1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn các tỉnh miền tây nam bộ

177 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ kết quả nghiên cứu, đánh giá trực trạng hoạt động kiểm tra công tác kiểmsoát TTHC của các tỉnh miền Tây Nam Bộ đã cho thấy còn nhiều bất cập tồn tạitrong quá trình thực hiện, cụ thể l

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM QUỐC SỬ

KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

TỪ THỰC TIỄN CÁC TỈNH MIỀN TÂY NAM BỘ

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Mã số: 9 38 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học

1: TS Trần Minh Đức 2: PGS.TS Nguyễn Cảnh Hợp

Hà Nội – 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả viết Luận án xin cam đoan rằng: Nội dung Luận án là kết quả củaquá trình nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, đánh giá của chính tác giả thực hiện.Nguồn tài liện được thu thập, sử dụng trong quá trình nghiên cứu có nguồn gốc cóxuất xứ rõ ràng của các tác giả đã công bố gồm: Sách chuyên khảo, đề tài khoa họcdưới hình thức luận án, luận văn, bài viết, bình luận của các nhà khoa học đăng tảitrên các tập chí khoa học được người viết giữ nguyên ý tưởng và trích dẫn rõ ràng;các tài liệu, giáo trình sử dụng để nghiên cứu được xuất bản và trích dẫn tác giả cụthể Các số liệu được sử dụng trong luận án là trung thực

Học viên viết luận án

Phạm Quốc Sử

Trang 3

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT Những cụm từ viết tắt Dịch nghĩa

Xã hội chủ nghĩaPhản ánh, kiến nghị

Trang 4

DANH MỤC CÁC BIỂU MẪU

(1) Biểu mẫu thống kê 3.2.2: Văn bản QPPL về Kiểm soát thủ tục hành chính

do địa phương ban hành

(2) Biểu mẫu thống kê 3.3.1: Số văn bản QPPL và TTHC được ban hành từ năm 2013 đến năm 2017

(3) Biểu mẫu thống kê 3.3.1: Số văn bản QPPL và TTHC được ban hành từ

(9) Biểu mẫu thống kê 3.3.6: Kết quả rà soát, đơn giản hóa, cắt giảm thời gian giải quyết TTHC năm 2017

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài 9

1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu của đề tài 22

1.3 Các vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 26

1.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 27

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 30

2.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò kiểm soát thủ tục hành chính 30

2.2 Chủ thể, cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính 40

2.3 Nội dung và quy trình Kiểm soát thủ tục hành chính 45

2.4 Điều kiện đảm bảo kiểm soát thủ tục hành chính 58

2.5 Kinh nghiệm kiểm soát thủ tục hành chính ở một số địa phương và quốc tế gợi mỡ cho các tỉnh Miền Tây Nam Bộ 60

Chương 3: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI CÁC TỈNH MIỀN TÂY NAM BỘ 76

3.1 Những yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến kiểm soát thủ tục hành chính tại Tỉnh Miền Tây Nam Bộ 76

3.2 Thực trạng về hệ thống pháp luật kiểm soát thủ tục hành chính 78

3.3 Thực trạng về tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo điều hành kiểm soát thủ tục hành chính tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ 80

3.4 Thực trạng kiểm soát thủ tục hành chính tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ 82

3.5 Về kết quả đạt được và những hạn chế tồn về kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn các tỉnh Miền Tây Nam Bộ 96

Chương 4: QUAN ĐIỀM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI CÁC TỈNH MIỀN TÂY NAM BỘ 112

4.1 Về quan điểm kiểm soát thủ tục hành chính 112

4.2 Giải pháp bảo đảm thông qua việc hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính 114

KẾT LUẬN 142

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 146

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách TTHC là vấn đề tiếp tục được Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chínhphủ xác định là một nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ khóa 13 và cũng là đòi hỏicủa thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nước ta

Để cải cách TTHC nói chung và kiểm soát TTHC nói riêng tiếp tục có nhữngkết quả mới, cần nhiều yếu tố tác động, bài học từ thực tiễn Đề án 30 về đơn giả hóaTTHC và các hoạt động cải cách tương tự cho thấy vấn đề nhận thức là yếu tố quantrọng nhất, bao gồm nhận thức của lãnh đạo cơ quan hành chính các cấp, nhận thứccủa đội ngũ cán bộ cũng như nhận thức của người dân và cộng đồng doanh nghiệp

về công tác này

Vấn đề được người dân và cộng đồng doanh nghiệp rất quan tâm là làm saotránh tình trạng vừa cắt giảm những thủ tục không cần thiết, lại tránh phát sinh racác thủ tục mới Vấn đề này trước hết nằm ở việc thay đổi nhận thức của ngườiđứng đầu các bộ, ngành, địa phương trong việc điều hành, phát triển kinh tế xã hộitheo định hướng đã được Thủ tướng Chính phủ nhắc đến trong bài viết xác địnhnhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016: “Phải chuyển mạnh từ nhànước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển” Điều này có nghĩa là

cơ quan hành chính các cấp cần có một tư duy mới về mối quan hệ giữa nhà nướcvới thị trường; giữa nhà nước với công dân và doanh nghiệp dựa trên nền tảngquyền con người, quyền công dân theo quy định hiến pháp 2013 được đảm bảo thựcthiện đã trở thành xúc tác cho sự phát triển, tạo điều kiện phát huy mọi nguồn lực xãhội Tư duy đó sẽ giúp hạn chế việc can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của thịtrường, của xã hội bằng các biện pháp hành chính, mà điển hình là các thủ tục hànhchính mang tính chất xin cho, hạn chế, vốn chỉ có tác dụng trong ngắn hạn nhưngkhông bền vững và kìm hãm sự phát triển của xã hội

Để đáp ứng yêu cầu này, năm 2010 Chính phủ ban hành Nghị định số63/2010/NĐ-CP ngày 08-6-2010 về kiểm soát TTHC, trong đó, xác lập hệ thống tổchức, quy định quy trình, trình thực thực hiện và điều kiện đảm bảo đề hoạt độngkiểm soát TTHC được phát huy hiệu quả trên thực tế Sự ra đời của quy định kiểmsoát TTHC đề đảm bảo mục tiêu kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động các cơquan hành chính Nhà nước, kiểm soát chặt chẽ hoạt động ban hành TTHC, tránhđược tính tự phát, tùy tiện; quy trình công bố, công khai, minh bạch toàn bộ TTHC

Trang 7

thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan Nhà nước đến người dân, doanhnghiệp; quy trình tổ chức, thực thi TTHC góp phần chấn chỉnh những vi phạm trongviệc tiếp nhận và giải quyết TTHC; hạn chế tình trạng vi phạm về thẩm quyền banhành TTHC Hoạt động công bố, công khai, rà soát, kiến nghị đơn giản hóa TTHCđược thực hiện thường xuyên, khắc phục cơ bản tình trạng nhiều TTHC còn rườm

rà, bất hợp lý chưa được cắt giảm, sửa đổi cho phù hợp; thời gian giải quyết TTHCcòn kéo dài; việc phối hợp giải quyết TTHC giữa các cơ quan hành chính chưa kịpthời gây khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân; hoạt động niêm yết công khaiTTHC chưa đúng quy định; người đứng đầu một số cơ quan chưa thực sự quan tâmđến công tác kiểm soát TTHC

Với quy trình và kết quả hoạt động kiểm soát TTHC đã trở thành một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình CCHC, là mục tiêu mà Đảng và Nhà nướcquyết tâm đẩy mạnh thực hiện trong cải cách TTHC được tiến hành thường xuyên,liên tục nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định TTHC, đáp ứng yêu cầu công khai,minh bạch, tạo cơ thế giám sát việc thực hiện hành vi công vụ của đội ngũ cán bộ,công chức, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và tổ chức và trởthành công cụ quan trọng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, xây dựng nền hànhchính thân thiện, trong sạch, hiện đại, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; xâydựng chính quyền gần dân, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn

Kiểm soát TTHC đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của đời sống chính trịhiện nay, gắn kết chặc chẽ với hoạt động cải cách TTHC, phụ thuộc lẫn nhau giữapháp luật và quyền lực, giữa thực thi và kiểm soát việc thực thi và quá trình huyđộng cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động của Bộ máy Nhà nước

Mối quan hệ tương tác này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần thực hiệnhiệu quả hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua công cụ kiểm soátTTHC tạo thành cơ chế giám sát việc tuân thủ pháp luật từ bên trong nội bộ các cơquan hành chính Nhà nước và huy động người dân, cộng đồng doanh nghiệp cùngtham gia thể hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Nhà nước.Qua đó, xác lập chuẩn mực giao tiếp, tạo điều kiện cho công dân thực hiện hiệu quảcác quyền cơ bản của công dân, đảm bảo các quan hệ giao tiếp thật sự văn minh,khoa học và nhân văn

Thực tiễn cho thấy, kiểm soát TTHC là làm cho TTHC được ban hành đảmbảo tính khả thi, có chi phí tuân thủ thấp nhất, đảm bảo công khai, minh bạch, đơn

Trang 8

giản, dễ hiểu, dễ thực hiện thì quyền lợi chính đáng của cá nhân, tổ chức càng dễđược đáp ứng, cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước an tâm hơn trong hoạt động đầu

tư, khuyến khích kinh tế phát triển theo định hướng, nhờ đó, củng cố niềm tin củanhân dân, các đối tác nước ngoài vào Đảng, Nhà nước Ngược lại, TTHC rườm rà,phức tạp là trở ngại rất lớn đối với cá nhân, tổ chức trong việc tiếp cận với nhữngchính sách có lợi của Nhà nước, đây sẽ là nhân tố gây suy giảm niềm tin của nhândân vào Đảng, chính quyền Mặt khác, gây khó khăn cho các cá nhân, doanh nghiệptrong và ngoài nước muốn thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh phát triển kinh tế,nếu tình hình kéo dài sẽ gây bất ổn về chính trị, kéo lùi sự phát triển kinh tế

- xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay Ngoài ra,Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 05-12-2016 về cải cách hành chính, nhất là cải cách

TTHC giai đoạn 2016-2020 đã đặt ra mục tiêu là “xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại; xây dựng chính quyền liêm khiết, kiến tạo, hành động, phục vụ tổ chức, công dân, tạo môi trường thuận lợi để huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh” Điều đó có ý nghĩa quan trọng về sự cần thiết, đặt ra nhiệm vụ thường xuyên nghiên cứu, cải tiến hoạt động kiểm soát TTHC để thật sự

trở thành lĩnh vực khoa học trong công tác quản lý hành chính Nhà nước

Từ kết quả nghiên cứu, đánh giá trực trạng hoạt động kiểm tra công tác kiểmsoát TTHC của các tỉnh miền Tây Nam Bộ đã cho thấy còn nhiều bất cập tồn tạitrong quá trình thực hiện, cụ thể là: Còn khá nhiều quy định TTHC không cần thiết,không hợp lý, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện; công bốTTHC chưa đầy đủ, chưa kịp thời, một số TTHC không có trong quy định củaTrung ương; việc công khai, niêm yết TTHC chưa được quan tâm thường xuyên,vẫn còn xảy ra tình trạng chậm công bố TTHC, thời gian giải quyết TTHC vẫn cònkéo dài so với quy định; một số đơn vị còn tiếp nhận hồ sơ theo quy định cũ; trongquá trình giải quyết TTHC của một số cơ quan, đơn vị còn có tình trạng thu thêm hồ

sơ, giấy tờ ngoài quy định; chưa thực hiện nghiêm quy định về gửi thư xin lỗi cho tổchức, cá nhân khi giải quyết hồ sơ TTHC sai sót, trễ hạn; việc rà soát, đánh giáTTHC phục vụ yêu cầu xem xét, sửa đổi, bổ sung quy định TTHC tại các văn bảnquy phạm pháp luật chưa được các sở, ngành quan tâm đề xuất thực hiện; một sốđơn vị, địa phương chưa quan tâm đến chất lượng đội ngũ công chức làm nhiệm vụ

Trang 9

đầu mối kiểm soát TTHC; Tỷ lệ hồ sơ áp dụng giải quyết qua dịch vụ công trựctuyến mức độ 3, 4 chưa cao; việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHCqua dịch vụ bưu chính công ích chưa hiệu quả; nhiều quy định TTHC được diễn giải

và áp dụng khác nhau gây ra sự thiếu rõ ràng và không nhất quán Chưa kể, tìnhtrạng thiếu hệ thống hóa các quy trình và sự phối hợp thiếu hiệu quả giữa các cơquan quản lý làm buông lỏng việc thực thi pháp luật TTHC; việc tổ chức thực hiệncòn nhiều yếu kém, chậm được khắc phục Nhiều TTHC không được tổng kết, sửađổi, bổ sung kịp thời trong quá trình kiểm tra, thực hiện; công tác đào tạo, bồidưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát TTHC chất lượng còn kém, ít tínhsáng tạo và chưa sát với thực tiễn; cơ chế quy định trách nhiệm người đứng đầuchưa phát huy hiệu quả; tình trạng sách nhiễu người dân và doanh nghiệp chưa đượcngăn chặn; sự tham gia, đóng góp ý kiến của người dân, tổ chức, Doanh nghiệp vàcông chúng vào quy trình kiểm soát TTHC chưa được coi trọng, hoặc chưa đượctiếp thu và điều chỉnh kịp thời…

Thực tiễn đã chỉ ra rằng: Kiểm soát TTHC là yêu cầu bức xúc của nhân dân,doanh nghiệp, của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá của tiếntrình cải cách hành chính Nhà nước Trong tiến trình phát triển và hội nhập, thì hoạtđộng kiểm soát TTHC có một vai trò đặc biệt quan trọng Nếu TTHC nói riêng, nềnhành chính nói chung không được hay chậm cải cách thì sẽ là một rào cản kìm hãm

sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ta Đây là những vấn đề đặt ra cần đượcnghiên cứu, đánh giá làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện

Hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu toàn diện về hoạt động kiểm soátTTHC Đối với các tỉnh Miền Tây Nam Bộ chưa có công trình nghiên cứu nào ở đềtài Tiến sỹ về lĩnh vực này Từ lý do đó, Nghiên cứu sinh đã đề xuất và được chọn

đề tài:“Kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn các Tỉnh miền Tây Nam Bộ” để

thực hiện Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, vớimong muốn góp phần hoàn thiện về mặt lý luận, thực tiễn hoạt động này

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Về lý luận

Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề cụ thể liên quan đến hệ thống lý luận về kiểm soát TTHC như:

Trang 10

Khái niệm, đặc điểm, bản chất, vai trò, chủ thể, cơ cấu tổ chức, nội dung, trình

tự, thủ tục và những nguyên tắc bảo đảm, điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật vềkiểm soát thủ tục hành chính hiện nay Kết quả nghiên cứu lý luận làm cơ sở choviệc nghiên cứu thực trạng và đưa ra những luận chứng khoa học cho các quanđiểm, đề xuất giải pháp thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC của cơ quan Nhànước cấp tỉnh tại các Tỉnh Miền Tây Nam Bộ hiện nay

và thực thi TTHC và nguồn lực cán bộ làm nhiệm vụ kiểm soát TTHC

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở kết quả mục tiêu nghiên cứu đã làm rõ về những vấn đề lý luận vàthực tiễn, thì nhiệm vụ nghiên cứu triển khai thực hiện thông qua việc thực hiện cácnhiệm vụ cụ thể sau:

- Trên cơ sở những vấn đề lý luận về TTHC, Luận án xây dựng khái niệm pháp luật về kiểm soát TTHC

- Phân tích làm rõ các đặc điểm, nội dung, các yêu cầu và điều kiện bảođảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC của hệ thống cơ quan hành chính Nhànước các Tỉnh Miền Tây Nam Bộ hiện nay

- Tìm hiểu pháp luật về kiểm soát TTHC ở một số nước và một số địaphương từ đó rút ra những điểm hợp lý có thể vận dụng ở Việt Nam và các tỉnhMiền Tây Nam Bộ

- Khái quát thực trạng, rút ra những ưu điểm, hạn chế trong thực hiện phápluật về kiểm soát TTHC tại cơ quan hành chính Nhà nước cấp tỉnh tại các TỉnhMiền Tây Nam Bộ

Trang 11

- Luận chứng các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật vềkiểm soát TTHC tại cơ quan hành chính Nhà nước cấp tỉnh tại các Tỉnh Miền TâyNam Bộ hiện nay làm cơ sở cho những đề xuất giải pháp hoàn thiện.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án được tập trung nghiên cứu các nhóm vấn đề về lý luận, thực trạng vềthể chế pháp lý kiểm soát TTHC và nhóm vấn đề về thực trạng tổ chức thực hiệnhoạt động kiểm soát TTHC tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian, Luận án tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động

kiểm soát TTHC trong phạm vi các Tỉnh Miền Tây Nam Bộ

- Về thời gian, Luận án khảo sát nhiệm vụ kiểm soát TTHC chính thức được

triển khai thực hiện từ thời điểm năm 2010 đến 2017, là thời gian hình thành thể chếpháp lý về kiểm soát TTHC theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08tháng 6 năm 2010 của Chính phủ

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu về những

vấn đề lý luận, thực tiễn thông qua việc thu thập số liệu, phân tính đánh giá thựctrạng liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ Luận

án không nghiên cứu về việc kiểm soát chất lượng đối với từng thủ tục hành chính

cụ thể, ở từng lĩnh vực cụ thể; cũng như không nghiên cứu sâu về kiểm soát việcthực hiện từng thủ tục hành chính cụ thể

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhànước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, về CCHC, cải cách TTHC và kiểm soát TTHC

-và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay, tác giả đã vận dụng cácnguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng; duy vật lịch sử, phương pháp thống

kê, phân tích, so sánh, đánh giá và làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu đặt ra từ đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận án sử dụng cácphương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng bao quát trong tất cả các

Trang 12

chương, mục của luận án để phát hiện, luận giải thuyết phục về các nội dung liên quan đến chủ đề luận án.

- Phương pháp cấu trúc hệ thống: Được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và

3 của luận án nhằm nhận diện và đánh giá hoạt động kiểm soát TTHC trong mốiliên hệ đồng bộ, thống nhất với cơ chế tổ chức và hoạt động liên quan đến cải cáchhành chính, cải cách TTHC, kiểm soát TTHC và kiểm soát quyền lực Nhà nước

- Phương pháp luật học so sánh: Được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và 4

của luận án để làm sáng tỏ các mô hình pháp lý về tổ chức và hoạt động kiểm soátTTHC ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam

- Phương pháp thống kê: Được sử dụng trong chương 1 và chương 3 của

luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và thựctrạng hoạt động kiểm soát TTHC ở Việt Nam nói chung và tại các Tỉnh Miền TâyNam Bộ nói riêng

- Phương pháp xã hội học pháp luật: Được sử dụng trong chương 2, 3, 4 của

luận án nhằm tìm hiểu mối liên hệ nền tảng của pháp luật về kiểm soát TTHC

- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng chủ yếu trong chương 3 nhằm nhận

diện các đặc điểm và các bước tiến trong nhận thức và pháp luật về hoạt động kiểmsoát TTHC ở Việt Nam

- Phương pháp dự báo khoa học: Được sử dụng chủ yếu trong chương 4

nhằm dự báo về các yêu cầu và xu hướng phát triển mở rộng các phạm vi kiểm soátTTHC tại các Tỉnh Miền Tây Nam Bộ

Việc kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp được sử dụng để phân tích,xác định các vướng mắc, bất cập, trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị, đề xuất cụ thể và

có tính khả thi cao, được áp dụng nhanh chóng trong thực tế

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học nghiên cứumột cách toàn diện và có hệ thống về lĩnh vực pháp luật kiểm soát TTHC Và cónhững đóng góp mới như sau:

Thứ nhất: luận án làm sáng tỏ những vấn đề khoa học mà chưa hoặc đã được

đề cập nhưng còn thiếu thống nhất và thiếu toàn diện trong một số công trìnhnghiên cứu khác, cụ thể như: Chủ thể, khái niệm, đặt điểm, vai trò, các điều kiệnbảo đảm, những đặc trưng cơ bản và những nhân tố ảnh hưởng, mức độ tác động từ

Trang 13

hoạt động kiểm soát TTHC đối với quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vàviệc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của nền hành chính hiện nay.

Thứ hai: luận án tập trung phân tích, đánh giá và làm rõ thực trạng, chỉ ra

những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của quá trình triển khai thực hiện tại cáctỉnh Miền Tây Nam Bộ

Thứ ba: luận án đưa ra các quan điểm cơ bản làm cơ sở cho việc đề xuất các

giải pháp cụ thể việc tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm soát TTHCcác tỉnh Miền Tây Nam Bộ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án là nguồn tư liệu góp phần bổ sung và phát triển một số vấn đề lýluận của bộ môn lý luận chung về Nhà nước và pháp luật và khoa học luật hànhchính về kiểm soát TTHC

- Luận án đóng góp vào sự thống nhất về mặt nhận thức của đội ngũ cán bộ,công chức về pháp luật kiểm soát TTHC, nhất là về vai trò của pháp luật này trongviệc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nền hành chính ở nước ta nói chung và địaphương các tỉnh Miền Tây Nam Bộ nói riêng

- Về mặt học thuật, luận án đóng góp vào nguồn tài liệu để thực hiện việctham khảo bổ ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy của các cơ sở đào tạo luật,các cơ sở nghiên cứu khoa học pháp lý, cũng là tài liệu tham khảo bổ ích trong hoạtđộng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về kiểm soát TTHC của các cấpchính quyền hiện nay

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công

bố và danh mục tài liệu tham khảo Luận án gồm 4 Chương được cơ cấu như sau:

- Chương I, Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Chương II, Những vấn đề lý luận về kiểm soát thủ tục hành chính

- Chương III, Thực trạng kiểm soát thủ tục hành chính tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ

- Chương IV, Quan điểm và giải pháp bảo đảm kiểm soát thủ tục hành chính tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về lý luận kiểm soát thủ tục hành chính 1.1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về CCHC, cải cách TTHC

Vấn đề CCHC, cải cách TTHC là vấn đề có liên quan trực tiếp đến hoạt độngkiểm soát TTHC được đề tài luận án trực tiếp nghiên cứu vì hoạt động kiểm soátTTHC không thể tách rời với hoạt động CCHC, cải cách TTHC Tiêu biểu các côngtrình nghiên cứu về CCHC, cải cách TTHC có thể nói đến các công trình nghiêncứu sau:

+ Tác giả Đoàn Trọng Tuyển với công trình nghiên cứu “Giáo trình Hànhchính học đại cương” công bố năm 1997 [128] Tác giả Lê Văn Hòe và Nguyễn ThịThủy với công trình nghiên cứu “Giáo trình Luật hành chính Việt Nam” của ViệnĐại học mở Hà Nội công bố năm 2013 [tr 274-83] Công trình nghiên cứu của tác

giả Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu “Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam” nhà

xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội công bố năm 2009 [65]… Điểm chung nhấtcủa những công trình nêu trên tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận cơ bản

về nền hành chính, cấu trúc của nền hành chính và những vấn đề liên quan, nhưkiểm tra, giám sát hành chính, thông tin trong hoạt động quản lý hành chính, vấn đềCCHC, khái niệm, ý nghĩa của TTHC, phân loại TTHC, các nguyên tắc xây dựng vàthực hiện TTHC và vấn đề cải cách một bước TTHC ở Việt Nam hiện nay Đặt biệtlàm rõ nghĩa chung nhất về TTHC, các tác giả tập trung phân tích các tiêu chí phânloại TTHC, các nguyên tắc xây dựng và thực hiện TTHC, vai trò của TTHC và vấn

đề cải cách TTHC, đưa ra quan niệm tổng quát về TTHC và khẳng định “TTHC là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của CQHC Nhà nước trong mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân công dân, là một loại hình quy phạm hành chính” [Tr208-128]

+ Tác giả Nguyễn Văn Thâm với công trình nghiên cứu “Thủ tục hành chính;

Lý luận và thực tiễn” [170], nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2002) đề cập khá

công phu về TTHC đi từ khái niệm, phân loại, ý nghĩa, đặc điểm đến thực tiễn việc cảicách thủ tục hành chính ở Việt Nam và có đi phân tích cải cách TTHC ở một

Trang 15

số lĩnh vực, cung cấp nhiều tài liệu, luận cứ rất tốt để làm cơ sở nghiên cứu.

+ Công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Diệu Oanh “Về minh bạch hóa hoạt động chính quyền địa phương” [139] nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội

(2002) đã nghiên cứu và đưa ra những hệ thống lý luận và những luận cứ khoa học

về vấn đề công khai, minh bạch hóa, ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động này

có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện luận án Công trình

nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức về Cải cách hành chính địa phương – Lý luận và thực tiễn 1998 [73] và Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Văn

phòng Chính phủ về Dự thảo Luật TTHC, tổ chức tại thành phố Hạ Long, tháng7/2007; Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Văn phòng Chính phủ góp ý Dự thảo LuậtTTHC, tổ chức tại Hội An, tháng 3/2008; Kỷ yếu Hội thảo khoa học đã tập hợpnhững công trình nghiên cứu là bài viết chuyên sâu của nhiều chuyên gia, nhà khoahọc về vấn đề lý luận TTHC, làm rõ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa, tầm quan trọngcủa TTHC trong đồi sống xã hội và việc ban hành TTHC…

Tóm lại: Những công trình nghiên cứu nêu trên mặt dù nghiên cứu về những

vấn đề cơ bản về lý luận liên quan đến CCHC và TTHC Kết quả các công trìnhnghiên cứu có ý nghĩa quan trọng gợi mở nhiều nội dung cho việc nghiên cứu vàvận dụng của luận án được tác giả chọn lọc trong quá trình nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu này mang tính đơn lẻ trên từng lĩnh vực hoạtđộng cụ thể, chọn cách tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chưa đề cập đến mối liênquan đến hoạt động kiểm soát TTHC nên không có sự trùng lập với luận án đượctác giả nghiên cứu

1.1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về lý luận kiểm soát TTHC

Những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp về lý luận Kiểm soát TTHCtuy không nhiều Trong đó, có thể kể đến những công trình nghiên cứu mang tínhtiêu biểu sau:

+ Công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Văn Côi với Đề tài nghiên cứu cấp Bộ

“Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cải cách, kiểmsoát TTHC tại Bộ Công thương” công bố năm 2012 [46], đã tập trung nghiên cứumột cách có hệ thống về lý luận Trong đó, tập trung phân tích làm rõ những vấn đềmang tính lý luận như: khái niệm, nội dung và đặc điểm kiểm soát TTHC, đơn giản

Trang 16

hóa TTHC, quy trình lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản QPPL có quy định TTHC,thực thi TTHC và vấn đề kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ công chức làm côngtác kiểm soát TTHC… kết quả nghiên cứu của đề tài đã khái quát cơ bản nhữngvấn đề lý luận, có giá trị lý luận, thực tiễn, gợi mở nhiều nội dung quan trọng để tácgiả tiếp cận nghiên cứu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện luận án.

+ Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính, do Bộ Tư phápxuất bản năm 2008 [52] Mặt dù có tên gọi là hướng dẫn nghiệp vụ, nhưng trong đó

đã trình bày những vấn đề lý luận về kiểm soát TTHC liên quan đến những vấn đề

cơ bản sau: Sự tham gia ý kiến đối với quy định TTHC, cách tính chi phí xây dựng

và thực hiện TTHC, công bố, công khai TTHC, rà soát, đánh giá quy định TTHC,tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, kiểm tra việc thực hiện TTHC, các nguyên tắcban hành và duy trì các TTHC thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và có chi phí tuânthủ thấp nhất, huy động toàn xã hội tham gia vào quy trình kiểm soát TTHC….Qua

đó khẳng định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động này được luận án thamkhảo để nghiên cứu về nội dung kiểm soát TTHC Đây là tài liệu được tác giảnghiên cứu, tham khảo trong quá trình thực hiện luận án về kiểm soát TTHC

+ Giáo trình Cải cách hành chính, kiểm soát TTHC của Trường Chính trị tỉnh

Cà Mau xuất bản năm 2017 [186] Đây là công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõnhững vấn đề cơ bản về kiểm soát TTHC Trong đó, nghiên cứu sâu về những nội

dung cơ bản liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC gồm: Những vấn đề cơ bản

về hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính; khái niệm, nguyên tắc, nội dung, chủthể, cơ cấu tổ chức, quy trình ban hành văn bản QPPL có quy định TTHC, đơn giảnhóa TTHC; Công bố, công khai TTHC; Thực thi TTHC và rà soát, đánh giá TTHC;Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về TTHC Nội dungnghiên cứu này có liên quan trực tiếp đến nội dung của đề tài luận án đang nghiêncứu sẽ được tiếp thu và chọn lọc trong quá trình xây dựng hoàn thiện luận án

+ Trang thông tin điện tử Cải cách hành chính – Bộ Tư pháp có các bài

“Kiểm soát TTHC góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả và

hiện đại”; bài “ Công tác kiểm soát TTHC đã góp phần đáng kể trong công cuộc cải cách hành chính tại tỉnh Thái Bình “Côngvàbài tác kiểm soát TTHC đã góp phần đáng kể trong công cuộc cải cách hành chính tại tỉnh Hà”…GiangNộidung các bài

Trang 17

viết tập trung phân tích, đánh giá những yếu tố đặc trưng cơ bản, ý nghĩa, tầm quantrọng về hoạt động kiểm soát TTHC tác động trực tiếp đến quá trình lãnh đạo, chỉđạo, điều hành của chính quyền địa phương hai tỉnh Thái Bình và Hà Giang.

+ Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Linh, “Kiểm soát Thủ tục Hành chính trong thực hiện nhiệm vụ Cải cách Hành Chính” [110] đăng trên tập chí Tổ chức

Nhà nước số ra ngày 21/5/2013; luận giải về hoạt động kiểm soát TTHC trở thànhmột trong những nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình CCHC và là mục tiêu mà Đảng

và Nhà nước quyết tâm đẩy mạnh thực hiện trong cải cách TTHC nói riêng và cảicách nền hành chính Nhà nước nói chung Kiểm soát thủ tục hành chính là một quytrình được thực hiện ngay từ khi đề nghị xây dựng văn bản QPPL và phải tiến hànhthường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC nhằm bảo đảm tínhkhả thi của quy định TTHC, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình

tổ chức thực hiện TTHC; cũng như giám sát việc thực hiện của đội ngũ cán bộ, côngchức nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và tổ chức

+ Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ

Chí Minh phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản thực hiện 2007, “Nâng cao năng lực của cán bộ Chính phủ trong cải cách hành chính” [89] đã huy động

nhiều nhà khoa học tham gia với các bài viết có giá trịnh tham khảo cao tập trungvào nội dung đánh giá thực trạng và đưa ra những quan điểm khoa học rất cơ bản đểkhẳng định nguồn lực cán bộ, công chức tác động trực tiếp đến thành công, thất bạitrong mọi hoạt động của Chính phủ, trong đó đi sâu làm rõ những vấn đề liên quantrực tiếp đến hoạt động CCHC nói chung

+ Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

(Viện Nhà nước và Pháp luật) -USAID - VNCI (200B), với chủ đề “Quản lý thể chế

và năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế suy thoái” [90] có nhiều bài viết tham luận

của các nhà khoa học được tiếp cận bằng nhiều gốc độ khác nhau về quản lý thểchế, trong đó đề cập sâu về hoạt động ban hành thể chế, quy trình kiểm soát việcban hành thế chế, nội dung thể chế … Nhũng nội dung này gợi mở nhiều vấn đề cógiá trị tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận án

+ Luận án tiến sĩ luật học với đề tài “Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan Nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn

Trang 18

Văn Linh [112], bảo vệ thành công năm 2015 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về hoạt động kiểm soát TTHC đốivới chính quyền cấp tỉnh của Việt Nam Trong đó, đi sâu nghiên cứu những vấn đề về

lý luận TTHC Nhà nước và cơ chế đảm bảo thực thi TTHC chính quyền cấp tỉnh

+ Nhóm công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn thạc sỹ có: Đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính ở nước ta hiện nay” [79] của tác giả Đoàn Thị Hồng Hạnh, bảo vệ thành công năm 2012 tại Trường Đại học Luật Hà Nội; Đề tài “Kiểm soát thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai” của Nguyễn Thị Thanh Hoa, bảo vệ thành công năm 2017; đề tài “Pháp luật về kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Hùng Huệ, với bảo vệ thành công năm 2017; đề tài “tăng cường kiểm soát TTHC hiện nay” của Nguyễn Văn Định, bảo vệ thành công năm 2012.

+ Luận văn của Nguyễn Văn Định có đề cập đến việc “tăng cường kiểm soát TTHC” ở phạm vi cả nước Việt Nam, nhằm làm rõ vai trò của kiểm soát TTHC đối với công cuộc CCHC của Việt Nam Tuy nhiên, luận văn này cũng chỉ đề xuất các

giải pháp chung nhằm cải cách TTHC ở Việt Nam, như tiếp tục đơn giản hóaTTHC, công khai TTHC, v.v…, chưa làm rõ về thực trạng triển khai các nhiệm vụ

cụ thể trong hoạt động kiểm soát TTHC, những tồn tại về cơ chế pháp lý liên quanđến hoạt động kiểm soát TTHC, và do đó cũng chưa đưa ra được các biện phápnhằm bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ trong hoạt động kiểm soát TTHC hiện nay

Ngoài rà còn có những công trình nghiên cứu tiêu biểu của một số tác giảtrong nước và nước ngoài công bố liên quan đến lý luận, thực tiễn hoạt động kiểmsoát TTHC của Việt Nam có thể kể đến những công trình tiêu biểu như sau:

+ Bài viết của tác giả Tâm Vũ ”Thành công cải cách hành chính tại Anh qua Chương trình One in – One out (Một vào – Một ra)” [131] đã trình bày khái quát mô

hình One in - One out (Một vào - Một ra) Theo đó, nội dung chương trình này làcác cơ quan ban hành TTHC phải tiến hành đánh giá tác động của TTHC trước khiban hành, bảo đảm khi ban hành mới TTHC có phát sinh chi phí cho doanh nghiệpthì cơ quan ban hành quy định đó phải có giải pháp cắt giảm mức chi phí tươngđương chi phí doanh nghiệp vừa bỏ ra phù hợp nội dung nghiên cứu

Trang 19

+ Bài viết của Jim Winkler “Năng lực và thẩm quyền thực sự cho cơ quan kiểm soát TTHC” [105], đã nhấn mạnh đến vai trò điều tiết của Chính phủ trong cải

cách và thực hiện TTHC, mà cụ thể là cơ quan kiểm soát TTHC phải đảm bảo rằngviệc đánh giá tác động của các luật lệ được thể hiện không chỉ đối với các TTHC

mà cả đối với các luật, pháp lệnh, nghị định Cơ quan này cần phải có trách nhiệm

và khả năng để phối hợp thực hiện từ Trung ương đến địa phương đã làm rõ thêm về

mô hình tổ chức, hoạt động của cơ quan kiểm soát TTHC

+ Sách “Hành chính trực tuyến - Hướng dẫn căn bản về chính phủ điện tử

ở Áo” [147] của Pirker, Austrian Federal Chancellery, Dept (2011) Nxb MediGuide

Verlags Gesmbh, 1150 Vcenna đã bình luận và đưa ra nhiều nội dung liên quan đếnnghiệp vụ Kiểm soát TTHC Trong đó có thể nói đến nội dung về đơn giản hóa các quytrình, thủ tục, truyền thông và thủ tục trong nội bộ và giữa các cơ quan Nhà

nước, cũng như giữa chính phủ và công dân, doanh nghiệp, ứng dụng mã số côngdân, hệ thống định danh cá nhân thống nhất trên phạm vi toàn nước Áo, nhờ đótoàn bộ quy trình có thể được thực hiện theo phương thức điện tử, mà không cầnphải in ra giấy ở bất kỳ khâu nào, từ việc điền mẫu đơn, nộp lệ phí, xử lý công việcnội bộ (hệ thống hồ sơ điện tử ELAR) Cuốn sách đã gợi mở những nhận thức mới,cách làm mới trong cải cách và thực hiện TTHC, kiểm soát TTHC ở Việt Nam

1.1.2 Những nghiên cứu về thực trạng kiểm soát thủ tục hành chính

Các công trình nghiên cứu về thực trạng hoạt động kiểm soát TTHC hiện nay

có thể nói đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

+ Luận án TS của Nguyễn Văn Linh “Thực trạng pháp luật về giải quyết TTHC cửa cơ quan Nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” [112] bảo vệ thành công 2015; Luận án tiến sĩ của Trần Thanh Phương với đề tài về “TTHC trong hoạt động của UBND cấp huyện” (2003), công trình nghiên cứu này đã tập trung làm rõ

thực trạng pháp luật về giải quyết TTHC của cấp tỉnh ở Việt Nam và thực trạngTTHC ơ cấp huyện

+ Đề tài cấp Bộ do Đỗ Văn Côi làm chủ nhiệm, năm 2012 [46] đã đề cập vàphân tích về những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình thực hiện TTHCtrước khi triển khai thực hiện “Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính và Nghị định

số 63/2010/NĐ-CP ngày 10/6/2010 của Chính phủ” Thực trạng việc lấy ý kiến đối

Trang 20

với dự thảo văn bản QPPL có quy định TTHC, vấn đề tổ chức bộ máy và cán bộcông chức làm công tác kiểm soát TTHC, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiệnTTHC, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác cải cách TTHC và kiểm soátTTHC Đề tài khoa học này đã được tác giả tham khảo để phục vụ cho việc nghiêncứu về thực trạng của công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

+ Bài viết của TS Ngô Hải Phan Cục trưởng Cục Kiểm soát TTHC Cổng

thông tin điện tử Bộ Tư pháp 12/8/2016 “Bắt đầu từ đổi mới giải quyết thủ tục hành chính” [72] đã đánh giá thực trạng về giải quyết TTHC của một số Bộ, Ngành

Trung ương và địa phương thông qua kết quả Kiểm tra đã đề cập nhiều vấn đề bất cập trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả TTHC

+ “Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về ban hành quyết định hành chính” [27]

của Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính Bộ Tư pháp năm 2015 đã làm rõ thực trạngquá trình ban hành quyết định hành chính của Việt Nam và đề cập đến thực trạng,kinh nghiệm của một số quốc gia về hoạt động ban hành quyết định hành chínhthông qua việc giải quyết TTHC và cơ chế xử lý những quyết định hành chínhkhông phù hợp Kết quả nghiên cứu của công trình này đã nói lên thực trạng vềpháp luật và TTHC có liên quan đến quá trình giải quyết TTHC là một trong nhữngnội dung quan trọng thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án Qua đó, gợp mở nhiềuvấn đề quan trọng cần được tiếp tục nghiên cứu

+ Năm 2011, Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam có kiến nghị chính sáchthương mại [49] cũng tiến hành rà soát, thống kê, đánh giá thực trạng về TTHC liênquan đến hoạt động kinh doanh thương mại làm cơ sở khoa học kiến nghị cơ quan

có thẩm quyền nghiên cứu thực hiện việc đơn giản hóa TTHC theo quy định

+ Đề án 2 thuộc Chương trình 909 “về đổi mới công tác xây dựng, ban hành

và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật” [29], nghiệm thu năm 2007,

do Bộ Tư pháp chủ trì đã đưa ra nhiều nội dung và tổng kết, đánh giá thực trạngcông tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL, trong đo có hoạt động ban hành TTHCtrong văn bản QPPL

+ Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Bộ Tư pháp trong khuôn khổ Dự án

VE/02/015-VNCI [30] về “Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo Luật Ban hành văn bản QPPL (sửa đổi)” đã có nhiều bài viết của các nhà khoa học nghiên cứu các

Trang 21

yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả và khả thi của pháp luật, đụng chạm trực tiếp đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC.

+ Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Bộ Tư pháp thực hiện năm 2012 [15] về

“Các yêu cầu trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ và cácHiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) về TTHC” của John Benliley -

Cố vấn trưởng pháp luật của Dự án Star - Việt Nam Trong đó có khá nhiều bài viết

có giá trị tham khảo bổ ích không chỉ cho việc bảo đảm tính phù hợp của LuậtTTHC với pháp luật và thông lệ quốc tế mà còn gợi mở nhiều vấn đề quan trọngtrong việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật TTHC

Liên quan đến lĩnh vực này còn có khá nhiều công trình nghiên cứu là cácbài viết được công bố trên tập chí, trang thông tin điện tử và trên báo chí Tiêu biểucho những công trình nghiên cứu này có thể kể đến các tác phẩm:

+ “Kiểm soát chất lượng quy định thủ tục hành chính thông qua quy trình đánh giá tác động” [149] của TS Lê Vệ Quốc, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính,

đăng trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp 26/11/2014, tác giả đã đề cập toàndiện thực trạng hoạt động kiểm soát chất lượng việc ban hành TTHC, trong đó phảnánh nhiều TTHC được ban chưa qua kiểm soát chất lượng hoặc có kiểm soát chấtlượng nhưng hiệu quả còn thấp

+ Bài viết “Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả và hiện đại” Công thông tin của Chính phủ năm 2015, bài viết “Kiểm soát Thủ tục Hành chính trong thực hiện nhiệm vụ Cải cách Hành Chính” và bài viết “Kiểm soát chất lượng việc ban hành thông tư tại các bộ - nhìn

từ góc độ công tác kiểm soát thủ tục hành chính” [97] của TS Ngô Hải Phan Cục

trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp26/11/2014 Các công trình này tập trung nghiên cứu, thống kê thực trạng và nhữngkhó khăn, tồn tại từ thể chế pháp luật về kiểm soát TTHC và đây là nguyên nhân cơbản làm cho hoạt động kiểm soát TTHC chưa phát huy hiệu quả

+ “Hoàn thiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhìn từ góc độ kiểm soát thủ tục hành chính trong quá trình lập pháp” [97] của Lê Vệ Quốc,

Phòng Kiểm soát TTHC khối KG-VX, đăng trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Trang 22

ngày 26/11/2014 Tác giả tập trung phân tích sâu về thực trạng những mâu thuẩn

của các quy định của Luật Ban hành văn QPPL với thể chế kiểm soát TTHC

+ Đặc san của Tạp chí Đầu tư nước ngoài, với tiêu đề “Chung tay cải cách

TTHC” năm 2002 [66] đã đăng tải nhiều bài viết về kết quả nghiên cứu thực tiễn

cải cách và thực hiện TTHC, trong đó có bài viết của Nguyễn Minh Mẫn về “Cách

làm mới thể hiện quyết tâm chính trị”; bài “Mấu chốt thành công là từ người đứng

đầu”, tác giả Đinh Văn Ân; bài “Chính phủ cần tiếp tục điều hành trực tiếp”, tác giả

Lê Quốc Ân; bài “Máy xén phải đủ mạnh”, tác giả Dương Thu Hương; bài “Ba

được hai chưa”, tác giả Nguyễn Đình Cung; bài “Phải gỡ từ gốc những xung đột

giữa các luật”, tác giả Trần Du Lịch Đặc biệt, Đặc san cũng đăng tải nhiều bài viết

về những thành công, những khó khăn, vướng mắc trong cải cách và thực hiện

TTHC, kiểm soát TTHC ở một số địa phương như: Bài viết của tác giả Hoài Nam;

“Bắc Ninh và cuộc tổng động viên cho cải cách”

+ Trang thông tin điện tử Cải cách hành chính – Bộ Tư pháp có các bài

“Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp,

hiệu quả và hiện đại”; Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần xây dựng nền hành

chính chuyên nghiệp, hiệu quả và hiện đại”, bài “ Công tác kiểm soát thủ tục hành

chính đã góp phần đáng kể trong công cuộc cải cách hành chính tại tỉnh Thái Bì bài “Công tác kiểm soát thủ tục hành chính đã góp phần đáng kể trong công cuộc cải cách hành chính tại tỉnh

Hà Giang” Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Linh,

“Kiểm soát Thủ tục Hành chính trong thực hiện nhiệm vụ Cải cách Hành Chính”

đăng trên tập chí Tổ chức Nhà nước số ra ngày 21/5/2013; Bài viết “Giải pháp nào

cho TTHC hợp với lòng dân”, Báo diện tử tầm nhìn (ngày 25/7/2017) Thực trạng

pháp luật về kiểm soát TTHC

Nghiên cứu về thực trạng hoạt động kiểm soát TTHC còn có những đề tài

luật án được nghiên cứu khá công phu, toàn diện thực trạng kiểm soát TTHC như:

+ Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Thanh Hoa bảo vệ thành công

năm 2017 với Đề tài “Kiểm soát thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai” Công

trình nghiên cứu này đã tập trung nghiên cứu khá toàn diện về hoạt động kiểm soát

TTHC trên lĩnh vực cụ thể là TTHC lĩnh vực đất đai đã đánh giá khá toàn diện

những vấn đề bất cập có liên quan như: Thể chế, thực thi…

Trang 23

+ Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Hùng Huệ, với đề tài “Pháp luật về kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” bảo vệ thành công năm 2017 Đây là công trình nghiên

cứu chuyên sâu về Pháp luật kiểm soát TTHC có phạm vi nghiên cứu là hoạt độngkiểm soát chất lượng TTHC trong ban hành văn bản QPPL đã tập trung đề cập đến hailĩnh vực cơ bản là thể chế hoạt động kiểm soát chất lượng và thực trạng của hoạt độngnày….Các công trình nghiên cứu đánh giá về thực trạng hoạt động kiểm

soát TTHC của tác các giả nêu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng, đề cậpđến ưu điểm và bất cập về thể chế, tổ chức và hoạt động kiểm soát TTHC được tácgiả tập trung nghiên cứu khá toàn diện, trên nhiều lĩnh vực khác nhau Đặt biệt lànhững tồn tại về cơ chế pháp lý, tổ chức thực hiện liên quan đến hoạt động kiểmsoát TTHC hiện nay

Những vấn đề đã được nghiên cứu, làm rõ có giá trị tham khảo đễ chọn lọc

và tiếp tục được nghiên cứu, tiếp thu và kế thừa trong luận án Tuy nhiên, các côngtrình nghiên cứu nêu trên chỉ tập trung nghiên cứu từng lĩnh vực đơn lẽ của hoạtđộng kiểm soát TTHC chưa có công trình nào nghiên cứu mang tính toàn diện vềhoạt động kiểm soát TTHC cũng như tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ Vì vậy, việcnghiên cứu đề tài về ”Kiểm soát TTHC từ thực tiễn các tỉnh Miềm Tây Nam Bộ”của luận án không có sự trùng lập với luận án khác

1.1.3 Những công trình nghiên cứu đề xuất giải pháp kiểm soát thủ tục hành chính

Cục Kiểm soát TTHC, Bộ Tư pháp đã biên tập nhiều sách tham khảo có giá trị lýluận và thực tiễn, nhất là giá trị thực tiễn trong xây dựng và thực hiện phápluật về kiểm soát TTHC Đáng chú ý là các ấn phẩm sau: Hiệp hội doanh nghiệpViệt Nam, “Kiến nghị chính sách thương mại” (2011), cuốn sách được biên tậpdưới sự tài trợ của Liên minh Châu Âu, được coi là “Cuốn sách trắng”, trình bàycác quan điểm, kiến nghị của các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam, như Hiệp hộiDệt may Việt Nam (VITAS), Hiệp hội Da giày Việt Nam (LEFASO), Hiệp hội Chếbiến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội các Doanh nghiệp nhỏ vàvừa thành phố Hà Nội (HASMEX) đã kiến nghị nhiều nội dung liên quan đến cảithiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ những khó khăn về chính sách, pháp luật,thực thi pháp luật, trong đó có đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực

Trang 24

- Bài “Các hiệp hội muốn tăng cường đối thoại”, khảo sát của Hội đồng Tưvấn thuộc Ban Chỉ đạo Đề án 30; “Tân Cảng Sài Gòn - Hiệu quả lớn từ đơn giảnTTHC” của Đinh Mạnh đã đưa ra những kiến nghị thực hiện việc đơn giản hóa TTHC

và giải pháp huy động doanh nghiệp tham gia vào quá tình xây dựng pháp luật…

- Bài viết của Jim Winkler “Năng lực và thẩm quyền thực sự cho cơ quankiểm soát TTHC”, đã đề xuất giải pháp nâng cao cải cách và thực hiện TTHC, cụ thể

là hoàn thiện tổ chức, hoạt động cơ quan kiểm soát TTHC, đánh giá tác động của cácluật lệ được thể hiện không chỉ đối với các TTHC mà cả đối với các luật, pháp lệnh,nghị định; đề xuất về mô hình tổ chức, hoạt động của cơ quan kiểm soát TTHC

- Đề tài cấp Bộ năm 2012 do Đỗ Văn Côi [46] đưa ra những đề xuất hoàn thiện

về khái niệm kiểm soát TTHC trên cơ sở phân tính những nội dung và đặc điểm củaTTHC, kiểm soát TTHC; đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh kiểm soát TTHC,trong đó có các giải pháp trọng tâm là tăng cường công tác chỉ đạo thực hiện côngtác CCHC và kiểm soát TTHC, và giải pháp lấy ý kiến đối với dự thảo văn bảnQPPL có quy định TTHC, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ công chức làm côngtác kiểm soát TTHC, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện TTHC,ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác CCHC và kiểm soát TTHC Đề tàikhoa học này đã được tác giả tham khảo để phục vụ cho việc nghiên cứu về thựctrạng của công tác kiểm soát thủ tục hành chính

- Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính, Nhà xuất bản Tư

pháp, Hà Nội, năm 2013 Đây là cuốn sách hướng dẫn nghiệp vụ nhưng có giá trị vềthực tiễn hết sức quan trọng, trong đó đã đưa ra những định hướng cơ bản về sựtham gia ý kiến đối với quy định TTHC, hướng dẫn cách tính chi phí xây dựng vàthực hiện TTHC, công bố, công khai TTHC, rà soát, đánh giá quy định TTHC, tiếpnhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, kiểm tra việc thực hiện TTHC, quản lý và sử dụngcán bộ công chức đầu mối kiểm soát TTHC Tài liệu này được nghiên cứu thamkhảo trong phần đề xuất kiến nghị

- Luận án TS của Nguyễn Văn Linh “Thực trạng pháp luật về giải quyết TTHC cửa cơ quan Nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” bảo vệ thành công 2015; Luận án tiến sĩ của Trần Thanh Phương với đề tài về “TTHC trong hoạt động của UBND cấp huyện” (2003), công trình nghiên cứu này đã tập trung làm rõ thực

Trang 25

trạng pháp luật về giải quyết TTHC của cấp tỉnh ở Việt Nam và thực trạng TTHC ởcấp huyện trong đó đã nghiên cứu đền xuất các nhóm giải pháp cơ bản đó là: Hoànthiện hệ thống lý luận nhận thức; tiếp thục hoàn thiện và khắc phục những hạn chếbất cập từ sự chưa thống nhất của pháp luật về CCHC, cải cách TTHC với kiểm soátTTHC; giải pháp nâng cao hoạt động chỉ đạo, điều hành, hoạt động truyền thôngnâng caao nhận thức pháp luật về kiểm soát TTHC hiện nay…

+ Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Hùng Huệ, với đề tài “Pháp luật

về kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” bảo vệ thành công năm 2017 Đã đưa ra

những giải pháp chuyên sâu về nâng cao chất lượng TTHC trong ban hành văn bảnQPPL, những nguyên tắc của hoạt động kiểm soát TTHC như: Huy động toàn xãhội tham gia vào quy trình kiểm soát thủ tục hành chính, chỉ ban hành và duy trì cácthủ tục hành chính thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và có chi phí tuân thủ thấpnhất đã khẳng định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động này trong quá trìnhthực hiện cải cách hành chính ở nước ta hiện nay

1.1.4 Những công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến nội dung kiểm soát thủ tục hành chính

Những công trình nghiên cứu tiêu biểu của một số tác giả trong nước vànước ngoài công bố liên quan đến lý luận, thực tiễn và giải pháp hoạt động kiểmsoát TTHC của Việt Nam có thể kể đến những công trình tiêu biểu như sau:

- Tác giả Chu Dương với quyển sách “Thể chế Nhà nước của các quốc gia trên thế giới”, nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2005 đã làm rõ một số nội dung

có liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC như : Quy trình ban hành thể chế, huyđộng người dân tham gia góp ý kiến dự thảo văn bản thể chế, tham vấn ban hành thểchế, đặt điểm thể chế và một số nội dung khác có giá trị tham khảo

- CIEM-GTZ (2008) Rà soát hệ thống giấy phép kinh doanh – phát hiện vàkiến nghị đã đưa ra một số nội dung, biện pháp thực hiện hoạt động rà soát, cáchthức rà soát, kiến nghị xử lý và phương thức xử lý những điểm bất cập, cơ chế giámsát, phản biện xã hội

- Pirker, Austrian Federal Chancellery, Dept (2011), “Hành chính trực Hướng dẫn căn bản về Chính phủ điện tử ở Áo”, nhà xuất bản MediGuide Verlags

Trang 26

tuyến-Gesmbh, 1150 Vcenna đã nghiên cứu về lý luận, thực trạng về nền hành chính trực

tuyến và vấn đề liên quan đến chính phủ điện tử tại quốc gia này, qua đó gợi mỡnhiều nội dung quan trọng trong việc nghiên cứu, hoàn thiện luận án

- Gunning (2002), “Hiểu biết về nền dân chủ - Một giới thiệu về lý thuyết lựa chọn công cộng” (Understanding democracy - An introduction to Public choice) công

trình nghiên cứu này tuy không nghiên cứu trực tiếp về vấn đề CCHC, cải cáchTTHC nhưng đã dưa ra những nội dung lý luận, cách thức tiếp cận có liên quan đếnnhu cầu hiểu biết của công dân và giải pháp giúp công dân tiếp cận và tham giaquản lý Nhà nước, quản lý xã hội thông qua một số hệ thống lý thuyết cơ bản

- Bài viết của tác giả Tâm Vũ ”Thành công cải cách hành chính tại Anh qua Chương trình One in – One out (Một vào – Một ra) đã trình bày khái quát mô hình

One in - One out (Một vào - Một ra) Theo đó, nội dung chương trình này là các cơquan ban hành TTHC phải tiến hành đánh giá tác động của TTHC trước khi banhành, bảo đảm khi ban hành mới TTHC có phát sinh chi phí cho doanh nghiệp thì

cơ quan ban hành quy định đó phải có giải pháp cắt giảm mức chi phí tương đươngchi phí doanh nghiệp vừa bỏ ra phù hợp nội dung nghiên cứu

- Deregulation and Guillontine See Jacob&Assoiate (2007): Hoàn thiện môi

trường pháp luật Việt Nam: Sàng lọc quy định theo phương pháp máy cắt

xén Đây là công trình nghiên cứu về thực trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện đối

với pháp luật Việt Nam kiến nghị áp dụng quy định sàng lọc bằng phương pháp máycắt xén, trong đó đã làm rõ nội dung quy định, cách thức thực hiện, biện pháp thựchiện, quy trình hoạt động của phương pháp máy cắt xén là những nội dung có tínhtham khảo cao

Matsushita M, Hướng dẫn hành chính (Administrative Guidance) International Trade and Competition Law in Japan, Oxford University Press, là côngtrình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động hướng dẫn hành chính, công trình nghiêncứu này đã tập trung làm rõ về nhận thức lý luận, đánh giá thực trạng và so sánh kếtquả đạt được thông qua mô hình hướng dẫn hành chính Đây là những nội dungnghiên cứu có tính ứng dụng cao được tiếp thu trong quá trình nghiên cứu hoànthiện luận án

Trang 27

Bài viết của Tiến sỹ Phạm Hồng Quang, Hướng dẫn hành chính một số nộidung quan trọng của Luật Thủ tục hành chính Nhật Bản và vấn đề bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, Dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng3/2010; Luật thủ tục hành chính của Nhật Bản, Administrative Procedure Law ofJapan, ban hành năm 1962, sửa đổi gần đây nhất ngày 12/11/1993; Đạo luật Thủ tụchành chính" 5 của Trung Quốc (168, http://www.fl168.com/ReadText- 5858); Nhậpmôn Luật Hành chính, Gyoseihou Nyumon, nhà xuất bản Ziyukokuminsya; lànhững công trình nghiên cứu tiêu biểu có nhiều nội dung nghiên cứu liên quan trựctiếp đến hoạt động kiểm soát TTHC ở nước ta được tác giả luận án nghiên cứu.Trong đó, nhiều nội dung mang tính lý luận, thực tiễn, đặc biệt nghiên cứu về sựkhác biệt của hệ thống pháp luật nước ngoài với pháp luật Việt Nam liên quan đếnhoạt động kiểm soát TTHC và được đánh giá cụ thể tại chương 2 của luận án.

- Ngoài rà còn có công trình nghiên cứu là bài viết “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh" của S Chiavo - Campo và

P.S.A Sundaram thuộc Ngân hàng phát triển châu Á (nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, 2003); “Cải cách giáo dục ở các nước phát triển - Cải cách Giáo dục ở Mỹ" và

“Cải cách giáo dục ở các nước phát triển - Cải cách Giáo dục ở Anh" của Lữ Đạt,

Chu Mãn Sinh, Lưu Lập Đức, Chu Hải Yến - Trung Quốc, Nhà xuất bản Giáo dụcViệt Nam, 2010 đã đưa ra nhiều gợi ý quan trọng cho quá trình nghiên cứu và cógiá trị tham khảo trong việc ứng dụng tại Việt Nam cũng như tại các tỉnh Miền TâyNam Bộ

1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Những kết quả các công trình nghiên cứu đã đạt được

Điểm chung nhất của các công trình nghiên cứu đã đề cập đến hệ thống cơ sở

lý luận cơ bản có liên quan đến những vấn đề về hệ thống khái niệm, đặt điểm, vaitrò, nội dung, đánh giá những ưu điểm và bất cập từ thực tiễn về cải cách TTHC,kiểm soát TTHC, kinh nghiệm, giải pháp Từ đó đề và đề xuất các giải pháp hoànthiện Đây là những vấn đề được tiếp cận, nghiên cứu, đánh giá trong quá trình hoànthiện luận án

Trang 28

1.2.1.1 Về kết quả đạt được của những công trình nghiên cứu về lý luận

Từ kết quả thống kê nghiên cứu các công trình được công bố liên quan đến lýluận với số lượng khá lớn, phong phú và đa dạng, được tiếp cận từ nhiều hướng vớicác mức độ liên quan khác nhau về phương pháp luận CCHC, cải cách TTHC, kiểmsoát TTHC đã làm rõ khá nhiều nội dung cơ bản được tiếp cận, nghiên cứu và vậndụng trong quá trình hoàn thiện luận án như: Hệ thống các khái niệm, phân tích,luận giải những vấn đề về nhận thức lý luận liên quan đến đặc điểm, vị trí vai trò,mối quan hệ tác động của cải cách TTHC, kiểm soát TTHC…được tiếp cận vớinhiều gốc độ khác nhau, gởi mở nhiều hướng nghiên cứu phong phú hay cần đượcchọn lọc trong cách tiếp cận của luận án

1.2.1.2 Kết quả đạt được của những công trình nghiên cứu về thực trạng

Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng khá phong phú Trong

đó làm rõ thực trạng về hoạt động cải cách TTHC, kiểm soát TTHC vời nhiều nộidung có ý nghĩa quan trọng như: Thực trạng về hệ thống thể chế quy định về cảicách TTHC, kiểm soát TTHC, thực trạng về kết quả triển khai thực hiện các quyđịnh pháp luật trên thực tiễn, hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành…trên cơ sở đólàm rõ những vấn đề bất cập, đánh giá nguyên nhân, điều kiện của từng vấn đề hạnchế cụ thể…có giá trị thao khả hay trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận án

1.2.1.3 Kết quả đạt được của những công trình nghiên cứu về đề xuất giải pháp kiểm soát thủ tục hành chính

Trên cơ sở đáng giá thực trạng, xác định từng nhóm nội dung còn hạn chế bấtcập và nguyên nhân của hạn chế đó, nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra những

đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện có giá trị tham khảo trong thực tiễn Trong đó, cónhóm hoàn thiện hệ thống thể chế, phương pháp, cách thức tổ chức triển khai thựchiện khá phong phú và có những giải pháp được đúc kết từ thực tiễn có gí trị thamkhảo cao được nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện thêm trong luận án

1.2.1.4 Kết quả đạt được của những công trình nghiên cứu nước ngoài về kiểm soát thủ tục hành chính

Mặt dù tên gọi của các công trình nghiên cứu của nước ngoài được công bố

là CCHC, qua nghiên cứu cho thấy có nhiều nội dung liên quan đến một số hoạtđộng thuộc phạm vi hoạt động kiểm soát TTHC của Việt Nam hiện nay Trong đó,

Trang 29

gồm những vấn đề về như: Đơn giản hóa TTHC; minh bạch hóa quy định hànhchính, quy trình ban hành quy định hành chính, phương pháp huy động người dântham gia vào quá trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL có quy định TTHC,hướng dẫn thực hiện quy định hành chính….những nội dung này đã gợi mỡ nhiềuquan điềm, cách làm hay được nghiên cứu, tiếp cận, chọn lọc trong nghiên cứu về lýluận, hoàn thiện giải pháp kiến nghị.

Tóm lại, Kết quả của các công trình nghiên cứu đã cung cấp một lượng kiến

thức quan trọng về hệ thống các giá trị liên quan đến vấn đề CCHC, cải cách TTHC,kiểm soát TTHC Qua đó khẵng định bản chất, vị trí, vai trò và tính tất yếu của kiểmsoát TTHC với mối quan hệ tương tác với mục tiêu CCHC, Cải cách TTHC hiệnnay Các công trình nghiên cứu đã làm rõ về nội dung, thực trạng, thiết chế pháp lýcủa vấn đề cải cách TTHC, nêu bật ý nghĩa, tầm quan trọng của các hoạt động nàytác động đến vấn đề hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơquan hành chính Nhà nước, tác động trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế - xãhội và đảm bảo các quyền công dân Những công trình này đã luận giải rất nhiều nộidung, làm sáng tỏ và gợi mở rất nhiều vấn đề luận án sẽ tiếp cận và nghiên cứu

Tuy nhiên, các quan điểm nghiên cứu cũng đang có nhiều khoảng trống,nhiều sự khác biệt, cùng với các thông tin đa chiều đã thấy rõ hơn tính phức tạp củavấn đề Đây là nguồn tư liệu cần thiết, rất quan trọng để tiếp tục nghiên cứu sâu vềnhững nội dung trọng yếu của đề tài luận án

1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục kế thừa và phát triển

2.2.1 Trên phương diện lý luận

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy: Trên phương diện nghiên cứu về lý luậnCCHC; cải cách TTHC, kiểm soát TTHC có những công trình nghiên cứu khá côngphu, lảm rõ những vấn đề cơ bàn về nhận thức lý luận liên quan đến vấn đề kháiniệm, vị trí, vai trò CCHC, cải cách TTHC, kiểm soát TTHC và nhận thức chung vềkiểm soát TTHC và những yếu tố ảnh hưởng, điều kiện đảm bảo…được luận án tiếptục nghiên cứu, kế thủa phát triển tiếp tục hoàn thiện Tuy nhiên, còn những vấn đềchưa được nghiên cứu làm rõ như: Nhận thức chung lý luận kiểm soát TTHC trongtổng thể hoạt động CCHC, hệ thống các khái niệm, đặc điểm kiểm soát TTHC cònnhiều quan điểm khác nhau

Trang 30

Cũng trên phương diện nhận thức lý luận, đã có sự thừa nhận chung về sựcần thiết của quá trình kiểm soát việc ban hành văn bản QPPL, cải cách TTHC vàthực thi TTHC, trong đó xác định vị trí, vai trò của pháp luật trong việc chế địnhhóa các nội dung của quyền lực Nhà nước và các yếu tố đảm bảo thực thi, trong đó

có yêu cầu của hoạt động ban hành và hoạt động thực thi, là những vấn đề đã đượcchấp nhận trong hầu hết các công trình nghiên cứu Nhưng về một số khía cạnh nộihàm của hoạt động này và mô hình điều chỉnh pháp luật đối với một số cơ chế kiểmsoát TTHC trong Nhà nước pháp quyền chưa được nghiên cúu có hệ thống

2.2.2 Về phương diện thực trạng

Các công trình nghiên cứu đã tổng kết khá đầy đủ quá trình hình thành vàphát triển quan điểm của Đảng ta về cải cách TTHC, kiểm soát TTHC được nhậnxét, đánh giá thống nhất trong nhiều công trình nghiên cứu đã đạt được sự đồngthuận trên những luận điểm cơ bản được nghiên cứu, tiếp thu và tiếp tục hoàn thiện

Mặt khác, các công trình nghiên cứu trên lĩnh vực này đã thông kê, đánh gíakhá nhiều về thực trạng kết quả triển khai thực hiện cải cách TTHC, kiểm soátTTHC trên nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương khác nhau đã cho thấy cách nhìn tổngquan về kết quả thực hiện Bên cạch đó, còn tập trung phân tích làm rõ nguyênnhân, điều kiện về thực trạng…đã nhận diện cách nhìn đa chiều Đây là những vấn

đề được quan tâm nghiên cứu trong quá trình xây dựng luận án

2.2.3 Trên phương diện đề xuất, kiến nghị

Các công trình nghiên cứu về cơ bản hướng sự quan tâm đến nhu cầu tìmkiếm các giải pháp khả thi về nội dung hoạt động kiểm soát TTHC trong đó cónhững giải pháp về nhận thức, về hoàn thiện pháp luật, về tổ chức thực hiện và cácgiải pháp khác nhằm tạo lập các điều kiện đảm bảo cho hoạt động kiểm soát TTHC.Tuy nhiên, các giải pháp nghiên cứu đề xuất tập trung cho từng lĩnh vực cụ thể củahoạt động kiểm soát TTHC chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu mangtính chuyên sâu, đưa ra những giải pháp kiến nghị mang tính toàn diện cho tất cảcác lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của hoạt động kiểm soátTTHC

Tóm lại: Các công trình nghiên cứu nêu trên tuy không nhiều, nhưng đã đề

cập từ nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau và đưa ra nhiều gợi ý, rất nhiều thông tin

Trang 31

bổ ích phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của luận án Tuy nhiên, hoạt động kiểmsoát TTHC chưa có công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống Do đó,việc tìm hiểu, nghiên cứu sẽ được tiếp cận một phần làm phong phú thêm cơ sở lýluận và thực tiễn về kiểm soát TTHC tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ hiện nay.

1.3 Các vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

- Về tính tất yếu của kiểm soát TTHC chưa được nghiên cứu có hệ thống, sựluận chứng về nhu cầu kiểm soát TTHC mới chỉ dừng ở từng cơ chế kiểm soát cụthể, chưa có sự khái luận mang tính chất tổng thể

- Về nội dung kiểm soát TTHC, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập tớinhu cầu kiểm soát, nhưng chưa nghiên cứu toàn diện về cơ chế, vị trí, vai trò, đặcđiểm, khả năng tác động, phương thức tác động quy trình, trình tự thực hiện củatừng nội dung cụ thể kiểm soát TTHC

Trang 32

- Mặc dù thực trạng một số cơ chế kiểm soát TTHC đã được một số côngtrình nghiên cứu tiến hành đánh giá ở các mức độ khác nhau nhưng nguyên nhâncủa các ưu điểm và hạn chế của các cơ chế đó chưa được chỉ ra một cách đầy đủhoặc mới chỉ dừng ở mức độ nêu ra mà chưa có sự luận giải sâu sắc, đầy đủ.

- Hầu như chưa có công trình trong nước nghiên cứu toàn diện về mô hình, nội dung của pháp luật về kiểm soát TTHC

- Hiện tại đang thiếu một hệ quan điểm được thừa nhận chung về mô hình phápluật cần thiết và khung pháp luật cơ bản cho việc ghi nhận và điều chỉnh quá trình hoạtđộng kiểm soát TTHC Bất cập lớn nhất của hoạt động nghiên cứu thể hiện ở tính đơn

lẻ, thiếu hệ thống, các giải pháp chưa đạt được sự đồng bộ và đầy đủ với mức độ thuyếtphục chưa cao, chưa xây dựng được giải pháp mang tính chiến lược, tổng thể, lâu dàicho quá trình hiện thực hóa nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát hiện nay

1.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.4.1 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, kiểm soát TTHC là mục tiêu được Đảng và Nhà nước quyết tâmđẩy mạnh thực hiện, đây là giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động xây dựng, banhành văn bản QPPL có quy định TTHC và quá trình tổ chức thực hiện TTHC nhằmbảo đảm tính khả thi của quy định TTHC, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạchcũng như giám sát, đánh giá kết quả thực hiện của đội ngũ cán bộ, công chức, nhằmđảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và tổ chức khi tham gia thực hiệnquy định TTHC

Nếu không làm tốt nhiệm vụ kiểm soát TTHC sẽ là nhân tố gây suy giảmniềm tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền, mặt khác, gây khó khăn cho các cánhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước muốn thực hiện hoạt động đầu tư kinh

Trang 33

doanh phát triển kinh tế Nếu tình hình kéo dài sẽ gây bất ổn về chính trị, kéo lùi sựphát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng nhưhiện nay Vì vậy, các vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát TTHC dưới góc độpháp lý, các giả thuyết khoa học cần đặt ra như sau:

- Những vấn đề lý luận về kiểm soát TTHC hiện nay chưa được nghiên cứumột cách sâu sắc, toàn diện nên việc thể chế hóa các nội dung này trong hệ thốngpháp luật chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế

- Hiện nay các quy định pháp luật về kiểm soát TTHC bảo đảm thực hiệntrên thực tế hiệu quả chưa cao, còn nhiều bất cập, vướng mắc, chưa tạo điều kiệnthuận lợi để người dân thực hiện các quyền cơ bản theo quy định

- Việc tăng cường các giải pháp quản lý để nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểmsoát TTHC là vấn đề cấp bách đang đặt ra, là một trong những yếu tố quyết địnhđến việc thúc đẩy an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hộicủa từng địa phương trong điều kiện hội nhập Do vậy, cần có hệ thống các giảipháp đồng bộ, đặc biệt là việc hoàn thiện hệ thống thể chế, để bảo đảm thực hiệnhiệu quả là vấn đề cần thiết đang đặc ra yêu cầu cần thiết trong điều kiện hiện nay

1.4.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, trên cơ sở tình hình nghiên cứu của

đề tài, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu trọng tâm như sau:

Thứ nhất: Những vấn đề lý luận nào về kiểm soát TTHC theo pháp luật Việt

Nam cần được phân tích và giải quyết, tạo lập nền tảng nhận thức lý luận để bảođảm thực hiện hiệu quả kiểm soát TTHC hiện nay? Cơ sở lý luận cho việc đánh giáthực trạng hiện nay là gì?

Thứ hai: Thực trạng kiểm soát TTHC tại các tỉnh Miền Tây Nam Bộ hiện

nay đang diễn ra như thế nào? có ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân nào?

Thứ ba: Những điều kiện đảm bảo cơ bản nào để nâng cao chất lượng ban

hành, tổ chức thực thi TTHC đáp ứng yêu cầu hiện nay ?

Thứ tư: Những quan điểm và hệ thống giải pháp toàn diện, mang tính khả thi

để nâng cao chất lượng, hiệu quả từ hoạt động kiểm soát TTHC đối với các tỉnhMiền Tây Nam Bộ hiện nay là gì ?

Trang 34

Kết luận chương 1

Liên quan đến đề tài: Kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn các tỉnh Miền Tây Nam Bộ, nghiên cứu sinh đã tập hợp và tìm hiểu phần lớn các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan trực tiếp, gián tiếp, đa dạng về quy mô,

mục đích, nội dung, chất lượng được nghiên cứu trực diện ở nhiều khía cạnh khácnhau của hoạt động kiểm soát TTHC

Tổng quan tình hình nghiên cứu là công việc đầu tiên được nghiên cứu sinhtiếp cận, nghiên cứu và cũng cố phần kiến thức lý luận cơ bản thông qua kết quảtổng hợp những công trình nghiên cứu được công bố có liên quan đến luận án Qua

đó, phát hiện những vấn đề liên quan đến đề tài đã được làm sáng tỏ, những vấn đềcòn chưa rõ hoặc những vấn đề cần thiết đặt ra để tiếp tục nghiên cứu

Ý nghĩa quan trọng của nhiệm vụ tổng quan tình hình nghiên cứu đã giúpcho nghiên cứu sinh xác định được chính xác đối tượng và phạm vi nghiên cứu,đồng thời khẳng định được tính trung thực của các kết quả nghiên cứu mới của đềtài

Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy đã có nhiều khía cạnh lýluận và thực tiễn được làm sáng tỏ Đây là nguồn tư liệu cần thiết sẽ được kế thừatrong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài luận án Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đềchưa được nghiên cứu sâu sắc, tồn tại nhiều ý kiến khác biệt hoặc chưa được đề cập

Từ đó, luận án đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu để khắc phục khoảng trốngtrong hoạt động nghiên cứu về đề tài luận án

Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu đã giúp nghiên cứu sinh xác địnhđược các nhóm vấn đề cần tiếp tục triển khai nghiên cứu trong luận án Tương thíchvới những nhóm vấn đề đó là những câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết nghiêncứu làm tiền đề cho việc thiết kế các nội dung nghiên cứu đúng hướng, giải quyếtđúng những vấn đề cơ bản, toàn diện liên quan đến đề tài luận án mà các công trìnhnghiên cứu đi trước còn bỏ ngỏ, hoàn thành được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứuđặt ra cho luận án góp phần hoàn thiện công trình nghiên cứu này

Trang 35

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 2.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò kiểm soát thủ tục hành chính

2.1.1 Khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính

Hiện nay, khái niệm TTHC được tiếp cận dưới nhiều góc độ và quan điểm khác

nhau, có quan điểm cho rằng: “thủ tục là cách thức tiến hành một công việc với nội dung và trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan Nhà nước” [188 tr 927]; “thủ tục là những công việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [225, trang 153]; “thủ tục là các trình tự và phương pháp làm việc”; “thủ tục là cách thức đã định để thực hiện một hoạt động” [86 tr.

274]

Từ các quan niệm trên, có thể thấy ở góc độ chung nhất “thủ tục là trình tự, cách thức giải quyết công việc theo một quy trình với trình tự các bước hoặc các giai đoạn để giải quyết công việc cụ thể, còn cách thức xác định các phương pháp

để tiến hành công việc Bên cạnh đó cũng có quan niệm cho rằng: “TTHC là cách thức và trình tự do Luật Hành chính điều chỉnh về việc tiến hành các hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý Nhà nước nhằm đạt tới những kết quả nhất định đã được dự liệu trong pháp luật” [124-trang

60] Quan niệm này đã xem TTHC dưới góc độ là phương pháp điều chỉnh của LuậtHành chính để điều chỉnh các hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước nhằmđạt mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đã được quy định;

Tiếp cận dưới góc độ quy phạm thủ tục thì “TTHC là trình tự, cách thức do pháp luật hành chính quy định, để các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động của mình trong phạm vi và lĩnh vực quản lý hành chính, nhằm mục đích thực hiện các quy phạm vật chất do pháp luật hành chính và các quy phạm của các ngành luật khác quy định” [80- trang 67] Bên cạnh đó, có quan niệm xác định chi tiết, cụ thể hơn về TTHC thì “TTHC là trình tự về thời gian, không gian và cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính Nhà nước trong mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân công dân Nó được đặt ra để các cơ quan Nhà nước thực hiện một hình thức hoạt động cần thiết của mình, trong

Trang 36

30

Trang 37

bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, trình tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính” [128 - trang 208].

Theo quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP: “Thủ tục hành chính là trình

tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”[56] Từ khái niệm này, thi TTHC phải đáp ứng 08 (tám) bộ phận tạo thành

bắt buộc, đó là: Tên TTHC; Trình tự thực hiện; Cách thức thực hiện; Hồ sơ; Thờihạn giải quyết; Đối tượng thực hiện; Cơ quan thực hiện; Kết quả thực hiện Ngoài racòn có 03 (ba) bộ phận tạo thành không bắt buộc, đó là: Mẫu đơn, tờ khai; Yêu cầu,điều kiện; Phí và lệ phí [56]

Giải nghĩa của từng bộ phận tạo thành của TTHC như sau:

Tên TTHC: Là từ hoặc cụm từ ngắn gọn chỉ hành động của cơ quan Nhà nước

hoặc cá nhân, tổ chức kết hợp với tên kết quả của TTHC và kết hợp đối với từng đốitượng, lĩnh vực cụ thể (nếu có) hoặc kết hợp với cụm từ chỉ sự vật, sự việc mà cơquan Nhà nước muốn quản lý hoặc cá nhân, tổ chức muốn đạt được

Trình tự thực hiện: Là thứ tự các bước tiến hành công việc của cá nhân, tổ

chức tham gia và cơ quan thực hiện, được sắp xếp theo trật tự diễn biến thời gianđảm bảo sự liên thông kết nối của quy trình để giải quyết công việc cụ thể liên quanđến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức

Cách thức thực hiện: Là hình thức diễn ra hành động yêu cầu, đề nghị của cá

nhân, tổ chức tham gia thực hiện TTHC

Hồ sơ: Là các loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện TTHC phải nộp hoặc xuất

trình cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết TTHC

Thời hạn giải quyết: Là khoảng thời gian pháp luật quy định cơ quan giải

quyết TTHC phải thực hiện

Đối tượng thực hiện: Là cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu cơ quan hành

chính Nhà nước thực hiện các công việc cụ thể của mình hoặc có nghĩa vụ phải thựchiện theo yêu cầu của cơ quan giải quyết TTHC Trong đó, cá nhân tham gia thựchiện TTHC có thể là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,công dân nước ngoài, người không quốc tịch; tổ chức có thể là doanh nghiệp, hội,

Trang 38

hiệp hội doanh nghiệp, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khácđược thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Cơ quan thực hiện: Là cơ quan hành chính Nhà nước được sử dụng quyền lực

Nhà nước, nhân danh Nhà nước xem xét, giải quyết TTHC

Kết quả thực hiện TTHC: Là sản phẩm của việc giải quyết TTHC, có thể là

quyết định, giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ,

Yêu cầu, điều kiện: Là những quy định đòi hỏi bắt buộc đối tượng thực hiện

TTHC phải có hoặc phải làm để cơ quan có thẩm quyền làm cơ sở xem xét giảiquyết trước khi quyết định giải quyết TTHC

Mẫu đơn, mẫu tờ khai: Là mẫu hóa đơn, tờ khai để cá nhân, tổ chức điền thông

tin khi tham gia thực hiện TTHC

Phí, lệ phí: Là khoản tiền mà cá nhân, tổ chức phải nộp khi cơ quan hành

chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong danh mục phí, lệ phí

do cơ quan có thẩm quyền ban hành

2.1.1.2 Khái niệm giải quyết thủ tục hành chính

Theo nghĩa được hiểu chung nhất về giải quyết TTHC “là việc xem xét, làm rõnội dung, bản chất của vấn đề, sự việc để đưa ra kết luận hoặc quyết định phù hợp”,liên hệ với khái niệm TTHC thì khái niệm giải quyết TTHC được hiểu như sau: Giảiquyết TTHC là việc các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền xem xét, làm rõ bảnchất, nội dung các vấn đề, vụ việc hành chính theo đúng trình tự, cách thức do phápluật hành chính quy định và đưa ra các kết luận hoặc quyết định áp dụng pháp luật đểgiải quyết các vấn đề, vụ việc một cách đúng đắn, hợp pháp và hiệu quả, đáp ứng yêucầu quản lý hành chính Nhà nước, phục vụ xã hội và nhân dân, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân [112-trang 42], khái niện trên đã bao quátoàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về TTHC và mêu tả toàn diện các công việcliên quan đến hoạt động giải quyết TTHC theo đúng quy định pháp luật Nếu xét ở gốcđộng nội hàm của khái niệm này có thể thấy:

- Giải quyết TTHC là việc tiến hành những hoạt động, những công việc dopháp luật hành chính quy định để làm rõ bản chất, nội dung của vấn đề, vụ việc đưa

ra quyết định giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, hợp pháp, hiệu quả Vì trên số

Trang 39

lượng các vấn đề, vụ việc phải giải quyết theo TTHC rất phong phú, đa dạng vàphức tạp, điều này cần thiết cho hoạt động chấp hành pháp luật về TTHC thể hiệnđạo đức, trách nhiệm công vụ, kinh nghiệm và kỹ năng giải quyết TTHC của độingũ cán bộ hiện nay.

- Chủ thể trong giải quyết TTHC là các cơ quan Nhà nước, người có thẩmquyền trong các cơ quan hành chính có trách nhiệm được pháp luật quy định, là dấuhiệu đặc trưng để phân biệt chủ thể trong giải quyết TTHC công với các chủ thểkhác mang tính xã hội, phi Nhà nước

- Khách thể trong giải quyết TTHC là các quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức

có liên quan đến các vấn đề, vụ việc mà cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyềngiải quyết theo TTHC Các quyền và lợi ích này rất phong phú, đa dạng, được Hiếnpháp năm 2013 [68] ghi nhận trong Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân và được cụ thể hóa trong các luật chuyên ngành khác

- Đối tượng giải quyết TTHC là rất phong phú, đa dạng, đông về số lượng, đadạng, phức tạp về cơ cấu, thành phần, trình độ, địa vị xã hội Đòi hỏi quá trình giảiquyết thì bên cạnh các yếu tố chung, cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền cần

có sự tìm hiểu để nắm thực chất điều kiện, hoàn cảnh, năng lực của họ để có cáchgiải quyết đúng đắn, công bằng và hợp lý, đảm bảo đúng quy định là yếu tố quantrọng của việc thực thi pháp luật

- Việc giải quyết TTHC phải bảo đảm đúng các nguyên tắc, trong đó cónguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng, bảo đảm tínhliên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà và đề cao trách nhiệm trong giảiquyết TTHC là những nguyên tắc cơ bản phải tuân thủ

Trên cơ sở khái niệm TTHC và giải quyết TTHC được phân tích ở trên thì

khái niệm giải quyết TTHC được hiểu “pháp luật về giải quyết TTHC là hệ thống quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết các công việc theo yêu cầu của cá nhân,

tổ chức theo trình tự, TTHC quy định, bảo đảm cho cá nhân, tổ chức thực hiện được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần bảo đảm trật tự hoạt động

Trang 40

quản lý Nhà nước, thúc đẩy sự phát triển KT-XH của địa phương và trên cả nước.

Như vậy, với khái niệm này giải quyết TTHC đáp ứng những vấn đề cơ bản sau:

- Giải quyết TTHC là một hệ thống các quy phạm pháp luật hành chính quyđịnh về giải quyết TTHC đáp ứng các yêu cầu của xã hội và quản lý xã hội theo trật

tự nhất định Tính quy phạm nói lên giới hạn, cách thức và trình tự cần thiết, hợp lý

mà Nhà nước quy định để mọi chủ thể có thể ứng xử tự do trong khuôn khổ chophép; vượt quá giới hạn đó là trái luật, các quy phạm pháp luật về giải quyết TTHCphải cụ thể, rõ ràng, chính xác, một nghĩa, bảo đảm việc giải quyết thủ tục một cáchdân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, nhanh chóng và hiệu quả

- Giải quyết TTHC là một hệ thống các quy phạm pháp luật để giải quyếtnhững yêu cầu của cá nhân, tổ chức, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyđịnh và bảo đảm thực hiện Nội dung này phản ánh cách thức hình thành và tínhquyền lực (tính bắt buộc chung) của pháp luật về giải quyết TTHC

- Giải quyết TTHC thể hiện hài hòa giữa mục tiêu quản lý của Nhà nước vớicác nhu cầu khách quan, chính đáng của tổ chức, cá nhân đối với việc giải quyếtTTHC, vừa bảo đảm trật tự quản lý hành chính, vừa đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi vềdân chủ, công khai, bình đẳng, thuận lợi và hiệu quả của việc giải quyết ấy

- Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật giải quyết TTHC là nhằm thiết lập một trật

tự hợp lý, ổn định của các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết TTHC, từ đónâng cao được hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước, phục vụ nhu cầuphát triển KT - XH, thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cóyêu cầu giải quyết thủ tục

2.1.1.3 Khái niệm kiểm soát thủ tục hành chính

Hiện nay, có một số kết quả nghiên cứu về kiểm soát TTHC Theo quan niệm

của tác giả Đoàn Thị Hồng Hạnh:“Kiểm soát TTHC là hoạt động do các chủ thể chuyên trách có thẩm quyền thực hiện có nội dung là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm đảm bảo tính hợp pháp, khả thi của quy định về TTHC, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, yêu cầu trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC và đạt được các mục tiêu đề ra [79]”.

Theo Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 củaChính phủ quy định thì kiểm soát TTHC được hiểu là việc “xem xét, đánh giá, theo

Ngày đăng: 18/12/2019, 20:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w