LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và nghiên cứu luận án với đề tài “Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai đoạn 1941 – 1969”, tôi luôn nhận được sự ủng h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Đinh Văn Đức
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Số liệu và kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố Trích dẫn sử dụng trong luận án đƣợc ghi rõ và chính xác về nguồn gốc
Tác giả luận án
Phạm Nguyên Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu luận án với đề tài “Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai đoạn 1941 – 1969”, tôi luôn nhận được sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của thầy cô, bạn bè Đây là đề tài tâm đắc và kết quả quá trình cố gắng học tập, nghiên cứu của bản thân
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới GS.TS Đinh Văn Đức, người thầy tâm huyết, người đã tận tình hướng dẫn và định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện luận án Thầy là tấm gương, là người đã dạy cho tôi sự nghiêm túc, cẩn trọng trong khoa học Thầy đã luôn luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và thực hiện bản luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, khoa Ngôn ngữ học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt trong quá trình học tập và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, cơ quan công tác đã luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án
Tác giả
Phạm Nguyên Nhung
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
BẢNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 5
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC SƠ ĐỒ 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Đóng góp của luận án 14
6 Bố cục luận án 15
Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 17
1.1 Tổng quan tình hình các nghiên cứu liên quan tới luận án 17
1.1.1.Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở ngoài nước 17
1.1.2 Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn trong nước 20
1.1.3 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh 22
1.2 Cơ sở lý luận có liên quan đến luận án 23
1.2.1 Cơ sở lý luận về diễn ngôn 23
1.2.2 Phân tích diễn ngôn 38
1.2.3 Quan niệm về giao tiếp của Roman Jakobson 45
1.2.4 Một số vấn đề về hành động ngôn từ 49
1.2.5 Cơ sở về phân tích diễn ngôn chính trị 52
1.2.6 Diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh 53
1.3 Tiểu kết chương 1 57
Chương 2 PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÓ NỘI DUNG KÊU GỌI CỦA CH Ủ T ỊC H HỒ CHÍ MI NH T Ừ BÌ NH DI ỆN TH ÔNG ĐI ỆP 59
2.1 Thông điệp ngôn từ 59
2.1.1 Thông điệp ngôn từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh 60
2.1.2 Nguyên tắc thông điệp trong diễn ngôn kêu gọi 61
Trang 62.2 Thông điệp từ diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh 67
2.2.1 Tính minh bạch của thông điệp kêu gọi 68
2.2.2 Các chủ đề lớn trong diễn ngôn kêu gọi 71
2.3 Cấu trúc diễn ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh 72
2.3.1.Cấu trúc chung diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh 72
2.3.2 Các kiểu cấu trúc diễn ngôn kêu gọi 82
2.4 Câu hô gọi trong cấu trúc diễn ngôn kêu gọi 84
2.4.1 Câu hô gọi 84
2.4.2 Vị trí câu hô trong cấu trúc diễn ngôn 87
2.4.3 Các từ dùng để hô gọi 88
2.5 Lập luận trong các diễn ngôn kêu gọi 90
2.5.1 Các kiểu lập luận trong diễn ngôn kêu gọi 91
2.5.2 Hiệu quả của lập luận trong diễn ngôn kêu gọi 95
2.6 Tiểu kết chương 2 97
Chương 3 PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÓ NỘI DUNG KÊU GỌI CỦA CH Ủ T ỊC H HỒ CHÍ MI NH T Ừ BÌ NH DI ỆN LI ÊN NHÂ N 99
3.1 Ngữ cảnh của diễn ngôn 99
3.1.1 Ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn kêu gọi 99
3.1.2 Ngữ cảnh văn hóa của diễn ngôn kêu gọi 100
3.2 Bình diện tác động của diễn ngôn kêu gọi qua phân tích mô hình chức năng của Roman Jakobson 101
3.2.1 Chức năng quy chiếu 101
3.2.2 Chức năng biểu cảm 103
3.2.3 Chức năng thơ 104
3.2.4 Chức năng kêu gọi 105
3.2.5 Chức năng duy trì sự tiếp xúc 106
3.3 Hành động ngôn từ tiêu biểu trong các diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh 107
3.3.1 Hành động ngôn từ trong diễn ngôn kêu gọi 107
3.3.2 Hành động kêu gọi 109
3.3.3 Hành động khuyên bảo 110
3.3.4 Hành động khuyến nghị 112
Trang 73.4 Chức năng liên nhân qua tình thái phát ngôn trong diễn ngôn kêu gọi của
Chủ tịch Hồ Chí Minh 114
3.4.1.Tình thái trong các diễn ngôn kêu gọi 114
3.4.2 Các phụ từ tình thái trong diễn ngôn 115
3.4.3 Các vị từ tình thái 116
3.5 Quyền lực phát ngôn thể hiện trong diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh 119
3.5.1 Quyền lực phát ngôn 120
3.5.2 Quyền lực biểu hiện qua chiến lược giao tiếp 121
3.5.3 Quyền lực biểu hiện qua cách thức xưng hô 129
3.6 Tiểu kết chương 3 135
Chương 4 NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP: PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÓ NỘI DUNG KÊU GỌI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH QUA BA SẢN PHẨM CỤ THỂ 138
4.1 Đặt vấn đề 138
4.1.1 Lý do lựa chọn 138
4.1.2 Giới thiệu về sản phẩm ngôn từ cụ thể 138
4.2 Diễn ngôn “Thư gửi kêu gọi tổng khởi nghĩa" 140
4.2.1 Ngữ cảnh tình huống 140
4.2.2 Cấu trúc diễn ngôn “Thư gửi kêu gọi tổng khởi nghĩa" 141
4.2.3 Hành động ngôn từ trong diễn ngôn “Thư gửi kêu gọi tổng khởi nghĩa"142 4.2.4 Lập luận trong diễn ngôn “Thư gửi kêu gọi tổng khởi nghĩa" 144
4.3 Diễn ngôn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” 145
4.3.1 Ngữ cảnh tình huống 145
4.3.2 Cấu trúc diễn ngôn Diễn ngôn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” 145
4.3.3 Hành động ngôn từ Diễn ngôn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” 147
4.3.4 Lập luận diễn ngôn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” 148
4.4 Diễn ngôn “Không có gì quý hơn độc lập tự do” 149
4.4.1 Ngữ cảnh tình huống 149
4.4.2 Cấu trúc diễn ngôn “Không có gì quý hơn độc lập tự do” 150
4.4.3 Hành động ngôn từ diễn ngôn “Không có gì quý hơn độc lập tự do” 152
4.4.4 Lập luận trong diễn ngôn “Không có gì quý hơn độc lập tự do” 153
Trang 84.5 Bàn luận về những sáng tạo, nét độc đáo trong phong cách cá nhân của
Chủ tịch Hồ Chí Minh 156
4.5.1 Tính chuẩn mực, giản dị 157
4.5.2 Dùng lối nói của quần chúng 157
4.5.3 Châm biếm, hài hước 158
4.5.4 Sử dụng thành ngữ, tục ngữ 160
4.6 Tiểu kết chương 4 164
KẾT LUẬN 165
DANH MỤC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 170
TÀI LIỆU THAM KHẢO 171 PHỤ LỤC
Trang 9BẢNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1 Phân tích diễn ngôn
(Discourse Analysis)
2 Phân tích diễn ngôn phê phán
(Critical Discourse Analysis)
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố trong mô hình của R.Jakobson 49
Bảng 1.2 Bảng tổng kết năm lớp hành động nói tổng quát của Searle 51
Bảng 2.1 Bảng thống kê diễn ngôn có câu hô gọi mở đầu 76
Bảng 2.2 Bảng thống kê số lượng câu hô gọi dùng để mở đầu diễn ngôn 76
Bảng 2.3 Bảng thống kê các kiểu câu kết thúc diễn ngôn 81
Bảng 2.4 Bảng thống kê số lần xuất hiện câu hô gọi trong diễn ngôn 85
Bảng 2.5 Bảng thống kê các từ, ngữ dùng để hô gọi 88
Bảng 3.1 Bảng thống kê phương tiện thể hiện hành động ngôn từ 108
Bảng 3.2 Bảng thống kê các phương tiện biểu hiện tình thái trong diễn ngôn 115
Bảng 3.3 Bảng thống kê từ dùng để xưng hô trong diễn ngôn kêu gọi 130
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cấu trúc diễn ngôn .34
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ giao tiếp của Roman Jakobson .46
Sơ đồ 1.3 Các chức năng ngôn ngữ của Roman Jakobson .47
Sơ đồ 1.4 Tổng hợp chức năng và yếu tố giao tiếp của R.Jakobson 48
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cấu trúc diễn ngôn kêu gọi .73
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Phân tích diễn ngôn (PTDN) là một chuyên ngành nghiên cứu mới so với các chuyên ngành khác của ngôn ngữ học song nó cũng đã đạt được những thành tựu nhất định cả về mặt lý luận cũng như thực hành Trong quá trình định hình, PTDN đã tiếp thu thành quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như ngôn ngữ học, ký hiệu học, tâm lý học, nhân loại học, xã hội học, văn học để dần dần hình thành một chuyên ngành nghiên cứu cách thức sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, một chuyên ngành có liên quan tới nhiều ngành khoa học khác nhau
PTDN là phân tích ngôn ngữ hành chức Nội dung cơ bản dùng phương pháp ngôn ngữ học phân tích các yếu tố ngôn ngữ và cách thức tổ chức, cách thức chức năng hóa của chúng Đối tượng của PTDN là ngôn ngữ hoạt động trong các ngữ cảnh
cụ thể Vì thế, khi tiến hành phân tích, mỗi một người nghiên cứu sẽ vận dụng những phương pháp khác nhau để tiếp cận đối tượng nghiên cứu Sự đa dạng trong cách tiếp cận vấn đề làm cho PTDN trở thành lĩnh vực hấp dẫn nhiều người nghiên cứu Hiện nay, xu hướng ứng dụng lý thuyết PTDN vào phân tích các sản phẩm ngôn ngữ, các kiểu loại diễn ngôn cụ thể đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Kết quả nghiên cứu đã cung cấp nhiều nội dung về ngôn ngữ xã hội, tư tưởng, văn hóa và xây dựng khung lý luận cho phân tích diễn ngôn
1.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những đóng góp tích cực, quan trọng cho tiếng Việt Di sản ngôn ngữ mà Hồ Chủ tịch để lại là nguồn tư liệu quý báu để khảo cứu trên nhiều phương diện Những từ ngữ, câu, hay cách tổ chức văn bản được Người lựa chọn sử dụng một cách có dụng ý rõ ràng nhằm phát huy tối đa hiệu lực
của ngôn từ và luôn đạt được mục đích Người luôn tâm niệm "khi nói, khi viết phải làm thế nào cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình"
Hồ chủ tịch luôn coi ngôn ngữ là công cụ hiệu quả để tuyên truyền, vận động, giác ngộ và làm thay đổi hành vi nhận thức của xã hội Người đã khai thác một cách hợp lý, uyển chuyển các phương tiện tu từ, các điển tích, điển cố trong kho tàng văn hóa dân gian phong phú, đa sắc màu để tạo nên phong cách riêng của mình, một phong cách chuẩn mực, trong sáng, giản dị mà gần gũi Ở mọi lúc, mọi nơi, Người
Trang 13luôn đưa ra những thông điệp ngắn gọn mà mạnh mẽ, với ngôn ngữ linh hoạt như một thứ vũ khí có sức công phá lớn để tuyên truyền, vận động, hướng tới và đạt được mục đích cao đẹp Bằng mọi phương tiện có được như tuyên truyền nhân dân, thư gửi, báo chí, đài phát thanh, bài nói trực tiếp với nhiều hình thức chính thức hay phi chính thức, Người truyền đi các thông điệp để đưa đến với người nhận một cách nhanh nhất, kịp thời nhất Vì thế, khi nhận xét về ngôn ngữ và các tác phẩm của
Người, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: "Văn phong của Bác đa dạng, nhiều sắc thái mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vào lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao" Có được phong cách
quần chúng và lối diễn đạt vừa sâu sắc, chuẩn mực lại vừa mộc mạc, giản dị đó là do Người đã thấu hiểu một cách sâu sắc tâm lý, ước vọng của nhân dân, thấm nhuần cốt cách văn hóa dân tộc cũng như nắm được xu hướng vận động của thời đại
Một số lượng lớn các tác phẩm trong di sản mà Hồ Chủ tịch để lại là diễn ngôn chính trị Chúng thuộc vào lĩnh vực chính trị, được hình thành trong ngữ cảnh chính trị Người ta thường cho là chúng khô khan và phức tạp Các diễn ngôn chứa đựng nội dung kêu gọi nói chung và diễn ngôn Lời kêu gọi nói riêng thuộc vào nhóm diễn ngôn chính trị Chúng mang nhiều màu sắc dấu ấn của ngôn ngữ cá nhân, phong cách cá nhân Do đó, khi tạo ra các diễn ngôn này, Hồ chủ tịch đã lựa chọn một lối diễn đạt đơn giản, linh hoạt và sử dụng ngôn từ thuộc phong cách khẩu ngữ hàng ngày quen thuộc với quần chúng, nhân dân
Các thông điệp mà Người gửi gắm qua các diễn ngôn chính trị cho tới nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự Đó là thông điệp về trách nhiệm cá nhân, về lòng yêu nước, về chiến đấu và lao động xây dựng đất nước Mặt khác, ngữ cảnh ra lời kêu gọi, vị thế của người đưa ra lời kêu gọi, quan hệ liên nhân của diễn ngôn, mối quan
hệ của các vai giao tiếp là những vấn đề cần có sự nghiên cứu và phân tích sâu hơn
Vì lẽ đó mà địa hạt này nhiều năm qua vẫn thu hút được sự chú ý trong nghiên cứu ngôn ngữ
Ngôn ngữ và diễn ngôn chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đề tài đã được khảo cứu qua nhiều năm trên nhiều phương diện khác nhau Với mong muốn tiếp tục khảo cứu, tìm hiểu di sản ngôn ngữ to lớn này, luận án đã chọn đề tài với tên gọi
"Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh (giai đoạn 1941 – 1969)" để nghiên cứu Chọn đề tài này, luận án muốn đưa hướng nghiên cứu của
Trang 14mình vào một địa hạt ngôn ngữ có sức lay động quần chúng mạnh mẽ, cũng như thể hiện sâu sắc nghệ thuật ngôn từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh Các công trình nghiên cứu thực hiện từ phương diện này chưa có nhiều và còn có nhiều điểm có thể khai thác trong các khảo luận
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1941-1969
Luận án đã khảo sát diễn ngôn có nội dung kêu gọi trong ba bộ tài liệu tổng hợp về các tác phẩm trong suốt quãng đời hoạt động cách mạng chính thức với vai trò nhà lãnh đạo cao nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh Qua kết quả khảo sát, số lượng diễn ngôn có chứa đựng hoặc ẩn chứa nội dung kêu gọi chiếm số lượng khá lớn trong tổng số sản phẩm ngôn ngữ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại Nhiệm vụ của luận án
sẽ phải nhận diện và phân biệt được đối tượng nghiên cứu này với các loại diễn ngôn khác
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án đã tiến hành khảo sát và lựa chọn được 152 diễn ngôn có nội dung kêu gọi, trong đó, Lời kêu gọi có 74 diễn ngôn, Thư tín có 56 và diễn ngôn có tên gọi khác có 22 diễn ngôn
Số lượng các diễn ngôn "Lời kêu gọi" xuất hiện nhiều trong giai đoạn từ năm
1945 – 1954, nhiều nhất là trong các năm 1945 – 1948 Tuy nhiên, không phải sự kiện nào, thời điểm nào Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dùng diễn ngôn Lời kêu gọi để thể hiện sự mong muốn người khác hành động, như năm 1957 nhân dịp kỷ niệm ngày 2 tháng 9 và sau chuyến đi thăm chín nước Hồ Chủ tịch đã viết một bài diễn văn chứ không đưa ra lời kêu gọi như các năm trước đó Trong thời gian đầu của giai đoạn 1941 – 1969, các diễn ngôn Thư tín chứa đựng cả nội dung kêu gọi, sự mong muốn chờ đợi của Hồ Chủ tịch đối với người nhận Những năm về sau, diễn ngôn Thư tín chủ yếu được dùng để khen ngợi, biểu dương cá nhân hay tập thể có thành tích, công trạng trong chiến đấu, xây dựng bảo vệ đất nước Từ năm 1956 – 1969, Người chủ yếu viết các bài nói, diễn văn, thư gửi, thư khen, điện thăm hỏi, điện chúc mừng để động viên, dặn dò, khích lệ mọi tầng lớp nhân dân phấn đấu lao động sản xuất, học tập và chiến đấu xây dựng và bảo vệ đất nước
Trang 15Luận án đã khảo sát và xác lập những diễn ngôn thể hiện rõ nhất tính kêu gọi như Lời kêu gọi là đối tượng trung tâm Bên cạnh đó, khảo sát cả các diễn ngôn có chứa đựng tính kêu gọi trong nó Những văn bản như "Điện/ Điện mừng " gửi tới một cá nhân hay tổ chức, chính phủ nào đó cũng luôn hàm chứa sự kêu gọi, tranh thủ
sự đồng tình và ủng hộ cho Việt Nam Các "Bài nói" nhân dịp tham dự các hội nghị hay gửi tới dịp kỷ niệm cũng được sử dụng cho mục đích này Những bức thư gửi có
sự rõ ràng về kêu gọi chúng tôi là đối tượng khảo sát Những bức thư chỉ mang tính thể hiện sự mong muốn và hàm chứa hành động kêu gọi thì không lựa chọn khảo sát trong nghiên cứu này nhằm tập trung phân tích rõ, trọng tâm vào tính tác động, lôi cuốn của loại diễn ngôn này Bên cạnh đó, các diễn ngôn không được đặt tiêu đề là Lời kêu gọi hay Thư/ Thư gửi nhưng có nội dung, chức năng kêu gọi cũng được
khảo sát và đưa vào tư liệu nghiên cứu của luận án như: Hô hào nhân dân chống nạn đói, Sẵn sàng chiến đấu, Sức khỏe và thể dục, Không có gì quý hơn độc lập tự do …
Một điểm cần lưu ý ở đây là, tiêu đề của một số diễn ngôn có sự khác nhau qua các thời kỳ hoặc qua các tác phẩm được tập hợp Tên gọi các bài viết qua các tư liệu khảo sát có sự khác nhau như: thư/ thư gửi/ gửi, hoặc lời hiệu triệu, có bài được đặt tên lại trong tuyển tập "Hồ Chí Minh toàn tập" là Lời kêu gọi Sự khác nhau này là
do những người biên tập khi tập hợp tư liệu sau này sửa chữa lại cho phù hợp với tiêu chí đề ra hoặc do chính tác giả tự đổi tên sau mỗi lần chỉnh sửa văn bản
Tư liệu luận án được lựa chọn để khảo sát trải dài suốt giai đoạn hoạt động cách mạng chính thức, công khai của Chủ tịch Hồ Chí Minh (từ năm 1941 – 1969), với vai trò người đứng đầu sáng lập và dẫn dắt cách mạng Việt Nam Đây là khoảng thời gian có nhiều biến động từ nhận thức đến hành động của cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của cách mạng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh Nguồn tư liệu luận án được khảo sát dựa trên bộ “Hồ Chí Minh toàn tập” xuất bản năm 2014; "Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch" xuất bản từ năm 1961 – 1968; cuốn "120 lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh" xuất bản năm 2010
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện các sản phẩm ngôn từ và những sáng tạo về ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 16- Ứng dụng lý thuyết và phương pháp PTDN để phân tích các sản phẩm ngôn
từ cụ thể của Hồ Chủ tịch, xem xét các đặc điểm và nghệ thuật tổ chức tổ chức thông điệp, những giá trị và đóng góp của Người trên phương diện thực hành chức năng ngôn ngữ
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào những lĩnh vực mới như vấn đề ngôn ngữ với truyền thông, lĩnh vực quan hệ công chúng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định nhiệm vụ nghiên cứu được đặt
ra cho luận án này:
- Mô tả cấu trúc diễn ngôn, cấu trúc diễn ngôn chính trị và chỉ ra cấu trúc diễn ngôn điển hình của các diễn ngôn kêu gọi của Hồ Chủ tịch
- Mô tả các phương tiện ngôn ngữ (từ tình thái, hành động ngôn từ, từ xưng hô ) được sử dụng trong diễn ngôn, tập trung vào việc sử dụng ngôn từ thực hiện chức năng liên nhân
- Luận án thực hiện việc phân tích các diễn ngôn trong những ngữ cảnh thực
tế để làm rõ chức năng tác động mạnh mẽ của ngôn từ, những ảnh hưởng đối với người tiếp nhận các thông điệp
- Tìm hiểu về những biểu hiện quyền lực thông qua chiến lược giao tiếp, việc lựa chọn cách xưng hô hoặc qua ngữ cảnh tình huống cụ thể để ra lời kêu gọi
- Luận án tiến hành phân tích một số trường hợp để làm rõ hơn những nét đặc trưng, độc đáo và những sáng tạo trong sử dụng ngôn từ của Hồ chủ tịch
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án xác định lấy việc nhận diện, mô tả, phân tích và đưa ra một số bàn luận về các sản phẩm ngôn từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thực hiện nghiên cứu Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
a Phương pháp phân tích diễn ngôn
- Phương pháp phân tích diễn ngôn là hệ phương pháp đa chiều, đa diện Phân tích việc sử dụng hệ thống và chức năng của ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp xã hội trên cứ liệu ngôn ngữ cụ thể và trong ngữ cảnh cụ thể Đây là phương pháp chính của luận án Phương pháp PTDN gồm miêu tả mặt ngôn ngữ của văn bản bằng ngôn ngữ, tìm hiểu mối quan hệ giữa các quá trình suy diễn được với diễn ngôn và giải thích mối quan hệ giữa các quá trình suy diễn được với các quá trình xã hội
Trang 17Phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán sử dụng các thao tác phân tích thực tiễn như ngữ cảnh tình huống, ngữ cảnh văn hóa, tập quán xã hội, các sự kiện
để nghiên cứu diễn ngôn Khi nghiên cứu, luận án thực hiện đồng thời các phương pháp phân tích diễn ngôn bao gồm phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán
b Các phương pháp nghiên cứu khác
Luận án phân tích các lý thuyết ngôn ngữ học theo tiến trình thời gian để nhận thức, và xem xét các khía cạnh khác nhau của lý thuyết để từ đó chọn lọc những nội dung phù hợp, có liên quan đến đề tài nghiên cứu Phương pháp này được thực hiện với các nội dung: Phân tích nguồn tài liệu lý thuyết ngôn ngữ học trên các công trình như giáo trình, sách chuyên khảo, tạp chí, báo cáo khoa học; Phân tích các lý thuyết, thành tựu của những người nghiên cứu đi trước cả ở trong và ngoài nước; Phân tích nội dung một số lý thuyết điển hình có liên quan tới luận án để làm cơ sở cho việc khảo sát và vận dụng vào thực tế phân tích diễn ngôn Từ những phân tích lý thuyết
đã thực hiện, luận án đã tiến hành tổng hợp, hệ thống các nội dung để thấy được vị trí của lý thuyết sử dụng trong luận án nằm ở đâu trong hệ thống lý thuyết ngôn ngữ học nhờ đó sẽ bổ sung tài liệu, những cơ sở để triển khai đề tài luận án
- Phương pháp miêu tả được vận dụng để thể hiện các đặc tính của các hiện tượng ngôn ngữ trong một giai đoạn phát triển của nó Phương pháp này được dùng
để miêu tả cấu trúc diễn ngôn có nội dung kêu gọi, các phương thức, phương tiện thể hiện hành động ngôn từ, phương tiện tình thái, cách thức xưng hô được sử dụng trong diễn ngôn, các biểu hiện quyền lực của ngôn ngữ
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa qua ngữ cảnh: xác định ngữ cảnh của các diễn ngôn thuộc vào phong cách chức năng/ ngữ vực nào Phân tích ngữ nghĩa các diễn ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần gắn liền với ngữ cảnh với tri thức nền, phông văn hóa phong phú của người viết Thủ pháp phân tích ngữ cảnh giải thích các đơn vị ngôn ngữ với những mối liên hệ với hiện tượng ngoài ngôn ngữ, sự kiện phi ngôn ngữ
- Phương pháp phân tích dụng học được dùng để tìm hiểu cách sử dụng ngôn ngữ trong ngữ cảnh cụ thể, quan tâm tới sự lựa chọn, ý đồ sử dụng ngôn ngữ của người nói Luận án đi phân tích các diễn ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngữ cảnh đặc biệt để làm rõ xem chúng ảnh hưởng và có tác động như thế nào tới đối
Trang 18tượng đích Phân tích các hành động ngôn từ, ngữ vực (trường, thức và không khí diễn ngôn) Nghiên cứu mối quan hệ của người tạo lập diễn ngôn và người nghe hay quan hệ giữa nguồn với đích Trong các phương pháp được sử dụng thì phương pháp phân tích ngữ dụng là quan trọng bởi nó thể hiện chức năng tác động, một trọng tâm nghiên cứu của luận án
- Cùng việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu trên, luận án sử dụng các thủ pháp thống kê, bảng biểu, sơ đồ để hỗ trợ trong quá trình xử lý tư liệu và phân tích, mô tả các trường hợp cụ thể cho luận án Thủ pháp thống kê được sử dụng để thu thập, xử lý và phân tích, suy luận, đánh giá giá trị các lý thuyết cơ bản và tư liệu cho luận án Thủ pháp này giúp xác định các kết quả nghiên cứu, hỗ trợ các giả thiết, tạo độ tin cậy cho nghiên cứu Tiến hành thống kê các diễn ngôn, tần suất xuất hiện của các câu hô gọi, các phương tiện ngôn ngữ, các hành động ngôn từ thể hiện chức năng tác động, các chiến lược giao tiếp để phục vụ cho việc phân tích các vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu
Ở chương cuối, luận án sẽ có đưa ra các bàn luận về ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bàn luận này được triển khai trên cơ sở vận dụng một số lý luận, phương pháp nghiên cứu để làm rõ những đặc trưng và những nét riêng trong phong cách của Hồ chủ tịch qua các cứ liệu diễn ngôn kêu gọi
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về mặt lý luận
Luận án lựa chọn phân tích diễn ngôn theo hướng chức năng luận để nghiên cứu các diễn ngôn cụ thể, một hướng nghiên cứu có thể cho thấy được đầy đủ nhất của hoạt động ngôn ngữ Góp phần cung cấp thêm một vài khía cạnh cho lý luận ngôn ngữ trong địa hạt phân tích diễn ngôn qua việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Luận án mong muốn đưa ra thêm một cách tiếp cận các sản phẩm ngôn từ đặc trưng trong ngôn ngữ của Hồ Chủ tịch theo phương pháp phân tích diễn ngôn, từ đó đóng góp thêm vào những thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã được thực hiện từ nhiều năm qua
5.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm đa dạng hơn các phương diện tiếp cận khi nghiên cứu về ngôn ngữ, phong cách cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 19và làm phong phú thêm cho ngôn ngữ học ứng dụng ở góc độ những sản phẩm cá nhân
Đóng góp vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng ngôn ngữ thông qua việc khảo sát, phân tích, nghiên cứu các diễn ngôn của chủ tịch Hồ Chí Minh Bởi vì, cách xử lý ngôn từ theo từng ngữ cảnh, từng đối tượng của Hồ chủ tịch trong các diễn ngôn rất đa dạng và linh hoạt Đó sẽ là kinh nghiệm và bài học cho các nhà nghiên cứu, người cầm bút trên mọi lĩnh vực Dựa trên kết quả phân tích tư liệu khảo sát, luận án mong muốn triển khai những kết quả nghiên cứu vào thực tế sử dụng ngôn ngữ, vào các lĩnh vực cụ thể của ngôn ngữ học ứng dụng như truyền thông, giao tiếp, quản trị ngôn ngữ
6 Bố cục luận án
Luận án dự kiến ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục đi kèm, nội dung chính được triển khai theo bốn chương:
Chương 1 Tổng quan và cơ sở lý luận
Chương này, luận án trình bày hai nội dung lớn: Phần một trình bày tổng quan các vấn đề nghiên cứu về phân tích diễn ngôn và các nghiên cứu về ngôn ngữ, sản phẩm ngôn từ cụ thể của Chủ tịch Hồ Chí Minh Phần hai trình bày các vấn đề lý thuyết làm tiền đề cho việc phân tích, nghiên cứu của đề tài luận án Đó là các vấn đề sau: Lý luận về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, quan niệm giao tiếp của Roman Jakobson, một số vấn đề khái quát về hành động ngôn từ, diễn ngôn chính trị và các diễn ngôn có chức năng kêu gọi của Hồ Chủ tịch
Chương 2 Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ bình diện thông điệp
Chương này tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ hai phương diện: nội dung thông tin và cấu trúc thông điệp Luận án phân tích nguyên tắc để có được thông điệp hiệu quả, chỉ ra các chủ đề chính của các diễn ngôn của Hồ chủ tịch Từ phương diện truyền thông, luận án đặt ra vấn đề về nội dung thông điệp, phân tích việc sử dụng ngôn ngữ trong thông điệp và tính minh bạch trong các thông điệp kêu gọi
Về cách tổ chức thông điệp, luận án mô tả và phân tích những nét đặc trưng trong cấu trúc diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch, từ đó chỉ ra cấu trúc điển hình của diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch Về phương thức tổ chức nội dung luận án coi lập luận là phương thức quan trọng nhất Do đó, chương
Trang 20này cũng dành để nghiên cứu và phân tích một số kiểu lập luận trong diễn ngôn kêu gọi nhằm làm rõ hiệu quả, hiệu lực của lập luận, và khả năng tác động mạnh mẽ của ngôn từ mà Người sử dụng, đồng thời, bổ sung thêm cách nhìn về phong cách ngôn ngữ và tư tưởng của Hồ Chí Minh
Chương 3 Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ bình diện liên nhân
Chương này, luận án thực hiện phân tích ngữ cảnh, chức năng tác động trong mối tương quan với các tiểu chức năng ngôn ngữ khác của R Jakobson, các hành động ngôn từ tiêu biểu, phương tiện tình thái từ bình diện liên nhân Luận án phân tích một số vấn đề của phân tích diễn ngôn phê phán mà trong đó trọng tâm là quyền lực phát ngôn và các biểu hiện của quyền lực qua chiến lược giao tiếp, cách thức xưng hô
Chương 4 Nghiên cứu trường hợp: Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ba sản phẩm cụ thể
Từ những lý thuyết và phân tích ở các chương trước, chương này dành để nghiên cứu các trường hợp cụ thể nhằm làm rõ hơn các vấn đề ngữ cảnh tình huống, hành động ngôn từ và lập luận trong các diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch Ba sản phẩm được chọn phân tích ra đời ở những giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước, của cách mạng: Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa (1945); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946); Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966) Luận án cũng dành một mục ở chương này để đưa ra một vài bàn luận về nét đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua diễn ngôn kêu gọi
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình các nghiên cứu liên quan tới luận án
1.1.1.Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở ngoài nước
Cuối những năm 50 thế kỉ XX, một số nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu những hiện tượng trên câu, ngoài câu và nêu ra những khái niệm về đơn vị ngôn ngữ trên câu này Từ đây, một ngành nghiên cứu mới bắt đầu xuất hiện, đồng thời báo hiệu một hướng đi, hướng nghiên cứu mới đầy hấp dẫn, gắn chặt với hoạt động ngôn ngữ
Thuật ngữ diễn ngôn (Discourse) được thừa nhận xuất hiện lần đầu tiên trong bài báo "Phân tích diễn ngôn" của Z.S Harris (1952), sau đó được nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp tục phát triển Trong bài báo, ông đã phân tích một quảng cáo về dầu gội dưỡng tóc, phân tích của ông bao gồm xem xét quy tắc có thể giải thích được của câu và mối quan hệ giữa câu Thảo luận này còn liên quan đến các vấn đề như ngôn ngữ và văn hóa, diễn ngôn và ngữ cảnh xã hội Trong bài báo đó, Harris cho rằng có hai phương pháp phân tích diễn ngôn, một là có thể thông qua giới hạn câu mô tả ngôn ngữ; hai là nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ Do Harris là người theo chủ nghĩa cấu trúc nên ông ít quan tâm đối với các phương diện ngôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ và ngữ cảnh xã hội Dù là người sáng tạo ra thuật ngữ "Phân tích diễn ngôn" nhưng bài báo của ông vẫn chưa có ảnh hưởng nhiều ở lĩnh vực phân tích diễn ngôn lúc đó Song ông đã góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn ngôn, hướng nghiên cứu vào chức năng của ngôn ngữ Đánh giá về vấn đề này, Coulthard (1977/1985) cho rằng: tiêu đề bài báo của Harris rất có sức thu hút nhưng trên thực tế lại làm cho người ta thất vọng, phương pháp phân tích mà ông đề ra lúc đó cũng chưa có ai quan tâm (dẫn theo Diệp Quang Ban) [8, 150]
Từ những năm 60 lại đây, rất nhiều nghiên cứu của các học giả đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của PTDN Vào những năm 1970, những chuyên luận đầu tiên và những công trình tập thể dành hoàn toàn hoặc một phần cho diễn ngôn – phân tích như một lĩnh vực tri thức liên ngành lần lượt xuất hiện Từ đây, nghiên cứu về diễn ngôn đạt tới vị thế của một khoa học độc lập
Được coi là người có công truyền bá PTDN, Van Dijk đã có nhiều công hiến
to lớn về phương diện nghiên cứu PTDN Nghiên cứu ban đầu của ông thường được
Trang 22gọi là "ngữ pháp văn bản" (Text grammar) Năm 1972, Van Dijk xuất bản cuốn
"Some aspects of text grammar" (Một số phương diện của ngữ pháp văn bản)
De Beaugrande đã nhận định: năm 1979 được coi như cái mốc phân chia hai giai đoạn giữa nghiên cứu văn bản và diễn ngôn, là điểm kết thúc để tìm ra tên gọi cho giai đoạn tiếp theo Từ những năm 80 thế kỷ XX trở lại đây, tốc độ phát triển của phân ngành PTDN, cả về chiều sâu và chiều rộng đã làm cho nhiều người phải nhìn nhận và quan tâm
Halliday và Hassan (1976) chỉ ra: mục đích của tiến hành phân tích diễn ngôn không phải là "chứng minh" mà là "giải thích" Có thể thấy, tiến hành chứng minh với một diễn ngôn, mục đích là làm rõ nội dung của nó, xem nó biểu thị ý nghĩa gì, còn với một diễn ngôn khi tiến hành giải thích, chính là phải làm rõ diễn ngôn biểu đạt ý nghĩa như thế nào chứ không phải ý nghĩa nào khác Từ năm 1994, Halliday đã cho rằng, phân tích diễn ngôn có hai mục tiêu không cùng cấp độ Cấp độ thấp là làm
rõ ý nghĩa của diễn ngôn mà chính bản thân nó biểu đạt; thông qua phân tích ngôn ngữ để chứng minh diễn ngôn biểu đạt ý nghĩa như thế nào và tại sao lại biểu đạt ý nghĩa như vậy Cách phân tích này có thể cho thấy tính đa nghĩa, tính khác nghĩa và tính ẩn dụ của diễn ngôn Phân tích ở cấp độ này nếu dựa vào hệ thống ngữ pháp nhất định, nên không khó đạt được mục tiêu Cấp độ cao hơn so với mục tiêu này là tiến hành đánh giá với diễn ngôn: thông qua phân tích ngôn ngữ, diễn ngôn có thể chỉ
ra vì sao một diễn ngôn nào đó đạt được (hoặc không đạt được) mục đích của nó; cũng có thể chỉ ra diễn ngôn này thành công ở phương diện nào, thất bại hay không thành công ở phương diện nào Mục tiêu này không dễ đạt được, nó không những cần phải phân tích đối với bản thân diễn ngôn mà cón phải xem xét đến ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn, đồng thời còn phải nghiên cứu thảo luận các mối quan hệ giữa diễn ngôn và ngữ cảnh
Công trình "Dẫn nhập phân tích diễn ngôn" của David Nunan nhằm vào ngôn ngữ trong sử dụng thực tế Nunan giới thiệu những khái niệm cơ bản trong lĩnh vực phân tích diễn ngôn: diễn ngôn, văn bản, phân tích diễn ngôn, liên kết, mạch lạc
G Brown và G Yule được cho là những người có đặc quyền trong lĩnh vực PTDN Cuốn "Phân tích diễn ngôn" (1983) là công trình bao quát về phạm vi, phương pháp nghiên cứu đề tài cụ thể Các tác giả đã đưa ra các vấn đề về cơ sở lý thuyết, phương pháp, đối tượng, công cụ, thuật ngữ của nghiên cứu PTDN Đó là
Trang 23việc chuyển từ việc nghiên cứu ở bậc câu sang nghiên cứu mặt nghĩa của diễn ngôn, đưa ra việc khai thác diễn ngôn từ những phương diện khác nhau Phương pháp dựa hẳn vào ngữ cảnh tình huống Đối tượng và các vấn đề giúp lý giải được diễn ngôn đều được xuất phát từ thực tế Vì lẽ đó, công trình này đã được nhiều người dẫn nguồn trong các nghiên cứu liên quan tới phân tích diễn ngôn của họ Đồng thời, từ đây, PTDN đã thực sự được thừa nhận rộng rãi cho giai đoạn tiếp theo của ngữ pháp văn bản
Deborah Schiffin (1994) đã giới thiệu sáu cách có thể tiếp cận PTDN trong cuốn "Approaches to Discuorse" (Các phương pháp tiếp cận diễn ngôn): lý thuyết hành vi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tương tác, văn hóa học giao tiếp, ngữ dụng học, phân tích hội thoại, phân tích biến đổi, và dùng chúng vào thực tiễn PTDN
Sara Mills trong cuốn Discourse (The New Critical Idiom) (2004) đã phân tích một cách sâu rộng về diễn ngôn và những giả thuyết xung quanh nó Mills xem xét
và nghiên cứu về diễn ngôn và quá trình phát triển của diễn ngôn, phân tích diễn ngôn Mills cho rằng thuật ngữ diễn ngôn có phạm vi nghĩa rộng nhất so với các thuật ngữ khác thuộc lí luận văn học và văn hóa Nó là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều lĩnh vực: ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, văn học Công trình đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề như: quan điểm về diễn ngôn, diễn ngôn văn học, quan điểm và nghiên cứu về diễn ngôn của Foucautl, cấu trúc diễn ngôn, lý thuyết diễn ngôn và lý thuyết nữ quyền, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa thuộc địa và hậu thuộc địa, phân tích diễn ngôn, phân tích diễn ngôn phê phán và tâm lý học xã hội Công trình đã cung cấp và đưa ra những phân tích cụ thể cho thấy sự phát triển trong quan niệm của Foucault về diễn ngôn, đồng thời chỉ rõ việc sử dụng ngôn ngữ chính là hình thức mã hóa của tri thức và quyền lực Đồng thời, dựa trên việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn của Foucault vào phân tích xã hội học, nữ quyền luận, thuộc địa
và hậu thuộc địa cũng đưa ra những phân tích quan trọng
Như vậy, có thể thấy rằng, từ lâu, các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới hướng nghiên cứu phân tích diễn ngôn Vì thế mà trong thời gian định hình và phát triển của chuyên ngành này đã có không ít cuốn sách dẫn nhập về diễn ngôn có liên quan được xuất bản Đó là các cuốn sách dẫn nhập của các tác giả: De Beaugrande & Dressler (1981), Stubbs (1983), Coulthard (1985), Cook (1989), McCarthy (1991), Schiffrin (1994) Tiếp sau là rất nhiều công trình về diễn ngôn của các nhà nghiên cứu như:
Trang 24Van Dijk; Sinclair; Brown, G and Yule, G (1983) Stubbs (1994); Sara Mills (1997, 2004), Schiffin (2003) Một số công trình nghiên cứu diễn ngôn và phân tích diễn ngôn trên thế giới đã được dịch ra tiếng Việt như: "Dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ" của George Yule; "Dẫn nhập phân tích diễn ngôn" của David Nunan; "Phân tích diễn ngôn" của Gillian Brown, George Yule; "Dẫn luận ngữ pháp chức năng" của Mak Halliday, hoặc một số chương về diễn ngôn, cấu trúc diễn ngôn trong cuốn "Discourse" của Sara Mills… và nhiều bài báo, công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề này cũng đã được giới thiệu rộng rãi tới người nghiên cứu
1.1.2 Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn trong nước
Ở Việt Nam, thuật ngữ diễn ngôn (discourse)/ văn bản (text) được sử dụng rộng rãi từ cuối thập kỷ 80 thế kỷ XX Năm 1985, Trần Ngọc Thêm đã xuất bản cuốn
"Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" Cuốn sách đầu tiên về ngữ pháp văn bản và cũng là cái mốc đánh dấu sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản ở Việt Nam Từ đây
đã hình thành các khuynh hướng nghiên cứu về văn bản/ diễn ngôn khác nhau ở Việt Nam
- Khuynh hướng nghiên cứu về liên kết: sau Trần Ngọc Thêm với "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" chủ yếu nghiên cứu trên cứ liệu các văn bản viết, còn có một số tác giả như Nguyễn Thị Việt Thanh với "Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt", Phạm Văn Tình với "Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong tiếng Việt"
- Khuynh hướng nghiên cứu văn bản phục vụ giảng dạy: cùng với nhu cầu của việc dạy và học môn làm văn ở các trường phổ thông ngày càng cao và chuyên sâu hơn, vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng ngôn ngữ học văn bản vào thực tế cũng trở nên cấp thiết Nhiều cuốn sách chuyên khảo, giáo trình phục vụ cho việc giảng dạy
và học tập ra đời và đã phát huy được tác dụng của mình và thực sự trở thành tài liệu hữu ích cho người dạy và học Một số công trình của các tác giả: Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Diệp Quang Ban đã tập trung vào một số vấn đề quan trọng của ngôn ngữ học văn bản như kết cấu, mạch lạc, liên kết để phục vụ cho công việc giảng dạy tiếng Việt ở bậc phổ thông và trong các trường sư phạm
- Khuynh hướng tiếp cận theo hướng phân tích diễn ngôn lấy đối tượng là từng kiểu loại văn bản cụ thể, xem xét nó trong hoạt động của ngôn ngữ Theo khuynh hướng này có các tác giả: Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Hòa với các công trình nghiên cứu về diễn ngôn/ văn bản đã được
Trang 25xuất bản như: "Văn bản và liên kết trong tiếng Việt", "Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản" của Diệp Quang Ban (1998, 2009), "Đại cương ngôn ngữ học" tập 2, của
Đỗ Hữu Châu (2001), "Dụng học Việt ngữ" của Nguyễn Thiện Giáp (2000), "Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp" của Nguyễn Hoà (2003) Một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết PTDN vào khảo sát một số kiểu loại diễn ngôn
cụ thể như: đề tài nghiên cứu "Phân tích diễn ngôn văn bản luật pháp tiếng Việt so sánh với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch văn bản luật pháp" của Lê Hùng Tiến; luận án tiến sĩ ngữ văn “Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in bằng tiếng Anh
và tiếng Việt” của Nguyễn Thị Thanh Hương (2003);
Công trình nghiên cứu về phân tích diễn ngôn và diễn ngôn ở Việt Nam xuất bản ngày càng nhiều và đa dạng về cách tiếp cận Đó là các công trình nghiên cứu của Diệp Quang Ban như "Văn bản, Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản"; "Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp", "Phân tích diễn ngôn phê phán – một số vấn đề lí luận và phương pháp" của Nguyễn Hoà, "Cơ sở ngữ dụng học" của Đỗ Hữu Châu Dưới đây là một số công trình có tính định hướng trong nghiên cứu diễn ngôn:
"Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề về lý luận và phương pháp" của Nguyễn Hòa (2003) là một công trình chuyên sâu, tập trung và hệ thống các vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn của PTDN Tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn, rõ ràng những đường hướng chính trong nghiên cứu Đó là các đường hướng: dụng học, biến đổi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tương tác, dân tộc học giao tiếp, phân tích hội thoại, tâm lý học xã hội, giao tiếp văn hóa, phương pháp phân tích tổng hợp Bên cạnh việc giới thiệu các vấn đề về lý luận và phương pháp PTDN, ông đã chọn và phân tích một số thể loại diễn ngôn trong tiếng Anh và tiếng Việt
Công trình "Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản" (2009) của Diệp Quan Ban là sự kế thừa một cách nhuần nhuyễn các lý thuyết đã có của các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước, đồng thời là thành quả tiếp nối của nhiều năm nghiên cứu của chính tác giả qua các công trình nghiên cứu về văn bản, liên kết, mạch lạc Công trình này đã được tác giả khai thác một cách sâu rộng hơn ở các nội dung như: phân tích hội thoại, mạch lạc, liên kết, lập luận, phân tích các sản phẩm diễn ngôn cụ thể
Những năm gần đây, các luận văn, luận án nghiên cứu theo hướng PTDN, hoặc PTDN các trường hợp cụ thể, hoặc theo đường hướng phân tích diễn ngôn phê
Trang 26phán ngày càng nhiều Các luận án của Nguyễn Hòa [60], Lê Hùng Tiến, Dương Thị Hiền [54], Đinh Kiều Châu [15], Lương Thị Hiền [55], Vũ Văn Lăng [84] Các luận văn của Nguyễn Thị Hiền [56], Đinh Thị Hồng Hạnh [48], Trần Thị Thu Hương [76], Trần Thanh Tùng [121] Điều đó cho thấy rằng đây là một lĩnh vực hấp dẫn và thu hút được sự quan tâm của nhiều người
1.1.3 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn tư liệu phong phú để nghiên cứu và học tập Từ nhiều năm qua, di sản ngôn ngữ và tác phẩm của Người đã được khảo cứu trên nhiều phương diện Các nghiên cứu về ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh được triển khai theo hướng ngữ pháp truyền thống như phân tích đặc điểm ngôn ngữ của Hồ chủ tịch, sử dụng câu trong văn bản của Hồ Chí Minh ; hoặc theo hướng nghiên cứu phong cách chức năng: phong cách thơ, phong cách chính luận, văn chính luận của Người, phân tích các tác phẩm cụ thể ; hoặc là hướng nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa như các công trình về ngôn ngữ - văn hóa Hồ Chí Minh của Nguyễn Lai Trong thời gian gần đây, một số tác giả như Trịnh Sâm, Trần Văn Cơ bước đầu đã tiếp cận các văn bản/ diễn ngôn của Hồ chủ tịch từ phương diện ngôn ngữ học tri nhận
Từ mấy chục năm qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của
Hồ chủ tịch xuất bản như: “Một số vấn đề về ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Nguyễn Văn Tu; “Học tập phong cách ngôn ngữ Hồ Chủ tịch” của Viện ngôn ngữ; “Học tập di sản ngôn ngữ Hồ chủ tịch" của Bùi Khánh Thế, “Tiếng Việt và nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh”, “Hồ Chí minh tầm nhìn ngôn ngữ” của Nguyễn Lai và nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí khoa học, hội nghị hội thảo Nhiều hội thảo
về ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ của Hồ chủ tịch cũng đã được tổ chức trong những năm qua và đạt được nhiều kết quả trong nghiên cứu
Các luận án, luận văn đã lựa chọn ngôn ngữ của Hồ chủ tịch làm đối tượng nghiên cứu như: "Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ Hồ Chủ Tịch qua những lời kêu gọi" của Nguyễn Phan Cảnh; "Nhịp điệu trong văn chính luận Hồ Chí Minh trên nền nhịp điệu thơ văn Việt Nam" của Vũ Thị Sao Chi (2009); "Từ Hán Việt trong các văn bản chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh" của Vũ Đình Tuấn (2013); "Phân tích ngôn ngữ lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh (trên tư liệu cuốn Danh ngôn Hồ Chí Minh)"
Trang 27của Nguyễn Hoàng Anh (2014), ““Hồ Chí Minh – về vấn đề giáo dục” từ cách tiếp cận của phân tích diễn ngôn” của Dương Thị Bích Hạnh (2016)
Cùng với việc nghiên cứu các tác phẩm văn học của Hồ chủ tịch thì các diễn ngôn chính trị của Người cũng nhận được nhiều sự quan tâm Diễn ngôn Lời kêu gọi
là một kiểu loại trong diễn ngôn chính trị và là một phần quan trọng trong tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh Chúng mang trong mình những thông điệp truyền tải sức mạnh tác động to lớn, có khả năng lay động người nhận, khiến người nhận hành động vì mục đích chung Các công trình nghiên cứu về Lời kêu gọi trước đây thường
đi theo hướng truyền thống như: phân tích từ ngữ, câu văn, sử dụng câu văn trong văn bản hoặc tác động tới người nghe như thế nào, bằng cách nào Gần đây, một số luận văn cũng đã chọn diễn ngôn Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm đối tượng nghiên cứu và tiếp cận chúng từ phương diện chức năng, phân tích diễn ngôn như các luận văn: "Tìm hiểu ngôn ngữ quan hệ công chúng: Bước đầu nhận xét ngôn ngữ các bài diễn văn ngắn (trên tư liệu các lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh)" của Đinh Thị Thanh Thảo (2009); "Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của diễn ngôn có mục đích kêu gọi - lời kêu gọi" của Vũ Thị Oanh (2011)
Ở đề tài này, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chức năng luận và phân tích diễn ngôn
1.2 Cơ sở lý luận có liên quan đến luận án
1.2.1 Cơ sở lý luận về diễn ngôn
1.2.1.1 Những quan niệm chính về diễn ngôn
Tên gọi "diễn ngôn" có từ rất sớm và được sử dụng trong các ngành khoa học
xã hội và nhân văn: triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lí học, nghiên cứu văn học, nghiên cứu giao tiếp, nhân chủng học, dân tộc học Do xuất phát từ nhiều quan niệm mà cách hiểu về diễn ngôn cũng rất đa dạng Lĩnh vực nghiên cứu diễn ngôn ngày nay đã trở thành khuynh hướng phát triển mạnh mẽ và không ngừng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Khi nghiên cứu PTDN, diễn ngôn có liên quan tới một thuật ngữ khác là văn bản (text) Các tác giả không đồng nhất hai khái niệm này nhưng cũng không có sự phân biệt một cách rạch ròi Một số tác giả lại cho rằng
về mặt ý nghĩa hai thuật ngữ này có khác biệt
Trang 28Theo Van Dijk, khái niệm diễn ngôn trong ngôn ngữ học có được nhờ sự phân biệt giữa ngữ pháp và hùng biện ở thời cổ đại Cùng quan điểm này, G Cook (1989) ghi nhận trong truyền thống phương Tây, các trường phái Hy Lạp và La Mã cũng chia tách ngữ pháp ra khỏi hùng biện và nhận xét rằng ngữ pháp làm việc với ngôn ngữ như là một đối tương cô lập, còn hùng biện thì xem xét cách các từ ngữ tạo ra hiệu quả, cách giao tiếp thành công với người khác trong ngữ cảnh cụ thể [8, 147]
Ở Việt Nam, Diệp Quang Ban là nhà nghiên cứu đã dành nhiều công sức nghiên cứu về văn bản và diễn ngôn Trong các công trình của mình, ông đã tổng hợp, phân tích và đưa ra những đánh giá về các kết quả nghiên cứu diễn ngôn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Ông cho rằng khi chưa cần phân biệt văn bản
và diễn ngôn thì có thể dùng chung một định nghĩa cho cả hai Ông quan niệm "Văn bản là một đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài , như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường [8, 193]
Các khuynh hướng nghiên cứu về diễn ngôn hiện nay, theo Trần Đình Sử, Nguyễn Thị Minh Ngọc , có thể tóm tắt theo ba hướng chính sau:
- Khuynh hướng ngôn ngữ học:
Hướng tiếp cận ngôn ngữ học về diễn ngôn bắt đầu từ những luận điểm của F.de Saussure Ông đem đối lập ngôn ngữ với lời nói Ngôn ngữ học chỉ nghiên cứu ngôn ngữ, tức là hệ thống các nguyên tắc chi phối việc sử dụng ngôn ngữ như ngữ
âm, từ vựng, cú pháp Lời nói thuộc phạm vi cá nhân không thuộc đối tượng nghiên cứu của ngữ học Ngôn ngữ là những cấu trúc tiên nghiệm và bất biến trong khi lời nói là bình diện sinh thành Ông chỉ ra đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, sản phẩm của xã hội đọng lại trong óc mỗi người chứ không phải là lời nói
Sự đối lập ngôn ngữ và lời nói của Saussure đã làm cơ sở cho sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản Văn bản là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn diễn ngôn là cấu trúc lời nói mang tính động
Trên cơ sở sự đối lập này, đồng thời chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học Saussure và chủ nghĩa cấu trúc, các nhà nghiên cứu tập trung vào khám phá cấu trúc tĩnh tại, bất biến của các diễn ngôn và văn bản Trong ngôn ngữ học đã hình thành hai hướng nghiên cứu: một đi sâu nghiên cứu cấu trúc nội tại của văn bản như một chỉnh thể phức hợp trên câu, hai là nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn trong mối quan hệ
Trang 29với ngữ cảnh phát ngôn Đối tượng hướng tới của các nhà nghiên cứu không phải là những văn bản/diễn ngôn cụ thể, mà họ chỉ coi đó là chất liệu, thông qua việc phân tích các văn bản/ diễn ngôn cụ thể Họ đã cố gắng chỉ ra những cấu trúc khái quát, những thuộc tính bản chất của diễn ngôn nói chung Người nghiên cứu văn bản lấy công cụ phân tích cấu trúc câu để phân tích văn bản Tuy nhiên, cách tiếp cận cấu trúc ngữ nghĩa truyền thống đã không thể giải thích đầy đủ các đặc trưng của văn bản như tính chỉnh thể, tính liên kết
Cùng với quá trình nghiên cứu văn bản, diễn ngôn bắt đầu được sử dụng và có phạm vi bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau Diễn ngôn là khái niệm trung tâm của hướng nghiên cứu mới - phân tích diễn ngôn Người ta phân tích các cấu trúc biểu nghĩa trong tương tác với ngữ cảnh để hiểu thực chất nội dung của diễn ngôn
- Khuynh hướng phong cách học
Khi thấy được những hạn chế của ngôn ngữ học cấu trúc và lý thuyết của Saussure thì xuất hiện một khuynh hướng nghiên cứu mới, khuynh hướng phong cách học Khuynh hướng này do M.Bakhtin đề xuất Ông đề xuất hướng nghiên cứu lời nói, phát ngôn, văn bản, đồng thời phản đối nghiên cứu ngôn ngữ tách rời đời sống xã hội và ý thức hệ Diễn ngôn hay lời nói là khái niệm trung tâm trong quan niệm của ông về ngôn ngữ Bakhtin cho rằng diễn ngôn là ngông ngữ trong sử dụng, trong bối xã hội của những xã hội mâu thuẫn và đa dạng
Công trình nghiên cứu về “Vấn đề các thể loại lời nói” thể hiện quan điểm theo hướng ngôn ngữ học của Bakhatin về diễn ngôn Thể loại lời nói là những loại hình phát ngôn tương đối bền vững, được sản sinh ra trong một phạm vi sử dụng ngôn ngữ cụ thể, là một chỉnh thể bao gồm ba bình diện: nội dung chủ đề, phong cách và tổ chức kết cấu Ông cho rằng muốn nghiên cứu phong cách ngôn ngữ không thể không gắn liền với nghiên cứu các thể loại lời nói Vì, phong cách ngôn ngữ chính là phong cách thể loại lời nói ở những lĩnh vực nào đó trong hoạt động giao tiếp của con người và mọi thay đổi về phong cách ngôn ngữ đều gắn liền với sự thay đổi của thể loại lời nói Nếu phát ngôn mang đậm sắc thái cá nhân, thể hiện phong cách của các chủ thể phát ngôn khác nhau thì thể loại lời nói đại diện cho phong cách ngôn ngữ của mỗi thời đại, mang tính chất xã hội, là cái có trước, chi phối phát ngôn của các cá nhân Quan niệm về diễn ngôn của Bakhtin là sự nối tiếp/ chuyển tiếp từ quan niệm của ngôn ngữ học cấu trúc sang quan niệm của các lý luận hậu hiện đại
Trang 30Nghiên cứu của ông có ý nghĩa nhất đối với sự phát triển khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học
- Khuynh hướng xã hội học
Hướng nghiên cứu này gắn liền với các nghiên cứu và tên tuổi của M Foucautl Lý thuyết diễn ngôn của Foucault ra đời tạo được một dấu ấn trong nghiên cứu, đồng thời thu hút sự quan tâm lớn của nhiều nhà nghiên cứu trên khắp thế giới Foucault không nói diễn ngôn về mặt ngôn ngữ học, nghệ thuật, mà nói trên ý nghĩa triết học, tư tưởng hệ và văn hóa học Khái niệm diễn ngôn tuy không được giới thuyết một cách hệ thống trong một công trình lý thuyết cụ thể nào của ông, song, nếu không hiểu khái niệm này, thì khó lòng có thể tiếp cận được toàn bộ tư tưởng của ông
Ông đã sử dụng thuật ngữ "diễn ngôn" một cách sáng tạo, cấp cho nó một ý nghĩa, làm cho nó trở thành một khái niệm quan trọng trong lịch sử tư tưởng thế kỉ
XX Diễn ngôn của Foucault gắn với thực tiễn diễn ngôn, có hai sức mạnh nhân văn
và sức mạnh thực tiễn Diễn ngôn cũng khác với ngôn ngữ, bởi nó chủ yếu thuộc về lịch sử, không phải do các thành tố ngôn ngữ tạo thành, mà là do các sự kiện chân thực và liên tục tạo thành, nhưng người ta không thể phân tích ở bên ngoài thời gian triển khai ngôn ngữ Diễn ngôn của Foucault không phải là một hệ thống khép kín,
mà do các sự kiện liên tục tạo thành, do đó mà có tính lịch sử và tính mở Một mặt diễn ngôn do thực tiễn tạo thành, mặt khác, diễn ngôn lại ảnh hưởng đến thực tế diễn ngôn, thực tiến diễn ngôn cũng làm thay đổi diễn ngôn Foucault nói, diễn ngôn không phải là cái hình thành một cách tự nhiên, mà trước sau là kết quả của một sự kiến tạo Diễn ngôn không phải là công cụ, không phải hình thức ngôn ngữ, mà là bản thân thực tiến được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ
Trong công trình nghiên cứu về diễn ngôn Discourse, Sara Mills đã nêu ra ba
cách hiểu khác nhau về diễn ngôn trong các nghiên cứu của Foucault Thứ nhất, diễn ngôn được coi là tất cả các nhận định nói chung, đó là tất cả các phát ngôn hoặc văn bản có nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực Thứ hai, diễn ngôn là một nhóm các diễn ngôn cụ thể, được quy ước theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc hoặc một hiệu lực nói chung Thứ ba, diễn ngôn là một thực tiễn sản sinh ra
vô số các nhận định và chi phối việc vận hành của chúng Quan niệm thứ ba này đã
có ảnh hưởng lớn tới các nhà nghiên cứu sau này Foucault quan niệm diễn ngôn
Trang 31không được tạo ra từ hư không, mà sinh mệnh của nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của các thiết chế, và đằng sau nó là bàn tay vô hình của quyền lực Lời nói và suy nghĩ của con người không phải là sự biểu hiện một cách tự do những tư tưởng cá nhân, mà
bị định hình vào trong một thứ khuôn khổ có trước Nếu coi quyền lực và tri thức là hai mối quan tâm lớn nhất của Foucault thì diễn ngôn là một mắt xích không thể thiếu để tìm hiểu hai yếu tố này Với Foucault, cả tri thức và quyền lực đều chỉ có thể được tạo ra, được hiện thực hóa, được vận hành và phân phối bởi diễn ngôn Foucault cho rằng tri thức là sản phẩm được tạo ra bởi các diễn ngôn Đằng sau diễn ngôn là quyền lực, cho nên, tri thức mà chúng ta có là kết quả của các mâu thuẫn về quyền lực
Như vậy, có thể thấy, ba cách tiếp cận ngôn ngữ học, phong cách học và xã hội học đã cung cấp ba quan niệm khác nhau về diễn ngôn Ngôn ngữ học của Saussure đánh dấu một sự thay đổi hệ trọng trong ngôn ngữ: chuyển từ nghiên cứu
sự biến chuyển của ngôn ngữ trong lịch sử sang nghiên cứu ngôn ngữ như một hệ thống tĩnh tại, biệt lập và khép kín Với một quan niệm khác về diễn ngôn, Bakhtin
đã đưa ngôn ngữ học rẽ sang một bước ngoặt mới: chuyển từ nghiên cứu ngôn ngữ như một thể tĩnh tại, khép kín và biệt lập sang nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp, trong thực tiễn đời sống đa dạng và sinh động Saussure nhấn mạnh đến tính cấu trúc của ngôn ngữ thì Bakhtin đặc biệt quan tâm đến tính đối thoại của lời nói Bakhtin và Foucault lại khẳng định tính chất sinh thành, đa dạng, năng sản của diễn ngôn Nếu Bakhtin đặc biệt chú ý đến tính liên chủ thể của diễn ngôn thì Foucault đề cập đến tính phi chủ thể của diễn ngôn, sự biến mất của chủ thể người trong mê cung của các diễn ngôn
Luận án đã tiếp thu và kế thừa những kết quả nghiên cứu về diễn ngôn của những người nghiên cứu đi trước để ứng dụng vào phân tích các diễn ngôn cụ thể Đối tượng chính ở đây là các diễn ngôn có nội dung kêu gọi của của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.2.1.2 Khái niệm diễn ngôn
Để đưa ra được một định nghĩa cho diễn ngôn, các nhà nghiên cứu đã xuất phát từ phương diện cấu trúc hoặc hình thức, cũng có thể từ phương diện chức năng
để định nghĩa Từ phương diện cấu trúc, diễn ngôn là đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu
Từ phương diện chức năng, diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng Từ phương diện sử
Trang 32dụng ngôn ngữ, trong quá trình giao tiếp, ý nghĩa của ngôn ngữ được dựa trên ngữ cảnh để xác định Cùng một đơn vị ngôn ngữ nhưng ở những ngữ cảnh khác nhau sẽ
có ý nghĩa khác nhau
*Một số quan niệm về diễn ngôn của các nhà nghiên cứu ở nước ngoài
Hausenblas (1966), theo Diệp Quang Ban, là người đầu tiên phân biệt sản phẩm/ quá trình trong quan hệ với diễn ngôn mà không gắn với ngôn ngữ/ lời nói như F de Saussure đã nghiên cứu Theo ông, "diễn ngôn có thể hiểu hoặc như quá trình, hoặc như kết quả (mà chính là như kết quả của hành động giao tiếp) Trong các diễn ngôn viết và trong các diễn ngôn ghi lại lời nói miệng, phương diện tạo kết quả nổi lên hàng đầu, còn trong những diễn ngôn nói miệng (không được ghi vào băng từ tính và những thứ khác) thì hiển nhiên hơn là phương diện quá trình" Hausenblas phân biệt bên trong bản thân diễn ngôn có một khái niệm chuyên môn – văn bản Thuật ngữ văn bản hiểu theo hai cách: một là, cách dùng phổ biến, đó là cái ghi lại lời nói bằng chữ viết; và hai là, cách hiểu rộng hơn, sự hợp nhất các phương tiện ngôn ngữ được dùng trong lời nói, một sự hợp nhất được bảo đảm bằng sự nối tiếp cái nọ sau cái kia của chúng và bằng mối quan hệ của chúng để tạo ra một ý tổng thể (đối lập với các mối quan hệ giữa các phương tiện tồn tại bên trong một hệ thống ngôn ngữ) [8, 204]
D Nunan "sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp Sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết " [89, 21] Thuật ngữ diễn ngôn để chỉ việc giải quyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh D Nunan xác nhận phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng Sự xác nhận ở đây là phân tích diễn ngôn liên quan đến phân tích ngôn ngữ trong sử dụng – so với sự phân tích các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng Tất cả các nhà ngôn ngữ học đều quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu trong ngôn ngữ Trong trường hợp các nhà phân tích diễn ngôn, mục đích cuối cùng của công việc phân tích này là vừa chỉ ra vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn
Trang 33Yule và Brown sử dụng văn bản như một thuật ngữ chuyên môn để nói đến việc ghi lại bằng ngôn từ của một hành động giao tiếp [11,22] Các ông cho rằng biểu hiện của diễn ngôn là văn bản
T.A Van Dijk, từ bình diện chức năng, “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp
ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời” Van Dijk cho rằng, từ giữa những năm 1980, PTDN bước vào giai đoạn phát triển mới, bắt đầu xuất hiện các lí thuyết diễn ngôn chuyên ngành như lí thuyết diễn ngôn tư tưởng hệ, lí thuyết diễn ngôn dân tộc học, lí thuyết diễn ngôn của các nhóm xã hội… Một trong những khuynh hướng rộng lớn là phân tích diễn ngôn phê phán (CDA) Có thể nói rằng tiếp sau sự phát triển của PTDN là sự ra đời của CDA Diễn ngôn là đối tượng chính của đường hướng mới này
Các nhà phân tích diễn ngôn phê phán đều cho rằng diễn ngôn vừa là một thực tiễn xã hội tồn tại thực, vừa là hành động xã hội trong ý nghĩa diễn ngôn là một cái gì
đó mà con người thực hiện cho hay đối với người khác Diễn ngôn được xem là tổng thể các hoạt động thực tiễn xã hội có nội dung kí hiệu học Chouliaraki và Fairclough (1999) chỉ rõ "diễn ngôn là ký hiệu của các tập quán xã hội Diễn ngôn bao gồm cả ngôn ngữ (nói và viết và kết hợp với các yếu tố khác như nhạc khi hát chẳng hạn), giao tiếp phi ngôn ngữ (như cử chỉ, nét mặt ) và các hình ảnh (như phim và ảnh)" [dẫn theo 62, 43] Như vậy, khái niệm về diễn ngôn trong CDA được hiểu rộng hơn nhiều so với PTDN
Norman Fairclough, khi nghiên cứu CDA, đã xem diễn ngôn là một trong số các phương thức xác lập quyền lực, điều chỉnh quan hệ lệ thuộc giữa các vai diễn xã hội Ông cho rằng, diễn ngôn là cái ngôn ngữ được dùng trong quá trình biểu đạt thực tiễn xã hội khác với quan điểm cá nhân
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã xác định hướng nghiên cứu diễn ngôn và cố gắng xác lập một ranh giới giữa diễn ngôn và văn bản Nhưng thực
tế để vạch ra một đường phân định rõ nét giữa diễn ngôn và văn bản là rất khó Do văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn và diễn ngôn vừa là văn bản lại vừa không phải
là văn bản
Trang 34*Ở Việt Nam, việc đưa ra một định nghĩa cho diễn ngôn cũng có nhiều cách nhìn nhận khác nhau Các quan điểm cũng thay đổi theo thời gian, thay đổi ở từng nhà nghiên cứu theo các giai đoạn Quan điểm về diễn ngôn ở Việt Nam có thể chia làm hai nhóm chính sau:
- Quan điểm đồng nhất diễn ngôn và văn bản
Đỗ Hữu Châu cho rằng, diễn ngôn là tổ chức, là chuỗi do các đơn vị của ngôn ngữ kết hợp với nhau theo các quy tắc kết học, vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của giao tiếp Diễn ngôn có hai phương diện: hình thức và nội dung Hình thức của diễn ngôn được tạo nên bởi các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc cú pháp, các hành vi ngôn ngữ chuyển các câu thành phát ngôn và những yếu tố kèm lời
và phi lời (động tác, cử chỉ, vẻ mặt ) được dùng khi người nói nói ra phát ngôn, nói diễn ngôn Về nội dung, diễn ngôn có hai thành phần, thông tin hay còn gọi là thành phần sự vật thực hiện chức năng thông tin của giao tiếp và nội dung liên cá nhân [12, 148] Trong công trình nghiên cứu về sau, Đỗ Hữu Châu đưa ra cách nhìn nhận về diễn ngôn, "là phương tiện và là cái hình thành trong giao tiếp, tương đương với thông điệp của các cuộc giao tiếp không dùng ngôn ngữ làm phương tiện Diễn ngôn
có hình thức và nội dung, xuất hiện giữa tiền ngôn cảnh và (ở ngôn ngữ viết) hậu cảnh Diễn ngôn có nội dung thông tin và nội dung liên cá nhân, hai thành phần này thống nhất với nhau, thể hiện các đích khác nhau." [13, 155]
Nguyễn Thiện Giáp đưa ra quan điểm cho rằng, thuật ngữ diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo ra một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn [33,171]
Diễn ngôn, theo Đinh Văn Đức, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm ngôn bản để chỉ loại giao tiếp bằng ngôn ngữ nói và văn bản chỉ sản phẩm bằng văn tự Như vậy, diễn ngôn luôn có hai loại thông tin trong hoạt động giao tiếp, thứ nhất là các thông tin miêu tả (gắn với chuỗi mệnh đề) biểu đạt bằng phương tiện ngôn ngữ, thứ hai là loại thông tin tình huống (ngữ cảnh) nằm ở ngoài cấu trúc ngôn ngữ
- Quan điểm phân biệt diễn ngôn và văn bản
Nguyễn Hòa trong cuốn "Phân tích diễn ngôn – Một số vấn đề lý luận và phương pháp" chỉ ra rằng: diễn ngôn là một quá trình giao tiếp Kết quả về mặt tình
Trang 35huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ và sản phẩm của quá trình này là Văn bản
- Khái niệm diễn ngôn sử dụng trong luận án:
Tiếp thu từ những quan điểm về diễn ngôn trên, với phạm vi của đề tài đang thực hiện đi theo hướng chức năng luận, luận án xem xét các diễn ngôn trong hoạt động, ngữ cảnh văn hóa – xã hội cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng Diễn ngôn được hiểu theo nghĩa rộng như cách trình bày của Đinh Văn Đức đã nêu ở trên
1.2.1.3 Ngữ cảnh, ngữ vực và cấu trúc diễn ngôn
* Ngữ cảnh
Diễn ngôn tồn tại trong ngữ cảnh luôn thay đổi và được tái tạo trong quá trình giao tiếp Ngữ cảnh sẽ luôn bổ sung cái mới, làm rõ nghĩa Nó làm rõ nghĩa cho diễn ngôn, nội dung thông điệp được hiểu rõ và cần cho việc phân tích các mối qua hệ bên trong diễn ngôn Ngữ cảnh là đối tượng có liên quan đến giao tiếp ngôn ngữ Nó gắn với chức năng quy chiếu, là tình huống nằm ngoài ngôn ngữ, nhưng là cơ sở để tạo lập diễn ngôn và cũng là cơ sở để hiểu diễn ngôn Nguyễn Thiện Giáp cho rằng, ngữ cảnh là những từ bao quanh, hay đi kèm theo một từ, tạo cho nó tính chính xác về nghĩa Các nhà nghiên cứu phân ngữ cảnh làm hai loại: ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa
Ngữ cảnh tình huống đã được nhiều người nghiên cứu Nó là những cái nằm ngoài ngôn ngữ của diễn ngôn hoặc những thông tin phi ngôn ngữ, có đóng góp vào nghĩa của diễn ngôn Ngữ cảnh tình huống là thế giới xã hội và tâm lý mà trong đó ở một thời điểm nhất định người ta có cách sử dụng ngôn ngữ riêng Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị trí, thời gian và không gian, sự hiểu biết về phép xã giao giao trong xã hội và sự hiểu biết về phép xã giao trong xã hội và sự hiểu biết về mã ngôn ngữ được dùng (nói và viết), sự hiểu biết về nội dung giao tiếp và bối cảnh giao tiếp (nhà trường, nhà thờ, phòng thí nghiệm ) Ngữ cảnh tình huống bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của người nói và người nghe về tất cả các quy ước, các niềm tin và các tiền đề được coi là đương nhiên của các nhóm thành viên trong cộng đồng của người nói và người nghe
Ngữ cảnh văn hóa bao gồm hàng loạt các nhân tố văn hóa như phong tục, tập quán, chuẩn tắc hành vi, quan niệm giá trị, sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên
và xã hội, về chính trị và kinh tế Ngôn từ là nơi bộc lộ rõ đặc trưng của văn hóa
Trang 36cộng đồng, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng đó Ngữ cảnh văn hóa có vai trò khi phân tích diễn ngôn ở các nền văn hóa khác nhau, các dân tộc khác nhau hoặc của những tầng lớp, giới khác nhau hoặc ở những thời điểm, giai đoạn khác nhau của một cộng đồng Việc xem xét các ngữ cảnh văn hóa giúp làm sáng rõ sự vận động của ngôn ngữ, cộng đồng sử dụng ngôn ngữ và các yếu tố chi phối tới diễn ngôn tại thời gian, không gian cụ thể
* Ngữ vực
Trong nghiên cứu diễn ngôn, người ta nhấn mạnh tới khái niệm nữa là ngữ vực Ngữ vực (Register) là thuật ngữ của ngôn ngữ học chỉ mối quan hệ giữa miêu tả một phong cách ngôn ngữ đặc trưng và sử dụng ngữ cảnh của phong cách ngôn ngữ đặc trưng này [37, 515] Halliday và Hassan là những người đi đầu trong nghiên cứu
và đưa ra quan niệm về vấn đề ngữ vực Họ chỉ ra rằng, ngữ vực là một cấu hình nghĩa có tính chất tiềm năng của văn bản, gắn liền với đặc điểm tình huống, được đặc trưng bởi trường (field), cách thức (mode) và không khí/ quan hệ (tenor) Nó chỉ một lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ
Theo Halliday có thể phân loại diễn ngôn dựa theo ngữ vực với ba yếu tố trường, thức và không khí (quan hệ).Ngữ vực là sự kết hợp đặc trưng ngôn ngữ và ngữ cảnh sử dụng của biến thể Halliday và Hassan thì ngữ vực là biến thể ngôn ngữ theo cách sử dụng Họ dựa trên các yếu tố của ngữ vực (trường, không khí diễn ngôn
và phương thức diễn ngôn) để phân tích Một cách khái quát Halliday xem ngữ vực như là một tổng thể đặc trưng liên quan đến: trường gắn với chức năng kinh nghiệm; Không khí gắn với chức năng liên nhân và Phương thức gắn với chức năng văn bản
Trường là vấn đề đang được bàn tới Nó liên quan đến chủ đề của diễn ngôn, đến kinh nghiệm, sự hiểu biết của người nói về chủ đề đó Trường phản ảnh chức năng xã hội, là những gì đang thực sự xảy ra trong diễn ngôn, là tính chủ động xã hội được thực hiện, là sự kiện tổng quát mà các tham thể dự phần vào với một mục đích nhất định Trường thể hiện bản chất tương tác xã hội thông qua đề tài – chủ đề nhưng như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, không nên lẫn lộn trường diễn ngôn với đề tài- chủ đề của văn bản, bởi trường có tầm bao quát hơn nhiều Ví dụ: trường thời tiết, thời sự; khoa học
Phương thức là cách thức mà ngôn ngữ hành chức trong sự kiện tương tác, tức
là ngôn ngữ được nói hay viết ra (các loại hình diễn ngôn) Phân tích diễn ngôn tập
Trang 37trung vào quá trình sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ý định trong ngữ cảnh nào đó Thức là vai trò của ngôn ngữ đảm nhiệm trong diễn ngôn, là cách thức hoạt động của phương tiện ngôn ngữ, bao gồm tất cả các kênh Các hình thức giao tiếp như nói/viết, giao tiếp qua điện thoại, mail, chat, hay ngôn ngữ bộc phát/ngôn ngữ có chuẩn bị, các cách tu từ, các kiểu loại chức năng như thuyết phục, miêu tả, giáo khoa Nói một cách khái quát, trong tương quan với chức năng của ngữ cảnh, với sự kiện cần diễn đạt, một phương thức ngôn từ tương thích được thể hiện
Quan hệ hay không khí là các nhân vật giao tiếp có liên quan và mối quan hệ giữa họ, được dùng để miêu tả xem trong tình huống cụ thể ngôn ngữ được sử dụng như thế nào Nó chỉ ra các vai tham gia, vị thế xã hội, trạng thái tâm sinh lý, mối quan hệ, các kiểu quan hệ, sự tương tác theo vai, tính bền vững hay nhất thời trong quan hệ của những người tham gia giao tiếp Nói một cách khái quát, ai tham gia giao tiếp và mối quan hệ giữa họ như thế nào, dựa vào các vai xã hội được xác lập này mà có thể đánh giá ngôn ngữ là trang trọng, lịch sự, thân mật hay suồng sã Nói rộng ra, quan hệ hay không khí là nhân tố chi phối nhiều nhất đến cách lựa chọn ngôn ngữ
Như vậy, trường, thức và không khí chung là những đặc điểm tình huống có liên quan đến diễn ngôn và chúng là những phương diện cấu trúc diễn ngôn Các ngữ vực càng được hình dung cụ thể bao nhiêu thì các đặc điểm diễn ngôn trong tình huống giao tiếp dễ nhận diện bấy nhiêu, bởi như đã thấy ngữ vực được quyết định những gì đang xảy ra (field), ai tham gia vào quá trình ấy (tenor) và hình thức ngôn ngữ tham gia thế nào (mode) Để phân tích được một diễn ngôn cụ thể thì cần phải xem xét đồng thời trên cả ba yếu tố này
* Cấu trúc diễn ngôn
Theo Diệp Quang Ban, cấu trúc diễn ngôn/ văn bản là một kiểu cấu trúc trong một số cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu như đoạn văn, một phần của văn bản hay cấu trúc đề tài Đối với toàn văn bản, cấu trúc diễn ngôn là cấu trúc lớn nhất làm cho một văn bản thuộc về một loại riêng nào đó, như hội thoại, truyện kể, trữ tình, thư tín thương mại [8, 282] Theo ông, cấu trúc nghĩa của một văn bản là những mối quan
hệ hợp lý vốn có giữa các yếu tố nghĩa, các ý tưởng được phản ánh trong văn bản làm thành mặt nội dung của văn bản, nó chỉ có thể khảo sát được trong một văn bản
Trang 38cụ thể qua bố cục và từ ngữ [8, 443] Một văn bản có cấu trúc ba phần gồm: Đầu đề văn bản, phần mở, phần thân và phần kết
Nguyễn Hòa xác định các thành tố cấu thành diễn ngôn gồm: đầu đề, phần mở đầu, phần phát triển và phần kết luận Đầu đề thể hiện chủ đề hay đồng thời là câu chủ đề của toàn bộ văn bản Phần phát triển chủ đề thông qua các chủ đề con của mỗi đoạn – thành phần Phần kết của văn bản với sự có mặt của câu kết thể hiện ý kiến của người viết
Theo Hữu Đạt, các văn bản chính luận tuy đa dạng nhưng có thể khái quát thành kiểu kết cấu sau: Lý do nêu vấn đề; Phân tích, lý giải làm sáng tỏ vấn đề; Thái
độ của tác giả (và bạn đọc); Kêu gọi hành động ủng hộ
Ở phương diện phong cách chức năng ngôn ngữ, diễn ngôn chính trị được xếp vào phong cách chính luận, do vậy nó mang các đặc điểm chung của nhóm phong cách này và có những nét riêng của mình Về mặt cấu trúc, diễn ngôn có ba phần: mở đầu, khai triển và kết thúc Như vậy, cấu trúc chung của diễn ngôn về cơ bản có thể
mô hình hóa như hình dưới:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cấu trúc diễn ngôn
Tiêu đề diễn ngôn: là tên, là cái "tít" (title - tiếng Anh, titre - tiếng Pháp) chung của diễn ngôn Tiêu đề có tính chất gợi mở vấn đề mà diễn ngôn cần bàn hay
đề cập đến Đôi khi tiêu đề còn có mục đích gây sự chú ý, tò mò để lôi kéo người đọc Tiêu đề có vai trò quan trọng trong cấu trúc của diễn ngôn Nó là một thứ nhãn hiệu,
có chức năng đánh dấu vào văn bản và nêu nội dung cô đọng nhất của diễn ngôn Qua đó, người ta có thể biết được nội dung cơ bản
Phần mở đầu có chức năng làm rõ tiêu đề của diễn ngôn và định hướng cho sự phát triển nội dung nêu ở phần khai triển Phần mở, có thể có ba yếu tố chung: nêu
đề tài - chủ đề được đề cập; nêu khung cảnh chung của đề tài - chủ đề; nêu hướng triển khai đề tài - chủ đề của văn bản Các yếu tố này sẽ xuất hiện khác nhau ở các kiểu loại văn bản
Trang 39Phần khai triển có chức năng mở rộng, cụ thể hóa hoặc chi tiết hóa tất cả các định hướng được nêu ở phần mở Phần này không trình bày nhiều hơn những gì đã được định hướng ở phần mở đầu Nhiệm vụ trung tâm là triển khai đầy đủ các chi tiết cần thiết của đề tài - chủ đề theo hướng đã được xác định ở phần mở đầu
Phần kết có chức năng đánh dấu đầu ra của văn bản, tạo ra cho văn bản tính chất kết thúc, tính chất "đóng" về cả phương diện nội dung lẫn phương diện hình thức Phần kết không nhất thiết phải mang tính chất kết luận theo kiểu một suy lý logic
1.2.1.4 Phân loại diễn ngôn
Việc phân loại các diễn ngôn không phải là dễ dàng, xuất phát từ quan niệm, nhận thức về diễn ngôn của từng tác giả Có người phân loại theo hoạt động giao tiếp
mà người nói thực hiện Có người dựa vào chức năng ngôn ngữ Dưới đây là một số cách phân loại diễn ngôn:
*Cách phân loại theo loại hình văn bản
a Phân loại theo cấu trúc nội tại
Hausenblas (1966) đưa ra một bảng phân loại diễn ngôn theo cấu trúc nội tại được coi là trọn vẹn nhất ông dựa vào các tiêu chuẩn: Tính đơn giản/ phức tạp trong cấu trúc văn bản của diễn ngôn; Tính độc lập/ tính lệ thuộc của các diễn ngôn; Tính liên tục/ tính gián đoạn của các diễn ngôn để phân loại các diễn ngôn
Các diễn ngôn có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc gồm: diễn ngôn đơn ý (diễn ngôn có "một văn bản duy nhất với một nội dung ý duy nhất"); diễn ngôn không đơn ý (diễn ngôn chỉ có "một văn bản duy nhất mà có hơn một nội dung ý nghĩa"); diễn ngôn được làm thành từ "một văn bản và có chứa một phần lấy từ diễn ngôn khác" hoặc chứa một diễn ngôn trọn vẹn; văn bản truyện; diễn ngôn đối thoại được coi là được "làm thành từ một văn bản và được phân chia ra thành những diễn ngôn chuyển đổi nhau của hai hoặc hơn hai nhân vật tham dự đối thoại"; diễn ngôn
có câu trúc phức tạp; diễn ngôn chứa hai (hay hơn hai) văn bản; diễn ngôn có hai hoặc hơn hai văn bản dường như đan vào nhau Các diễn ngôn tự do và các diễn ngôn lệ thuộc: diễn ngôn tương đối độc lập, "tự thân toàn vẹn"; diễn ngôn tương đối độc lập với tình huống, nhưng ngoài những phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ thì còn có phương tiện không thuộc ngôn ngữ; diễn ngôn gắn chặt với tình huống Các diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn: Thuộc tính của diễn ngôn là có tính chất
Trang 40liền mạch, tính liên tục Các diễn ngôn gián đoạn có dạng tồn tại sau: diễn đạt bằng miệng, trong diễn đạt bằng văn tự, đó là: ghi chép, phác thảo dưới dạng đề cương; diễn ngôn gián đoạn trong trường hợp các bảng liệt kê như các sách từ điển, sách chỉ dẫn tham khảo kiểu từ điển ; diễn ngôn dùng điền vào các bảng điều tra, phiếu in sẵn có chứa các phần điền thành dòng, thành cột; hiện tượng gián đoạn cũng có thể nảy sinh trong diễn ngôn liên tục do những lý do bên ngoài hoặc ngẫu nhiên
b Phân loại theo khuôn hình văn bản
Cách phân loại này được Đinh Trọng Lạc, Diệp Quang Ban sử dụng, chia văn bản thành hai nhóm lớn: Văn bản xây dựng theo những khuôn hình cứng nhắc, đã được định sẵn: các văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ và một số văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực khoa học – kỹ thuật Văn bản xây dựng theo những khuôn hình mềm dẻo, bao gồm: diễn ngôn có khuôn hình thông dụng như các văn bản khoa học (bài báo, luận án khoa học) và một số văn bản báo chí; diễn ngôn có khuôn hình
tự do như tác phẩm văn chương
c Phân loại theo chức năng
Dựa vào chức năng của ngôn ngữ (theo D Nunan) có thể chia diễn ngôn thành hai loại: diễn ngôn giao dịch và diễn ngôn liên nhân Diễn ngôn giao dịch được tạo lập khi người phát và người nhận quan tâm đến đến sự trao đổi thông tin và dịch vụ,
ví dụ diễn ngôn chỉ đường của cảnh sát, diễn ngôn hướng dẫn sử dụng thuốc của bác sĩ… Diễn ngôn liên nhân được hình thành khi những người nói quan tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ để thiết lập hoặc duy trì các quan hệ xã hội, ví dụ thư cảm ơn, thư tình
Dựa vào các lĩnh vực khoa học hay phạm vi tri thức có thể chia diễn ngôn ra thành các loại: diễn ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn tôn giáo, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn hành chính, diễn ngôn hội thoại đời thường, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn phi nghệ thuật, diễn ngôn pháp lí, diễn ngôn quân sự…
d Phân loại theo phong cách học
Quan điểm phân loại phong cách học: Quan điểm đối lập giữa ngôn ngữ văn học và khẩu ngữ - ngôn ngữ nói và viết; dựa vào chức năng giao tiếp: chức năng thông báo, trao đổi, tác động, thẩm mĩ; Sự phân chia ba bình diện của các hiện tượng