Chương I Lời nói đầu 1.1.Lý do chọn đề tài: Sách từ lâu đã được coi là kho tàng trí thức vô tận của nhân loại và đọc sách là một trong những thói quen lâu đời nhất của nền văn minh loài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÌM HIỂU NHU CẦU ĐỌC SÁCH CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2
MỤC LỤC
Chương I 3
Lời nói đầu 3
1.1.Lý do chọn đề tài: 3
1.2.Câu hỏi nghiên cứu chính: 4
1.3.Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể: 4
1.4.Mục tiêu nghiên cứu: 5
Chương 2 5
Tổng quan 5
1.Khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu: 5
1.1.Sách: 5
1.2.Nhu cầu: 5
1.3.Đọc sách: 7
1.4.Khái niệm về nhu cầu đọc sách: 8
2.Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu có liên quan: 9
2.1.Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu của các tác giả: 9
2.1.1.Giới tính: 9
2.1.2.Hứng thú: 10
2.1.3.Mục đích: 10
2.1.4.Internet: 11
2.2.Mô hình lí thuyết cơ bản của đề tài: 13
3.Các kết quả nghiên cứu: 14
3.1.Kết quả nghiên cứu của các hoạt động trên Internet lên nhu cầu đọc: 14
3.2.Kết quả nghiên cứu của quỹ thời gian lên nhu cầu đọc : 14
3.3 Kết quả nghiên cứu của thể loại sách lên nhu cầu đọc : 14
3.4.Kết quả nghiên cứu của mục đích lên nhu cầu đọc : 14
Chương III 15
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 15
3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 15
3.3.Phương pháp thống kê toán học xử lí số liệu 16
Chương IV 16
Danh mục tài liệu tham khảo 16
Bảng câu hỏi/Phiếu khảo sát: 17
Trang 3Chương I
Lời nói đầu
1.1.Lý do chọn đề tài:
Sách từ lâu đã được coi là kho tàng trí thức vô tận của nhân loại và đọc sách là một trong những thói quen lâu đời nhất của nền văn minh loài người và có thể là duy nhất,sách đáp ứng đầy đủ nhu cầu giải trí lành mạnh cả về mặt kiến kiến lẫn tâm hồn.mặc dù vậy,xã hội ngày càng hiện đại thì ngoài sách ,con người còn bị ảnh hưởng bởi các phương tiện truyền thông đại chúng ,nhu cầu đọc sách bị lấn át bởi nhu cầu giải trí nghe, nhìn của công chúng nói chung và sinh viên nói riêng.Nếu trước đây đọc sách là một thú vui,một thói quen của rất nhiều người thì ngày nay thói quen ấy đang có nguy cơ mất dần đi,đã không ít người quên đi sách ,quên đi việc tìm kiếm sách,quên đi việc đọc sách hay không còn thiết tha về nhu cầu đọc sách
Trong thời đại ngày nay ,trước sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình ,các phương tiện hiện đại thì sách lại bị bỏ quên,không được quan tâm và chú ý,điều đáng lo là hiện tượng này đang tồn tại trong tầng lớp tri thức,sinh viên-thế hệ trẻ nước nhà,những chủ nhân tương lai của đất nước.Không quá khi nói rằng sách chứa đựng kiến thức, những chiêm nghiệm vô cùng quý giá được đúc kết từ cả đời người hay cả một thế hệ và truyền thụ lại cho ta,những thế hệ con cháu và cách hay nhất để chúng ta có thể rút ngắn được con đường đến đích của mình là sống qua cuộc đời của nhiều người trên mỗi trang sách của họ.Nhưng lạ thay,giới trẻ ngày càng hờ hững với việc đọc sách,liệu rằng họ tự tin mình đã
có đầy đủ vốn sống và kiến thức để không cần phải thời gian ,tiền bạc và cả công sức để đọc sách mặc dù sách càng ngày càng đa dạng về nội dung,hình thức lẫn thể loại,và đôi khi ta cũng không cần bỏ tiền ra để mua sách vì ngoài sách truyền thống ,công nghệ kĩ thuật đã cho ra đời loại sách điện tử,rất tiện dụng cũng như đa dạng nhưng vẫn không thu hút được sự quan tâm của giới trẻ
Cùng với việc nước ta vẫn chưa có một tổ chức,hay hoạt động xã hội nào để xây dựng thói quen đọc sách có hệ thống,nền giáo dục của Việt Nam vẫn chưa tiến hành giáo dục kĩ năng đọc sách có hệ thống từ bậc tiểu học đến đại học,và các loại sách mà người dạy
Trang 4truyền đạt cho người học thì chỉ là các bộ sách giáo khoa bắt buộc trong nhà trường,nhưng đọc sách lại xuất phát từ nhu cầu bản thân phải cần đọc và nó bắt nguồn từ thói quen hoặc sở thích dẫn đến việc giới trẻ không mấy ưa thích việc đọc sách
Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh ngày nay nằm trong hệ thống giáo dục đaị học Việt Nam với phương thức đào tạo theo tín chỉ ,lấy người học làm trung tâm đòi hỏi người học phải tự học tập,tự nghiên cứu là chính nên một trong những nhiệm vụ cấp thiết cần phải chú trọng là nâng cao tính tự giác tự học,tự tìm hiểu ,tự tra cứu tài liệu bằng việc đọc và tiếp thu.Vấn đề đặt ra ở đây là sinh viên nông lâm có đủ quan tâm để tự giác tìm kiếm sách đọc và có đủ kĩ năng để đọc sách đạt hiệu quả hay không ,hay nhu cầu đọc sách của sinh viên chỉ đến vì lí do tạm thời như bị giảng viên bắt buộc tìm đọc ,như vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đâu nó xuất phát từ nền giáo dục vẫn chưa hoàn thiện cũng như đủ quan tâm sâu sắc hay xuất phát từ chính bản thân mỗi sinh viên.Thực tế thì nhu cầu đọc sách của sinh viên Nông Lâm còn ở mức thấp,đa số các bạn còn chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc đọc sách,từ đó làm thu hẹp đi tầm kiến thức cũng như vốn sống bản thân,làm mất đi nhiều cơ hội trong cuộc sống,và tất nhiên cơ hội ở đây chính là việc làm của các bạn sau khi ra trường,đôi khi nhà tuyển dụng cần nhiều hơn những thứ bạn có trong tấm bằng,nó là vốn sống hay kiến thức bên ngoài.Từ đó hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường việc làm của chính bản thân các bạn sinh viên Nông Lâm sau khi tốt nghiệp so với các trường Đại học-Cao đẳng trong nước và trong khu vực
Vì những vấn đề cấp thiết trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu:”Tìm hiểu nhu cầu đọc sách của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh” với mong muốn nắm bắt một cách chính xác nguyện vọng cũng như nhu cầu thực sự của sinh viên
về việc đọc sách.Từ đó tìm ra những biện pháp,chính sách tích cực để đào tạo, nâng cao nhu cầu đọc sách cho sinh viên
1.2 Câu hỏi nghiên cứu chính:
Nhu cầu đọc sách của sinh viên Nông Lâm hiện nay như thế nào?
1.3 Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
1) Vai trò của việc đọc sách đối với sinh viên là gì?
Trang 52) Sinh viên dành thời gian cho nhu cầu đọc sách như thế nào?
3) Cần nâng cao nhu cầu đọc sách của sinh viên như thế nào?
4) Giải pháp khắc phục nhu cầu đọc sách của sinh viên để đạt hiệu quả là gì?
1.4 Mục tiêu nghiên cứu:
1) Khẳng định tính quan trọng của việc đọc sách trong sinh viên
2) Nghiên cứu quỹ thời gian dành cho việc đọc sách của sinh viên
3) Nâng cao văn hóa đọc sách trong sinh viên
4) Đề xuất giải pháp một cách hợp lí,hiệu quả dành cho nhu cầu đọc sách trong sinh viên
Chương 2
Tổng quan
1 Khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu:
1.1 Sách:
Theo Kouider Mokhtari (2002) sách là một khái niệm mở, hình thức sách còn được thay đổi và cấu thành các dạng khác nhau theo các phương thức chế tác và nhân bản khác nhau, tùy thuộc vào môi trường sống và sự phát triển của khoa học công nghệ ở mỗi thời đại Với A Reichard (2002) thì sách là thức ăn không thể thiếu của trí tuệ[CITATION Kou02 \
p 252 \l 1033 ].Và cũng tùy vào văn hóa,sự hiểu biết từ nhiều nơi,vốn kiến thức được cô đọng và được truyền từ đời này sang đời khác ,sách chứa đựng các giá trị văn hóa tinh thần (các tác phẩm sáng tác hoặc tài liệu biên soạn) thuộc các hình thái ý thức xã hội và nghệ thuật khác nhau, được ghi lại dưới các dạng ngôn ngữ khác nhau (chữ viết, hình ảnh,
âm thanh, ký hiệu, ) của các dân tộc khác nhau nhằm để lưu trữ, tích lũy, truyền bá trong
xã hội
Tóm lại sách là một dạng vật chất tồn tại từ lâu đời được con người đúc kết, chiêm
nghiệm và truyền qua các thế hệ sau, sách bao gồm cả kiến thức lẫn kinh nghiệm của người đi trước, với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật sách ngày nay đa dạng cả về hình thức,chỉn chu về nội dung,đặc biệt là sự ra đời của sách điện tử đang dần thay thế cho loại sách truyền thống ngày nào
1.2 Nhu cầu:
Theo Herry Murray (1938), khi nghiên cứu về vấn đề nhu cầu khẳng định: Nhu cầu là một
tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về mức
Trang 6độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế cũng khác nhau ở mỗi người (Trích dẫn bởi [CITATION LêT10 \p 38 \l 1033 ]).Trong cuốn “Những vấn đề lý luận và phương pháp luận trong tâm lý học định nghĩa: “ Nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình Dĩ nhiên, nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân”
Nhu cầu được hiểu nôm na là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức , môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý,mỗi người có những nhu cầu khác nhau,ko ai giống ai và cũng ko có chuẩn mực nào để đánh giá được nhu cầu như thế nào là tối thiểu,như thế nào là tối đa Tính đa dạng của đối tượng tạo nên
sự vô hạn của nhu cầu Abraham (1952) viết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn” Tuy nhiên sau các công trình nghiên cứu Linda Saumell (1999) đã có định nghĩa
về nhu cầu tối thiểu nhất hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tài, phát triển và tiến hóa và cũng theo bà thì nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (Linda Saumell, Marie Tejero Hughes, Kay Lopate,1999)
Theo Lê Thị Thúy Hiền (2010) cho rằng: Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, khách quan được con người phản ánh trong những điều kiện cụ thể và cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển [CITATION LêT10 \p 40 \l 1033 ]
Ms Kushmeeta Chettri (2013) định nghĩa nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần có được để tồn tại, để phát triển Ông chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích sống Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự Trong nhu cầu đạt mục đích có bốn nhóm: giàu có về vật chất; quyền lực và danh vọng; kiến thức và sáng tạo; hoàn thiện tinh thần, và tất nhiên để phù hợp với chủ đề nghiên cứu về nhu cầu đọc sách, ta chỉ cần phân tích nhu cầu về “ Kiến thức-Sáng tạo” là
đủ, và khi có kiến thức- sáng tạo thì con người ta mới có nhu cầu cao hơn khác Tùy vào thiên hướng của từng cá nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên thể hiện nổi trội Có thể
Trang 7trong một người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời [CITATION MsK13 \p 14 \l 1033 ]
Nhu cầu là động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người hoạt động nhằm tìm phương thức thỏa mãn nhu cầu Trong xã hội hiện nay, chúng ta cần phải có cách nhìn nhận, xác định đúng đắn các nhu cầu cơ bản, cấp bách, trước mắt và lâu dài trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, những nhu cầu xã hội nói chung cũng
như những nhu cầu cá nhân cụ thể nói riêng để tạo động lực cho sự phát triển xã hội
Tóm lại: Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu của cá nhân cần thỏa mãn để tồn tại và phát
triển Nhu cầu xuất hiện trong quá trình con người hoạt động tác động vào thế giới khách quan và là nguồn gốc của tính tích cực và óc sáng tạo trong hoạt động của con người
1.3.Đọc sách:
Đọc sách là chìa khóa để mở ra kho tàng kiến thức quý giá cho sự giàu có về kinh nghiệm của con người vượt xa khoảng cách hay thời gian Đọc sách cung cấp kinh nghiệm cho cá nhân để anh ta có thể mở rộng tầm nhìn của mình, hiểu rõ hơn về bản thân và người khác Theo GeetaliDas (2005) thì đọc sách là một vấn đề rất quan trọng đó không chỉ là về sự hưởng thụ mà là sự cần thiết [CITATION Gee05 \p 127 \l 1033 ].Các nhà nghiên cứu trong thập
kỷ qua đã nỗ lực hết sức để kiểm tra thói quen đọc sách của người học.Fayaz Ahmad Loan (2011) phân loại mức độ đọc thành 3 nhóm: Người đọc không hoạt động: là những người người thích đọc sách nhưng không dành thời gian đọc thường xuyên hay cập nhật hiểu biết Họ ưu tiên cho các hoạt động khác như thể thao, đời sống xã hội và việc học
Họ sẽ đọc trong thời gian thuận tiện như trong giờ nghỉ học hoặc sau khi hoàn thành hoạt động chính Nhóm thứ hai và thứ ba là những độc giả không cam kết và không có động lực Những người trong hai nhóm này có thái độ tiêu cực đối với việc đọc và không thích đọc[ CITATION Fay11 \l 1033 ]
Đọc sách được coi là nền tảng cho sự thành công, không chỉ ở trường học, mà còn trong suốt đời người Đọc thường xuyên và có hệ thống làm tăng trí tuệ, tinh chỉnh cảm xúc và cung cấp những quan điểm đúng đắn cho con người.Theo Bilkis Alaba (2015) đọc sách
bổ sung tầm nhìn mới cho mắt và trí tuệ mới cho tâm trí [CITATION Ham15 \p 108 \l
1033 ].Hameed có khái niệm :Đọc sách là biểu tượng của con người có văn hóa và văn minh Một xã hội chưa trọng thị sách là một xã hội chưa văn minh; một con người chưa
Trang 8có thú đọc sách thì con người đó đã khiếm khuyết đi một mảng lớn về văn hóa [CITATION Ham15 \p 107 \l 1033 ].
Trong một nghiên cứu gần đây hơn, Kamhieh (2017) đã phân loại cấp độ đọc của sinh viên các trường Đại học vào bốn nhóm: độc giả nặng (đọc 24 cuốn sách trở lên mỗi năm hoặc 2 cuốn sách mỗi tháng): những người đọc vừa phải (đọc 7-23 cuốn sách mỗi năm hoặc 1 cuốn sách mỗi tháng): độc giả hiếm (đọc 1-6 cuốn sách mỗi tháng (1 cuốn sách mỗi 2 tháng) và những người không phải là độc giả Hai nhóm cuốicùng tạo thành một tỷ
lệ lớn cho thấy thói quen đọc sách chưa được phát triển tốt Ba yếu tố làm cơ sở để phân loại đọc, đó là thói quen đọc, phương pháp chọn sách và kỹ năng đọc, các yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau[CITATION Kam17 \p 125 \l 1033 ]
Mặc dù vậy nhưng việc đọc sách vẫn chưa được đề cao và cho dù việc đọc để học tập hay giải trí cũng đều quan trọng vì nó giúp mở rộng kinh nghiệm và kiến thức của giới trẻ, theo Allington, Daniel, (2016) :”Một thói quen đọc tốt là cần thiết cho sự phát triển trí tuệ lành mạnh và đóng một vai trò rất quan trọng trong cho phép một người đạt được hiệu quả thiết thực” (Allington, Daniel, and Stephen Pihlaja,2016)
Tóm lại: Đọc sách cũng cần phải có kỹ năng cũng như phải có mục tiêu rõ ràng của
người đọc để đạt được hiệu quả tốt nhất, ngoài ra chúng ta cũng nên tập thói quen đọc sách thường xuyên,nhất là đại bộ phận giới trẻ ngày nay là những chìa khóa cho kiến thức lại sao nhãng ,ko quan tâm đến việc đọc
1.4 Khái niệm về nhu cầu đọc sách:
Luận án Tiến Sĩ “Nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm” của Hoàng Thị Thu Hà (2003) cho rằng:”Nhu cầu học tập là một trong những nhu cầu tinh thần đặc trưng ở người Đối tượng của nó là những kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, chưa từng có trong hệ thống kinh nghiệm cá nhân Những đối tượng này được phản ánh trong ý thức trở thành động cơ học tập Nó định hướng và thúc đẩy hoạt động học tập của con người” Nhu cầu học tập phản ánh sự thiếu hụt của cá nhân về kiến thức, kĩ năng mới và phương thức chiếm lĩnh nó vào trong ý thức của chủ thể học tập Con người sẽ không ngừng học tập nếu bản thân họ thực sự có nhu cầu học tập Nhu cầu học tập là thành một phần cơ bản của động cơ học tập, thúc đẩy tính tích cực và có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động
Trang 9học tập nâng cao trình độ của con người, giúp họ thích nghi với sự phát triển nhanh chóng của xã hội
Tóm lại: Nhu cầu đọc sách là đòi hỏi của người học đối với sự lĩnh hội nội dung
kiến thức, nhằm làm giàu vốn kinh nghiệm, phát triển và hoàn thiện nhân cách của bản thân, là trạng thái thiếu hụt về kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới được phản ánh trong não của người học Nhu cầu đọc sách là thành phần cơ bản,là nguồn gốc của tính tích cực và óc sáng tạo và có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập
2 Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu có liên quan:
Chúng ta biết rằng có nhiều nhu cầu dẫn đến việc đọc sách của sinh viên ,vì vậy nó có phạm vi rộng và khác nhau
2.1 Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu của các tác giả:
Bộ phận cấu thành nhu cầu:
Nhiều nhà tâm lí học có nhiều định nghĩa về nhu cầu tương đối giống nhau và học đã phân biệt và nghiên cứu ,có 3 bộ phận cấu thành nhu cầu
Theo các tác giả đồng nghiên cứu gồm Kouider Mokhtari và Carla A.Reichard thì các yếu
tố của nhu cầu có liên quan chặt chẽ được mô tả dưới sơ đồ sau
2.1.Giới tính ảnh hưởng đến nhu cầu đọc sách:
Mô hình nghiên cứu của [ CITATION Kou02 \l 1033 ].
2.1.1.Giới tính:
Kouider Mokhtari ,Carla A Reichard (2002) đã tiến hành nghiên cứu toàn diện nhất về nhu cầu đọc sách của sinh viên trong khoảng thời gian mười hai năm Nghiên cứu của ông tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn đọc của thanh thiếu niên và các báo cáo rằng giới tính,hứng thú và mục đích là yếu tố cấu thành đến nhu cầu đọc sách và ông lại cho rằng giới tính là yếu tố chính,chủ chốt cấu thành nhu cầu đọc Cùng nghiên cứu trên sau nhiều năm GeetaliDas (2005) có báo cáo rằng phụ nữ đọc nhiều hơn nam giới và những người có trình độ học vấn cao đọc nhiều hơn người có trình độ học vấn thấp hơn
Giới tính Nhu cầu đọc sách
Hứng thú
Mục đích
Trang 10[CITATION Gee05 \p 128 \l 1033 ] Ridwan (2009) báo cáo rằng nữ giới thích đọc nhiều hơn nam giới ,và nam giới thường có thái độ tiêu cực đối với việc đọc nhiều hơn là các cô gái,điều tra được rằng: Nam giới ít đọc hơn nữ giới khi họ dành thời gian rảnh rỗi để làm những việc thiên về hoạt động như thể thao, Moyes chỉ ra rằng cả nam và nữ đều đọc khoảng 2,5 giờ mỗi tuần,nhưng nam giới lại có xu hướng đọc giải trí ,còn nữ giới lại thiên
về kiến thức Hameed (2015) đã tiến hành một nghiên cứu về việc đọc báo và tạp chí trong thư viện của sinh viên tại một trường Đại học.Kết quả cho thấy hơn 90% người dùng đọc báo và tạp chí và tỷ lệ phụ nữ cao hơn nam giới [CITATION Ham15 \p 106 \l 1033 ]
2.1.2.Hứng thú:
Herbart (1776-1841) nhà tâm lý học nhà triết học, nhà giáo dục học, người Đức người sáng lập ra trường phái giáo dục hiện đại ở Đức thế kỷ XIX Đã đưa ra 4 mức độ của dạy học: Tính sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính phong phú, đặc biệt là hứng thú yếu
tố quyết định kết quả học tập của người học và đương nhiên nhu cầu đọc sách cũng cần sự hứng thú.Sự hứng thú giúp con người ta thêm phần động lực Ông cho rằng sự hứng thú làm cho sinh viên dành nhiều thời gian,công sức cũng như đam mê của mình vào việc đọc hơn và để hình thành sự hứng thú này yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất bắt đầu từ sự hình thành thói quen đọc sách từ bé do gia đình ,đặc biệt là cha mẹ.Đồng quan điểm cùng Herbart, Linda Saumell (2009) cho rằng niềm vui đối với việc đọc sách của trẻ không phải tự nhiên mà có nó cần cần được vun đắp và xây dựng hàng ngày, đặc biệt là dưới ảnh hưởng phần lớn từ cha mẹ cho con ngay từ thuở nhỏ.theo một cuộc khảo sát mà Akanda
đã nghiên cứu ,ông cho biết rằng hơn 85% sinh viên có hứng thú đối với việc đọc sách là
do họ đã được rèn luyện kĩ năng cũng như đam mê từ lúc nhỏ,và phần lớn sinh viên không có hứng thú trong việc đọc sách cũng cho rằng từ nhỏ họ không được tiếp xúc với việc đọc sách nhiều[CITATION Lin09 \p 13-14 \l 1033 ].Với những nghiên cứu đã có từ trước Herbart (1776-1841) cho rằng :”Khi sự hứng thú càng cao thì thời gian được bỏ ra cho việc đọc sách càng nhiều ,ông cũng cho thấy rằng mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa sự hứng thú và thời gian đọc sách.khi bản thân sinh viên có được sự hứng thú thì việc ưu tiên cho việc đọc sách là điều hiển nhiên
2.1.3.Mục đích: