1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH đào tạo, bồi DƯỠNG VIÊN CHỨC y tế từ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN đa KHOA XANH pôn

80 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thiếu nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng, chính sách sử dụng viênchức y tế chưa hợp lý, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng… Để phát triển nguồnnhân lưc nói chung và nguồn nhân lực ng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN DƯƠNG BÌNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN BỆNH

VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng cá nhântôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác cao,trung thực và đáng tin cậy

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa

vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội

Tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem xét đểtôi có thể bảo vệ Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Dương Bình

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ 9

1.1 Khái niệm về nhân lực ngành y tế, viên chức y tế 9

1.2 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng 10

1.3 Mục tiêu và vai trò của chính sách đào tạo 12

1.4 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức Y tế 14

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN, HÀ NỘI 32

2.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn 32

2.2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN 39 2.3 Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế theo quy định của Trung ương 39

2.4 Hạn chế của việc thực hiện chính sách tại đơn vị 50

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN, HÀ NỘI 53

3.1 Quan điểm tăng cường thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế từ thực tiễn Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn 53

3.2 Giải pháp để thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn hiệu quả 57

3.3 Một số kiến nghị

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 6

DANH MỤC HÌNH, BẢNG

Hình 2.1: Sơ đồ Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội 35

Bảng 2.1 Kế hoạch đào tạo năm 2015 42

Bảng 2.2 Kế hoạch đào tạo năm 2016 43

Bảng 2.3 Kế hoạch đào tạo năm 2017 44

Bảng 2.4 Kế hoạch đào tạo năm 2018 47

Bảng 2.5 Kế hoạch đào tạo năm 2019 48

Bảng 3.1 Kế hoạch đào tạo năm 2020 66

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước hơn 30 năm vừa qua,cùng với sự đồng lòng, đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân, đội ngũ viên chức

y tế đã có những bước phát triển vượt bậc, đóng góp quan trọng vào sự thànhcông trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của ngườidân Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi không ngừng của đất nước, cũng cầnthẳng thắn thừa nhận rằng trình độ của đội ngũ viên chức y tế hiện nay, đặcbiệt là đội ngũ viên chức y tế cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu của xãhội Đánh giá thực trạng này, chúng ta đã chỉ ra không ít nguyên nhân: từ việcđào tạo cho đến sử dụng đội ngũ viên chức y tế; chế độ ưu đãi; vấn đề đầu tư

cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm nâng cao tay nghề cho đội ngũ viên chức thôngqua đó nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, v.v Đây là những vấn đề hiệnthực mà chúng ta đang phải đối mặt để giải quyết nhằm xây dựng được mộtđội ngũ viên chức y tế đủ trình độ đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội hiện nay

Trong hệ thống các vấn đề đó, chúng tôi cho rằng vấn đề đào tạo và tựđào tạo của viên chức y tế ngay tại đơn vị công tác là nhân tố quan trọng giúpkhắc phục được nhiều vấn đề chúng ta đang gặp phải trong điều kiện khókhăn hiện nay Việc đào tạo và tự đào tạo ấy không chỉ giúp cho bản thân viênchức y tế tăng cường nhận thức và trách nhiệm công việc, mà hơn thế, thôngqua thực tế hoạt động và đào tạo sẽ giúp người viên chức y tế nâng cao đượctrình độ của mình

Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách nhằm thúc đẩytiến trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành y tế nói chung, y tế cơ sở nóiriêng Gần đây nhất, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 kỳ họp lầnthứ sáu, khóa XII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dântrong tình hình mới khẳng định: “Ngành Y là một ngành đặc biệt Nhân lực y

Trang 8

tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo,

sử dụng và đãi ngộ đặc biệt…” Nghị quyết đưa ra quan điểm chỉ đạo đổi mớithể chế, bộ máy tổ chức, phương thức quản lý, nhân lực trong ngành y tế Đểđảm bảo triển khai thành công nghị quyết của Đảng, một trong những yếu tốquan trọng là đội ngũ viên chức quản lý y tế có khả năng điều hành hiệu quảhoạt động của đơn vị Việc phân cấp và tự chủ trong quản lý điều hành các cơ

sở y tế ngày càng mở rộng, trong khi một bộ phận viên chức quản lý chưađược đào tạo về lãnh đạo quản lý phù hợp còn mất nhiều thời gian tìm hiểu,học hỏi khi nhận nhiệm vụ,… Chính vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng về quản

lý y tế cho viên chức lãnh đạo, quản lý ngành y tế là nhiệm vụ cần thiết nhằmtrang bị và cập nhật kiến thức về quản lý y tế, năng lực, kỹ năng lãnh đạo choviên chức lãnh đạo, quản lý tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động củangành y tế thực hiện tốt chủ trương đổi mới hệ thống y tế

Tuy nhiên, để những chính sách này đi vào thực tế đời sống xã hội mộtcách có hiệu quả, đặc biệt trên lĩnh vực y tế, cần phải có những phân tích,đánh giá việc thực hiện chính sách trên hiện thực căn cứ vào điều kiện, hoàncảnh của các cơ sở để từ đó đưa ra những gợi ý, những chủ trương, địnhhướng nhằm bổ sung và hoàn thiện chính sách qua từng giai đoạn phát triển

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ

chuyên ngành Chính sách công của mình nhằm góp phần nghiên cứu mộtchính sách có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển của đất nước hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực ngành y tế củaViệt Nam nói chung và chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế nói riêng

đã được một số tài liệu và tác giả đề cập tới và nghiên cứu có thể kể đếnnhững tại liệu và số công trình cụ thể như sau:

Trang 9

Bộ Chính trị Ban hành Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/5/2005“Về

công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” Nghị quyết đã nêu lên Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp định

hướng công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tình hìnhmới Trong phần nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ vềphát triển nguồn nhân lực ngành y đó là: Kiện toàn đội ngũ viên chức y tế cả

về số lượng, chất lượng và cơ cấu Sắp xếp lại mạng lưới, mở rộng và nângcấp các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu về viên chức y tế phù hợp với quyhoạch phát triển ngành; xây dựng một số trung tâm đào tạo viên chức y tếngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực Tăng cường đào tạo viên chức y

tế theo hình thức cử tuyển cho miền núi và đồng bằng sông Cửu Long; chútrọng đào tạo viên chức quản lý y tế, nhất là viên chức quản lý bệnh viện Coitrọng việc đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài về y tế Mở rộng việc đưa viênchức có trình độ cao đi đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn kinh phí nhà nước,khuyến khích du học tự túc theo các chuyên ngành đang có nhu cầu

Ban Chấp hành Trung ương Ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW

ngày 25/10/2017 “Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” Nghị quyết đã nêu lên giải pháp về phát

triển nhân lực và khoa học – công nghệ y tế trong đó có phần đổi mới côngtác đào tạo nhân lực y tế nhằm đáp ứng yêu cầu cả vể y đức và chuyên môntrong điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế Phát huy vai trò, tráchnhiệm các bệnh viện trong đào tạo, phát triển bệnh viện đại học

Bộ trưởng Bộ Y tế Ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BYT, ngày

08/9/2013 “Thông tư hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho viên chức y tế”.

Thông tư đã quy định trách nhiêm, thời gian, hình thức, chương trình, tài liệu,giảng viên đào tạo liên tục cho viên chức y tế

Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ, ngày

19/9/1997 “Về việc bạn hành quy chế Bệnh viện” Quy chế được áp dụng cho

Trang 10

các đơn vị khám chữa bệnh cả bệnh viện công và bệnh viện tư, cả bệnh viện

có vốn đầu tư trong nước và bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài Quy chếbệnh viện gồm 5 phần: Phần I là Quy chế về tổ chức bệnh viện; Phần II Quychế về nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách cá nhân; Phần III Quy chế về quản lýbệnh viện; Phần IV Quy chế về chuyên môn; Phần V Quy chế công tác một sốkhoa

Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 2992/QĐ-BYT ngày 17/7/2015

“Quyết định phê duyệt Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015 – 2020” Quyết định nêu rõ: quan điểm và

mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của ngành y trong giai đoạn 2015 – 2020

là tăng nhanh số lượng nhân lực, nhât là bác sỹ thông qua các loại hình đàotạo khác nhau, ưu tiên nhân lực cho các địa phương còn nhiều khó khăn, cácbệnh viện tuyến huyện và trạm y tế xã; Chú trọng phát triển đội ngũ bác sỹchuyên khoa, đáp ứng nhu cầu phát triển kỹ thuật, nâng cấp bệnh viện nhằmnâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; Nâng cao trình độ quản lý điều hànhđối với đội ngũ viên chức làm công tác quản lý bệnh viện; Xây dựng chínhsách và chế độ đãi ngộ hợp lý cho nhân lực khám chữa bệnh

Nguyễn Văn Chính (2016) Luận văn:“Thực hiện chính sách phát triển

nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay” Luận văn đã đi sâu nghiên cứu các

chính sách liên quan đến phát triển nguồn nhân lực ngành y, thực trạng nguồnnhân lực ngành y ở nước ta, phân tích, đánh những bất cập, tồn tại trong chínhsách phát triển nguồn nhân lực ngành y cũng như chất lượng nhân lực ngành yhiện nay

PGS.TS Lương Ngọc Khuê (2011) – Tạp chí Y học thực hành: “Thực

trạng nguồn nhân lực bệnh viện tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2010” Bài

viết đã đề cặp tới hoạt động phát triển nguồn nhân lực cho ngành y tế nóichung và cho bệnh viện nói riêng Đây là nghiên cứu với mục tiêu đánh giáthực trạng và biến động của nguồn nhân lực y tế qua các năm 2008 – 2010

Trang 11

Tác giả đã đưa ra kết luận mặc dù nguồn nhân lực y tế chỉ tăng nhẹ nhưng cơcấu nhân lực đã và đang đáp ứng được các quy định về đảm bảo chất lượngchăm sóc người bệnh theo Thông tư số 08/2007/TTLT-BYT-BNV.

PGS.TS Đường Vinh Sường (2014) trên Tạp chí Cộng sản có bài

“Giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay” đã đặt ra vấn đề đổi mới cơ chế giáo dục nhằm phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao Trong thời đại phát triển của khoa học công nghệ,phát triển nguồn nhân lực là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển Pháttriển nguồn nhân lực nhằm tạo ra đội ngũ viên chức lãnh đạo quản lý giỏi vềchuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp, có tâm có tầm vì sự phát triển chungcủa đất nước

ThS Đỗ Thị Nhường Trường (2019) - Tạp chí lý luận chính trị số 6

năm 2019: “Xây dựng nguồn nhân lực Ngành Y tế - Kết quả và một số giải pháp” của tác giả có nêu lên một kết quả đạt được trong công tác đào tạo, bồi

dưỡng viên chức y tế ở nước ta trong những năm qua Tác giả cũng nêu lênnhững khó khăn, tồn tại và đưa ra giải pháp khắc phục những tồn tại hiện nay

về công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nguồn nhân lực ngành y của ViệtNam trong giai đoạn hiện nay

TS Đặng Thị Lệ Xuân (2012) - Tạp chí Kinh tế & Phát triển:“Chính

sách y tế và chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, thực trạng và giải pháp”

Bài viết có đề cập tới tầm quan trọng của nhân lực ngành y ngày nay trongđiều kiện nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế Trong đại hội lầnthứ XI, Đảng ta đã khẳng định: phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nhân lựcchất lượng cao là một trong ba giải pháp mang tính đột phá trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội năm 2011 – 2020 Như vậy, cùng với sự hội nhập vàphát triển nền kinh tế đời sống, xã hội của người dân ngày càng được nânglên, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cũng cần được nâng lên, lượng bệnh nhân đếncác có sở khám chữa bệnh ngày càng tăng điều này bộc lộ nhiều bất cập như:

Trang 12

thiếu nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng, chính sách sử dụng viênchức y tế chưa hợp lý, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng… Để phát triển nguồnnhân lưc nói chung và nguồn nhân lực ngành y nói riêng cần phải bổ sunghoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng phát triển nhân lực ngành y tế ởnước ta hiện nay.

Trong các văn bản, tài liệu và các công trình nghiên cứu khoa học trênđây, có thể thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về chính sách đào tạo, bồidưỡng viên chức y tế Nhằm góp phần khái quát các cơ sở lý luận về thực hiệnchính sách công, cụ thể là chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tạiViệt Nam nói chung và chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế từ thựctiễn tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội nói riêng, là một viên chức đangcông tác tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội, đứng trước những vấn đề

cấp thiết của ngành như đã nêu trên tác giả chọn vấn đề: “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế từ thực tiễn Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

- Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào, tạo bồi dưỡngviên chức y tế từ thực tiễn Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách này trong tương lai

Luận văn có nhiệm vụ

- Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách đào

tạo, bồi dưỡng viên chức y tế ở Việt Nam

- Thứ hai, nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính

sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

- Thứ ba, đưa ra một số giải pháp thúc đẩy việc thực hiện chính sách

đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế từ thực tiễn triển khai chính sách này tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu chính sách đào tạo và bồi dưỡng viênchức y tế nói chung và việc thực hiện chính sách này tại Bệnh viện đa khoaXanh Pôn những năm gần đây

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khoảng thời gian 10 năm(2009 – 2019)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận và cách tiếp cận

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tácbồi dưỡng và đào tạo viên chức y tế

Luận văn sử dụng cách tiếp cận theo hệ thống, đa ngành, liên ngành vềkhoa học xã hội, dựa trên phương pháp nghiên cứu quy phạm về chu trìnhthực thi và đánh giá chính sách công

5.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận về chính sách tào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

ở Việt Nam hiện nay là gì?

- Thực trạng chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại Bệnh viện

đa khoa Xanh Pôn hiện nay như thế nào?

- Giải pháp nào để đổi mới, hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn?

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Với định hướng nghiên cứu đã trình bày ở trên, đề tài sử dụng một số phương pháp như sau:

Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp, phương pháp đánh giá, v.v

Trang 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, góp phần khái quát các cơ

sở lý luận về thực hiện chính sách, công cụ thể là chính sách đào tạo, bồidưỡng viên chức y tế tại Việt Nam nói chung và chính sách tào tạo, bồi dưỡngviên chức y tế từ thực tiễn tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ công công tác xây dựng văn bảnliên quan đến đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại các viện, ngành y tế ởnước ta hiện nay

Qua thực tiễn nghiên cứu, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viênchức y tế từ thực tiễn Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội, luận văn chỉ rađược những hạn chế, khó khăn trong thực thi chính sách; đề xuất các giảipháp thiết thực nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng,phát triển nguồn nhân lực ngành y tế nói chung và nguồn nhân lực tại Bệnhviện đa khoa Xanh Pôn nói riêng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, phẩmchất đạo đức đáp ứng yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân của viênchức ngành y tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chính sách đào tạo, bồi dưỡngviên chức y tế

- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viênchức y tế tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

- Chương 3: Quan điểm và giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường thựchiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế từ thực tiễn Bệnh viện đakhoa Xanh Pôn

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,

BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ 1.1 Khái niệm về nhân lực ngành y tế, viên chức y tế

1.1.1 Nhân lực ngành y tế

Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về nhân lực nói chung và nhânlực ngành y tế nói riêng Theo tổ chức Liên Hợp Quốc thì nhân lực bao gồmnhững người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khảnăng lao động Theo quan điểm của Đảng ta thì coi “Nguồn lực con người làquý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực vềtài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “Người lao động có trí tuệcao, tay nghề thành thạo, phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và pháthuy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học hiện đại” Có thểhiểu nhân lực là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng, năng động nhất

của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội [9]

Năm 2006, WTO đã đưa ra định nghĩa “Nhân lực y tế bao gồm tất cảnhững người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”

Có thể hiểu nhân lực y tế không chỉ có Bác sỹ, Dược sỹ, Điều dưỡng, Kỹthuật viên, viên chức quản lý, nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cungcấp các dịch vụ y tế trong đó có cả viên chức y tế chính thức và viên chức y tế

không chính thức như tình nguyện viên và y lang [9]

1.1.2 Viên chức y tế

Theo định nghĩa tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư 22/2013/TT-BYT hướng

dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Viên chức y tế là công chức, viên chức, người đang làm chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ sở y tế [3]

Trang 16

1.2 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng

1.2.1 Khái niệm chính sách:

Chính sách về cơ bản được hiểu là những cách thức, biện pháp canthiệp của Nhà nước vào một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tếnhằm thực hiện những mục tiêu nhất định với những công cụ và giải pháp

nhất định và trong một thời hạn xác định [10, tr.7]

Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực

công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng [10, tr.7]

Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành của chu trình chính sách,

là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thựcđối với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu theo định hướng Tổ chứcthực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sáchthành một hệ thống nhất là với hoạch định chính sách Tổ chức thực hiện

chính sách là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội.[10, tr.23]

1.2.2 Khái niệm đào tạo

Theo giáo trình kinh tế lao động “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trìnhtrang bị kiến thức nhất định và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để

họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định” Đào tạo gồm đào tạokiến thức phổ thông và đào tạo kiến thức chuyên ngành

Theo giáo trình quản trị nhân lực: đào tạo biểu hiện ra là các hoạt độngnhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụcủa mình

Theo đó, đào tạo là việc cử viên chức, công chức, viên chức, người laođộng đi học các khóa chuyên nghiệp trong các cơ sở đào tạo của hệ thốnggiáo dục quốc dân, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của viênchức, công chức, viên chức, người lao động

Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đólĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để

Trang 17

chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sựphân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội,

duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [8]

- Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến thức cho các đối tượng họctập, đây là một quá trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương phápdạy học cụ thể trong khoảng thời gian nhất định Qua đó, giúp cho người học

tiếp thu được những kiến thức cơ bản nhất định trong quá trình truyền đạt [8]

1.2.3 Khái niệm bồi dưỡng

- Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ nănglàm việc Là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho đốitượng học tập, qua đó cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho người học để

họ thực thi công việc được tốt hơn

Theo Nghị định số 18/2010/ NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đàotạo, bồi dưỡng công chức: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thốngnhững tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; Bồi dưỡng là

hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [7]

Thực tế cho thấy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đào tạo và bồi dưỡng

Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu như sau: Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cho người học theo từng cấp độ khác nhau nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống các tri thức, trình độ, năng lực của con người Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức

và kỹ năng làm việc.

Bồi dưỡng viên chức công chức là quá trình trang bị, bổ sung, cập nhậtnhững kiến thức và kỹ năng chuyên môn cho CBCC đã trải qua quá trình đàotạo, nhằm bổ sung, cập nhật cho CBCC những kiến thức mới, phù hợp vớitình hình thực tiễn để họ đủ khả năng giải quyết công việc một cách có hiệuquả trong tình hình mới

Trang 18

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng là những công cụ của nhà nước, được nhà

nước ban hành để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo của đấtnước Chính sách đào tạo, bồi dưỡng được Nhà nước đề ra trên quan điểmđường lối của Đảng, đây là sự cụ thể hóa đường lối đó Chính sách đào tạo,bồi dưỡng hướng vào việc phát triển con người toàn diện, ưu tiên khuyếnkhích xã hội học tập, nâng cao mặt bằng dân trí, bồi dưỡng nhân tài để thế hệtrẻ đủ hành trang làm chủ đất nước, xây dựng đất nước giàu mạnh hơn Cácchính sách này đều dựa trên cơ sở thực tiễn, dựa vào diễn biến tình hình phátsinh trong từng giai đoạn cụ thể của đất nước

1.3 Mục tiêu và vai trò của chính sách đào tạo, bồi dưỡng

1.3.1 Mục tiêu chung

Thứ nhất, Chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực là nhằm đápứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức, đáp ứng nhu cầu học tập và pháttriển của người lãnh đạo và người lao động Chính sách nay còn là giải pháp

có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh của đơn vị và tổ chức

Thứ hai, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm sử dụng tối đa nguồnnhân lực hiện có, nâng cao hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp ngườilao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình đểthực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách tự giác, với thái độ tốt hơn cũng nhưnâng cao khả năng thích ứng của họ với công việc trong tương lai

1.3.2 Mục tiêu cụ thể của chính sách đào tạo, bồi dưỡng

Thứ nhất, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng tạo ra nguồn nhân lực có thểlực tốt, tầm vóc cường tráng, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực vàđạo đức, có năng lực tự học, tự đào tạo, năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo,

có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng và nhanhchóng tạo được thế chủ động trong môi trường sống và làm việc;

Trang 19

Thứ hai, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng tạo ra nguồn nhân lực chuyênnghiệp đáp ứng những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩatrong thế giới hội nhập và biến đổi nhanh;

Thứ ba, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng được đội ngũnhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là nhóm chuyên gia đầu ngành cótrình độ chuyên môn - kỹ thuật tương đương các nước tiên tiến trong khu vực,

có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải phápkhoa học, công nghệ, giải quyết về cơ bản những vấn đề phát triển của đấtnước và hội nhập với các xu hướng phát triển khoa học tự nhiên, khoa học xãhội và công nghệ trên thế giới;

Thứ tư, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng được đội ngũdoanh nhân, chuyên gia quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp, có bản lĩnh,thông thạo kinh doanh trong nước và quốc tế, đảm bảo các doanh nghiệp ViệtNam và nền kinh tế Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao trong nền kinh tế thếgiới;

Thứ năm, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng nguồn nhânlực Việt Nam hội đủ các yếu tố cần thiết về thái độ nghề nghiệp, có năng lựcứng xử, (đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong làm việc, kỷ luật laođộng, tinh thần hợp tác, tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân …) và tínhnăng động, tự lực cao, đáp ứng những yêu cầu đặt ra đối với người lao độngtrong xã hội công nghiệp;

Thứ sau, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển đưa nhân lựctrình độ cao đạt trình độ quốc tế, tăng cường phát triển nhân lực các cấp trình

độ đáp ứng yêu cầu phát triển của các vùng, miền, địa phương;

Thứ bẩy, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng hướng đến xây dựng được xãhội học tập, đảm bảo cho tất cả các công dân Việt Nam có cơ hội bình đẳngtrong học tập, đào tạo, thực hiện mục tiêu: Học để làm người Việt Nam trong

Trang 20

thời kỳ hội nhập; học để có nghề, có việc làm hiệu quả; học để làm cho mình

và người khác hạnh phúc; học để góp phần phát triển đất nước và nhân loại;

Thứ tám, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm hướng đến xây dựngđược hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấungành nghề đồng bộ, đa cấp, năng động, liên thông giữa các cấp và các ngànhđào tạo trong nước và quốc tế, phân bố rộng khắp trên cả nước, góp phần hình

thành xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân [7]

1.3.3 Vai trò của chính sách đào tạo

Thứ nhất, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng trực tiếp hoặc gián tiếp gópphần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc; Nâng caochất lượng thực hiện công việc, giảm bớt sự giám sát; Nâng cao tính ổn địnhnăng động của tổ chức; Duy trì nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo điềukiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào quản lý của đơn vị tổ chức; tạo ra lợi thếcạnh tranh trong đơn vị, tổ chức;

Thứ hai, chính sách này góp phần tạo ra sự gắn bó giữa người lao động

và tổ chức; tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động; tạo ra sự thích ứnggiữa người lao động và công việc trong tương lai; Đáp ứng nhu cầu, nguyệnvọng phát triển của người lao động; tạo cho người lao động cách nhìn và cách

tư duy mới trong công việc nhằm phát huy tính sáng tạo của họ trong côngviệc;

Thứ ba, Chính sách này đóng vai trò điều kiện tiên quyết để tổ chức có

thể tồn tại và đi lên trong thời buổi cạnh tranh [7]

1.4 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức Y tế

Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chính sách đào tạo, bồidưỡng viên chức ngành y tế Theo Liên Hiệp Quốc, chính sách phát triểnnguồn lực y tế bao gồm giáo dục, đào tạo sử dụng tiềm năng con người nhằmthúc đầy phát triển kinh tế xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống

Trang 21

Dưới góc độ chính sách công có thể hiểu chính sách đào tạo, bồi dưỡng

viên chức y tế: “là quan điểm, quyết sách, quyết định chính trị của Nhà nước

về phát triển nhân lực ngành Y tế với mục tiêu, giải pháp, cộng cụ cụ thể nhằm xây dựng đội ngũ viên chức ngành y tế có trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân”.

Tại điều 3 thông tư số 22/2013/TT- BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 vềviệc hướng dẫn đào tạo liên tục cho viên chức y tế có giải thích khái niệm vềcác hình thức đào tạo, cơ sở đào tạo, mã cơ sở đào tạo như sau:

- Đào tạo liên tục là: các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm đào tạo, bồidưỡng kiến thức, kỹ năng, nhiệm vụ cập nhật kiến thức y khoa liên tục; pháttriển nghề nghiệp liên tục; đào tạo chuyển giao kỹ thuật, đào tạo theo nhiệm

vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho viênchức y tế mà không thuộc hệ thống văn bản giáo dục quốc dân

- Cơ sở đào tạo liên tục là: các bệnh viện, viện có giường bệnh; việnnghiên cứu, các cớ sở giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề y tế, các cơ sở giáodục khác có mã đào tạo thuộc khối ngành khoa học sức khỏe, các trung tâmđào tạo nhân lực y tế

- Mã cơ sở đào tạo liên tục là: hệ thống ký hiệu để phân loại và quản lý

các cơ sở đào tạo liên tục được Bộ y tế công nhận [3, tr.2]

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là một trong những nộidung quan trọng của quản lý nhà nước về ngành y Chính sách đào tạo, bồidưỡng viên chức y tế bao gồm các nội dung sau:

+ Đảm bảo đủ nhân lực cho tất cả các tuyến khám, chữa bệnh, phòng bệnh trên các vùng địa lý, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng viên chức y tế.+ Đầu tư, nâng cấp củng cố phát triển cơ sở đào tạo, đẩy mạnh đào tạo

cử tuyển, đào tạo theo tín chỉ và đa dạng hóa các loại hình đào tạo

Trang 22

+ Tăng cường đào tạo các chức danh học vị như: Tiến sỹ, thạc kỹ,chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II, Bác sỹ nội trú…Chú trọng đào tạocho các chuyên khoa đầu ngành.

+ Mục đích của đào tạo, bồi dưỡng nhằm chuẩn hóa viên chức y tế, yêucầu sử dụng thành thạo các phương tiện khoa học kỹ thuật trong khám chữabệnh

+ Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho viên chức y tế đi học tập,đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tại các trường đại học trong

và ngoài nước, tại các cơ sở y tế chuyên khoa đầu ngành

+ Thực hiện luân chuyển viên chức y tế từ tuyến trên về tuyến dướinhằm bổ sung viên chức, chuyển giao kỹ thuật để nâng cao chất lượng điều trị

và khám chữa bệnh ở các bệnh viện tuyến dưới đồng thời giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên

+ Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào công tác khám chữa bệnh

Như vậy, theo quan điểm của chính sách công về nhiệm vụ công tác đàotạo, bồi dưỡng viên chức y tế trong phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể

hiểu: Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn là hoạt động của cơ quan nhà nước được triển khai thực hiện bằng những hình thức khác nhau nhằm đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế Qua đó, xây dựng đội ngũ y bác

sỹ tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn có chất lượng chuyên môn, y đức nhằm hướng tới sự hài lòng của người bệnh, đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội trong thực thi nhiệm vụ.

1.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng viên chức Y tế

Lao động nghề y là loại lao động đặc biệt, lao động cao quý, vinh quang,

có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội, liên quan trực tiếp đến tính mạng

Trang 23

con người, do vậy phải được đào tạo với thời gian dài hơn các ngành khác vàchương trình đào tạo nghiêm ngặt hơn Đồng thời lao động ngành y, lại là laođộng cực nhọc, căng thẳng, độc hại do luôn tiếp xúc với đau đớn của bệnhnhân, trong môi trường dễ lây nhiễm bệnh tật, có thể phải tiếp xúc với hoáchất, chất thải môi trường bệnh viện nhưng cũng chịu sức ép từ dư luận xã hộikhi có những biến cố trong chuyên môn xảy ra Vì thế, đòi hỏi người viênchức y tế luôn phải có ý thức rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực làm việc

và có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm cao [1]

Tại nghị quyết số 46-NQ/TW Đảng về công tác bảo vệ chăm sóc và nângcao sức khỏe của nhân dân trong tình hình mới đã nêu “Sức khỏe là vốn quýnhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhỏe của nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp đảm bảo nguồn nhân lựccho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là một trong những chính sách ưutiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư chophát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ” Nghị quyết cũng khẳng địnhvai trò của đội ngũ viên chức y tế “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần phảiđược tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” Nghị quyết cũng yêucầu mỗi viên chức y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp vànăng lực chuyên môn xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Người thày thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền” [1]

Để thực hiện tốt công tác Y tế, yêu cầu phải xây dựng hệ thống mạnglưới y tế với nguồn nhân lực y tế tốt Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là:

“Sắp xếp lại mạng lưới, mở rộng và nâng cấp các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhucầu về viên chức y tế phù hợp với quy hoạch phát triển ngành; xây dựng một

số trung tâm đào tạo viên chức y tế ngang tầm các nước tiên tiến trong khuvực”

Trong đào tạo, bồi dưỡng, chú trọng phát triển số lượng đi liền với nângcao chất lượng chuyên môn, y đức nhằm hướng tới sự hài lòng của người

Trang 24

bệnh, đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội: “Tăng cường đào tạo, phát triển nguồnnhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng Nâng cao trình độ chuyên môn,trách nhiệm và y đức của đội ngũ viên chức y tế”.

Kiện toàn đội ngũ viên chức y tế cả về mặt số lượng và chất lượng, mởrộng nâng cấp các cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu về viên chức Y tế phùhợp với quy hoạch đào tạo chuyên ngành Y tế Mở rộng các mô hình đào tạonhư đào tạo cử tuyển cho miền núi và vùng sâu, vùng xa, chú trọng đào tạoviên chức quản lý bệnh viện, viên chức quản lý Y tế, đưa viên chức có trình

độ cao đi đào tạo chuyên khoa sâu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí huyđộng trong và ngoài nước, khuyến khích du học tự túc

1.4.2 Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là một khâu củachu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chínhsách thành hiện thực đối với đối tượng chính sách nhằm đạt mục tiêu nhất

định [10]

Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là khâuhợp thành chu trình chính sách Đây là bước đặc biệt quan trọng nhằm hiệnthực hóa đưa chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế vào thực hiện tạibệnh viện

Việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế làmột hệ thống nhất trong chu trình chính sách công của ngành y (gồm hoạchđịnh, xây dựng , đánh giá và thực hiện)

- Vai trò của thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

+ Nhằm đưa chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

+ Nhằm từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách đào tạo và bồidưỡng viên chức y tế tại Bệnh viện và thực hiện mục tiêu chung của ngành Y

Trang 25

+ Nhằm khẳng định tính đúng đắn của chính sách đáp ứng các yêu cầucủa một chính sách tốt, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của đối

tượng thụ hưởng chính sách là viên chức y tế Chính sách đào tạo, bồi dưỡngviên chức y tế nhằm truyền tải cơ hội cho đối tượng là y bác sỹ và nhữngngười hoạt động trong ngành Y có cơ hội học tập, bồi dưỡng nâng cao trình

độ chuyên môn nghiệp vụ

a Nội dung của chính sách đào tạo viên chức Y tế

- Thực hiện theo thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm

2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho viên chức y tế:

- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức ykhoa liên tục; phát triển nghề nghiệp; đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạotheo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo về chuyên môn nghiệp vụcho viên chức y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân

- Đào tạo gồm có đào tạo theo trình độ học vấn như trung cấp, cao đẳng,đại học cho viên chức y tế phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển củatừng đơn vị

- Đào tạo trình độ chuyên môn phù hợp cho viên chức của đơn vị trongtrường hợp đơn vị được tổ chức, sắp xếp lại mà khôngthể bố trí được côngviệc phù hợp với chuyên môn đã được đào tạo trước đó

- Đào tạo trình độ sau đại học phù hợp với vị trí việc làm cho viên chức

y tế thuộc diện quy hoạch và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của viện

Cơ sở đào tạo liên tục là các bệnh viện, viện có giường, viện nghiên cứu,

cơ sở giáo dục chuyên nghiệp và cơ sở dạy nghề y tế, các trung tâm đào tạonhân lực y tế, các cơ sở giáo dục khác có mã ngành thuộc ngành khoa học sức

khỏe [3, tr.2]

b Hình thức đào tạo (Theo điều 6 thông tư số 22/2013/TT-BYT)

Trang 26

- Tập huấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ trong ngắn hạn ở trong nước và ngoài nước theo hình thức đào tạo tập trung hoặc đào tạo trực tuyếnđược cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận (thời gian tham gia đào tạo liên tục được tính theo thời gian thực tế của chương trình đào tạo).

- Hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vựcchuyên môn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tổ chức Căn cứ vào chươngtrình của hội thảo, hội nghị tọa đàm

- Thực hiện nghiên cứu khoa học, hướng dẫn luận văn, luận án , viết bàibáo khoa học đã được công bố theo quy định: được tính tối đa 12 tiết cho

người hướng dẫn luận án, chủ trì hoặc thư ký đề tài cấp Nhà nước hoặc cấpBộ; 8 tiết học cho hướng dẫn luận văn cho chủ trì hoặc thư ký đề tài cấp cơ sở(tính tại thời điểm luận văn được bảo vệ thành công hoặc đề tài được nghiệmthu đạt)

- Biên soạn giáo trình chuyên môn được tính tối đa không quá 8 tiết đốivới 1 tài liệu do người đứng đầu đơn vị xem xét (tính tại thời đểm xuất bản);viên chức y tế không phải là giảng viên của cơ sở giáo dục tham gia giảng dạy

liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ được tính theo thời gian thực tế [3, tr3]

c Nội dung của chính sách bồi dưỡng viên chức y tế

- Bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị phải dựa theo tiêu chuẩn quy định cho viên chức lãnh đạo, quản lý tại bệnh viện

- Bồi dưỡng kiến thức và những kỹ năng quản lý nhà nước theo tiêuchuẩn chức danh công chức; tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức vàtiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý Cập nhật kiến thức, kỹ năng, phươngpháp quản lý chuyên ngành, kiến thức, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công

vụ được giao Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh phải được thực hiệntheo đúngquy định cho viên chức, công chức, viên chức

Trang 27

- Bồi dưỡng kiến thức tin học, ngoại ngữ trên cơ sở đảm bảo theo đúng quy

định về đào tạo, bồi dưỡng theo chuẩn quy định đối với từng chức danh

d Các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

- Xây dựng kế hoạch trển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngviên chức y tế: Để thực hiện chính sách tào tạo bồi dưỡng viên chức y tế hiệnnay, lãnh đạo bệnh viện phải xây dựng được kế hoạch thực hiện chính sách,xác định thời gian thực hiện, xác định được nội dung, xây dựng nội quy, quychế tổ chức điều hành thực hiện chính sách (Lên kế hoạch cung cấp cácnguồn lực như nhân lực, vật lực, tài chính, trang thiết bị kỹ thuật …) cho việcthực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại bệnh viện Nếu các

kế hoạch trên được xây dựng một cách chính xác thì quá trình thực hiện sẽthuận lợi và không phải điều chỉnh, bổ sung kế hoạch Để xây dựng được một

kế hoạch thực hiện chính sách hoàn chỉnh đòi hỏi công chức, viên chức đượcgiao nhiệm vụ thực hiện chính sách phải có năng lực, trách nhiệm, hiểu biết,nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng mà chính sáchđào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế của bệnh viện hướng tới

- Tuyên truyền, phổ biến chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế:Tuyên truyền, phổ biến chính sách giúp công chức, viện chức (viên chức y tế)ngành y là đối tượng thụ hưởng của chính sách hiểu rõ mục đích, yêu cầu vàtính đúng đắn của chính sách để họ có tinh thần tự giác trong quá trình thựchiện

Phổ biến tuyên truyền chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tếmuốn đạt hiệu quả đòi hỏi người thực hiện phải am hiểu chính sách, nắm rõmục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi đối tượng mà chính sách hướng tớingười thực hiện việc tuyên truyền phổ biến chính sách phải có năng lực vềchuyên môn và có kỹ năng tuyên truyền bổ biến chính sách Trên cơ sở đó lựachọn phương pháp phổ biến tuyên truyền cho phù hợp Các biện pháp tuyêntruyền phổ biến chính sách thông dụng là: (mở lớp tập huấn nhằm quán triệt

Trang 28

nội dung của chính sách, phân công thực hiện chính sách, sử dụng các cơquan truyền thông, báo chí để họ tuyên truyền, xây dựng bộ văn bản hướngdẫn…).

- Phân công phối hợp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức

y tế: Để thực hiện chính sách có hiệu quả cần có sự phân công phối hợp chặtchẽ giữa các phòng ban, các khoa trong bệnh viện Việc phân công phối hợpthực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế cần đảm bảo tính khoahọc, chặt chẽ, đó là sự phân công trách nhiệm cụ thể cho các phòng, ban, khoacác cá nhân chủ trì chịu trách nhiệm chính, các cá nhân có trách nhiệm thamgia phối hợp Việc phân công phối hợp thực hiện chính sách hợp lý sẽ giúpphát huy những mặt tích cực và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.Trong quá trình phân công thực hiện chính sách cần quan tâm tới năng lực,trình độ chuyên môn, thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân để tránh tình trạng

ko rõ trách nhiệm và nhiệm vụ bị trồng chéo

- Duy trì chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là đảm bảo chochính sách này tồn tại và phát huy được trong điều kiện thực tế tại bệnh viện.Trong quá trình thực hiện chính sách các khoa, phòng ban được phân công cótrách nhiệm tham mưu đề xuất các giải pháp để chính sách phát huy được tácdụng trong môi trường thực tế Đối tượng thực thi chính sách cần chủ độngtham mưu đề xuất các biện pháp thực hiện chính sách cho phù hợp với điềukiện hoàn cảnh của Viện Việc duy trì chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức

y tế tại bệnh viện có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo cho chính sách tồntại và phát huy tác dụng, nội dung của chính sách

- Điều chỉnh chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế điều chỉnhchính sách nhằm mục đích phù hợp với tình hình thực tế.Trong quá trình thựchiện chính sách nếu thấy chính sách bất cập hạn chế, không sát, không phùhợp thì phài tiến hành điều chỉnh chính sách Việc điều chình chính sách phảikhông làm thay đổi mục tiêu chính sách Nếu việc điều chỉnh chính sách dẫn

Trang 29

đến thay đổi mục tiêu chính sách thì chính sách coi như thất bại Thẩm quyềnđiều chỉnh chính sách thuộc về cơ quan ban hành chính sách song trong quátrình thực hiện chính sách tổ chức cá nhân có thể linh hoạt trong thực hiệnchính sách Để điều chỉnh chính sách đòi hỏi viên chức công chức tham giađiều chỉnh phải có năng lực, phải đưa ra được các giải pháp, phải có kỹ năngphân tích, hạn chế bất cập của chính sách để sau khi chính sách điều chỉnhphải có hiệu quả trong quá trình thực hiện chính sách Chính sách đào tạo, bồidưỡng viên chức y tế có cần điều chỉnh hay không đều phụ thuộc vào tính hợp

lý của chính sách và các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách

- Kiểm tra việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế:việc kiểm tra, theo dõi, đôn độc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viênchức y tế kịp thời sẽ giúp bổ sung hoàn thiện chính sách đồng thời nâng caochất lượng các khâu tổ chức thực hiện chính sách góp phần tăng hiệu lực hiệuquả của mục tiêu chính sách

Theo dõi, kiểm tra đôn đốc là khâu quan trọng trong thực hiện chínhsách Để theo dõi, kiểm tra đôn đốc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngviên chức y tế người thực hiện phải am hiểu sâu sắc mục tiêu, đối tượng vàcác công cụ, giải pháp thực hiện chính sách Bên cạnh đó người thực hiệnkhâu kiểm tra đôn đốc chính sách phải nắm chắc các quy định trong kế hoạchthực hiện, quy chế, nội quy thực hiện chính sách bằng cách thu thập cácnguồn thông tin, cơ sở dữ liệu phản ánh về quá trình triển khai và kết quả thựchiện chính sách tại đơn vị Đặc biệt là những phản ánh của đối tượng được thụhưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng là viên chức y tế, xử lý đối chiếu, sosánh các quy định trong trong chính sách nhằm phát hiện, ngăn ngừa và điềuchỉnh chính sách góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của chính sách

- Đánh giá rút kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

Đây là việc làm cần thiết, là khâu rất quan trong không thể thiếu trongquá trình thực hiện chính sách Đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách là quá

Trang 30

trình xem xét và đưa ra kết luận về sự chỉ đạo, điều hành của chủ thể thựchiện chính sách Việc chấp hành thực hiện chính sách của viên chức y tế lànhững đối tượng thụ hưởng chính sách để có thể tổng kết, rút kinh nghiệm.

Để đánh giá chính sách một cách chính xác chính sách đào tạo, bồidưỡng viên chức y tế cần phải căn cứ vào các tiêu chí nhất định Cơ sở để xâydựng tiêu chí đánh giá chính sách là căn cứ vào kế hoạch và các quy định, quychế kèm theo Ngoài ra phải tham khảo các văn bản liên quan trong và ngoàingành, phải căn cứ vào các nguyên tắc đã được xác định, thống nhất giữa các

cơ quan, tổ chức có liên quan trên nguyên tắc toàn diện, công bằng và kháchquan Việc đánh giá tổng kết còn chỉ ra được các ưu điểm, nhược điểm trongquá trình thực hiện chính sách

Bên cạnh đó cơ quan chủ trì thực hiện chính sách phải xem xét, đánh giákết quả thực hiện của đối tượng thụ hưởng trực tiếp là viên chức y tế của bệnhviện và các đối tượng thụ hưởng gián tiếp của chính sách Mức độ thành côngcủa chính sách còn thể hiện ở tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách, ýthức chấp hành các quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan chủ trì thực hiệnchính sách ban hành

Đánh giá chính sách là công việc phức tạp và khó khăn đòi hỏi viên chứccông chức, viên chức tham gia thực hiện công việc này phải có trình độ nănglực, kiến thức và kỹ năng nhất định nếu không khó có thể đánh giá được chínhxác kết quả thực hiện chính sách, khó có thể rút ra được bài học kinh nghiệmtrong thực hiện chính sách này

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

- Yếu tố khách quan

+ Thể hiện qua tính chất của vấn đề chính sách Đó là vấn đề về đào tạo,bồi dưỡng viên chức y tế nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và yđức cho đội ngũ viên chức y bác sỹ và những người hoạt động trong ngành y

Trang 31

Hiện nay, chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế ở nước ta nói chung đã

có nhiều tác động tích cực và giải quyết được phần nào các vấn đề thực tiễncủa ngành y Tuy nhiên các chính sách đã ban hành và thực hiện vẫn chưathực sự có tính chất đột phá, điều đó thể hiện tính phức tạp của vấn đề chínhsách là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới chính sách này;

+ Môi trường thực thi chính sách: Đó là các yếu tố liên quan đến vật chất

và phi vật chất như các nhóm lợi ích chính sách, điều kiện cơ sở vật chất, yếu

tố chính trị và mối quan hệ trong công việc;

+ Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách: các đối tượngchính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là hết sức đa dạng gồm côngchức, viên chức, đội ngũ y bác sỹ tại bệnh viện vì vậy việc áp dụng chính sáchcho từng đối tượng lại khác nhau Điều đó đòi hỏi các đối tượng thực thichính sách phải thường xuyên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp vớinhau trong quá trình thực thi chính sách;

+ Tiềm lực của các đối tượng thực hiện chính sách: đó là tiềm năng vàthực lực của mỗi nhóm đối tượng chính sách có được trong mối quan hệ vớinhóm đối tượng khác Nhìn chung nhóm đối tượng thực hiện chính sách đàotạo, bồi dưỡng viên chức y tế có nhiều thuận lợi cho việc thực hiện chính sáchnày

+ Đặc tính của đối tượng chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế:nhóm đối tượng của chính sách này hầu hết là những người có trình độchuyên môn về ngành y, là những người có trình độ cao, có ý thức kỷ luật vànhậy bén trong cách tiếp nhận chính sách mới Đây chính là mặt thuận lợi củaviệc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

- Yếu tố chủ quan

+ Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quá trình tổ chức thực hiệnchính sách Đây là việc làm cần thiết có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trìnhthực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế nói chung và chính sách

Trang 32

đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế Thực hiện chính sách đòi hỏi phải thựchiện đầy đủ các bước của một chu trình chính sách bởi các bước này có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau Nếu thiếu một bước thì các bước sau thực hiện sẽkhó khăn và sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả chính sách Trên thực tế việc thực hiệnchính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế đang chưa thực hiện đầy đủ một

số bước, việc phân công phối hợp thực hiện và phổ biến, tuyên truyền chínhsách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế còn chưa được quan tâm

+ Năng lực thực thi của viên chức công chức trong quá trình thực hiệnchính sách tại đơn vị hiện nay: Chất lượng, hiệu quả của thực hiện chính sáchphụ thuộc rất nhiều vào năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ viên chứccông chức thực thi chính sách Nếu viên chức, công chức có năng lực tốt thìviệc thực thi chính sách sẽ thuận lợi Ngược lại nếu viên chức công chứckhông có năng lực thì việc thực thi chính sách sẽ gặp khó khăn thậm chí không đạt được mục tiêu chính sách đề ra;

+ Điều kiện, cơ sở vật chất cho quá trình thực hiện chính sách đào tạo,bồi dưỡng viên chức y tế: Cơ sở vật chất và tài chính là điều kiện tiên quếtảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực hiện chính sách và hiệu quả của chínhsách Hiện nay Bệnh viện đã quan tâm đầu tư kinh phí, trang thiết bị cho việcthực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán y tế cho bệnh viện.Thực tế chothấy nếu không đủ điều kiện vật chất cho quá trình thực hiện chính sách cũng

sẽ tác động đến việc duy trì chính sách một trong những bước quan trọng củaquá trình thực thi chính sách

+ Sự đồng tình, ủng hộ của các đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo,bồi dưỡng viên chức y tế: sự đồng tình của đối tượng thủ hưởng là đội ngũ ybác sỹ và những người hoạt động trong ngành y gọi tắt là (viên chức y tế).Đây là chính sách với mục tiêu là đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượngtrình độ chuyên môn nghiệp vụ và y đức cho đội ngũ viên chức y tế góp phầnnâng cao chất lượng dịch vụ y tế Do đó chính sách nhận được sự hưởng ứng

Trang 33

ủng hộ nhiệt tình của đối tượng thụ hưởng, đây chính là sự thuận lợi trongviệc thực hiện chính sách.

1.4.4 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là mộtkhâu hợp thành chu trình chính sách là toàn bộ quá trình chuyển thể ý chí củachủ thể chính sách thành hiện thực

Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bổi dưỡng viên chức y tế từ thựctiễn Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là bước hiệnthực hóa chính sách vào đời sống Để có một chính sách đào tạo, bồi dưỡngviên chức y tế tốt các nhà hoạch định chính sách phải trải qua một quá trìnhnghiên cứu công phu Tuy nhiên chính sách chỉ có giá trị khi được đưa vàothực hiện

Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tốt sẽgiúp cho bổ sung hoàn thiện chính sách Việc phân tích đánh giá chính sáchđào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế có hiệu quả, phù hợp đầy đủ và có sứcthuyết phục sau khi chính sách đi vào thực hiện Thực hiện tốt chính sách đàotạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại bệnh viện các tuyến là cơ sở phát triển nhânlực ngành y tế thể hiện ở cạnh sau:

+ Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế có ý nghĩ vôcùng quan trọng đó là: chuyển hóa ý chí của chủ thể ban hành chính sách nóicách khác là hiện thực hóa chính sách đi vào đời sống xã hội

+ Nếu làm tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại các bệnhviện sẽ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng tốt cho ngành y tế Ngược lại, nếuchính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại các bệnh viện thực hiện không tốt sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nhân lực y tế

Trang 34

+ Thông qua việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tếgiúp các nhà hoạch định chính sách phát hiện những vấn đề nảy sinh trongquá trình thực hiện, qua đó có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp.

+ Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại bệnh việncòn là quá trình kiểm nghiệm thực tiễn của chính sách được đánh giá qua cáchhưởng ứng chính sách đó của viên chức ngành y

+ Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế còn có ý nghĩaquan trọng đối với quá trình phân tích, đánh giá chính sách Một chính sáchchỉ được phân tích, đánh giá đầy đủ sau khi chính sách đã được triển khai vàthực hiện trên thực tế

1.4.5 Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

Trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tếcần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đảm bảo mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là đảmbảo cho các vấn đề chính sách được giải quyết Trong quá trình thực hiệnchính sách có thể nẩy sinh một số vấn đề cần phải điều chỉnh chính sách songtuyệt đối không được làm thay đổi mục tiêu chính sách Mục tiêu của chínhsách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là đảm bảo nâng cao chất trình độchuyên môn, nghiệp vụ nhằm nân cao chất lượng nhân lực cho viên chức y tếcủa bệnh viện để phục vụ tốt nhất cho việc thăm khám và điều chị và chămsóc sức khỏe cho nhân dân đặc biệt là nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.Trong quá trình thực hiện chính sách cần đảm bảo được mục tiêu trên;

- Đảm bảo tính hệ thống của chính sách: Tính hệ thống của chính sáchthể hiện ở hai khía cạnh là cơ quan thực thi chính sách và hệ thống trongchính sách Hệ thống trong cơ quan thực thi chính sách là tính thống nhất thứbậc từ trung ương tới địa phương từ Bộ Y tế đến Sở Y tế rồi đến các Bệnh viện tuyến trực thuộc Nếu chính sách không có tính hệ thống thì trong quá

Trang 35

trình thực hiện sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về lợi ích điều đó sẽ ảnh hưởng tới mục tiêu của chính sách;

- Đảm bảo tính chấp hành chính sách của các đối tượng thực hiện: Chínhsách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế khi ban hành phải đảm bảo được chậphành và thực hiện một cách nghiêm túc, khoa học Việc chấp hành thực hiệnchính sách sẽ đảm bảo mục tiêu chính sách được thực hiện.Nếu tổ chức thựchiện chính sách không khoa học thì sẽ tác động không tốt đến thực hiện chínhsách Ngược lại tổ chức thực hiện chính sách khoa học sẽ tác động tốt tới quátrình thực hiện chính sách giúp cho việc thực thi chính sách được thuận lợi và

dễ dàng đạt được mục tiêu;

- Đảm bảo lợi ích của đối tượng thụ hưởng chính sách: chính sách đàotạo, bồi dưỡng viên chức y tế phải đảm bảo mang lại lợi ích cho các đối tượng

là viên chức y tế được thụ hưởng, không áp dụng cho các đối tượng bên ngoài

1.4.6 Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức

y tế là cách thưc tác động của chủ thể thực hiện chính sách lên đối tượng thựcthi chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách nhằm đạt mục tiêu của

Trang 36

vậy sử dụng phương pháp kinh tế sẽ tác động trực tiếp đến tâm lý, nguyện vọng của đội ngũ viên chức y tế giúp họ nhiệt tình hưởng ứng chính sách;+ Phương pháp giáo dục thuyết phục: Phương pháp này giúp cho đốitượng thực thi và đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng viênchức y tế hiểu rõ sự cần thiết của chính sách và tự giác thực hiện chính sách.Tuyên truyền giáo dục hướng dẫn về chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức

y tế của bệnh viện giúp hiểu rõ những lợi ích mà chính sách mang lại Phươngpháp giáo dục tuyên truyền thuyết phục chính sách muốn đem lại hiệu quả caocần được thực hiện thông qua các buổi tập huấn, sinh hoạt, giao ban

+ Phương pháp hành chính: là phương pháp có tính chất bắt buộc thôngqua các quyết định giao nhiệm vụ cho chủ thể thực hiện chính sách và đốitượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế Ưu điểm củaphương pháp này là tính mệnh lệnh và tính bắt buộc cao tuy nhiên cần lưu ýkhi sửa dụng phương pháp này tránh sự lạm quyền

+ Phương pháp kết hợp các phương pháp trên: Đó là sự kết hợp cả baphương pháp trên, kết hợp giữa lợi ích vật chất, kinh tế và lợi ích tinh thần.Phương pháp này đảm bảo sự hài hòa trong quá trình thực hiện chính sách,các phương pháp sẽ bổ sung cho nhau, tác động một cách toàn diện đến quátrình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

1.4.7 Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế

Chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tếgồm: Chủ thể thực hiện chính sách và môi trường thể chế thực hiện chính sách

+ Chủ thể thể thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là viên chức y tế

+ Môi trường thể chế của chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tếcủa có sự thống nhất từ cấp Trung ương tới địa phương từ Bộ Y tế tới Sở Y tế, Phòng Y tế và các Bệnh viện tuyến Chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức

Trang 37

y tế tuân thủ thể chế chung về quy trình, thẩm quyền ban hành văn bản theoLuật định.

Tiểu kết chương

Trong chương 1, luận văn đã đi vào phân tích những vấn đề lý luận vàthực tiễn về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế nói chung.Luận văn đã phân tích, làm rõ các khái niệm có liên quan như: thực hiện chínhsách công, chính sách đào tạo, bồi dưỡng; các khái niệm về nhân lực y tế, viênchức y tế; Đồng thời phân tích nội dung, vai trò, mục tiêu các yếu tố chủ quan

và yếu tố khách quan tác động đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngviên chức y tế ở nước ta hiện nay

Bên cạnh đó, trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về Chínhsách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho viên chức y tế của nước ta nóichung, luận văn khẳng định vấn đề coi trọng và phát huy truyền thống hiếuhọc trọng dụng người tài, coi đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực làtrung tâm của sự phát triển, trong đó, đào tạo nguồn nhân lực y tế là một việc

hệ trọng, có ý nghĩa quyết định đối với tiến trình đổi mới và phát triển ở nước

ta hiện nay Đây là cơ sở lý thuyết cho việc triển khai nội dung tiếp theo của

đề tài

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN ĐA KHOA

XANH PÔN, HÀ NỘI

2.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn được thành lập vào ngày 26 tháng 8 năm

1970, trên cơ sở hợp nhất 4 đơn vị: Bệnh viện Ngoại khoa Sanit Paul, Bệnh viện

B Nhi khoa, Bệnh viện Khu phố Ba Đình và Phòng khám Phụ khoa Hà Nội

Tiền thân của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn là cơ sở y tế đầu tiên củakhu vực Đông Dương, do Chính phủ bảo hộ Pháp lập ra trong những nămcuối thế kỷ XIX với mục đích ban đầu là điều dưỡng, chăm sóc và khám chữabệnh cho các quan thầy Pháp Năm 1911, Nhà nước bảo hộ Pháp quyết địnhcho phép Bệnh viện Sanit Paul được nhận điều trị cho người bản xứ Thời kỳnày, Bệnh viện Sanit Paul chỉ có một khoa với 90 giường bệnh, tiếp nhận cácbệnh nhân cấp cứu bụng, chấn thương, tiết niệu và bỏng, do các thầy thuốcngười Pháp đảm nhiệm

Như vậy cùng với bệnh viện Phủ Doãn, Bệnh viện Quân đội Đồn Thủy,Bệnh viện Ngoại khoa Sanit Paul là những cơ sở ngoại khoa đầu tiên của HàNội trước năm 1954 Cùng với lịch sử dân tộc, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn

đã trải qua các thời kỳ khác nhau Năm 1945, Bệnh viện thuộc về Chínhquyền Cách mạng, đến năm 1956, Chính phủ Cộng hòa Pháp chính thức bàngiao bệnh viện cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa Ngày nay, Bệnhviện Đa khoa Xanh Pôn đã trở thành bệnh viện hạng 1 của TP Hà Nội với hơn

600 giường bệnh, 45 khoa phòng hơn 1000 viên chức nhân viên, 7 chuyênkhoa đầu ngành: Ngoại, Nhi, Gây mê Hồi sức, Xét nghiệm, Chần đoán Hình

Trang 39

ảnh, Điều dưỡng, Phẫu thuật tạo hình Hàng năm, Bệnh viện tiếp nhận khámcho 600 nghìn lượt người, điều trị nội trú 45 nghìn bệnh nhân, trong đó có cácbệnh nhân nặng của bệnh viện tuyến dưới gửi đến cũng như bệnh nhân ngoạitỉnh, vùng lân cận Hà Nội Chuyên ngành ngoại khoa và gây mê của Bệnhviện Đa khoa Xanh Pôn có những thế mạnh vượt trội với các kỹ thuật: tạohình, che phủ vạt da, nối chuyển các ngón, phẫu thuật nội soi khớp gối vàkhớp vai, phẫu thuật thần kinh có sử dụng hệ thống vi tính dẫn đường…Nhiều trong số đó là các kĩ thuật cao ngang tầm quốc tế.

Với đội ngũ bác sĩ giỏi và đồng đều tay nghề, những chuyển gia hàngđầu cả nước về chẩn đoán hình ảnh, nhều kĩ thuật điện quang can thiệp phứctạp đã được Bệnh viện triển khai thường kỳ Đặc biệt là điều trị giảm đautrong ung thử, xẹp thân đốt sống, đau rễ thần kinh, đau dây thần kinh số V,đau hạch chân bướm khẩu cái…

Khối xét nghiệm tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn gồm ba chuyên khoasâu bao gồm: huyết học, sinh hóa, vi sinh được trang bị máy móc hiện đại đểtriển khai nhiều kĩ thuật chuyển sâu phục vụ chẩn đoán và điều trị

Đây cũng là 1 trong 2 cơ sở đầu tiên của Việt Nam thực hiện được côngtác nội kiểm và ngoại kiểm để đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác nhất.Năm 2016 bênh viện đưa vào hoạt động Trung tâm kỹ thuật cao và Tiêu hóa

Hà Nội với tiêu chí để người Việt Nam được hưởng dịch vụ khám chưa bệnhcao cấp theo tiểu chuẩn Châu Âu với cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế kỹthuật cao ngay tại trung tâm thành phố Hà Nội Sứ mệnh của Trung tâm tiêuhóa Hà Nội là tầm soát phát hiện sớm, chẩn đoán chính xác, điểu trị hiệu quả

và giáo dục kiến thức chăm sóc sức khỏe cho người dân của Hà Nội và cáctỉnh về bệnh lý tiêu hóa Với bề dày truyền thống lịch sử, cùng lòng quyết tâm,toàn thể viên chức, nhân viên bệnh viện luôn nỗ lực phấn đấu, tập trung nhânlực, vật lực vượt qua khó khăn thánh thức, tự đổi mới chính mình, phát triển,hòa mình với các nên y học tiên tiến trên thế giới

Trang 40

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy viên chức y tế tại bệnh viện đa

khoa Xanh Pôn

Tổ chức bộ máy của Bệnh viện gồm: 01 Giám đốc; 04 Phó giám đốc;

124 Trưởng, khoa, Điều dưỡng trưởng khoa phòng và 935 CBNV

Bệnh viện đa khoa xanh Pôn có 45 khoa, phòng trực thuộc, gồm:10Phòng ban chức năng và 35 khoa

+ Các phòng chức năng gồm (10 phòng): Phòng kế hoạch tổng hợp;Phòng Điều dưỡng; Phòng chỉ đạo tuyến; Phòng vật tư thiết bị; Phòng hànhchính quản trị; Phòng tổ chức viên chức; Phòng Tài chính kế toán; PhòngQuản lý chất lượng, Phòng Công tác xã hội, Phòng Công nghệ thông tin

+ Các khoa gồm (35 khoa): Khoa Nội tim mạch; Khoa Nội tổng hợp 1;Khoa Nội tổng hợp 2; Khoa Hồi sức cấp cứu Nội; Khoa Khám A; Khoa Y họcdân tộc; Khoa Nhi tiêu hóa; Khoa Hồi sức cấp cứu Nhi; Khoa Nhi Tim mạch;Khoa Nhi hô hấp; Khoa Nhi Sơ sinh; Khoa Phẫu thuật Nhi; Khoa Ngoại tiêuhóa; Khoa Gây Mê hồi sức; Khoa Chấn thương chỉnh hình; Khoa Tim mạchlồng ngực; Khoa Phẫu thuật tạo hình; Khoa Phẫu thuật Tiết niệu; Khoa Bỏng;Khoa Phẫu thuật thần kinh; Khoa Phục hồi chức năng; Khoa Mắt; Khoa TaiMũi Họng; Khoa Răng Hàm Mặt; Khoa Cấp cứu; Khoa Khám bệnh; Trungtâm kỹ thuật cao và tiêu hóa Hà Nội; Khoa Vi sinh y học; Khoa Sinh hóa;Khoa Huyết học truyền máu; Khoa Giải phẫu bệnh; Khoa Chẩn đoán có hìnhảnh; Khoa Dược; Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn; Khoa Dinh dưỡng

Ngày đăng: 18/12/2019, 20:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w