác giả đại diện cho các vùng miền khác nhau của cả nước Xin hẹn những tác giảchưa được đăng bài trong một cuộc hội thảo khác

Cuối cùng, công tác biên tập chắc chắc còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sựgóp ý của các Tác giả

Ban biên tập

3

Trang 4

Phần 1: GIÁ TRỊ NHÂN VĂN & GIÁO DỤC NHÂN VĂN

Ở VIỆT NAM – NHỮNG GÓC NHÌN

4

Trang 5

GIÁO DỤC NHÂN VĂN: Ý NIỆM VÀ KIẾN NGHỊ

Huỳnh Như Phương

Đời sống kinh tế - xã hội đất nước ta đang phát triển, nhưng có lẽ đời sống vănhóa - tinh thần chưa đáp ứng được mong mỏi của người dân Những giá trị nhân văn đang

bị xét duyệt và thử thách Khi văn hóa - tinh thần không phát triển tương xứng, chưa nóitình trạng thụt lùi hay khủng hoảng, thì phát triển kinh tế - xã hội khó mà bền vững

Trường Đại học Duy Tân chứng tỏ bắt mạch được trạng thái xã hội hiện nay khi

tổ chức hội thảo “Giáo dục nhân văn trong giáo dục đại học” Như một lời hưởng ứng, bàiviết này xin nêu lên một vài suy nghĩ về ý niệm “giáo dục nhân văn” và một số kiến nghịnhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực quan trọng này

1 Ý niệm về giáo dục nhân văn

Hiện nay, khái niệm “giáo dục nhân văn” có thể gợi ra ba phương diện nội dung

có liên quan với nhau như sau:

Một, giáo dục nhân văn là giáo dục kiến thức, quan niệm và lịch sử của các môn

học thuộc lĩnh vực khoa học nhân văn (humanities) Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếnglatin “humanus” có nghĩa là thuộc về con người, có tính người Ở phương Tây, vào thờiPhục hưng (thế kỷ XIV-XVI), xuất hiện những học giả có kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ

và văn học Hy La, họ dành thời gian để khảo cứu và phổ biến tư tưởng của những tác giathời Cổ đại, như những triết gia thuộc phái Tự nhiên luận, phái Khắc kỷ, Socrate và cácmôn đệ… Những học giả đó chuyên tâm sưu tầm, chú giải, đối chứng để phục hồi các vănbản một cách khả tín nhất, từ đó dịch thuật và công bố rộng rãi những tác phẩm ấy, làmphục sinh những giá trị văn hóa nhân bản bị lu mờ dưới thời Trung cổ vốn xem thần giới

là trung tâm Từ đó các môn học nhân văn hình thành và phát triển như một khoa họcsong song và độc lập với thần học và kinh viện học

Ở phương Đông thời Cổ đại, Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Trang Tử, với

những trước tác Tứ thư, Ngũ kinh, Đạo đức kinh, Nam hoa kinh… đặt nền tảng không chỉ

cho giáo dục nhân văn mà cho toàn bộ nền giáo dục và học vấn của con người Ở ngã bađường của giao lưu văn hóa, một số nước Đông Á, trong đó có Việt Nam, chứng kiến cácbậc tiền bối tiếp thu và tích hợp cả giáo dục nhân văn của phương Đông và phương Tây

và để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá như hiện nay Đặt vấn đề nâng cao chấtlượng giáo dục nhân văn hàm nghĩa phát huy tinh hoa Đông Tây trong việc đào tạo cácmôn triết học, văn học, sử học, ngôn ngữ học, nghệ thuật học… Ngày nay giáo dục nhân

* GS – Trường ĐHKHXH & Nhân văn, TP Hồ Chí Minh

5

Trang 6

văn theo nghĩa này gần với thuật ngữ “giáo dục khai phóng” (liberal education), theo đómột số trường đại học đề cao việc giáo dục các môn nhân văn cơ bản cho cả sinh viênnhững chuyên ngành khoa học kỹ thuật, tự nhiên và kinh tế.

Hai, giáo dục nhân văn có thể hiểu theo nghĩa hẹp là quảng bá, giáo dục chủ

nghĩa nhân văn hay chủ nghĩa nhân bản (humanism) Trong thực tiễn văn hóa thờiPhục hưng ở phương Tây, xuất phát từ Ý, đã hình thành một trào lưu triết học, vănhóa, văn nghệ lấy con người làm gốc, xem đời sống con người là giá trị tối thượng,hướng đến việc giải phóng cá nhân khỏi sự đè nén về tinh thần và những ràng buộc về

tư tưởng của chế độ phong kiến, chủ nghĩa kinh viện và thần học Ki-tô giáo thời Trung

cổ Tuy mãi đến năm 1765, trong ngôn ngữ Tây Âu mới xuất hiện thuật ngữ

“humanism”, nhưng trào lưu này đã khởi phát từ cuối thế kỷ XIII và đạt thành tựu rực

rỡ suốt ba thế kỷ sau đó với những tác phẩm của I Dante, F Petrarca, G Boccaccio, L.Alberti, F Rabelais, T Tasso, W Shakespeare…

Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở châu Âu ra đời trong điều kiện kinh tế phátđạt, thị trường được hình thành, hệ thống giao thông mở rộng, khoa học - kỹ thuật và côngnghệ phát triển dẫn đến những thay đổi và cải cách về mặt văn hóa, tư tưởng và tôn giáo.Những làn sóng khoa học, nghệ thuật và văn chương đã di chuyển theo những con đườngmới, nối liền những trung tâm kinh tế vừa xuất hiện Đây là kỷ nguyên của những phátkiến khoa học và những khám phá nghệ thuật lớn lao Nhờ nghiên cứu và tranh luận, conngười tin rằng có thể tự mình tìm ra chân lý mà không cần sự trợ giúp của một đấngthiêng liêng nào

Trong tất cả những sự khám phá ấy thì quan trọng nhất là sự khám phá về chínhcon người Những chuyến du hành giúp con người mở rộng nhãn giới, đồng thời cũngnhận ra những giới hạn của bản thân mình Với tất cả sự ưu ái và tôn trọng, con ngườiphát hiện ra vẻ đẹp của tâm hồn cùng lúc với vẻ đẹp của cơ thể như một bộ phận của tựnhiên và cần được phát triển theo quy luật tự nhiên Nếu triết học của thời Trung cổ làthần học, nghiên cứu và tôn vinh Thượng đế; thì triết học của thời Phục hưng là chủ nghĩanhân văn, nghiên cứu và tôn vinh con người

Dần dần, trên đà phát triển của văn hóa, thuật ngữ “chủ nghĩa nhân văn” khônggiới hạn trong trào lưu chống Thần quyền thời Phục hưng mà mở rộng ngoại biên cho cảnhững hệ thống tư tưởng khác biệt cùng nêu chủ trương, trên lý thuyết, đề cao giá trị conngười, thương yêu và bảo vệ con người Theo ý nghĩa đó, người ta nói đến chủ nghĩa nhânbản/ nhân văn Nho giáo, chủ nghĩa nhân bản Phật giáo, chủ nghĩa nhân bản Ki-tô giáo,chủ nghĩa nhân văn Mác-xít, chủ nghĩa nhân văn hiện sinh… Tuy nhiên, trong thời hiệnđại, đứng trước nguy cơ một cuộc khủng hoảng toàn diện về môi trường sinh thái, những

6

Trang 7

luận điểm “con người là thước đo của mọi sự”, “con người là kẻ làm luật cho chínhmình”, “con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” như quan niệm củamột số nhà tư tưởng thời Cổ đại, Phục hưng và Khai sáng không còn có sức thuyết phụcnữa và người ta đang nói đến một chủ nghĩa nhân văn sinh thái luận, trong đó đề cao sựcộng đồng tồn tại của các tạo vật thiên nhiên mà con người chỉ là thành viên.

Ba, giáo dục nhân văn, còn có thể hiểu là giáo dục tinh thần, lối sống nhân văn,

nhân ái và nội dung này thấm đẫm trong toàn bộ nền giáo dục của đất nước, từ bậc mầmnon đến bậc đại học Giáo dục nhân văn chính là dạy làm người ở đời theo một triết lýgiáo dục nhất định Theo tinh thần đó, giáo dục nhân văn kế thừa và đổi mới những giá trịvăn hóa truyền thống của dân tộc, xét thấy vẫn còn thích hợp với thời nay Đó là:

- Đề cao đạo lý nhân nghĩa, uống nước nhớ nguồn, cách đối xử tình nghĩa giữa người

và người; kế thừa triết lý nhân ái của Nho giáo, từ bi của Phật giáo, bác ái của Ki-tô giáo

- Quan tâm đến những con người bình thường, nhất là những con người khốn cùng,đau khổ vì bất hạnh hay bị áp bức, bóc lột; góp phần bênh vực, giúp đỡ, cứu vớt đồngbào, đồng loại trong cơn hoạn nạn

- Thể hiện sự khoan dung, khoan hòa trong cuộc sống; tìm kiếm sự hòa giải và hòahợp giữa con người với môi trường thiên nhiên, cá nhân với gia đình, tập thể, cộng đồng;xóa bỏ hận thù và xung đột giữa các thành phần dân tộc; thể tất đối với những lầm lỡ củacon người

- Coi trọng năng lực và hạnh phúc cá nhân; tôn vinh và phát huy những sáng kiến

và sáng tạo của những tài năng trong các lĩnh vực sản xuất, kinh tế, khoa học kỹ thuật,văn học nghệ thuật

- Thấm nhuần tinh thần dân chủ trong những quyết định liên quan đến đời sốngcộng đồng; không áp chế và gò ép tha nhân vào khuôn khổ cứng nhắc; thực hiện sự bìnhđẳng giới và bình đẳng giữa các thế hệ, các tộc người; tôn trọng những tiếng nói khác biệt

về chính kiến, quan niệm sống

Những nội dung giáo dục nhân văn nói trên có liên quan đến tất cả các môn học (tựnhiên, xã hội, nhân văn…), góp phần nâng cao phẩm cách văn hóa của dân tộc, phẩm cáchcủa người học cũng như người dạy học Giáo dục nhân văn, như vậy, là một nỗ lực chung củatoàn hệ thống giáo dục, thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa nhà trường và xã hội

1 Mấy kiến nghị về giáo dục nhân văn trong trường đại học

Trong thế kỷ XX, sau hai cuộc thế chiến, trên thế giới xuất hiện nhiều tổ chức vàhoạt động liên quan đến giáo dục nhân văn Liên đoàn đạo đức và nhân văn quốc tế thànhlập ở Amsterdam năm 1952; các Hội đoàn hay Phong trào nhân văn Hoa Kỳ, Anh, Bỉ, HàLan, Ấn Độ… lần lượt ra đời Họ xuất bản các tạp chí định kỳ, các tuyển tập tiểu luận, tổ

7

Trang 8

chức những hội thảo về các chủ đề: Truyền thống nhân văn, Chủ nghĩa nhân văn và vănhọc nghệ thuật, Quan hệ con người như là nền tảng của văn học nghệ thuật…

Giáo dục nhân văn là một sự nghiệp bền bỉ, kiên trì cần sự tham gia của toàn xãhội, trong đó nhà trường đại học giữ vai trò nòng cốt Trước thực trạng xã hội hiện nay,chúng ta không bi quan, sốt ruột hay hốt hoảng, nhưng cũng không được bàng quan, chậmtrễ Mỗi cơ sở đào tạo đều cần có chiến lược và chương trình của mình góp phần vào sựnghiệp giáo dục nhân văn

Dù đào tạo ngành nghề gì, mỗi trường đại học cũng cần có chương trình giáodục khai phóng (liberal education) của mình như một cách vận dụng sáng tạo chươngtrình giáo dục đại cương (general education) của Bộ Chương trình này lâu nay gặpphải mâu thuẫn sau đây: sinh viên ba học kỳ đầu học dàn trải những môn chung màkhông thật thiết thực với ngành nghề, làm giảm hứng thú và ảnh hưởng thời lượngdành cho chuyên ngành Khó khăn ở đây không chỉ về thời gian mà còn về tổ chứcgiảng dạy, khi những môn học nhân văn (Cơ sở văn hóa Việt Nam, Dẫn luận ngôn ngữhọc, Tiếng Việt thực hành, Mỹ học đại cương…) thiếu những giáo trình cập nhật, thiếugiảng viên có uy tín Trong khi đó, chương trình giáo dục phổ thông không chuẩn bịcho học sinh kiến thức và suy nghĩ nền tảng về tâm lý học, đạo đức học, logic học nhưnhà trường ở các nước tiên tiến

Nhà trường đại học hiện nay phải bù đắp vào khoảng trống đó, không chỉ cho cácsinh viên sư phạm, khoa học xã hội và nhân văn mà còn cho sinh viên các ngành khác.Một hệ thống chương trình các môn nhân văn, có thể là bắt buộc hay tự chọn (nhiệm ý) làcần thiết, chẳng hạn tâm lý học và đạo đức học để bồi dưỡng y đức cho các thầy thuốctương lai; mỹ học và nghệ thuật học cho các kỹ sư xây dựng; lịch sử nghệ thuật và lýthuyết sinh thái luận cho những người làm du lịch… Nhà trường cũng nên có chươngtrình sinh hoạt ngoại khóa mà sinh viên tham dự tự do, để mời các diễn giả có uy tín nóinhững vấn đề về đạo đức nghề nghiệp, về sứ mạng của giáo dục, về những hiện tượngmới trong văn hóa, nghệ thuật…

Giáo dục nhân văn sinh động và hiệu quả không chỉ là hoạt động học thuật, sách

vở Nó còn có thể triển khai bằng những sinh hoạt điền dã, thực tế, thể nghiệm Là cơ sởđào tạo trên mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, Trường Đại học Duy Tân có thể tạo điều kiệncho sinh viên tiếp cận kho tàng văn hóa dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng; tìm hiểu sâucuộc đời và sự nghiệp của Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Phan Châu Trinh, Huỳnh ThúcKháng, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Nhất Linh, Phan Khôi…; tham quan nhà lưu niệmcủa các bậc danh nhân ấy; tổ chức những chuyến đi dã ngoại về Hội An, Mỹ Sơn, dọcsông Thu Bồn lên Hòn Kẽm Đá Dừng, đến Huyện Tây Giang dự lễ hội tạ ơn rừng của

8

Trang 9

người Cơ Tu… Giáo dục nhân văn như thế sẽ truyền cho sinh viên tất cả các ngành tìnhyêu quê hương đất nước cụ thể và sâu sắc.

Riêng các ngành chuyên khoa học xã hội và nhân văn, các môn học nhân văn cần

đi vào chiều sâu theo tinh thần đối thoại và so sánh văn hóa Học lý luận và lịch sử cácngành học (triết học, văn học, sử học, văn hóa học, ngôn ngữ học, nghệ thuật học…) nên

là học những lý thuyết, quan niệm, trào lưu đối thoại với nhau trên đường đi tìm chân lý.Những trường đại học chấp nhận duy trì các chuyên ngành nhân văn là chấp nhận thửthách của những lợi ích trước mắt để khai thác những tinh hoa quá khứ mà dự phóng chonhững giá trị mới của ngày mai

Hơn mười năm trước, Drew G Faust, hiệu trưởng Trường Đại học Harvard, phátbiểu: “Bản chất của một trường đại học là trách nhiệm độc nhất vô nhị của nó với quákhứ và tương lai, chứ không chỉ đơn giản với hiện tại […] Một trường đại học vừa nhìn

về phía trước, vừa nhìn lại quá khứ theo những cách bắt buộc phải mâu thuẫn với mốibận tâm và đòi hỏi nhất thời của công chúng Trường đại học cam kết với sự vô thờihạn, và những sự đầu tư này sẽ tạo ra mùa gặt mà chúng ta không thể dự đoán và thôngthường không thể đo lường được”1

Các khoa nhân văn ở các trường đại học lãnh sứ mạng đào tạo những con ngườilàm gạch nối giữa cổ điển và hiện đại, giữa truyền thống và cách tân, giữa văn hóa dân tộc

và văn minh nhân loại Do sự đánh giá và đãi ngộ của xã hội, những người này đang suygiảm vị thế và sản phẩm tinh thần của họ nhiều khi không đủ sức chống đỡ trước cơn xâmthực của chủ nghĩa duy lợi Nhưng nghĩ cho cùng, nếu không có những khoa đào tạo này

và những con người được đào tạo này thì đại học Việt Nam có gì khác với đại học nướcngoài và có còn xứng đáng là đại học Việt Nam?

Trong một trường đại học và cả một nền đại học, những khoa nhân văn này khôngphải là để trang điểm mà để tạo thành hồn cốt của nền giáo dục Thậm chí, nếu nhữngkhoa này kiệt sức thì cả nền giáo dục với định hướng và mục tiêu cao cả của nó khó thểphát triển bền vững Nhìn vào hướng đi của các khoa nhân văn, người nghiên cứu lịch sửgiáo dục có thể dự đoán được nhà trường đại học đang đi về đâu, đang phục vụ ai cũngnhư có thể hình dung được hình ảnh và số phận tương lai của nó

Trang 10

hóa suy đồi; khi khoa học tiềm ẩn nguy cơ phá hủy quy luật tự nhiên (thủy điện phá hoạimôi trường, sinh sản vô tính, chỉnh sửa gien người…) thì lại có tiếng báo động, như lờicảnh báo của F Rabelais năm trăm năm trước: “Khoa học mà không có lương tâm chỉ là

sự tàn lụi của tâm hồn” Giáo dục nhân văn trở thành niềm hy vọng cứu chữa những vếtthương và nỗi thống khổ của con người

Tác dụng của máy móc càng trở nên quan trọng trong xã hội công nghiệp và hậucông nghiệp, thì giáo dục nhân văn càng trở nên bức thiết Đó là nơi phát ra tiếng gọi củalương tâm và lương tri nhân loại Qua giáo dục nhân văn, có thể nhận thấy tầm vóc và sứcmạnh tinh thần của con người tự do, không xu thời, không nghiêng ngả và khuất phụctrước bất cứ quyền lực nào đi ngược lại những giá trị nhân văn

Giáo dục nhân văn có chiều sâu và hiệu quả sẽ giúp thế hệ trẻ tự định hướng chocuộc đời và hành động của mình, tự sáng tạo ra bản thân mình, đồng thời góp phần sángtạo một “hoàn cảnh có tính người” (Karl Marx) ngay trên đất nước quê hương mình

10

Trang 11

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ NHÂN VĂN

& CÁC MÔN HỌC LIÊN QUAN CỦA GIÁO DỤC NHÂN VĂN

Đoàn Văn Điều

1 Đặt vấn đề

Dự án Đánh giá Nghệ thuật Nhân văn và Tự do dựa trên tiền đề về bản chấtcủa giáo dục và mối quan tâm tất yếu - bản chất của đánh giá tốt Tiền đề dựa trên

sự khác biệt được tạo ra bởi John Rawls trong bài tiểu luận của ông “Hai khái niệm

về quy tắc” (1955) để đề xuất rằng có hai khái niệm về giáo dục mà chúng ta phảitham dự (Allen, 2016a)

Quan niệm đầu tiên coi giáo dục là một hệ thống các tổ chức được duy trì bởi mộtnhà nước cho các mục đích nhà nước thực dụng Các mục tiêu thực dụng phổ biến nhấtcủa thực tiễn xã hội này bao gồm duy trì công dân dân chủ, sản xuất lực lượng lao động

và canh tác các mệnh lệnh kinh tế Quan niệm thứ hai về giáo dục liên quan đến các hành

vi giảng dạy cá nhân được tiến hành trong các tổ chức và trong đó một cá nhân tìm cáchthúc đẩy sự phát triển ở một tổ chức khác Trong trường hợp này, các mục tiêu không thểmang tính thực dụng, mà là tìm cách phát triển cá nhân vì mục đích riêng của mình (ngay

cả khi kết quả cũng đóng góp cho mục tiêu xã hội đó hoặc cho các mục tiêu thực dụng của

2 Phương pháp nghiên cứu

* GS, TS – Trường ĐH Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

1 Danielle Allen, Chris Dean, Maggie Schein, Sheena Kang, Melanie Webb, and Annie Walton Doyle.

(2016) Understanding the Contributions of the Humanities to Human Development: A Methodological

White Paper The HULA Research Team Project Zero, Harvard University.

http://creativecommons.org/licenses/by/4.0/ , tr.9

11

Trang 12

Phương pháp nghiên cứu trong bài viết này là phương pháp nghiên cứu thư viện(Library Research).

3 Giải đề

3.1 Một số khái niệm về nhân văn:

Dưới đây là một số quan điểm về nhân văn:

Thuật ngữ “nhân văn” bao gồm, nhưng không giới hạn ở việc nghiên cứu và giải thích những điều sau đây: ngôn ngữ, cả hiện đại và cổ điển; ngôn ngữ học; văn chương; lịch sử; luật học; triết học; khảo cổ học; tôn giáo so sánh; đạo đức; lịch sử, phê bình và lý thuyết về nghệ thuật; những khía cạnh của khoa học xã hội đó có nội dung nhân văn và sử dụng các phương pháp nhân văn; cũng như nghiên cứu và ứng dụng nhân văn vào môi trường con người, đặc biệt chú ý đến việc phản ánh di sản, truyền thống và lịch sử đa dạng của chúng ta và sự liên quan của nhân văn với điều kiện hiện tại của đời sống dân tộc 1

Theo định nghĩa này, nhân văn bao trùm gần như tất cả các lĩnh vực liên quan đếncon người về những môn học liên quan về con người, môi trường đời sống quá khứ vàhiện tại của dân tộc

Nhân văn làm phong phú sâu sắc cả cuộc sống riêng tư và cộng đồng dân sự của chúng ta Các chương trình nhân văn cộng đồng giúp chúng ta hiểu các vấn đề xã hội phức tạp thông qua nhiều lăng kính của các ngành học diễn giải như lịch sử, văn học và triết học Thông qua các ngành nhân văn, chúng ta trau dồi kỹ năng tìm hiểu, phân tích, phản ánh, đánh giá và trò chuyện Nhân văn tăng cường mối quan hệ giữa con người, giữa quá khứ và hiện tại, và giữa chủ nghĩa duy tâm và hành động Các ngành nhân văn cung cấp một khuôn khổ để kiểm tra cách chúng ta suy nghĩ, những gì chúng ta coi trọng

và ý nghĩa của con người Các chương trình khuyến khích xem xét chu đáo những câu hỏi này và cung cấp bối cảnh lịch sử, xã hội và triết học để làm điều đó là cốt lõi của nhân văn công cộng 2

Nhân văn làm cho chúng ta hiểu biết, trau dồi kỹ năng về giao tiếp với ngườikhác, tăng cường các mối quan hệ giữa con người quá khứ và hiện tại để có nhữngứng xử phù hợp

1National Foundation on the Arts and the Humanities Act, 1965, as amended (the U S Congressional Act that created the National Endowment for the Humanities) Defining the Humanities – A work in Progress (2001) The Humanities Council of Washington, DC, tr.6.

2 Philip W Martin (2003) Key aspects of teaching and learning in arts, humanities andsocial sciences Chapter 20 tr.300-303

12

Trang 13

3.2 Một số đặc điểm của nhân văn:

Nhân văn có một số đặc điểm sau đây:

- Nhân văn mang tính tích cực và bao trùm nhiều nội dung khác nhau trong cuộcsống của con người;

- Thảo luận về việc dạy và học trong các lĩnh vực nhân văn luôn thừa nhận mức

độ biến động cao xuất phát từ khóa học cấu trúc phong phú Giảng viên ở những lĩnhvực nhân văn không nói cho người học biết suy nghĩ hay cách nghĩ; họ cố gắng khuyếnkhích sinh viên tự suy nghĩ và hiểu quá trình này như một cái gì đó hoạt động trong một

cơ sở học thuật rộng lớn Theo cách này, giảng viên và người học cùng tham gia vàoviệc xây dựng và sửa đổi các khối lượng tri thức, và trong nghệ thuật, theo cách songsong mạnh mẽ, các khối lượng thực hành

- Nhân văn có điểm chung tự hiểu mình là một nền giáo dục không được cấu trúcchủ yếu xung quanh việc truyền đạt các kỹ năng và năng lực, mà được chủ yếu cấu trúcxung quanh một loạt các cam kết với một khối lượng tri thức hoặc (trong trường hợp nghệthuật thực hành) một khối lượng thực hành

3.3 Giảng dạy nhân văn khác với giảng dạy các môn thông thường:

Có một số khác biệt giữa giảng dạy nhân văn và giảng dạy các môn thôngthường như sau:

- Khi tham gia học tập nhân văn, người học cần có: kiến thức, hoặc thực hành, cácphương pháp thông hiểu và sự hiểu biết về kỹ thuật (ví dụ, trong phân tích ngôn ngữ hoặc

dữ liệu, hoặc trong sự hiểu biết về các quá trình tạo ra các tạo tác)

- Chúng ta không thể sửa chữa trọng tâm giáo dục về kỹ năng, hoặc phạm vi cáckhả năng cần thiết để tiếp thu và thảo luận kiến thức trong giảng dạy truyền thống, nhưngchúng ta cũng không thể bỏ qua sự “tham gia” khối lượng kiến thức hoặc thực tiễn là khíacạnh chính của việc dạy và học trong nghệ thuật, nhân văn và khoa học xã hội

- Đối với một nền giáo dục nhân văn được hiểu chủ yếu không phải là truyền đạtkiến thức, cũng như truyền đạt các kỹ năng Thay vào đó, sinh viên và giảng viên cùngtham gia vào việc sửa đổi và tạo ra kiến thức Là một phần của quá trình này, “các kỹnăng” cũng được coi là các công trình, như các tác nhân quyết định mạnh mẽ trong việctạo ra và không tạo ra kiến thức

- Tất cả các môn học nhân văn hoạt động theo những cách đòi hỏi sinh viên yêucầu sinh viên tích cực, tham gia, vì thảo luận và tranh luận là nền tảng cho thực tiễn củacác môn học, nhưng điều này, bản thân nó, có thể gặp khó khăn Trong các lĩnh vực năngđộng như vậy, nơi các lĩnh vực công việc mới liên tục phát triển, do đó, điều quan trọng làphải xem xét cẩn thận làm thế nào sinh viên được hỗ trợ đầy đủ1

1 Philip W Martin (2003) Key aspects of teaching and learning in arts, humanities and13

Trang 14

Hỗ trợ cho sự phát triển của con người trở thành tiêu chuẩn cho tất cả những aiđang được giáo dục và soi sáng cách các khái niệm giáo dục và công bằng được đan xenmột cách cơ bản Để xác định những gì có thể liên quan đến việc đáp ứng cơ sở phát triểnnày, Allen (2016a) chuyển sang các lập luận của Hannah Arendt trong Điều kiện conngười (1958) Từ những ý tưởng về công việc, lao động và hành động của Arendt, Allen

có được bốn tiềm năng cơ bản của con người phải được kích hoạt để đạt được cơ sở nhânvăn Đó là:

- Tự chúng ta chuẩn bị cho công việc kiếm ăn được không bóc lột,

- Tự chúng ta chuẩn bị cho sự tham gia của công dân và chính trị,

- Tự chúng ta chuẩn bị cho sự tự thể hiện sáng tạo và tạo ra thế giới, và

- Tự chúng ta chuẩn bị cho các mối quan hệ trong không gian thân mật và giải trí Những tiềm năng này xác định cơ sở nhân văn cho giáo dục và phác thảo một sốyếu tố mà bất kỳ đánh giá giáo dục nào cũng phải tuân theo1

4 Giảng dạy nhân văn ở Việt Nam

Có thể nói, ở Việt Nam nhân văn được đề cập nhiều trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt,những thể hiện nhân văn trong thực tiễn cuộc sống rất rõ ràng Do đó, những nội dunggiảng dạy dưới đây cần thực hiện ở các trường đại học Việt Nam để đáp ứng nhu cầu đàotạo nhân lực cho đất nước một cách hiệu quả:

4.1 Đảm bảo đời sống tinh thần và vật chất của bản thân người học

Trong dân gian có câu: “Có thực mới vực được đạo” nói lên cơ sở vật chất củađời sống tinh thần Thoạt nghe thì rất đơn giản, nhưng trong thực tế tác động của ýtưởng này rất quan trọng Có một số ý tưởng cho rằng cứ trình bày tự do, dân chủ theo

lý thuyết thì người dân được thụ hưởng ngay Tuy nhiên, tự do, dân chủ cần có cơ sở vật

chất của nó Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trên báo Cứu Quốc ngày 21-1-1946: “Tôi chỉ

có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” là nói về cơ sở vật chất của tự do, dân chủ2

Thật vậy, khi con người có ăn, có học thì họ mới được tự do trong suy nghĩ và mới

có quyền quyết định về cuộc sống của bản thân và các mối quan hệ với người khác Nóicách khác, muốn làm một người đích thực, người học phải đạt được tiềm năng cơ bản của

con người trên cơ sở nhân văn là: “tự chúng ta chuẩn bị cho công việc kiếm ăn được,

không bóc lột” Như vậy, người học cần được định hướng về mục đích sống và mục đích

social sciences Chapter 20 tr.300-303

1 Sđd, tr.10-11.

2 Hồ Chí Minh Toàn tập NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T 4, Tr.161-162

14

Trang 15

học tập là chuẩn bị về sức khỏe tinh thần và thể chất để có thể làm việc, tự nuôi sống bànthân, không dựa dẫm người khác sau khi tốt nghiệp

4.2 Đảm bảo tự do và dân chủ cho người học sự tham gia của công dân và chính trị

Sống trong một đất nước, các thành viên cần ý thức tính cộng đồng, có trách nhiệmvới người khác, với nhân dân, với tổ quốc và với chế độ Ở Việt Nam, với tinh thần đoànkết của dân tộc, với truyền thống coi trọng mối quan hệ gia đình và xã hội, với tinh thầnđộc lập, người dân Việt Nam coi việc tham gia vào công việc xã hội là tất yếu Ngoài ra,người học cần rèn luyện các đặc điểm nhân cách phù hợp với yêu cầu của đất nước và xãhội, có một lối sống hài hòa và vị tha Do đó, người học cần đạt tiềm năng cơ bản của con

người trên cơ sở nhân văn là: “tự chúng ta chuẩn bị cho sự tham gia của công dân và

chính trị” và "tự chúng ta chuẩn bị cho các mối quan hệ trong không gian thân mật và lành mạnh” Nói cách khác, người học được chuẩn bị để tham gia vào xã hội như một

thành viên có trách nhiệm trong việc bảo vệ và xây dụng đất nước, tạo ra môi trường sốngtốt đẹp cho tất cả các thành viên trong xã hội, trong cộng đồng

4.3 Đảm bảo việc học tập hiệu quả cho người học

Có thể nói, học tập hiệu quả là sau quá trình học tập, người học đạt được những mụctiêu mà xã hội mong đợi Muốn học tập hiệu quả, người học phải tự học để tiếp thu tri thức,

kỹ năng và biến thành những năng lực trong nghề nghiệp, trong cuộc sống Hiện nay, những

kỹ năng tư duy bậc cao được đánh giá cao trong học tập cũng như cuộc sống Do đó, nhữngnội dung này cũng cần đưa vào chương trình học Khi thực hiện những hoạt động nêu trên,nhà trường có thể giúp người học cần đạt tiềm năng cơ bản của con người trên cơ sở nhân

văn là: “tự chúng ta chuẩn bị cho sự tự thể hiện sáng tạo và tạo ra thế giới”

Tóm lại, có thể hiện nay việc đào tạo ra những con người kỹ thuật để đáp ứng yêucầu của một xã hội công nghiệp là xu hướng chiếm ưu thế so với đào tạo con người trên

cơ sở nhân văn Tuy nhiên, về lâu dài, chúng ta cũng cần có chiến lược đào tạo con ngườitrên cơ sở nhân văn để có thể xây dựng một xã hội hạnh phúc hơn, con người hơn

15

Trang 16

ĐỊNH VỊ VAI TRÒ CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

SƯ PHẠM TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN Ở VIỆT NAM

Đặng Thế Anh, Tô Lan Anh, Ninh Quốc Huy, Sầm Diệu Quỳnh*

1 Giáo dục nhân văn Việt Nam từ góc nhìn lịch sử

Giáo dục nhân văn (GDNV) là những thứ trừu tượng trong giáo dục, bồi dưỡngtinh thần nhân văn và lĩnh vực giá trị đạo đức tinh thần Vì thế, nó hiển nhiên có nhữnghình thức biểu hiện khác nhau trong những thời kỳ lịch sử khác nhau1

Nhìn nhận lại sự phân kỳ lịch sử2, giáo dục nước ta nói chung, GDNV nói riêng,ngoài những đặc trưng còn chịu tác động rõ rệt của văn hóa phương Đông và yếu tốphương Tây Trước khi Nho giáo đến, người Việt đã biết “tự giáo dục và giáo dục” bằngchính hoạt động lao động, giao tiếp, ứng xử trong quá trình “sinh - dưỡng” liên tục từthấp đến cao những nhân tố chất người, tức là “quá trình cá nhân không ngừng tiếp biếnvăn hóa - văn minh nhân loại thành văn hóa - văn minh của riêng mình để trở thành mộtnhân cách phát triển cao.”3 Như thế, GDNV được xác định là lý tưởng cao nhất mà conngười mong muốn và hướng tới

Đáng lưu ý, nền cựu học truyền thống Nho giáo kéo dài gần một nghìn năm Bắcthuộc và chính thức kết thúc vào đầu thế kỷ XX4 Ở đây, Nho giáo chú trọng vào phươngthức giải thích nhân tính từ các thuộc tính đạo đức thông qua chính nghĩa, thành ý, tu thân

mà tu dưỡng đạo đức, để tề gia - trị quốc - bình thiên hạ Đây cũng chính là mục tiêu bồidưỡng của giáo dục Nho giáo Vì thế, GDNV đã thể hiện sắc thái giáo dục đạo đức rấtmạnh mẽ

Hơn 80 năm dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp, nền giáo dục của nước takhông mang đúng bản chất “khai hóa văn minh” như người Pháp nói mà thực chất đó làvăn hóa nô dịch Dĩ nhiên, đứng từ góc độ khác, mô hình giáo dục hiện đại từ phổ thôngđến đại học mà người Pháp đem đến nước ta cũng góp phần làm hình thành một hệ thống

* Th.S - Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn

1 Xem thêm: Nguyễn Ngọc Thơ, 2014, Giáo dục nhân văn xưa và nay, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa,

(2-tháng12), tr.19-29.

2 Trần Ngọc Giao (Chủ biên), 2019, Quản lý trường phổ thông, tập 1, Học viện Quản lý giáo dục, H

Tr.22-23 “Thời kỳ tiền sử: mang tính bản địa; Thời kỳ Bắc thuộc: tính bản địa và tính giao lưu (thời kỳ An Dương Vương - Triệu Đà); Thời kỳ Bắc thuộc (Phật - Lão - Nho): Hán hóa và chống Hán hóa; Thời kỳ độc lập Trung đại và Cận đại: đồng hóa, dung nạp, du nhập Hán học; Thời kỳ thuộc Pháp; Thời kỳ độc lập hiện đại”.

3Nguyễn Văn Huyên, 2017, Bản chất và nội dung giáo dục nhân văn đối với sự phát triển con người

hiện nay, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Lang, (6), tr.13-19.

4 Dấu mốc sự kết thúc là khoa thi hương cuối cùng vào năm 1915 ở Nam Kỳ và năm 1917 ở Trung Kỳ Nhưng trên thực tế, dưới thời thuộc Pháp, các nhà Nho vẫn tiếp tục mở trường dạy cho đến tận giữa thế kỷ XX.16

Trang 17

giáo dục Tây học hiện đại ở Việt Nam, và ngoài Pháp ngữ, người học cũng được họcnhiều tri thức và văn hóa, văn học và lịch sử, bản thân các khoa học này cũng có thể xem

là biểu hiện của nhân văn nhưng nó lại là hệ quả “không mong muốn”, nằm ngoài mụcđích của thực dân Pháp Cho nên xét đến cùng, ý nghĩa GDNV của nền giáo dục dưới chế

độ thống trị của thực dân Pháp là không có

Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (1945) cho đến nay, Việt Nam đã

nỗ lực xây dựng một nền giáo dục khoa học (GDKH) để tạo ra nguồn nhân lực “có trithức, có trình độ về khoa học kỹ thuật và năng lực làm chủ xã hội, xây dựng một xã hộimới - xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa.”1 Tuy nhiên, GDNV vẫn còn chứa đựng nhiềubất cập, chưa vững chắc như:

- Con người đạo đức được chú trọng hơn hơn con người tài năng;

- Chủ yếu tập trung vào con người kiến thức, thiên về lý thuyết, việc thực hànhchưa được đẩy mạnh, thiếu kĩ năng, hạn chế về tư duy sáng tạo;

- Mất cân đối trong phát triển mô hình lý tưởng “đức - trí - thể - mỹ”;

- Thiếu thống nhất, hài hòa trong sự kết hợp các khía cạnh quan hệ của con người Nói cách khác, bên cạnh việc “khôi phục” vai trò “làm người” của con người, pháttriển con người, hoàn thiện từ chính trong con người họ và nhấn mạnh đến tự do phát triển

cá tính theo nguyên tắc phát triển tự do của cá thể nhưng GDNV hiện nay vẫn đang chútrọng vào việc coi sự phát triển lý trí là mục tiêu cuối cùng của giáo dục

Hiện trạng ấy đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải có sự chuyển đổi tích cực thôngqua sự dung hòa giữa tinh thần khoa học và tinh thần nhân văn để làm dịu đi sự “trói buộc”,

“bóp méo” nhân tính - cái mà giáo dục cực đoan hóa khoa học, kỹ thuật gây ra cho conngười, qua đó đào tạo ra những con người toàn diện cho đất nước, hình thành một nền giáodục: công nghệ, thực học, thực nghiệp, phát triển giá trị từ người học2 Như vậy, tư tưởngcốt lõi của triết lý GDNV là hình thành được ở người học tình yêu con người, đánh giáđúng cả mình lẫn người, coi trọng năng lực thực của mình, có trách nhiệm cũng như hànhđộng cụ thể với quốc gia và cộng đồng

2 Tầm quan trọng của GDNV trong thế kỷ XXI đối với Việt Nam

Trong những cuộc tranh luận về giáo dục ở bất kỳ nơi nào trên trái đất này, một câuhỏi vẫn luôn được đặt lên hàng đầu trong ý thức tập thể của chúng ta là làm thế nào đểgiáo dục tốt nhất cho người học trong tương lai?

Các nhà giáo dục, phụ huynh, HS và các bên liên quan quan trọng khác đang tậptrung vào mổ xẻ hiện trạng giáo dục trên toàn quốc trong thế kỷ XXI với các tầm nhìn

1 Nguyễn Văn Huyên, 2017, Bản chất và nội dung giáo dục nhân văn đối với sự phát triển con người

hiện nay, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Lang, (6), tr.13-19.

2 Phạm Minh Hạc, 2012, Hình thành nền giáo dục nhân văn - công nghệ, thực học, thực nghiệp, phát

triển giá trị từ người học, Tạp chí Cộng sản, (838 -tháng 8), tr 61-64. 17

Trang 18

khác nhau nhằm đưa ra giải pháp cho một loạt những nghi vấn về nội dung, cách thức màchúng ta đã và đang làm để giáo dục người học có thể thích nghi và theo kịp tốc độ thayđổi của thực tiễn Như thế, khi trọng tâm của xã hội thay đổi thì sự tập trung và triết lý của

hệ thống giáo dục cũng phải thay đổi theo

Cân nhắc hướng đổi mới và phát triển kinh tế, công nghệ mang tính toàn cầu hiệnnay, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nỗ lực kiếm tìm những giải pháp phù hợp cho nhữngthiếu sót trong giáo dục Việt Nam, trọng tâm quốc gia của chúng ta đã chuyển sang pháttriển năng lực và ở đó, nhân văn là cần thiết trong các lớp học hơn bao giờ hết Bởi,GVDN củng cố cách tiếp cận các vấn đề toàn cầu; mở rộng nền tảng trí tuệ; dạy ngườihọc có phương thức, mục đích giao tiếp rõ ràng; giúp người học phát triển sáng tạo vànâng cao kỹ năng tư duy; dạy người học trở thành người giải quyết vấn đề, tạo ra nhữngcông dân và nhà tư tưởng để họ có thể tham gia, củng cố vai trò và giá trị của văn hóa,đạo đức xã hội; giúp người học hiểu được tác động của khoa học, công nghệ và y học, đến xã hội và tạo ra người học, học giả, cũng như nhà tư tưởng toàn diện

3 GDNV ở trường PT và trường ĐH

3.1 Mối liên hệ giữa trường PT với trường ĐH

Mặc dù, giáo dục ở các giai đoạn khác nhau sẽ đặt ra mục tiêu, nội dung và cáchoạt động giảng dạy khác nhau, nhưng một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh cần phát huyđầy đủ các mối liên kết giữa các giai đoạn giáo dục khác nhau, dựa trên mối tương quancủa các thành phần khác nhau và cùng thúc đẩy sự phát triển chung Để cải thiện tốt hơn

hệ thống giáo dục và thúc đẩy việc học tập và phát triển trong tương lai của mỗi ngườihọc, các nhà trường cần phải mở rộng chức năng giáo dục và liên kết hiệu quả các giaiđoạn giảng dạy khác nhau để đặt nền tảng cho giáo dục trong từng thời kỳ Và, mối liên

hệ giữa trường PT và trường ĐH là rất quan trọng Nó vừa ảnh hưởng tới quá trình họctập của người học, vừa tác động trực tiếp tới chiến lược phát triển và thương hiệu củanhà trường

Ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó qua sơ đồ sau:

Sơ đồ: Mối liên hệ giữa trường PT và trường ĐH,CĐ

Trường PT và trường ĐH được kết nối hữu cơ chặt chẽ với nhau trong hệ thốnggiáo dục trường học hiện đại Một mặt, trường PT là nền tảng và cung cấp người học chocác trường ĐH Chất lượng giáo dục ở trường PT cũng ảnh hưởng trực tiếp đến trường

ĐH Đồng thời, sự tồn tại và phát triển của trường PT cũng cung cấp nhiều cơ hội việc18

Trang 19

làm cho sinh viên tốt nghiệp từ các trường ĐH khối sư phạm Mặt khác, nhu cầu về sốlượng, chất lượng và loại hình cũng ảnh hưởng đến mô hình đào tạo giáo viên (GV) Ởđây, giáo dục của trường ĐH không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, cấu trúc, mụctiêu đào tạo và chương trình GDPT mà còn ảnh hưởng đến ý tưởng riêng, giá trị, bầukhông khí dư luận xã hội Trường PT và trường ĐH đều là những thực tế khách quan, sựtương tác giữa hai bên có thể tích cực hay tiêu cực, liên quan đến các chính sách và quyđịnh giáo dục của đất nước, cũng như ý tưởng và hành động của mọi người Nếu hiểuđúng và xử lý đúng mối quan hệ này sẽ tạo điều kiện tốt cho cả hai cùng phát triển, cũng

có nghĩa là hình thành được một hệ thống giáo dục phát triển toàn diện

3.2 Những vấn đề phải đối mặt của GDNV ở trường PT và trường ĐH

a) Trường ĐH cần xem xét mối quan hệ giữa họ với các trường PT

Như đã trình bày ở trên, giáo dục là một quá trình học tập liền mạch, trong đóGDPT với giáo dục đại học (GĐDH) là điểm kết nối quan trọng của quá trình này GDPT

là nền tảng của GDĐH Quá trình kết nối giữa chúng phải được thực hiện nghiêm túc, nếukhông bản chất của hệ thống giáo dục trọn đời sẽ có một điểm dừng Do đó, việc tăngcường kết nối này là một yêu cầu tất yếu để thực hiện khái niệm giáo dục trọn đời và thiếtlập một hệ thống giáo dục trọn đời Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, GDPT tương đối

“khó xử” với GDĐH, còn GDĐH thì có phần “thờ ơ” với GDPT Sự thiếu giao tiếp giữahai bên đã dẫn đến kết nối lỏng lẻo giữa giáo dục và giảng dạy1

Ở trường PT, vấn đề điểm số cao không tương ứng với năng lực thực của HS ngàycàng trở nên nghiêm trọng Hầu hết các trường vẫn áp dụng cái gọi là “giáo dục ưu tú”.Trong khi đó “giáo dục ưu tú” chỉ đơn giản coi HS như “cái kho chứa kiến thức” và bỏqua chính bản thân HS Đặc biệt, nhiều nhà GDPT coi kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng

là mục tiêu cuối cùng mà vô tình bỏ qua sự gắn kết có tính chất hữu cơ của giáo dục Bởivậy, việc trang bị kiến thức trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong những năm học phổ thôngcủa HS Điều này khiến nhiều HS không đứng vững trước những áp lực về tốc độ cậpnhật kiến thức Hơn thế, sự lặp đi lặp lại nghiêm trọng của chương trình, nội dung vàphương pháp giảng dạy cũ đã tác động mạnh đến việc sắp xếp hợp lý thời gian và sự nhiệttình của HS trong quá trình học tập Hiện trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thốngquản lý, hệ thống giáo dục, đào tạo giáo viên, khi những sinh viên có cảm giác không bắtkịp, thờ ơ ở những năm đầu học đại học, cao đẳng Như vậy, nó cực kỳ bất lợi cho sựnghiệp của họ và khiến cho mục đích giáo dục đang dần đi lệch khỏi dòng chính: “giáodục trọn đời”

1 Chỉ thể hiện rõ thông qua hoạt động thực tế cơ sở của giảng viên và thực tập sư phạm của sinh viên

Trang 20

b) GDNV cần xem xét vấn đề văn hóa Việt Nam và văn hóa thế giới (đặc biệt làvăn hóa phương Tây)

Thúc đẩy GDNV trong hệ thống giáo dục Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt vớimột loạt vấn đề mới GDNV nên tập trung vào truyền thống GDNV ở Việt Nam haytruyền thống GDNV của thế giới, đặc biệt là GDNV của phương Tây, còn gọi là giáo dục

“đa văn hóa” Chúng tôi thiết nghĩ giáo dục “đa văn hóa” sẽ đưa rất nhiều điều chưa đượckiểm chứng trong chương trình giảng dạy Các mô thức đào tạo như thế thì không nên đưavào ứng dụng vì nó sẽ không thực hiện được những thay đổi về mặt bản chất đối với mộtnền giáo dục Vì vậy, GDNV cần được triển khai một cách hài hòa, trên tinh thần kế thừatruyền thống GDNV ở Việt Nam, đồng thời tiếp nhận một cách có chọn lọc ưu thế củagiáo dục hiện đại thế giới

c) GDNV ở ĐH cần xem xét lại mối quan hệ giữa “khoa học xã hội và nhân vănvới khoa học tự nhiên”

Mối quan hệ giữa “Khoa học xã hội và nhân văn với Khoa học tự nhiên” hiện nay

đã phức tạp hơn rất nhiều so với trước đây Trong truyền thống, nó đề cập đến mối quan

hệ giữa văn học, lịch sử, triết học và toán học Nhưng bây giờ các khía cạnh của Khoa học

xã hội và nhân văn có nhiều sự khác biệt và thậm chí tồn tại cả mâu thuẫn nội tại giữachúng Chẳng hạn như: cả Khoa học nhân văn và Khoa học xã hội, xét từ một góc độ nào

đó mà nói, đều thuộc về cái gọi là “nghệ thuật”, nhưng giữa hai lĩnh vực này tồn tại rấtnhiều khác biệt Khoa học xã hội thường tập trung vào việc phân tích và giải quyết cácvấn đề của xã hội đương đại, trong khi sự phát triển của nhân loại không thể tách rời khỏi

sự hiểu biết về quá khứ Vậy GDNV trong các trường ĐH nên tập trung vào Khoa họcnhân văn hay Khoa học xã hội? Các nhà Khoa học xã hội có thể biện luận rằng các ngànhKhoa học nhân văn như Văn học, Lịch sử và Triết học hoàn toàn đã có trong chương trìnhdạy - học, còn các nhà Khoa học nhân văn thì cho rằng Khoa học xã hội phần nhiều đều là

sự “sao chép” từ văn hóa nhân loại và khó lòng tìm ra thứ gì của riêng họ Hai lĩnh vựcnày chắc chắn sẽ cần có một quá trình dài thỏa hiệp và hòa nhập lẫn nhau để dần dần hìnhthành một khái niệm hoàn chỉnh về GDNV trong các nhà trường

Còn, đối với Khoa học tự nhiên, các khía cạnh của nó không chỉ bao gồm khoa họcthuần túy mà có cả khoa học ứng dụng và khoa học kỹ thuật

Như vậy, nếu tổ chức giáo dục tổng quát thành các “môn học đại cương” hay mộtkhóa học sẽ vô cùng phức tạp và dễ bị trùng lặp với nhiệm vụ của GDPT; khó lòng đạtđược mục đích và hiệu quả của GDNV

d) GDNV phải xử lý mối quan hệ giữa học phần/môn học GDKH với GDNV trongthiết lập chương trình đào tạo, giảng dạy

20

Trang 21

Nhìn chung, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và các trường ĐH chủ yếu đềcập đến các mô hình giáo dục ĐH phương Tây trong việc thúc đẩy cải cách giáo dục ĐHbởi vì mọi người đều tin rằng hệ thống giáo dục ở đó rất chú ý đến GDPT Nhưng vấn đềphổ biến là chúng ta quá chú trọng vào hình thức và tập trung vào “mô phỏng” chươngtrình, hài lòng với việc chia cắt thành các học phần/môn học tự chọn, theo đuổi mục đích

là sự hoàn thiện cho các bộ môn nên bản chất của chúng được xem như các học phần/mônhọc thêm, phụ và hầu hết đó là “dệt hoa trên gấm” Nó dễ dàng trở thành một lớp để sinhviên trộn tín chỉ, hoặc nhiều nhất là để thỏa mãn tò mò với bộ môn ngoại khóa Trong khi

đó, học phần/môn học riêng biệt hoặc liên quan đến GDNV lại hoàn toàn vắng bóng

Nếu tiếp tục phát triển giáo dục ĐH theo cách này, những nỗ lực phát triển GDNVcủa chúng ta ở trường ĐH, cũng như ở trường PT chỉ là “sinh non” Sau 10 hoặc 20 nămnữa cũng chưa có kết quả khả quan

4 Làm thế nào để GDNV trở thành hoạt độn trọng tâm ở trường ĐH?

4.1 Xác lập tầm quan trọng của GDPT và phát triển GDNV ở trường ĐH

Xu thế chung của thế giới là phân GDĐH thành hai nhóm gắn với những mục đíchkhác nhau, bao gồm đại học nghiên cứu - đào tạo đội ngũ nghiên cứu, đội ngũ tinh anh vàđại học giáo dục thực hành - hướng đến đào tạo nguồn nhân lực theo xu hướng đáp ứngyêu cầu về nguồn lao động của các ngành nghề trong xã hội Do đó, các trường ĐH làmnhiệm vụ đào tạo GV luôn chú ý đến các vấn đề: chương trình, nội dung, phương pháp của GDPT nhằm trang bị hành trang tối ưu cho sinh viên sau khi tốt nghiệp Các trườngnày cũng nỗ lực cạnh tranh để thực hiện GDPT theo nhiều cách khác nhau nhằm làm nổibật đặc trưng của mình Nhưng, ở đó, hầu hết các nhà giáo dục đều bày tỏ sự thất vọngvới bầu không khí xã hội hiện tại và tin rằng cần phải tăng cường GDNV cho người học

Giáo dục không chỉ đơn thuần tập trung đào tạo kiến thức khoa học mà còn traudồi kiến thức nhân văn Sự mất cân bằng giữa GDNV với GDKH trong một thời gian dài

đã vô hình chung tạo ra một loạt các hiện tượng tiêu cực trong xã Vì thế, GDNV chính làmột phương thức khả thi để tăng cường tinh thần nhân văn và tư duy nhân văn cho conngười Đối với giáo dục, đặc biệt giáo dục ĐH phải được định vị rõ ràng trong hệ thốnggiáo dục quốc dân Nói cụ thể, GDĐH cần tổ chức lại các giá trị nhân văn của GDPT chosinh viên

Từ đó, chúng tôi cho rằng, ở nước ta, thứ còn thiếu ở các trường ĐH không phảigiáo dục tri thức mà là GDNV Nên việc điều chỉnh và phát triển GDNV để đào tạo ranhững con người “toàn diện” Bởi vì, những người được giáo dục toàn diện không chỉ làmột “con người tự nhiên”, “con người thể chất”, mà đó còn là “con người xã hội”, “conngười có lý trí”, “con người có văn hóa” và “con người có đạo đức” Do vậy, ngoài phạm

vi kiến thức, các nhà trường cần thừa nhận GDNV là học phần/môn học cần thiết trong21

Trang 22

giáo dục nghề nghiệp để giúp sinh viên thể hiện rõ ràng bản thân, thể hiện tư duy sáng tạo

và phê phán, thậm chí có thể phát triển phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp một cách hiệuquả

4.2 Phát triển hài hòa, thống nhất giữa GDKH và GDNV ở trường ĐH

GDKH và GDNV - “hai chiều kích của GDĐH”1 đều có giá trị lý luận và thực tiễncủa nó GDKH phát triển trí tuệ và tri thức của con người, giúp con người giải phóngnhân tính, thể hiện giá trị của họ trong quá trình chinh phục thế giới và để họ được khẳngđịnh Trên thực tế, về mặt ý nghĩa, nó chính là là cách thức thực hiện mục đích có bảnchất của giáo dục GDNV coi trọng hoàn thiện nhân tính, nỗ lực nâng cao giá trị đạo đứctinh thần của con người, để con người hiểu ý nghĩa và mục đích của nhân sinh Cả haiđiều này rất cần thiết cho một nền giáo dục Nếu chỉ coi trọng mục đích căn bản của giáodục hoặc chỉ coi trọng cách thức giáo dục thì đều rơi vào phiến diện, không thể hoàn thiệngiáo dục Hai điều trên bổ trợ cho nhau và không thể tách rời Sự phát triển không đều củahai loại giáo dục là do sự phát triển không đều của hệ thống tri thức nhân loại Chính vìthế, từ yêu cầu cần thiết đối với sự phát triển của xã hội, trong đó có cả giáo dục, nền giáodục Việt Nam phải thực hiện thống nhất GDKH và GDNV trên tất cả các cấp học trong hệthống giáo dục quốc dân

Trong bài viết Bàn về việc thống nhất giữa giáo dục khoa học và giáo dục nhân

văn (1995) trên Nghiên cứu Giáo dục đại học, tác giả Trương Ứng Cường có dẫn ra phát

biểu của học giả người Anh C.P (1957) tại ĐH Cambridge với tựa đề Hai nền văn hóa và

khoa học cách mạng như sau: “Ở phương Tây, chúng tôi phân tích xu hướng phát triển

của giáo dục trong tương lai Ý tưởng tích hợp GDKH và GDNV là cần thiết Sự tích hợpGDKH và GDNV không phải là hòa làm một, cũng không phải là định hướng lại mà đó là

sự kết hợp của hai loại hình giáo dục ở mức cao Đây là sự kết hợp toàn diện, là giáo dục

tư tưởng, giáo dục giá trị và chức năng giảng dạy Thay đổi cơ bản trong hệ thống giáodục và phát triển chương trình giảng dạy Dựa trên sự phát triển của khoa học và cácphương tiện để đạt mục tiêu”2 Nhà văn vĩ đại của khoa học lịch sử George Satton khẳngđịnh: “Mỗi loại hình học tập đều liên quan đến tự nhiên và nhân văn Nếu bạn chỉ ra ýnghĩa sâu sắc về khoa học nhân văn, biến chúng trở thành công cụ tốt nhất để giáo dục.Nghiên cứu khoa học, giảng dạy kiến thức khoa học và cung cấp đào tạo chuyên nghiệp

mà không có GDNV sẽ làm mất đi tất cả các giá trị giáo dục Nếu không có sự kết hợpcủa lịch sử, kiến thức khoa học có thể gây nguy hiểm cho văn hóa xã hội”3

1 Võ Tấn Quang, 2014, Giáo dục nhân văn cho sinh viên đại học, Tạp chí Dạy và học ngày nay, (10), tr

9-10

2 ,14 张 张 张, (1995), 论论论 论 论 论论 论论 论 论 论 论, 张 张 张张张 张, 张 54 张.

3

22

Trang 23

4.3 Lập kế hoạch phát triển GDNV

Đối tượng của giáo dục là con người Mục đích của giáo dục là giúp người đượcgiáo dục về nhân cách, kiến thức, kỹ năng và trí tuệ Cho nên, đối với sự phát triển toàndiện, bất kỳ cải cách giáo dục nào cũng phải trở lại nền tảng “định hướng con người” - nơi

để chúng ta có thể tìm kiếm giữa phát triển công nghệ và chăm sóc con người Và ở đó,GDNV sẽ làm cân bằng giữa phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục con người

Kế hoạch phát triển GDNV nên được phát triển từ góc độ rộng hơn, có thể tạo rakết quả và đạt được những lý tưởng như:

(1) Quan tâm đến việc cải thiện môi trường văn hóa xã hội

Trong bất kỳ xã hội nào, mục tiêu cuối cùng của sự phát triển công nghệ không gìkhác hơn là cải thiện mức sống, tăng trưởng kinh tế và khiến cho đời sống văn hóa trở nênphong phú hơn Dĩ nhiên, xã hội ấy cũng cần đạt tới sự giàu có về tài nguyên tinh thần đểcon người đủ khả năng nhận diện, hưởng thụ, tái tạo các giá trị văn hóa xung quanh mình.Muốn vậy, việc giáo dục, bồi dưỡng những con người toàn diện, đa năng và nhân văn trởthành một đòi hỏi bắt buộc

Thêm vào đó, những năm gần đây, với sự đa dạng hóa của xã hội, cuộc sống củangười dân ngày càng trở nên phức tạp hơn mà chất lượng nhân văn của môi trường xã hộixuống thấp, tinh thần văn hóa đang đối mặt với sự mất mát chưa từng thấy Do đó, tráchnhiệm củng cố, cải thiện của tất cả chúng ta phải được quan tâm hàng đầu để làm thế nàotạo ra một môi trường văn hóa xã hội chất lượng cao

(2) Cam kết tạo ra bầu không khí nhân văn trong trường học

Các trường ĐH nên cải thiện môi trường GDNV của họ Trước tiên, các trường nêntạo ra một bầu không khí nhân văn Về việc nuôi dưỡng bầu không khí nhân văn, áp dụngquản lý hành chính nhân bản, thay thế trách cứ bằng thông cảm và khuyến khích Về mặtquản lý, thay thế sự kiểm soát bằng ủy quyền, phối hợp, tăng cường giao lưu, chăm sóc đểlàm cho không khí toàn vẹn và hòa hợp, làm cho trường học luôn ấm áp tình cảm Đây làcách tốt nhất để giáo dục con người

Trong bầu không khí này, Hiệu trưởng điều hành nhà trường có thể tích hợp cácmục tiêu của trường và nhu cầu của trường Cần có sự tương tác tích cực giữa Hiệutrưởng và giảng viên, giữa đồng nghiệp và đồng nghiệp để kích thích mọi người đều làmviệc chăm chỉ và hiệu quả, trong đó sự chuyên nghiệp của giảng viên phải luôn được tôntrọng Theo cách này, giao tiếp không có rào cản, quản trị dựa trên nguyên tắc dân chủ,hợp lý, sự nhiệt tình và hòa hợp giống như xây dựng một gia đình lớn đầy tính nhân văn

(3) Lập kế hoạch xây dựng môi trường nhân văn trong khuôn viên trường

Việc xây dựng môi trường GDNV cũng được biểu hiện qua cách bố trí khuôn viêncủa trường Điều mà mọi người đều nhấn mạnh về một không gian đẹp, cởi mở, nhân văn,

23

Trang 24

nghệ thuật Sinh viên được sinh hoạt và học tập trong một môi trường có tính “tương tác”cao, có cơ sở vật chất về thể thao, nghệ thuật và nghỉ ngơi Vì vậy, các nhà trường nênchú ý đến môi trường làm việc, môi trường sống và môi trường giảng dạy - học tập trongquy hoạch khuôn viên trường, cụ thể như:

- Phân phối hợp lý các tòa nhà hướng tới tính hiện đại và nhân văn

- Nguyên tắc của thư viện nên được đánh giá đầy đủ để nó trở thành một kho tàngkiến thức cho giảng viên và sinh viên

- Cách sắp xếp các không gian như mái hiên, hành lang, cầu thang nên kết hợpvới nghệ thuật

- Bảng thông báo nên được đặt tại nơi nhiều người và dễ quan sát

- Những nơi khác như lớp học nghệ thuật, lớp học âm nhạc, phòng học khiêu vũ nên được coi trọng và đầu tư phù hợp

(4) Thiết kế một các môn học GDNV cho sinh viên

Chúng tôi cho rằng con đường đến GDNV ở Việt Nam dựa trên thực tế là chưa cótích lũy và chưa có kinh nghiệm Vì vậy, chúng ta không nên thực hiện điều này màkhông có kế hoạch, không có thiết kế cẩn thận Các trường ĐH nên dựa trên khungchương trình đào tạo, thiết kế ít nhưng cẩn trọng với một số “môn học cốt lõi chung” làmbước đầu tiên Cần phải có đề cương và dần dần hình thành một khóa học hỗ trợ, thay vìlan man một khối lớn để có được nhiều khóa học tự chọn “giới thiệu chung” Ở đây,chúng tôi đề xuất bốn “nội dung cốt lõi” sau đây làm xương sống cho GDNV Mỗi nộidung nên để sinh viên năm nhất học trong hai học kỳ liên tiếp: 1 Lịch sử văn hóa ViệtNam; 2 GDNV Việt Nam; 3 Lịch sử văn minh thế giới; 4 GDNV thế giới

Ngoài ra, các hoạt động ngoại khóa là các khóa học kỹ năng mềm bên ngoàichương trình giảng dạy chính thức (từ góc độ GDNV, tầm quan trọng của nó không kém

gì chương trình giảng dạy chính thức) Trước tiên, trường có thể lên kế hoạch và mờinhững người xuất sắc trong và ngoài trường đến giao lưu với các chủ đề thú vị, để sinhviên có thể tận hưởng niềm vui của nhân văn và xã hội Thứ hai, khuyến khích sinh viêntham gia các hiệp hội khác nhau nhằm thúc đẩy tư duy cũng như khả năng lãnh đạo vàchăm sóc xã hội Thứ ba, thông qua các hoạt động diễn ra trên giảng đường hàng ngày đểthúc đẩy sinh viên làm việc nhóm và hỗ trợ lẫn nhau Tất cả những công việc này đềuhướng tới mục tiêu nuôi dưỡng, lan tỏa cảm xúc và tình yêu thương trong sinh viên

(5) Tăng cường chất lượng kết nối hữu cơ giữa trường PT với trường ĐH tronghoạt động GDNV

Thứ nhất, tăng cường kết nối và chia sẻ nguồn lực: Các trường ĐH có thể chia sẻ

nguồn tài nguyên phong phú phục vụ hoạt động giảng dạy cho các trường PT Và, cáctrường PT cũng có thể thường xuyên mời các giảng viên ĐH để hướng dẫn cho GV về lý24

Trang 25

thuyết giáo dục hiện đại và thực hiện các ý tưởng GDNV dưới dạng các báo cáo và bàigiảng GDNV có chất lượng.

Thứ hai, tăng cường đối thoại về nội dung và phương pháp GDNV: Hiện tại, nội

dung giảng dạy ở trường PT không đủ để đáp ứng việc GDNV ở trường ĐH sau khi HStốt nghiệp Thêm vào đó, phương pháp giảng dạy cũng tương đối đơn giản mới chỉ tậptrung vào kết quả kiểm tra làm cho việc áp dụng học tập khám phá, tự học ít hơn Vì thế,khóa học quản trị bản thân cho học sinh PT cần phải được cải thiện Ở đây, cần giảm bớtviệc dạy nội dung trùng lặp, đặc biệt là trong dạy học ở trường PT, để tăng tỷ lệ giáo dụcnăng lực, phẩm chất để học sinh có thể tự khám phá kiến thức, tự học kiến thức Trên cơ

sở nội dung của GDPT, thiết lập một hệ thống giảng dạy kỹ năng sống từng bước như xácđịnh → tìm hiểu → phân kỳ → giải quyết → đánh giá kết quả

Thứ ba, tăng cường trao đổi và hợp tác giữa hai bên và coi trọng việc đào tạo sinh viên

Các trường ĐH đảm bảo đào tạo nguồn nhân lực, trong đó có đội ngũ GV ở trường

PT, theo một định hướng nhất định nhằm thực hiện chiến lược giáo dục quốc gia Nhưng,

để đào tạo đội ngũ GV đáp ứng được nhu cầu thực tiễn GDPT, trước hết, các trường ĐHcần biết GDPT, trường PT thiếu gì về GDNV nhằm xây dựng chiến lược phát triển phùhợp và cung cấp “sản phẩm giáo dục” của mình một cách tốt nhất Còn, các trường PTcần song hành trong việc khảo sát, cung cấp các yêu cầu GDNV và chia sẻ kinh nghiệmcho các trường ĐH

Tiếp theo, GV ở trường PT cần tự học và nghiên cứu để từng bước trở thành một

“người làm sách”, “người làm kế hoạch”, “người cộng sự đắc lực” về phát triển chươngtrình GDNV với giảng viên các trường ĐH Thêm vào đó, hãy để những GV này đếntrường ĐH bồi dưỡng, tra cứu sách vở, mở mang đầu óc, cải thiện bản thân và xác địnhnhững thiếu hụt về GDNV ở trường PT bởi họ sẽ là chủ thể trực tiếp bổ khuyết cho HS ởtrường PT

Cuối cùng, các dự án GDNV ở trường PT do cho sinh viên thực hiện dưới sựhướng dẫn của giảng viên ĐH và tham gia cố vấn, hỗ trợ của GV trường PT chính là biệnpháp tăng cường mối liên hệ hữu cơ giữa trường PT và trường ĐH bền vững trong pháttriển GDNV Để làm tốt, ngoài sự định hướng về ý tưởng, đảm bảo chính sách, năng lựcgiảng viên và năng lực GV của hai bên là yếu tố thiết yếu Do đó, trong quá trình đào tạo

GV, các trường ĐH phải cho sinh viên liên tục có mặt ở trường PT, hiểu trường PT, biết

HS và lớp học ở trường PT nên như thế nào và biết những vấn đề tồn tại của GDNV ở phổthông hiện nay Như thế, sinh viên sẽ trở thành cầu nối tốt giữa trường PT và trường ĐH,qua đó hệ thống đào tạo GV - HS có thể thúc đẩy mạnh mẽ việc thiết lập hay tích hợp hệthống kết nối hữu cơ giữa các trường PT và ĐH

25

Trang 26

5 Kết luận

Sự chuyển biến mạnh mẽ được đưa lại từ bối cảnh cuộc cách mạng khoa học, côngnghệ, bối cảnh hội nhập trên thế giới một mặt tạo ra những cơ hội thuận lợi cho nền giáodục nước ta phát triển; mặt khác, nó cũng khiến cho khoảng cách kinh tế, giáo dục giữaViệt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng lớn, kèm theo nguy cơtụt hậu xa hơn và chứa đựng nhiều hiểm họa, đặc biệt là nguy cơ xâm nhập của những giá

trị văn hóa xa lạ làm xói mòn bản sắc dân tộc Hơn bao giờ hết, “đã đến lúc đất nước

chúng ta nhận ra rằng GDNV không chỉ là một thứ xa xỉ về mặt thẩm mỹ để được phục vụnhư một món ăn phụ trong hội trường của giáo dục , mà là một phần thiết yếu của mộtnền giáo dục toàn diện, phải bắt đầu từ những năm tiểu học và tiếp tục trong suốt cuộc đờicủa một người.”1

Bài viết này góp phần khẳng định GDNV phải được thực hiện đồng bộ trong cả hệthống giáo dục quốc dân ở nước ta Trong đó, chú ý định vị vai trò tiên phong và tổ chứclại các giá trị nhân văn cho sinh viên ở các trường ĐH Ngoài ra, làm rõ thêm mối tươngquan cũng như nhiều vấn đề cấp thiết được đặt ra giữa trường phổ thông với trường ĐHtrong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

1 Christine M Reiter, (2017), 21st Century Education: The Importance of the Humanities in Primary

Education in the Age of STEM, Senior Theses and Capstone Projects 65 Retrieved from

www.scholar.dominican.edu/senior-theses/65.

26

Trang 27

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ GIÁO DỤC NHÂN VĂN

TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Trần Đình Thích*

1 Nhân văn và một số khái niệm liên quan

Tìm ra một định nghĩa minh bạch cho một khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học xã

hội & nhân văn quả là rất khó Ở đây chỉ có thể đưa ra cái gọi là định nghĩa ấy thay bằngquan niệm của mỗi người Xin đơn cử một số quan niệm về các khái niệm như sau:

- Nhân văn: Nhân là người Văn là vẻ đẹp Nhân văn là những vẻ đẹp của conngười, đặc biệt là những giá trị tinh thần như trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phẩm cách…đềcao vẻ đẹp của con người

- Tính nhân văn: Là tổng hợp cách sống, cách cư xử, cách học, cách suy nghĩ, cáchgiao tiếp, lịch sử, truyền thống, tôn giáo, tâm linh của con người

Những đặc tính được xem là thuộc tính của nhân văn:

+ Có trí tuệ, có tri thức và có khát vọng vươn lên

+ Có tình yêu thương đồng loại, hiểu biết và quí trọng tự nhiên

+ Có văn hóa, biết tích lũy kinh nghiệm sống và phát triển chúng để trở thànhnhân văn

- Nhân đạo: Đạo lí phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của con người Khôngđược xâm phạm đến tính mệnh, thân thể, tự do về tư tưởng cũng như tình cảm củacon người

- Nhân bản: Lấy con người làm gốc Chủ nghĩa nhân bản là chủ nghĩa coi trọngcon người, luôn quan tâm đến mọi nhu cầu chính đáng của con người

Từ những quan niệm trên đây cho thấy giữa các khái niệm có những điểm tương

đồng được tích hợp lại trong các từ: Chân, Thiện, Mĩ Đó là cái Đúng, cái Tốt, cái Đẹp

2 Mục tiêu của giáo dục nhân văn trong nhà trường

- Giúp cho mọi thế hệ sinh viên (SV) có được nhận thức đúng để có hành vi đẹp vềgiao tiếp, ứng xử với nhau trong học tập, sinh hoạt ở nhà trường cũng như tất cả mọi môitrường xã hội khác nhau, với nhiều đối tượng khác nhau

- Thấm nhuần các giá trị nhân văn giúp cho SV có thái độ thân thiện, hòa hợp vớinhau, yêu thương nhau, có sự đồng cảm, chia sẻ, từ đó làm cho quan hệ giữa người với

người trở nên tốt đẹp hơn “Người yêu người sống để yêu nhau” (Tố Hữu) Làm cho không

gian văn hóa học đường ngày càng được trong lành tốt đẹp

* ThS – GVC Bộ môn Ngữ văn- Khoa Sư phạm – Đại học Cần Thơ 27

Trang 28

- Đích cuối cùng là phải giúp cho mọi người thấu hiểu, thấm nhuần được các giá trịnhân văn, làm cho nó trở thành nhu cầu, lẽ sống thật sự tốt đẹp, có sức cảm hóa, sức lantỏa sâu rộng trong xã hội, đẩy lùi, xóa bỏ tất cả những xấu xa, tiêu cực làm cho con người

và xã hội ngày càng văn minh tiến bộ, từ đó góp phần xây dựng nhân cách con người mớiViệt Nam xã hội chủ nghĩa

3 Từ những điều trông thấy…

Không gian văn hóa học đường vốn là không gian văn hóa trong lành đẹp đẽ, ấyvậy mà lâu nay đang bị ô nhiễm, bị vẩn đục bởi những vết nhơ được thải ra từ một sốphần tử thoái hóa phát sinh chính ngay trong nhà trường Có những vấn đề không chỉ làmđau lòng người trong cuộc mà còn gây nỗi bất bình, lo lắng cho cả xã hội Mọi người chắcphải rùng mình và hết sức kinh ngạc khi chứng kiến cảnh SV cầm dao rượt đuổi, đâmchém thầy, cô tại văn phòng Khoa Ngoại ngữ Trường Đại học Cần Thơ, rồi cảnh SV đangtâm tạt a xít vào mặt thầy giáo ngay trên bục giảng tại Trường Đại học Nông Lâm Thànhphố Hồ Chí Minh, đến cả những nữ sinh vốn hiền thục, xinh đẹp thế mà vẫn không chútrun tay đâm chém bạn, đánh đập bạn một cách tàn nhẫn Mới đây nhất (23/3/ 2019) lạixảy ra vụ một nữ sinh ở Hưng Yên bị một nhóm bạn xúm nhau đánh hội đồng rất dã man,lột quần áo rồi quay clip tung lên mạng xã hội Thật đau xót và khó hiểu nổi với cáchhành xử đầy tính bạo lực theo kiểu xã hội đen của một số phần tử HS, SV có chữ mà thiếunghĩa ấy Ngược lại cũng không phải không có những trường hợp thầy, cô giáo có nhữngcách hành xử phản giáo dục đối với HS, như phạt bằng cách cho các bạn trong lớp tát bạnmình 231 cái (cô giáo ở Quảng Bình), hay phạt học sinh bằng cách bắt uống nước giẻ laubảng (cô giáo ở Hải Phòng), những hình phạt quá nhục hình không thể chấp nhận được;rồi vấn đề gian lận trong thi cử, chuyện chạy trường, chạy lớp, chạy hạnh kiểm, chuyệnmua bằng, bán điểm, chuyện bằng thật, học giả… Chỉ mới đơn cử dăm ba trong muônvàn trường hợp tiêu cực đa dạng từ trước tới nay ở trong phạm vi trường học để thấy rằngtình hình đạo đức, văn hóa học đường đang có sự bất ổn, có vấn đề nghiêm trọng cần phảitìm ra nguyên nhân “bệnh hoạn” để có phương pháp chữa trị Vì sao lại có những scanđannhư vậy?

Mọi thiếu sót, yêú kém hay sai phạm trong nhà trường đều có nguyên nhân chủquan và khách quan

* Về khách quan: Cũng như mọi lĩnh vực khác trong xã hội, văn hóa học đường

cũng bị chi phối bởi những qui luật phát triển của thời đại Người ta thường qui về một

số nguyên nhân chủ yếu như: do tác động của khoa học công nghệ, do phim ảnh có tính

bạo lực, do văn hóa phẩm không lành mạnh, do chủ nghĩa thực dụng, do mặt trái của kinh tế thị trường … Rõ ràng tất cả những do “của lạ” ấy đều có sức hấp dẫn, sức lôi

kéo đối với mọi người, nhất là đối với giới trẻ, với những người thiếu bản lĩnh Nếu28

Trang 29

không có sức đề kháng tốt thì việc bị “vi rút” độc hại xâm nhập, gây bệnh hoạn, tàn phá

cơ thể là điều hiển nhiên

* Về chủ quan: Nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta không ngần ngại nói rằng do nhận

thức vấn đề chưa đúng, do chưa được mọi người quan tâm đúng mức nên ý thức xây dựngmôi trường văn hóa học đường chưa cao, những giá trị nhân văn chưa được coi trọng.Vấn đề tổ chức, quản lí, giáo dục từ gia đình đến nhà trường và xã hội chưa tốt Nhàtrường rất coi trọng việc trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mà lại quá xem nhẹthậm chí bỏ qua việc giáo dục giá trị nhân văn, văn hóa học đường Rõ ràng đã có sựphiến diện trong chương trình giáo dục và đào tạo

Thực tế cho thấy, lâu nay trong các nhà trường từ phổ thông đến đại học, dườngnhư rất ít trường hiện tốt khẩu hiệu, cũng là phương châm giáo dục mà tiền nhân đã nêu ra

từ xưa là “Tiên học lễ, hậu học văn” Hình như có nhận thức “Tiên học lễ” là dành cho các

bậc học ở mẫu giáo, phổ thông còn lên đến bậc cao đẳng, đại học thì xem như đã hoàn

thành chương trình học lễ nên chỉ tập trung cho việc học văn Vấn đề “Tiên học lễ” ở đại

học đã bị xem nhẹ, bị cho là lạc hậu, thậm chí có nơi, có lúc vô tình bị lãng quên

Hậu quả của việc quá coi trọng kiến thức, nhẹ đạo nghĩa cho nên con người thiếu

hàng loạt những phẩm chất làm người: thiếu cảm xúc, thờ ơ, vô cảm trước nỗi khổ đau,bất hạnh của người khác, thiếu dũng khí đấu tranh trước mọi bất công, nhìn đời bằng conmắt vị lợi Vì thế để đạt được mục đích riêng của mình, họ đã bằng mọi cách, mọi giá, sẵnsàng hành động một cách liều lĩnh, mặc dù biết đó là những việc làm sai trái, vi phạm đạođức, pháp luật Trong nhà trường tại sao lại xảy ra nào là những chuyện bạo lực, hành xửvới nhau theo kiểu xã hội đen, chuyện gian dối trong thi cử, chuyện chạy trường, chạyđiểm, chạy hạnh kiểm chuyện bằng thật, học giả …Như một hệ quả tất yếu, từ nhà trường

đã lan ra cả ngoài xã hội Qua các vụ đại án trong năm 2018 đã xét xử, thật đau lòng bởi

bị cáo đứng trước vành móng ngựa đều là những cán bộ cấp cao thuộc nhiều lĩnh vựccông tác khác nhau Có vị từng là giám đốc, tổng giám đốc các ngân hàng nhà nước, có vị

là chủ tịch, bí thư cấp tỉnh, thành, có vị là thứ trưởng, bộ trưởng, có vị từng là cấp tướngtrong quân đội, công an, có vị là ủy viên Trung ương Đảng, thậm chí có vị từng là ủy viên

Bộ Chính trị…Bọn họ đã phải nhận những bản án thích đáng Có vị phải ngồi tù 5 năm,

có vị 10 năm, có vị 20 năm, thậm chí có vị phải tù chung thân Lạ thay, những tội phạm

ấy không phải là những kẻ thất học, thiếu chữ mà sự học, bằng cấp, địa vị, chức quyềncủa họ thì lại hơn người Họ có đủ thứ mà người khác không có nhưng lại thiếu một thứrất cơ bản đó là đạo làm người

Điểm qua một số vụ việc “trông thấy mà đau đớn lòng” Nỗi đau này không của

riêng ai, nhưng đặc biệt với những người làm công tác giáo dục và đào tạo thì lại càng

nhức nhối hơn Vì sao lại xảy ra những “chuyện động trời” như vậy? Hơn bao giờ hết,29

Trang 30

vấn đề kỉ cương, tình thương, trách nhiệm trong nhà trường càng phải được đặc biệt coi

trọng và quan tâm đúng mức, phải xem xét lại nội dung chương trình, phương pháp giáodục của chúng ta lâu nay để tìm ra phương án tối ưu nhất cho Giáo dục & Đào tạo Đã đếnlúc phải gióng lên hồi chuông thúc giục (không còn báo động nữa) mọi người phải hành

động vì “một nền giáo dục nhân văn”

4 Đến những giải pháp cần quan tâm

4.1 Thiết kế chương trình tốt

Chương trình phải xuất phát từ chiến lược đào tạo con người mới Việt Nam pháttriển toàn diện Từ đó xác định rõ mục tiêu, nội dung, đối tượng, phương pháp và kếhoạch dạy- học thật cụ thể Đồng thời phải xuất phát từ thực tiễn văn hóa học đường củachúng ta lâu nay và việc tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến của thế giới, nhưng phảibiết kế thừa những giá trị nhân văn truyền thống nhằm giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc

Chương trình phải đáp ứng được mục tiêu đào tạo của từng bậc học, ngành học

Trong mỗi chương trình cần có sự tích hợp giữa các nội dung dạy chữ, dạy người, dạy

nghề một cách hợp lí, khoa học để đào tạo con người phát triển toàn diện Phải thông qua

quá trình đào tạo giúp cho người học phát triển tốt nhất về trí tuệ, về phẩm chất đạo đức,tâm hồn, tình cảm, nhân cách và kĩ năng nghề nghiệp Các môn học văn hóa ở phổ thông và

các học phần chuyên môn ở đại học phải có nội dung thật phong phú, hấp dẫn, tăng cường

thêm chất nhân văn để bồi dưỡng tư tưởng, tâm hồn đạo đức cho SV, giúp họ có được lòng

nhân ái, vị tha độ lượng, biết xúc cảm, đồng cảm, chia sẻ với nỗi khổ đau, bất hạnh củangười khác, tránh sự xơ cứng, chai lì, bị trơ về mặt cảm xúc.Từ đó có ý thức trong suy nghĩ

và hành động, biết tôn trọng và có ý thức giữ gìn bảo vệ những giá trị của “ chân, thiện,

mĩ”, đồng thời kiên quyết chống lại tất cả những gì xấu xa, ngang trái, bất công, phản lại

“chân, thiện, mĩ”

Ở đại học, bất cứ ngành học nào cũng phải có học phần Văn hóa giao tiếp Đó là

những bài học giao tiếp đa chiều giữa nhiều đối tượng ( GV; SV; GV- GV; CB- NV và ngược lại), giao tiếp trong nhiều môi trường (trong lớp, ngoài lớp, trongtrường, ngoài trường…), trong nhiều hình thức dạy học (chính khóa, ngoại khóa, sinhhoạt câu lạc bộ…) với những cách thức, tình huống ứng xử sư phạm khác nhau…Quan hệ

SV-giao tiếp và ứng xử sư phạm giữa GV và SV trong quá trình dạy học cần lưu ý là về mặt

đạo lí phải giữ phép “tôn sư trọng đạo” Nhưng về mặt khoa học cần thể hiện tính dân chủ bình đẳng để cùng nhau trao đổi, tranh luận trong những vấn đề chuyên môn, học

thuật nhằm rèn luyện năng lực tư duy độc lập, tính năng động, sáng tạo cho SV để không

bị gò bó, trói buộc, lệ thuộc, chấp nhận một cách khiên cưỡng Từ đó làm cho quan hệgiữa GV và SV trở nên gần gũi, thân thiết, hòa đồng, vừa thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau,đồng thời qua đó cũng thể hiện được sự gắn bó giữa truyền thống và hiện đại Khi làm tốt30

Trang 31

được những điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ Nội

dung kĩ năng sống cần được tích hợp trong các môn học chính khóa ở trường phổ thông (đạo đức, giáo dục công dân ngữ văn, lịch sử, địa lí…), thông qua các hoạt động ngoài

giờ của đoàn, đội Cần có các cuộc thi giáo dục kĩ năng sống, giáo dục pháp luật cho SV

để họ có được sự tự tin, có kĩ năng thiết yếu trong học tập, kĩ năng nghề nghiệp và khảnăng vận dụng sáng tạo để giải quyết “bài toán” thực tiễn cuộc sống

4.2 Xây dựng không gian văn hóa học đường tốt đẹp

Không gian văn hóa học đường là không gian văn hóa bao trùm toàn bộ mọi hoạtđộng phong phú, đa dạng trong nhà trường Đó là hoạt động dạy- học chính khóa, ngoạikhóa, sinh hoạt câu lạc bộ, vui chơi giải trí…Tất cả moị hoạt động đều phải có chuẩn

mực, phải có “Kỉ cương, tình thương, trách nhiệm” Kỉ cương trong nhà trường là phải biết “Tôn sư trọng đạo”, có nề nếp trong mọi hoạt đông dạy-học, sinh hoạt Tình thương, trách nhiệm gắn bó với nhau Thầy phải thương yêu trò, phải “Tất cả vì học sinh thân

yêu” Trò kính trọng thầy “bán tự vi sư”nhưng không tự ti, mặc cảm mà phải tạo được sự

thân thiện cởi mở Nhà trường cũng cần chú ý trang bị, giáo dục kiến thức pháp luật cho

SV để họ hiểu trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của người công dân Từ đó có ý thứcđiều chỉnh hành vi của mình theo khuôn khổ của pháp luật, góp phần làm cho nhà trường,

xã hội có kỉ cương, nề nếp, loại bỏ mọi cái xấu xa, phi đạo lý Phải làm sao cho người họccảm thấy đến trường là để được hít thở một bầu không khí trong lành, để hưởng thụnhững tinh hoa văn hóa tốt đẹp nhất, là nhu cầu, mỗi ngày vui khi được đến trường

4.3 Xây dựng chuẩn văn hóa ứng xử

Phải hình thành được thói quen giao tiếp, ứng xử có văn hóa cho SV Ông bà ta xưa

đã từng dạy rất kĩ lưỡng là “học ăn, học nói, học gói, học mở” Nghĩa là phải có ý thức cẩn trọng khi giao tiếp “ăn có nhai, nói có nghĩ”, biết chọn lời hay ý đẹp nhưng phải giản

dị, chân thành, trong sáng, dễ hiểu phù hợp với đối tượng làm cho lời nói có giá trị.Chống những lối nói thô tục, suồng sã, những thái độ, hành vi gây phản cảm, xúc phạmđến người khác Đồng thời cũng tránh lối giao tiếp hoa mĩ, cầu kì, khách sáo Nhà trườngphải dạy cho SV hiểu rằng, lời nói đẹp, chân thành, có thiện chí là được chắt lọc từ tâm

hồn trong sáng, nhân hậu của con người có văn hóa.

Trong thời đại ngày nay, việc mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác, hội nhập với thếgiới bên ngoài là một tất yếu Trong cuộc giao lưu ấy phải biết “gạn đục khơi trong” đểchắt lọc được những tinh hoa văn hóa nhân loại, bổ sung, làm phong phú thêm cho truyềnthống văn hóa dân tộc Cho dù thế giới có hiện đại, có tân tiến bao nhiêu chăng nữa thìchúng ta cũng phải giữ vững được cốt cách, bản lĩnh, bản sắc Việt Nam trong văn hóagiao tiếp, văn hóa ứng xử, vẫn hết sức coi trọng những giá trị nhân văn truyền thống

Trang 32

5.1 Coi trọng và làm tốt sự hợp tác trong giáo dục.

Giáo dục văn hóa học đường, giáo dục những giá trị nhân văn cho SV không nên

chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường mà còn phải mở rộng phạm vi hợp tác giáo dục từ

gia đình đến xã hội Ngay từ nhỏ, gia đình đã có vai trò rất lớn trong việc hình thành

nhũng giá trị nhân văn cho con cháu Ông bà, cha mẹ là những thầy cô giáo đầu tiên

hướng dẫn cách ứng xử có văn hóa cho con, cháu “Đi chào, về hỏi, gọi dạ, bảo vâng;

kính trên nhường dưới” một cách có lễ phép Bài học vào đời ấy sẽ được tiếp tục củng cố

và phát triển thêm với những nội dung phong phú, mức độ cao hơn ở các bậc học tiếptheo Ở bậc đại học, giáo dục những giá trị nhân văn cho SV không đơn giản như ở bậc

phổ thông, thông qua các môn luân lí, đạo đức, giáo dục công dân mà việc giáo dục những giá trị nhân nhân văn cần phải “tế nhị’ hơn, tích hợp trong các học phần chuyên

môn, nghiệp vụ nhất là các học phần có thế mạnh như trong khoa học xã hội và nhân văn Phải thông qua dạy chữ, dạy nghề để dạy người Nếu là lĩnh vực văn chương thì ưu thế ấy

lại càng vượt trội bởi “thông qua cái hay, cái đẹp trong các hình tượng nghệ thuật mà

giúp cho SV cảm nhận được biết bao những cái hay, cái đẹp khác nữa ở trong đó về tư tưởng, về tâm hồn, về lẽ sống” (Ý của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng) Đúng vậy con

đường đến với tư tưởng, tình cảm con người phải đi từ cái hay, cái đẹp, phải đi từ sự rungđộng thẩm mĩ, từ xúc cảm của trái tim Những giá trị thẩm mĩ đến một cách nhẹ nhàng, tựnguyện, tự giác, không áp đặt, gò bó nên nó ăn rất sâu, ở rất lâu trong trái tim, tình cảmcon người Cần lắm cho SV được thưởng thức nhiều bộ môn nghệ thuật hay và đẹp đểnâng cao thị hiếu thẩm mĩ cho họ Khi được bồi dưỡng, thấm nhuần những thị hiếu thẩm

mĩ đúng đắn thì con người sẽ trở nên cao thượng, thánh thiện hơn, bớt đi những nhỏ nhen,

ti tiện, ích kỉ, bớt đi những sai lầm trong cuộc đời Vì vậy, tất cả các bộ môn khoa học xãhội & nhân văn cần phát huy tối đa thế mạnh của mình Còn khoa học tự nhiên, khoa học

kĩ thuật tuy có khó hơn nhưng biết vận dụng vẫn có hiệu quả tốt bởi bất cứ lĩnh vực

chuyên môn nào, bất cứ người có học nào cũng phải tôn trọng và ủng hộ cái chân, cái

thiện, cái mĩ

Phải thấy rằng giáo dục giá trị nhân văn, văn hóa ứng xử là không hề giới hạn bởicấp học nào, bởi thời gian, không gian nào Nếu để ý, trong cuộc sống đời thường cũng có

biết bao những con người với những việc làm từ thiện đầy tính nhân văn Đó là “Nồi

cháo tình thương” phát cho bệnh nhân nghèo trong bệnh viện, là những phần quà cho

những học sinh nghèo vượt khó học giỏi, hay chỉ một dòng tin nhắn của một phóng viêntrên báo cần cứu giúp một con người khổ đau, bất hạnh nào đấy đã khơi dậy được lòng

nhân ái của rất nhiều người để “Lá lành đùm lá rách” thoát qua cơn hoạn nạn Nhiều lắm

“những tấm lòng vàng” ở ngoài đời Nếu biết khai thác, liên hệ khéo léo trong quá trình

dạy học thì sẽ nâng cao được nhận thức tư tưởng, lẽ sống cho HS, SV Rõ ràng giáo dục32

Trang 33

nhân văn cần phải được tiến hành ở tất cả các bậc học, ở mọi lúc, mọi nơi, tiến hành mộtcách đồng bộ, nhất quán, có nội dung, có kế hoạch, có phương pháp và thật kiên trì thì

mới có hiệu quả Nếu thiếu nhất quán sẽ xảy ra tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi

ngược” thì sẽ phản tác dụng Không thiếu trường hợp ở nhà, ở trường thì “con ngoan, trò giỏi”, ra ngoài xã hội lại vi phạm đạo đức, pháp luật Có người trước đây từng là người

đương thời nổi danh, nổi tiếng, có người là anh hùng nhưng sau đấy không lâu lại làngười tai tiếng, thậm chí là kẻ tội phạm Do đâu lại có những “chuyện thật như đùa vậy”?

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hậu quả này Tuy nhiên, một nguyên nhân hết sức quantrọng lại liên quan đến việc dạy người chưa tốt Do tình trạng giáo dục không đồng bộ,không nhất quán, thiếu sự giám sát chặt chẽ, thiếu luật pháp nghiêm minh Đạo làmngười, cái chữ tâm ấy phải được dạy dỗ, giáo dục từ trong cái nôi gia đình đến các nhàtrường phổ thông, đại học cho đến khi trưởng thành cũng phải nỗ lực tu dưỡng, rèn luyệnsuốt đời để mới có được cái chính danh, cái danh hiệu làm người chân chính Vì vậy sựliên kết, hợp tác trong giáo dục, đào tạo là điều tối cần thiết

5.2 Coi trọng đúng mức vai trò của giáo viên

Phải xác định rõ rằng người giáo viên ờ bất cứ môn học nào, bậc học nào, ngành

nghề nào cũng đều có khả năng làm tốt nhiệm vụ cao quí “trồng người” cho xã hội miễn

họ có đủ đức, đủ tài Giáo viên là người trực tiếp thực thi nhiệm vụ cao quí “Vì lợi ích

trăm năm trồng người” cho nên, họ trước hết phải là người chuẩn mực nhất về tất cả mọi

phương diện, là “tấm gương sáng” để truyền cảm hứng cho SV GV phải có đủ đức, tài đểlàm tốt vai trò người thầy của mình Đức là tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm thật

trong sáng, nhiệt huyết với nghề, yêu nghề mến trẻ, có tâm với nghề “Tất cả vì học sinh

thân yêu” Tài là phải có trí tuệ, có sự hiểu biết sâu rộng về chuyên môn, nghiệp vụ để

truyền thụ một cách tốt nhất mọi kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp Cáitài còn được thể hiện ở khả năng truyền được cảm hứng, khơi gợi được hứng thú, nhu cầu

ham hiểu biết và khát vọng cần hiểu biết cho SV Khi được “giác ngộ”, được thụ giáo đầy

đủ, họ lại có ý thức và mong muốn “gieo mầm” những giống tốt cho muôn đời sau Đó là

sự lan tỏa, bội thu trong giáo dục

Hiệu quả giáo dục lại càng to lớn hơn khi chúng ta biết phát huy thế mạnh của

giảng viên trong từng môn học, từng học phần trong việc dạy chữ- dạy người, dạy

nghề-dạy người nếu biết lồng ghép, tích hợp một cách khéo léo, có phương pháp.

Không được “ủy quyền, phó thác” toàn bộ cho GV ở những môn học có ưu thế hơn

như: Giáo dục công dân, văn, sử, địa ở phổ thông, hay các môn thuộc ngành khoa học xã hội & nhân văn khác như Văn học, Lịch sử, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Mĩ hoc, Triết học,

Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tâm lí học, Giáo dục học ở trường đại học Đành rằng ở các

33

Trang 34

môn học đó có phần ưu thế, nhưng nếu chỉ phó thác toàn bộ cho họ mà thiếu sự đồng tâm,hiệp lực của nhiều GV của nhiều môn học khác nữa thì chắc chắn kết quả sẽ không cao

Trong giáo dục, nhân cách của người thầy có ảnh hưởng rất lớn đến SV “Tôn sư

trọng đạo” sẽ giảm khi người thầy “có vấn đề” Chỉ cần khiếm khuyết một trong những

vấn đề thuộc về đạo đức, nhân cách của người thầy, hiệu quả của giáo dục sẽ bị giảm sút,thậm chí không có kết quả, phản tác dụng: tư tưởng lệch lạc, bảo thủ, cá nhân; lối sống bê

tha, buông tuồng; tư cách không đứng đắn… hoặc thiếu tâm huyết với nghề chưa thể “Tất

cả vì học sinh thân yêu”… đều là những điều phản cảm trong giáo dục Vì vậy, người GV

phải luôn luôn là tấm gương sáng để học sinh noi theo Nêu gương tốt, đó cũng là phươngpháp giáo dục rất hiệu quả không chỉ của người giáo viên trong nhà trường mà còn là củatất cả mọi người có tâm huyết và trách nhiệm đối với thế hệ trẻ, vì một xã hội nhân văn

KẾT LUẬN

Nhằm đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

nên việc đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng vừa

chuyên là một việc làm cấp bách, một thách thức lớn đối với nhà trường nhất là trong bối

cảnh chúng ta đang thực hiện đổi mới toàn diện nền giáo dục Để thực thi được mục tiêucao quí đó, đòi hỏi nhà trường phải giải quyết cả một hệ thống vấn đề từ nội dung chươngtrình đến sự phối hợp chặt chẽ trên tinh thần cộng đồng trách nhiệm cao và sự quyết tâm,bền chí giữa gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội khác, trong đó nhà trường phảiđóng vai trò chủ đạo và GV là người trực tiếp thực thi nhiệm vụ to lớn đó Vì vậy, vai trò,

trách nhiệm của người GV là cực kì quan trọng Công việc “Vì lợi ích trăm năm trồng

người” đòi hỏi người GV luôn phải phấn đấu học tập, tu dưỡng, rèn luyện suốt đời Nếu

dạy chữ, dạy nghề là thuần trí tuệ thì thì dạy người, dạy những giá trị nhân văn, đạo lí, lễnghĩa lại cần đến cả trái tim, tâm hồn, tình cảm, dạy bằng cả nhân cách của chính mình

Giáo dục nhân văn là “bài toán” khó có nhiều “ẩn số” phải được làm sáng tỏ đangcần trí tuệ và tâm huyết của các nhà giáo dục, nhà quản lí cũng như của tất cả mọi người

quan tâm đến sự nghiệp “ trồng người” cho đất nước.

34

Trang 35

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC

TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

và phức tạp như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, sự bất bình đẳng ngày càng giatăng giữa người giàu và người nghèo, căng thẳng trên trường quốc tế và nguy cơ xảy rachiến tranh…Nếu con người thấm đượm tình nhân văn như yêu hòa bình, yêu nhân loạithì thế giới sẽ trở nên công bằng, dân chủ, đầy tình hữu nghị và tốt đẹp hơn

Có một sự thật là sự suy thoái các giá trị nhân văn trong thời đại toàn cầu hóa đangdiễn ra ở quy mô toàn cầu Nhưng trong xã hội cụ thể như Việt Nam, các xu hướng lớnnày được thể hiện ra trong những dạng thức riêng Thực tế hiện nay, một số giá trị tốt đẹp

về phẩm chất, đạo đức, ứng xử văn hóa của một bộ phận sinh viên bị xuống cấp, có biểuhiện suy thoái, lệch lạc như có biểu hiện quay lưng và coi thường quá khứ, sống thờ ơ vôcảm, hời hợt và thực dụng, chỉ coi trọng những giá trị vật chất trước mắt, không quan tâmđến những giá trị đạo đức nhân văn là thực trạng đáng báo động Tác giả xin tổng kết một

số biểu hiện cụ thể:

- Đối với cha mẹ, thầy cô giáo, người lớn tuổi: Một số sinh viên có biểu hiện bất

hiếu với cha mẹ, vô lễ với thầy cô giáo Nếu như các sinh viên thế hệ trước gặp thầy cô là

“sợ”, luôn chào hỏi lễ phép và kính trọng thì hiện nay có một thực tế phũ phàng là chínhthầy cô mới là người “sợ” sinh viên Rất nhiều trường hợp học sinh, sinh viên xúc phạmthầy cô giáo, thậm chí là cả cha mẹ ruột trên trang mạng xã hội1 được dư luận phát hiện đãcho thấy sự suy thoái đạo đức của giới trẻ và là tiếng chuông cảnh báo cho tình trạng thiếu

tính nhân văn hiện nay Trong khuôn viên nhà trường, sinh viên tỏ ra ngoan ngoãn, lễ phép nhưng ngoài trường học, trên mạng xã hội thì có thái độ vô lễ, xúc phạm, thậm chí

có hành vi bạo lực đối với thầy cô giáo 2Một bộ phận giới trẻ đáng ra phải là chủ tương laicủa đất nước cũng tỏ ra thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm với gia đình, cộng đồng, thờ ơ,

* ThS, Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng – TP Hồ Chí Minh

1 Báo vnexpress.net đưa tin vào tháng 1/2013 về việc một nữ sinh ở Quảng Nam viết một “tuyên ngôn” kêu gọi đấu tranh chống lại cô giáo của mình

2 Theo kết quả khảo sát năm 2017 của Bộ GD&ĐT dành cho học sinh, sinh viên phổ thông và các trường đại học, có 20,3 % sinh viên tự nhận mình thường xuyên nói tục, chửi bậy. 35

Trang 36

vô cảm trước nỗi đau của người khác, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai trái, tiêu cựckhông dám đấu tranh Một loạt những video đánh hội đồng bạn học được tung lên mạnggây bức xúc cho xã hội không những vì sự biến dạng nhân cách của giới trẻ mà còn bởithái độ vô cảm đối với hành vi bạo lực học đường

- Đối với bản thân và bạn bè: Một số sinh viên đua đòi, chưa biết cách tiếp thu

chọn lọc văn hóa phương Tây, cách ứng xử không phù hợp với thuần phong mỹ tục ViệtNam, thích thể hiện sự nổi trội trước bạn bè; sống thực dụng, thiếu nghĩa tình và nhânvăn Một số ít sinh viên sa vào nghiện chơi điện tử, đam mê với cuộc sống ảo trênInternet, có hành vi bạo lực và hành xử thiếu văn hóa.1Một số sinh viên thường xuyênchia sẻ, bình luận dung tục, kì quặc trên mạng xã hội, truy cập vào các thông tin xấu độc,bạo lực, đồi trụy, có hội chứng “nghiện Internet”, chạy theo lối sống ảo, đôi khi bị lôi kéo,tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật thông qua môi trường mạng.2

- Đối với môi trường: Một số sinh viên chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi

trường xanh, sạch, đẹp trong trường học và cộng đồng, cụ thể là các hành vi viết vẽ bậylên tường, bàn ghế, xả rác bừa bãi, hái hoa, bẻ cành; nghiêm trọng hơn còn có hành độngphá hoại tài sản, cơ sở vật chất trường học và của công Mới đây, khi sinh viên của mộttrường đại học ở Hà Nội đăng tải lên mạng xã hội hình ảnh phòng học chứa đầy rác saukhi học xong đã nhận được rất nhiều tranh cãi, lên án của cư dân mạng về tình trạng xảrác bừa bãi, không có ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận sinh viên

- Đối với đất nước và cộng đồng: Giới trẻ hiện nay có xu hướng thu hẹp các giá trị nhân văn, thay thế các giá trị cộng đồng bằng giá trị cá nhân Trước đây, trong lịch sử

dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam xem

“làng”, “nước” là những giá trị thiêng liêng nhất, nguyện hi sinh tất cả để bảo vệ và gìngiữ Nhưng ngày nay, một bộ phận sinh viên Việt Nam có xu hướng coi quyền lợi cá nhân

và phần nào đó cuộc sống gia đình là giá trị lớn nhất, mục tiêu sống quan trọng nhất Mối

quan hệ tốt đẹp trong tình làng nghĩa xóm, tình cảm gia đình, bạn bè vốn là những thứtình cảm đặc trưng của người Việt được gìn giữ bao đời thì nay đã dần phai nhạt Với sựphát triển của công nghệ kĩ thuật, sinh viên dễ sa đà vào các cạm dỗ của trò chơi điện tử.Thống kê cho thấy có khoảng 39% thanh niên từ 16 đến 24 tuổi nghiện game3 Sinh viên

cũng nghiện mạng xã hội, ít giao tiếp, trở nên lạnh nhạt, vô cảm với người thân, bạn bè và

những nỗi khổ đau của đồng bào

1 Theo báo cáo của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, từ năm 2013 đến năm 2-15, đã xử lý hơn 2 500 vụ phạm pháp hình sự với 42.000 đối tượng Trong đó có hơn 75% là thanh niên và học sinh, sinh viên.

2 Theo một nghiên cứu của Trần Xuân Bách và Lê Thị Hường (2017), ‘A study on the influence of internet addiction and online interpersonal influences on health-related quality of life in young Vietnamese’, năm 2016 có 21% sinh viên nghiện Internet.

3 Theo thống kê của công ty Pokkt (Ấn Độ) năm 2015 trong bản báo cáo về “Sức mạnh của trò

Trang 37

Ngoài ra một nguy cơ nữa cũng đáng báo động là nguy cơ mất kí ức lịch sử, văn hoá và con người Việt Nam truyền thống.1 Tâm lí sinh viên khi học ở các trường đại học, cao đẳng là học kiến thức, kĩ năng nghề nên họ thường có xu hướng quên lịch sử,

cội nguồn dân tộc Bên cạnh đó, trong thời đại thế giới phẳng, sự quảng bá văn hóa củacác nước diễn ra mạnh mẽ Sự tiếp xúc văn hóa thiếu chọn lọc, thiếu ý thức tự trọng vănhóa khiến giới trẻ có tư tưởng vọng ngoại văn hóa Hàn, văn hóa Trung Quốc… ngượclại trở nên thiếu tri thức và hiểu biết về văn hóa Việt như nghệ thuật múa rối, các tài sảnvăn hóa phi vật thể…nên hành trang vào đời của sinh viên có phần thiếu hụt, lệch lạc cả

về hiểu biết và tâm hồn dẫn tới cách hành xử thiếu nhân ái, thiếu tầm nhìn nhân văntrong hoạch định công việc và nguy hiểm hơn là chảy máu chất xám, chảy máu nhân tài,

tự ti dân tộc, thiếu khao khát cống hiến cho dân tộc Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu vănhóa cũng như các bậc phụ huynh hết sức lo lắng trước xu hướng thần tượng “quá đà”các ca sĩ, diễn viên Hàn Quốc của con em mình Thông qua điện ảnh và sự truyền bá vănhóa Hàn Quốc, giới trẻ đã học theo phim Hàn Quốc một cách nhanh chóng như theo mốttóc nâu môi trầm, tóc vàng…dùng mĩ phẩm, thời trang và hàng hóa Hàn Quốc Có thờigian, sinh viên Hà Nội xôn xao trước những màn tỏ tình gây sốc ngay tại sân trường,khu kí túc xá theo kiểu Hàn Quốc hay nhiều bạn trẻ tìm kiếm những không gian lãngmạn kiểu Hàn Quốc, xa rời hiện thực.2

Những biểu hiện lệch lạc về chuẩn mức đạo đức nhân văn của sinh viên do nhiềunguyên nhân Bên cạnh các nguyên nhân khách quan như tác động của quá trình hội nhậpquốc tế, mặt trái của kinh tế thị trường, sự bùng nổ của công nghệ thông tin…còn cónguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía nhà trường

Hiện công tác giáo dục đạo đức, lối sống xây dựng văn hóa ứng xử trong cáctrường đại học chưa thực sự được chú trọng Một số trường đại học nhận thức sai về mụctiêu giáo dục đại học và cho rằng chỉ cần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao vềchuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu thời đại mới mà quên mất nhiệm vụ đào tạonguồn nhân lực có phẩm chất đạo đức, lối sống tốt Một bộ phận nhà giáo nhận thức chưađầy đủ về vị trí, vai trò và trách nhiệm của cá nhân trong việc giáo dục thế hệ trẻ, thiếu ýthức tự vươn lên, khả năng tự học, cập nhật thông tin, trau dồi kiến thức hạn chế; phươngpháp giảng dạy chậm đổi mới

Sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc xây dựng giá trịnhân văn cho sinh viên chưa đồng bộ Trong thời đại hiện nay, nhiều gia đình mải mê làmviệc, ít quan tâm con cái, phó mặc hoàn toàn cho nhà trường trong khi trường Đại học lại

1 Thống kê từ điểm thi các trường Đại học năm 2011 cho thấy điểm thi môn lịch sử ở hầu hết các trường thấp đáng lo ngại Hầu hết các trường, tỉ lệ thí sinh đạt điểm thi môn sử từ trung bình trở lên chỉ chiếm từ 0,3-5% Ở các trường địa phương, điểm thi môn sử càng đáng báo động.

Trang 38

chỉ đầu tư đào tạo kiến thức chuyên môn, ít chú trọng giáo dục giá trị nhân văn gây nên sựthiếu thống nhất trong giáo dục giá trị nhân văn cho thế hệ sinh viên hiện nay.

Bên cạnh đó, sự thiếu gương mẫu, ít quan tâm đến giáo dục đạo đức lối sống, trong

đó có văn hóa ứng xử của một số cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên trong các trường đạihọc, cao đẳng, của các bậc cha mẹ ở một số nơi đã ảnh hưởng không tốt đến việc xâydựng văn hóa ứng xử của sinh viên, gây lo lắng trong xã hội

2 Một số đề xuất

Để giáo dục giá trị nhân văn cho thế hệ trẻ trong đó có sinh viên không phải là mộtviệc đơn giản Đó là công việc hệ trọng đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên và cần có sựphối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội Như trên đãphân tích, trong thời đại công nghệ, những giá trị truyền thống cần phải được gìn giữ bởi

cả nhà trường và gia đình Nhà trường cần thường xuyên có sự liên hệ với phụ huynhthông qua việc tổ chức các cuộc gặp gỡ với phụ huynh hoặc gửi thư để trao đổi những vấn

đề học tập và phương pháp giáo dục giá trị nhân văn cho sinh viên Ngược lại, các bậc cha

mẹ cũng phải có sự quan tâm, giáo dục con cái, tránh tình trạng ỉ lại, phó mặc hoàn toàncho nhà trường

Trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng là phải đưa giáo dục nhân văn làmột trong những mục tiêu đào tạo của mình và hiện thực hóa mục tiêu trong từngchương trình đào tạo cụ thể Bên cạnh vai trò là một cơ sở đào tạo nghề thì trau dồinhững giá trị đạo đức và nhân văn cho thế hệ trẻ là một bộ phận hữu cơ quan trọng của

sự nghiệp “trồng nghiệp” Giáo dục nhân văn phải được thể hiện trong chuẩn đầu ra vàcần đề cao giáo dục nhân văn bên cạnh giáo dục năng lực Giáo dục năng lực mang tínhứng dụng thực tế, tập trung vào việc giải quyết vấn đề, tức là yêu cầu sinh viên ra trường

có thể làm việc được ngay, trong khi đó giáo dục nhân văn chú trọng vào việc đào tạonền tảng con người và phát triển con người Một số trường đại học đã bắt đầu ý thứcđược tầm quan trọng của giáo dục nhân văn và đưa vào trong mục tiêu, chuẩn đầu ra củanhà trường Chẳng hạn, trường Đại học Hoa Sen đặt ra mục tiêu trang bị cho sinh viênmột hệ giá trị giáo dục mới: Tự - Nhân – Trí – Dũng trong đó phát huy giá trị Nhân chosinh viên thông qua các chương trình Service – Learning, công tác thiện nguyện vì cộngđồng Nhà trường là đơn vị tiên phong ở Việt Nam có các chương trình đào tạo giúp sinhviên phát huy các kĩ năng mềm cần thiết trong đó có trách nhiệm xã hội Các trường đạihọc như Đại học Ngân hàng thường xuyên tổ chức các chuyến đi thiện nguyện để xâydựng lòng yêu thương con người cho các sinh viên của mình Từ những tấm gương nàycho thấy các trường đại học cần xây dựng một chương trình đào tạo một cách toàn diện,đưa một số môn học liên quan đến kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ứng xử Giáo dục nhân văntrở thành môn học chính thức để giáo dục sinh viên, đồng thời quán triệt quan điểm giáodục nhân văn đến toàn thể cán bộ giảng viên – những người trực tiếp đứng lớp và ảnh38

Trang 39

hưởng mạnh mẽ đến việc giáo dục giá trị nhân văn cho sinh viên Nhà trường cũng cần

tổ chức các cuộc hội thảo, chuyên đề và phát động nhiều phong trào làm việc tốt chosinh viên hưởng ứng và thực hiện Hiện nay các hội thảo về giáo dục giá trị nhân văn tạiĐại học Duy Tân, Học viện cán bộ TP HCM, các cuộc phát động sinh viên bảo vệ môitrường, làm việc tốt như tại Đại học Ngân hàng cần phải được thực hiện và nhân rộngnhằm tuyên truyền và tìm ra biện pháp giáo dục ý thức sống và phục vụ cộng đồng chođối tượng sinh viên tốt hơn

Hành vi ứng xử văn hóa là kết quả của quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, niềmtin của con người trong quá trình sống, học tập và lao động Cho nên để vun đắp hành viứng xử đạo đức trong sinh viên, giảng viên phải đưa việc giáo dục nhân văn trong từngbuổi giảng, phải biết tác động một cách phù hợp vào nhận thức, tình cảm, ý chí và hànhđộng của giới trẻ để họ từng bước nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, hình thànhniềm tin và có những hành vi ứng xử đẹp trong cuộc sống Chẳng hạn, trong các buổigiảng, giảng viên vẫn nên lồng vào giáo dục sinh viên những hành vi cư xử chuẩn mựcnhư: tôn trọng và lễ phép đối với thầy cô giáo và những người lớn tuổi, hòa nhã với bạn

bè, có ý thức bảo vệ môi trường, có tinh thần học tập để xây dựng và phát triển đấtnước…Bản thân mỗi giảng viên cũng cần là tấm gương sáng để sinh viên noi theo về ýthức trách nhiệm với công việc, tâm huyết với nghề và đặc biệt là lối sống lành mạnh,trong sáng, có đạo đức, cống hiến vì gia đình và đất nước, cộng đồng

Các trường cần có những biện pháp thích hợp nhân rộng, tuyên dương những hành

vi ứng xử đẹp của bạn bè, những tấm gương điển hình cùng trang lứa tuân theo các chuẩnmực, vừa phù hợp với văn hóa, đạo đức truyền thống của Việt Nam, vừa phù hợp với cácchuẩn mực của xã hội hiện đại để tác động lên nhận thức, tình cảm và nhất là khơi gợilòng tự trọng của họ; phát động các phong trào thi đua để hướng họ vào những hành độngtốt; tổ chức các Diễn đàn thanh niên nói về sống đẹp, sống có ích, sống có văn hóa Bêncạnh đó, cần có sự quan tâm đúng mức, hướng dẫn, giúp đỡ và tháo gỡ những khó khăn,điều chỉnh những hành vi ứng xử không đẹp nảy sinh trong quá trình sinh viên tham giavào những quan hệ xã hội

Các trường cần phải hướng đến một mục tiêu nhân văn hơn, đó là giáo dục “sựthấu cảm lịch sử” để mỗi con người hôm nay biết trân trọng, chia sẻ và thậm chí thươngcảm với tất cả những nỗ lực, gian khổ, hi sinh của cha ông để giữ cho dân tộc được trườngtồn và phát triển đến hôm nay Điều này có thể được thực hiện bằng cách tổ chức nhữnghoạt động về nguồn: tham quan bảo tàng lịch sử, những chứng tích chiến tranh; gặp gỡcác nhân chứng lịch sử; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử và chia sẻ cảm xúc củagiới trẻ về lịch sử, về những hành động nhân văn…

4 Kết luận

39

Trang 40

Giá trị nhân văn là những giá trị tốt đẹp liên quan đến phẩm chất con người cầnphải được gìn giữ phát huy trong mọi thế hệ, mọi thời đại Đặc biệt trong thời đại toàn cầuhóa với nhiều thách thức về việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc thì giáodục giá trị nhân văn cần phải được đặt lên hàng đầu để tạo ra những con người vừa tài vừađức, vừa giỏi chuyên môn nghiệp vụ vừa thấm đẫm tinh thần nhân văn tốt đẹp để trởthành những công dân có ích cho bản than, gia đình, đất nước và cộng đồng nhân loại Đểlàm được điều này, bên cạnh vai trò không thể thiếu của gia đình và xã hội, về phía cáctrường đại học, cao đẳng cần xây dựng các biện pháp cụ thể, thiết thực trong chương trìnhhọc và quán triệt nhiệm vụ giáo dục nhân văn của mỗi nhà giáo nhằm tác động vào tưtưởng, tình cảm của mỗi sinh viên về ý thức, trách nhiệm của bản thân trước gia đình và

xã hội

40

Ngày đăng: 20/12/2019, 05:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w